1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những hạn chế củapháp luật trọng tài thương mại hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện

16 485 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 116 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là nền tảng pháp lý cho Trọng tài Việt Nam tiếp cận, hòa nhập với Trọng tài của các nước phát triển, khắc phục được những điểm bất cập của các văn bản pháp luật về trọng tài trước đây

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sự ra đời của Luật trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM 2010)

là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật về Trọng tài của Việt Nam Đó là nền tảng pháp lý cho Trọng tài Việt Nam tiếp cận, hòa nhập với Trọng tài của các nước phát triển, khắc phục được những điểm bất cập của các văn bản pháp luật về trọng tài trước đây, đồng thời đưa ra nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế… Tuy nhiên, bên cạnh những nét ưu việt nói trên qua gần hai năm thực hiện, Luật TTTM 2010

đã bộc lộ nhiều hạn chế trong thực tiễn áp dụng và vì vậy chưa thực sự trở thành một công cụ pháp luật được áp dụng phổ biến trong giải quyết tranh

chấp thương mại Vì vậy em xin chọn đề tài “Phân tích những hạn chế của

pháp luật trọng tài thương mại hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện”.

NỘI DUNG

I Khái quát về pháp luật Trọng tài thương mại hiện hành.

1 Sự ra đời của Luật trọng tài thương mại 2010

Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực của các Trung tâm trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/03/2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH (Pháp lệnh), Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/07/2003, thay thế cho Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ

về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế; Quyết định số 204/TTg ngày

28 tháng 4 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và các Trung tâm trọng tài kinh tế thành lập theo Nghị định 116/Cp được hoạt động trên cùng một mặt bằng pháp lý

Trang 2

Chính từ những bất cập và tồn tại của PLTTTM 2003, Luật TTTM

2010 đã ra đời ngày 29/6/2010 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2011 là một tất yếu Luật TTTM 2010 ra đời kế thừa các quy định của Pháp lệnh và bổ sung những quy định mới khắc phục và hoàn thiện những tồn tại của PLTTTM 2003 đã thực sự nâng cao vị thế của trọng tài thương mại cũng như hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thay đổi cách nhìn của các nhà kinh doanh về phương thức này cũng như tạo sự tin tưởng cho họ vào một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Luật TTTM được hướng dẫn thi hành bằng Nghị định

số 63/2011/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại, Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 9 năm 2011

2 Khái niệm và đặc điểm của trọng tài thương mại.

Khái niệm.

Trong khoa học pháp lý, khái niệm trọng tài thương mại được nghiên cứu ở góc độ khác nhau Vì vậy, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về trọng tài Tùy theo từng hệ thống pháp luật cùng với hệ thống lập pháp khác nhau, khái niệm trọng tài cũng được ghi nhận theo nhiều cách khác nhau Nhìn một cách khái quát nhất nó thường được hiểu theo hai nghĩa sau:

- Trọng tài thương mại là cơ quan giải quyết tranh chấp.

Theo hướng này trọng tài thương mại được hiểu là một cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết tranh chấp pháp sinh trong hoạt động thương mại trọng tài được pháp luật thừa nhận là một cơ quan tài phán độc lập và tồn tại song song với tòa án

- Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp.

Trang 3

Đây là một cách hiểu phổ biến được quy định trong luật pháp các nước

về trọng tài Theo cách hiểu này thì trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp thông qua giải quyết của trọng tài viên với tư cách là bên thứ 3 độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng cách đưa ra một phán quyết trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên tranh chấp và phán quyết có giá trị chung thẩm Bên thứ ba đó là trọng tài viên hoặc trong tài viên duy nhất được lựa chọn theo trình tự luật định

Như vậy, trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp hoặc trọng tài thương mại là một cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội

Theo khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010: “trọng tài

thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận được tiến hành theo quy định của luật này”

Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định về trọng tài thương mại đều ghi nhận trọng tài thương mại với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp

Đặc điểm.

Trọng tài thương mại có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, tôn trọng quyền định đoạt của các bên tranh chấp:Trọng tài là

cơ quan tài phán tự giải quyết tranh châp tư bởi vậy nguyên tắc đầu tiên giải quyết tranh chấp là tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên

Thứ hai, trọng tài xét xử kín:Thêm một đặc trưng nữa của trọng tài là

phiên họp giải quyết tranh chấp không công khai Sở dĩ có đặc điểm này vì tòa án là cơ quan tài phán của nhà nước nên phải đảm bảo tính minh bạch, công khai đảm bảo cơ chế giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuy

Trang 4

nhiên xét xử kín của trọng tài cũng được thực hiện trên cơ sở sự nhất trí của đương sự

Thứ ba, trọng tài giải quyết tranh chấp trong giới hạn yêu cầu của các bên:

Khi các bên có yêu cầu giải quyết một phần hoặc toàn bộ tranh chấp thì trọng tài cũng chỉ giải quyết một phần hoặc tòan bộ vụ tranh chấp theo yêu cầu đó

Thứ tư, các bên có quyền tự thương lượng toàn bộ quá trình giải quyết

tranh chấp: Các bên có quyền tự thỏa thuận giải quyết tranh chấp ở các giai đoạn của tố tụng trọng tài: từ giai đoạn hòa giải cho đến khi hội đồng trọng tài

mở phiên họp giải quyết tranh chấp, ngay cả tại phiên họp của hội đồng trọng tài nếu các bên thương lượng với nhau nhằm giải quyết tranh chấp thì hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp

Thứ năm, trọng tài chỉ giải quyết một lần: Đây là một nguyên tắc giải

quyết tranh chấp của trọng tài Tranh chấp có thể được giải quyết tại một trung tâm trọng tài hoặc tại hồi đồng trọng tài do các bên thành lập

3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thương mại.

Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại thì: Tranh chấp thương mại

là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài nếu các bên tham gia

có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp (được quy định tại Điều 2, Điều 5, Luật Trọng tài thương mại)

4 Ưu điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại.

Bên cạnh các phương thức giải quyết tranh chấp thường được các bên lựa chọn như thương lượng, hòa giải, tòa án thì giải quyết tranh chấp thương mại

Trang 5

bằng con đường trọng tài là một trong những phương thức giải quyết rất phổ biến và được áp dụng rộng rãi với nhiều ưu điểm và lợi thế so với các phương thức khác như:

- Giải quyết nhanh chóng, thuận lợi các tranh chấp, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh

- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh

- Giữ bí mật kinh doanh, giữ được uy tín của các bên trên thương trường

- Kinh tế nhất (ít tốn kém nhất)

II Những hạn chế của pháp luật Trọng tài Thương mại hiện hành.

Hiện nay trong quá trình áp dụng, Luật TTTM 2010 vẫn bộc lộ một số hạn chế cần hoàn thiện:

1, Về điều kiện giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại:

Kế thừa quy định tại khoản 1 Điều 3 PLTTTM 2003, khoản 1 Điều 5 Luật TTTM quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên

có thỏa tuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” Như vậy, điều kiện để các bên có thể giải quyết tại trọng tài thương mại là có thỏa thuận trọng tài giữa các bên tranh chấp Thỏa thuận trọng tài không bắt buộc phải đ ược lập khi các bên giao kết hợp đồng mà các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sau khi tranh chấp xảy ra Tuy đã thể hiện sự linh hoạt về thời gian xác lập thỏa thuận trọng tài nhưng việc khẳng định tranh chấp sẽ được giải quyết tại trọng tài nếu các bên

có thỏa thuận trọng tài của Luật TTTM là chưa chính xác Bởi lẽ, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại được xác định theo thỏa thuận của các bên tranh chấp khi các bên tranh chấp thỏa thuận trọng tài, có nhiều

Trang 6

trường hợp bị vô hiệu hoặc có hiệu lực nhưng không thực hiện được và trong trường hợp đó, dù có thỏa thuận trọng tài, các bên vẫn không thể giải quyết bằng trọng tài thương mại Do vậy, tranh chấp thương mại chỉ có thể giải quyết bằng trọng tài thương mại nếu có thỏa thuận trọng tài đồng thời thỏa thuận trọng tài phải có hiệu lực và có thể thực hiện được Trong trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì tại Điều 6 Luật TTTM quy định một bên có thể khởi kiện ra tòa án và tòa án có thể thụ lí giải quyết

2, Về nội dung chủ yếu của thỏa thuận trọng tài.

Nội dung của thỏa thuận trọng tài không được quy định trong Luật trọng tài Việt Nam 2010.Việc không quy định về nội dung chủ yếu của thỏa thuận trọng tài tuy có ưu điểm là nâng cao quyền tự do thỏa thuận của các bên khi xác lập thỏa thuận trọng tài nhưng lại gây không ít khó khăn cho các bên tranh chấp cũng như trọng tài và tòa án khi xác định thông tin được đưa ra có phải là thỏa thuận trọng tài hay không

3, Pháp luật Việt Nam không quy định rõ về thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.

Về nguyên tắc, tranh chấp giữa các bên chỉ có thể được giải quyết bằng trọng tài thương mại nếu các bên có thỏa thuận trọng tài đồng thời thỏa thuận

đó phải có hiệu lực và có thể thực hiện được Luật TTTM 2010 chỉ quy định

về trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Điều 28 mà không quy định cụ thể các điều kiện để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, như vậy khi thỏa thuận trọng tài không rơi vào trường hợp vô hiệu thì đương nhiên sẽ có hiệu lực Tuy nhiên, chỉ có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực chưa đủ để đảm bảo tranh chấp sẽ được giải quyết bởi trọng tài, bởi có thể thỏa thuận trọng tài đó không thực hiện được Luật trọng tài cũng đã có dự liệu về trường hợp thỏa thuận

Trang 7

trọng tài không thực hiện được nhưng lại không quy định rõ thế nào là thỏa thuận trọng tài không thực hiện được và trường hợp nào thì một thỏa thuận trọng tài bị coi là không thực hiện được Thiếu sót này trong quy định của Luật TTTM 2010 sẽ gây khó khăn cho các chủ thể khi xác định thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không để khởi kiện ra tòa án

4, Về xác định thẩm quyền của tòa án đối với hoạt động trọng tài.

Theo quy định tại Điều 7 Luật TTTM 2010, tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài là tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương mà các bên đã thỏa thuận lựa chọn Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thẩm quyền của tòa án được xác định như sau ( Điều 7 Luật TTTM 2010):

“2 Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án thì thẩm quyền của Tòa án được xác định như sau:

a) Đối với việc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là

cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức Trường hợp có nhiều bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ

sở của một trong các bị đơn đó.

Trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn;

b) Đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa

án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp; c) Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được,

Trang 8

thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định;

d) Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi có chứng cứ cần được thu thập;

đ) Đối với yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án có

thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng;

e) Đối với việc triệu tập người làm chứng thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của người làm chứng;

g) Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài.”

Có thể thấy Luật TTTM 2010 đã quy định khá chi tiết về cách xác định tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài Tuy nhiên quy định này còn phức tạp và gây khó khăn cho các bên trong quá trình áp dụng Bởi lẽ, nếu các bên không có thỏa thuận trước, trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, có thể có sự tham gia của nhiều tòa án khác nhau: khi chỉ định trọng tài viên để thành lập hội đồng trọng tài vụ việc, nguyên đơn sẽ phải làm đơn gửi đến tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú; nếu cần thay đổi trọng tài viên thì các bên lại phải nộp đơn đến tòa án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp; nếu cần thu thập chứng cứ thì lại phải làm đơn đến tòa án cấp tỉnh nơi có chứng cứ cần thu thập… Việc này sẽ tốn nhiều thời gian và chi phí của các bên tranh chấp

5, Về quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên.

Giữa khoản 3 và khoản 5 Điều 21 Luật trọng tài thương mại có sự mâu thuẫn:

Trang 9

Luật TTTM quy định: “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.(khoản 4 Điều 4)

Đây chính là ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với giải quyết tại tòa án Không chỉ quy định nguyên tắc không công khai của trọng tài, Luật TTTM 2010 còn quy định trọng tài viên được quyền từ chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp tại khoản 3 Điều 21 Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 21 thì:

Trong mọi trường hợp, trọng tài viên đều được quyền từ chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp Tuy nhiên, quy định trên lại mâu thuẫn với quy định tại khoản 5 Điều 21 luật trọng tài thương mại Theo đó, khoản 5 Điều 21 quy định trọng tài viên có quyền giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp

mà mình đang giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Như vậy, theo quy định tại khoản 5 thì khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu, trọng tài viên phải cung cấp thông tin mà không được quyền từ chối Sự tồn tại của 2 điều khoản mâu thuẫn nhau trong cùng điều luật đã làm mất đi tính logic, khoa học của Luật trọng tài thương mại

6, Về các trường hợp thay đổi trọng tài viên.

Pháp luật Việt Nam đã quy định về các trường hợp thay đổi trọng tài viên

để đảm bảo hiệu quả của quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Theo quy định của Điều 42 luật trọng tài thương mại, trọng tài viên phải

từ chối giải quyết tranh chấp trong các trường hợp sau:

- Trọng tài viên là người thân thích hoặc người đại diện của một bên;

- Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp;

- Có căn cứ rõ rang cho thấy trọng tài viên không khách quan, vô tư;

Trang 10

- Trọng tài viên đã là hòa giải viên, người đại diện,luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó đưa ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp các bên chấp thuận bằng văn bản

Luật trọng tài thương mại đã tiến bộ hơn pháp lệnh trọng tài thương mại khi bổ sung thêm trường hợp thay đổi trọng tài viên với trọng tài viên là người hòa giải, luật sư, người đại diện của bất cứ bên nào khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp các bên chấp thuận bằng văn bản Tuy nhiên, trường hợp thay đổi trọng tài viên của luật trọng tài vẫn chưa đầy đủ

7, Hạn chế trong quy định về xem xét thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 43, trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không xác định được tổ chức trọng tài cụ thể thì khi có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp, nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài

để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn Đây là điểm mới tiến bộ của Luật TTTM 2010 so với pháp lệnh TTTM 2003 Trước đây, theo quy định của pháp lệnh TTTM 2003, thỏa thuận trọng tài không quy định hoặc không quy định rõ tổ chức trọng tài nào có thẩm quyền giải quyết

vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung thì thỏa thuận

đó bị coi là vô hiệu ( khoản 4 Điều 10) Có thể thấy, quy định trên của Luật trọng tài thương mại đã bảo đảm được quyền tự do thỏa thuận của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đồng thời cũng đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn khi bị đơn không thiện chí trong quá trình giải quyết tranh chấp

Ngày đăng: 14/01/2016, 18:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w