Sau trên 15 năm từng bước mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá ở Việt Nam đã từng bước phát triển theo hướng hiện đại, kết nối giữa hệ thống trong nước
Trang 1NGUYỄN THANH BÌNH
HO N THIỆN CH NH CH PH T T I N D CH V
PH N PH I B N H NG HO VIỆT NAM T ONG TH I H I NH P
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận án không trùng với các công trình khoa học khác đã công bố
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thanh Bình
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, BIỂU ĐỒ, HỘP vi
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài Luận án 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước 5
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận án 8
1.4 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài Luận án 8
1.5 Phương pháp nghiên cứu 9
1.6 Những đóng góp mới về khoa học của Luận án 9
1.7 Kết cấu nội dung Luận án 10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHÂN PHỐI BÁN LẺ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 11
2.1 Tổng quan về dịch vụ phân phối bán lẻ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế 11
2.1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ 11
2.1.2 Vai trò của dịch vụ phân phối bán lẻ đối với phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại ngày nay 20
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển và các xu hướng phát triển DVPPBL 22
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ trong điều kiện hội nhập quốc tế 29
2.2 Chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ trong điều kiện hội nhập quốc tế 32
2.2.1 Khái niệm, vị trí, vai trò của chính sách phát triển DVPPBL trong điều kiện hội nhập quốc tế 32
2.2.2 Khung khổ chung của chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ 36
Trang 42.3 Hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa
trong điều kiện hội nhập quốc tế 44
2.3.1 Khái niệm và nội dung hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL trong
điều kiện hội nhập quốc tế 44 2.3.2 Các nhân tố tác động đến việc hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL
hàng hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế 49
2.4 Một số bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm nước ngoài về điều
chỉnh và hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ trong bối cảnh hội nhập 51 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
PHÂN PHỐI BÁN LẺ HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 55 3.1 Khái quát thực trạng phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập 55
3.1.1 Các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ hàng
hoá của Việt Nam 55 3.1.2 Khái quát thực trạng phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 58
3.2 Thực trạng xây dựng, điều chỉnh chính sách phát triển dịch vụ phân
phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế 67
3.2.1 Thực trạng chính sách khung của Nhà nước đối với phát triển dịch vụ phân
phối bán lẻ trong thời kỳ hội nhập 67 3.2.2 Thực trạng điều chỉnh các chính sách cụ thể tác động đến sự phát triển
DVPPBL ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 73
3.3 Đánh giá chung về những thành tựu, hạn chế của chính sách hiện hành
về phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ và những nguyên nhân 104
3.3.1 Những thành tựu chủ yếu và nguyên nhân 104 3.3.2 Một số tồn tại, bất cập của chính sách hiện hành về phát triển DVPPBL và
nguyên nhân 107
Trang 5CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHÂN PHỐI BÁN LẺ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ TỚI NĂM 2020 113 4.1 Triển vọng phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam trong điều
kiện hội nhập quốc tế thời kỳ tới năm 2020 113 4.2 Mục tiêu, quan điểm và phương hướng hoàn thiện chính sách phát
triển dịch vụ phân phối bán lẻ thời kỳ tới 2020 124
4.2.1 Mục tiêu, quan điểm và nguyên tắc chung về hoàn thiện chính sách phát
triển DVPPBL thời kỳ tới 124 4.2.2 Phương hướng hoàn thiện chính sách khung phát triển DVPPBL thích ứng
với cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam thời kỳ tới 126
4.3 Kiến nghị hoàn thiện các chính sách cụ thể tác động đến sự phát triển
dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam thời kỳ tới 130
4.3.1 Hoàn thiện các chính sách tác động đến sự gia nhập thị trường và cạnh tranh
trên thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ 130 4.3.2 Hoàn thiện các chính sách tác động đến đầu tư phát triển dịch vụ phân phối
bán lẻ 133 4.3.3 Hoàn thiện các chính sách tác động đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả
vận doanh của các cơ sở bán lẻ 136
TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN, RÚT RA MỘT SỐ KẾT LUẬN KHOA HỌC CHỦ YẾU SAU 139 DANH MỤC CÁC BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
PHỤ LỤC
Trang 6LCHHBL&DTDVXH Lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội
BTA Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
TFAP Kế hoạch hành động thuận lợi hóa thương mại
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU, BIỂU ĐỒ, HỘP BẢNG
Bảng 2.1: Cơ sở và khung khổ chính sách phát triển DVPPBL trong điều kiện
hội nhập quốc tế 42 Bảng 3.1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa thời kỳ 1996 – 2010 58 Bảng 3.2: Đóng góp của thương mại trong nước vào GDP tính theo giá so sánh 1994 60 Bảng 3.3: Quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ thời kỳ 2000 – 2009 65 Bảng 3.4 Kết quả rà soát, điều chỉnh quy định chính sách thực hiện cam kết
WTO đối với DVPP của Việt Nam 74 Bảng 3.5: Vốn FDI đăng ký vào dịch vụ bán buôn, bán lẻ tại Việt Nam giai đoạn
2002 – 2010 77 Bảng 3.6: Tổng mức bán lẻ hàng hóa theo giá thực tế thời kỳ 1996-2010: 105 Bảng 4.1 Triển vọng phát triển DVPPBL Việt Nam đến năm 2020 115
Bảng 2.2: Tỷ trọng doanh thu bán lẻ qua hệ thống bán lẻ hiện đại và truyền thống
của Thái Lan năm 2006
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn siêu thị của Trung Quốc
Bảng 2.4: Tóm tắt các quy định chính sách áp dụng đối với các cơ sở bán lẻ nước
ngoài tại Indonesia, Malaysia, Thái Lan (2004)
Trang 8CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬN ÁN
1.1 Tính cấp thiết của đề tài Luận án
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại và trong điều kiện hội nhập quốc tế, lĩnh vực phân phối là sự kết nối sống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Nó đóng vai trò là một trong những “trung gian” để xâu chuỗi các khâu trong toàn bộ quá trình tái sản xuất mở rộng các ngành sản phẩm nông - công nghiệp, từ cung ứng đầu vào đến tiêu thụ đầu ra trên thị trường, góp phần phát triển các chuỗi giá trị của các ngành sản phẩm trong nước, kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu Hoạt động phân phối mang bản chất của hoạt động dịch vụ Theo phân loại của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), dịch vụ phân phối (DVPP) là một trong số 11 ngành dịch vụ chính,
gồm 4 phân ngành: dịch vụ bán buôn (DVBB), dịch vụ bán lẻ (DVBL), dịch vụ đại lý hoa hồng và nhượng quyền kinh doanh Trong đó, dịch vụ chính do nhà bán buôn
và nhà bán lẻ thực hiện DVBB bao gồm việc bán hàng cho những người bán lẻ, những doanh nghiệp sử dụng hàng hóa của những ngành công nghiệp, thương mại, các tổ chức đơn vị chuyên môn hoặc cho người bán buôn khác Những người bán lẻ phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình Nói cách khác, bán buôn là việc bán hàng hóa (thường là các dịch vụ kèm theo) cho đối tượng người mua để sản xuất, để bán lại hoặc tiêu dùng vì mục đích sự nghiệp hoặc kinh doanh Bán lẻ
là hoạt động có nghiệp vụ chủ yếu là bán hàng hóa cùng các dịch vụ kèm theo cho người tiêu dùng cuối cùng, đó là tiêu dùng cá nhân và gia đình, tiêu dùng không mang tính kinh doanh Ngày nay dịch vụ bán lẻ đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và hướng mạnh mẽ tới người tiêu dùng
Sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ (DVPPBL) theo hướng hiện đại không chỉ gắn với việc cung cấp các sản phẩm ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng, mà còn cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ bổ sung là những dịch vụ giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn
và tăng thêm sự thuận tiện hơn khi mua hàng Đồng thời, nó cũng cung cấp cho nhà sản xuất nhiều thông tin cần thiết từ phía cầu để điều chỉnh những quyết định của họ theo nhu cầu của người tiêu dùng Do đó, sự thất bại của ngành DVPP nói chung, DVPPBL nói riêng trong việc thực hiện đầy đủ vai trò, chức năng phân phối của mình có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong hệ thống phân bổ nguồn lực của xã hội
Trang 9và thiệt hại cho nền kinh tế trong cả ngắn hạn cũng như trong dài hạn Cho nên, để tránh cho nền kinh tế vấp phải thất bại đó của thị trường, nhà nước phải can thiệp điều tiết và quản lý sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ Đồng thời, phạm vi của lĩnh vực PPBL trong thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và việc phát triển những công nghệ mới đặc biệt
là công nghệ thông tin Trong xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu, phần lớn các nước, trước hết là những thành viên WTO, đều phải mở cửa thị trường DVPP, thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT), dẫn đến sự phát triển nhanh của mạng lưới phân phối toàn cầu với chủ thể chính chi phối và lãnh đạo là các tập đoàn phân phối
đa quốc gia Mặt khác, trong chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành sản phẩm, khâu phân phối bán lẻ là khâu có giá trị gia tăng cao, tỷ suất lợi nhuận cao nên có sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt của các nhà phân phối bán lẻ trong và ngoài nước Vì thế,
sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối với sự phát triển DVPPBL càng trở nên cần thiết để đảm bảo lợi ích quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế
Trong thời đại toàn cầu hóa, sự hình thành và phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ không chỉ luôn gắn với các dịch vụ chính khác (bán buôn, đại lý uỷ quyền, nhượng quyền ), mà còn luôn gắn với cả các dịch vụ phụ trợ có liên quan đến hoạt động bán
lẻ hàng hoá, không chỉ bao hàm hệ thống phân phối bán lẻ truyền thống mà còn bao hàm cả hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại
Đối với Việt Nam, công cuộc Đổi mới đất nước được bắt đầu sớm nhất và sâu
sắc nhất trong lĩnh vực thương mại bán lẻ hàng hoá (bắt đầu từ Nghị quyết TW6, khóa VI năm 1987) Quán triệt tư tưởng chỉ đạo trong Nghị quyết số 12/NQ-TW ngày 03/01/1996 của Bộ Chính trị (Khoá VII), thực hiện Quyết định 311/QĐ-TTg ngày 20/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 02/2003/NĐ-CP, Quyết định số 27/2007/QĐ-TTg và các văn bản chỉ đạo khác của Đảng và Chính phủ về phát triển thương mại trong nước, Bộ Thương mại trước đây và hiện nay là Bộ Công Thương đã tổ chức thực hiện tốt các chính sách phát triển hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá, nhất là trong phát triển kết cấu hạ tầng cho hoạt động thương mại bán lẻ hàng hoá phát triển Dưới tác động của chính sách Đổi mới, hoạt động dịch
vụ phân phối bán lẻ và thị trường bán lẻ Việt Nam đã phát triển nhanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
Thị trường bán lẻ hàng hoá Việt Nam có tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới từ sau năm 2001, bình quân tăng 25%/năm và có xu hướng ngày càng tăng
Trang 10cao (năm 2007 tăng 27,3%, năm 2008 tăng trên 30%, năm 2009 trong điều kiện suy giảm kinh tế nhưng vẫn tăng 18% và năm 2010 tăng 24,5%, nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vẫn tăng 13% ) Sau trên 15 năm từng bước mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá ở Việt Nam đã từng bước phát triển theo hướng hiện đại, kết nối giữa hệ thống trong nước với các kênh xuất, nhập khẩu hàng hoá, giữa các trung tâm phân phối lớn với các cửa hàng tiện lợi, bám sát khu dân cư, giữa các hình thức phân phối truyền thống với các hình thức mới hiện đại, đáp ứng nhu cầu hàng hoá ngày càng đa dạng của các tầng lớp dân cư Việt Nam đang trở thành thị trường bán lẻ đầy tiềm năng, có sức hấp dẫn cao với các nhà đầu tư nước ngoài Đây vừa là thời cơ vừa là nguy cơ đối với các doanh nghiệp phân phối Việt Nam trong điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, các tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài đang không ngừng tăng cường thế lực để mở rộng thị phần bán
lẻ ở Việt Nam, nhất là trên các đô thị lớn
Quy mô thị trường bán lẻ ngày càng lớn Năm 2010 tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội (LCHHBL&DTDVXH) đạt trên 1.561,6 ngàn tỷ đồng, gấp khoảng 6 lần năm 2001, nâng mức bình quân đầu người
từ 2,54 triệu đồng năm 2001 lên 17,7 triệu đồng năm 2010 Trong giai đoạn
2006-2010 quy mô thị trường bán lẻ đã bằng khoảng 65% GDP trong cùng giai đoạn, phản ánh DVPPBL có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Thị trường dịch vụ phân phối Việt Nam (bán buôn, bán lẻ, đại lý uỷ quyền và nhượng quyền thương mại) đã từng bước mở cửa theo các cam kết quốc tế đa phương, song phương, bắt đầu từ sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (Tháng 7/1995) Từ khi gia nhập WTO (Tháng 11/2006), nhất là từ sau 1/1/2009, thị trường dịch vụ phân phối Việt Nam về cơ bản đã mở cửa như cam kết của Việt Nam với Hoa Kỳ trong Hiệp định thương mại song phương (BTA) Trong đó, từ 1/1/2009 cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tương tự như BTA, Việt Nam không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quí cho nước ngoài; nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, phân bón, xi măng Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm gia nhập WTO, hạn chế khả năng mở điểm bán lẻ của các doanh nghiệp FDI; nhà phân phối nước ngoài chỉ được thành lập liên doanh góp vốn nước ngoài không quá 49% ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng thị trường bán lẻ và
hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá trên thị trường trong nước đang bộc lộ những
Trang 11yếu kém không nhỏ Thị trường phát triển không bền vững, các hệ thống phân phối còn mỏng manh dễ bị tổn thương trước các tác động giá cả thị trường thế giới và quan hệ cung – cầu trong nước Kết cấu hạ tầng thương mại tuy đã có bước cải thiện đáng kể nhưng xét về tổng thể vẫn còn lạc hậu, thiếu đồng bộ nên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh của thương mại trong nước Cơ sở hậu cần phân phối logistics (cảng, kho, vận chuyển ) vừa ít, vừa yếu và thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo
hỗ trợ và phục vụ tốt cho khâu bán buôn, bán lẻ Các phương thức kinh doanh tiến
bộ, hiện đại như liên kết “chuỗi”, trung tâm mua sắm, chuỗi siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi, bán hàng qua mạng, chợ “ảo” chỉ mới manh nha hình thành, chưa nhiều
và chưa mạnh Cơ cấu kênh phân phối hàng hoá nói chung và các mặt hàng quan trọng, đặc thù nói riêng còn mang nặng tính tự phát, thiếu tính chuyên nghiệp Lực lượng thương nhân trên thị trường bán lẻ Việt Nam tuy tăng nhanh về số lượng và biến đổi mạnh về cơ cấu trong quá trình hội nhập, nhưng thiếu những doanh nghiệp lớn, có thương hiệu mạnh, có tính chuyên nghiệp cao; quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực của doanh nghiệp bán lẻ nhìn chung diễn ra chậm
Nhìn chung, các nhà phân phối bán lẻ Việt Nam vẫn chưa tạo được các “khớp nối” linh hoạt giữa các khâu sản xuất – phân phối – tiêu dùng, giữa các kênh lưu thông hàng hoá trong nước với các kênh xuất khẩu, nhập khẩu, chưa đóng vai trò là
“trung gian” để xâu chuỗi các khâu trong toàn bộ chu trình tái sản xuất mở rộng các ngành sản phẩm công – nông nghiệp, từ cung ứng đầu vào đến sản xuất và tiêu thụ đầu ra trên thị trường trong và ngoài nước nhằm phát triển các chuỗi giá trị của các ngành sản phẩm trong nước, kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu
Có nhiều nguyên nhân của tình trạng nêu trên, trong đó có nguyên nhân quan trọng là những bất cập, yếu kém về quản lý vĩ mô lĩnh vực phân phối bán lẻ của Nhà nước và những yếu kém này chậm được khắc phục Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích để củng cố và phát triển kết cấu hạ tầng cho phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ còn rất ít, thiếu tính liên tục, nhất quán và đồng bộ Hầu như chưa có chính sách ưu đãi (thuế, đất đai, tín dụng ) cho đầu tư dịch vụ phân phối bán lẻ Phân công và qui định chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về thị trường bán lẻ còn có những bất hợp lý, thiếu rành mạch, chồng chéo giữa các cơ quan, đơn vị, trong khi lại chưa có người “nhạc trưởng” …v v
Bối cảnh, đặc điểm và xu hướng nêu trên đặt ra những yêu cầu mới trong công tác quản lý Nhà nước đối với quá trình hình thành, phát triển DVPPBL trên thị trường
Trang 12trong nước, trước hết là trong xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ dịch vụ bán lẻ Trong đó, đối tượng và phạm vi tác động của chính sách phát triển DVPPBL không chỉ gồm dịch vụ chính là hoạt động bán lẻ, được gắn kết với các dịch vụ phân phối chính khác (bán buôn, đại lý uỷ quyền, nhượng quyền thương mại)
mà còn bao gồm cả các dịch vụ phụ trợ có liên quan đến hoạt động bán lẻ hàng hoá Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung 2011), trong đó đã xác định rõ:”Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất…” Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 vừa được Đại hội XI
của Đảng thông qua cũng đã đề ra định hướng “Phát triển khu vực dịch vụ đạt tốc
độ tăng trưởng cao hơn các khu vực sản xuất và tăng mức độ cao hơn GDP…; mở rộng thị trường nội địa, phát triển thương mại trong nước…; chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu, phát triển hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, phát triển thương hiệu hàng hóa Việt nam…; phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô”….”Thực hiện hệ thống cơ chế và chính sách phù hợp, đặc biệt là cơ chế, chính sách tài chính tiền tệ nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế”
Như thế, để phát triển DVPPBL ở Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả,
các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao với các Tập đoàn phân phối bán lẻ nước ngoài trên thị trường bán lẻ Việt Nam trong điều kiện tự do hoá thương mại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tạo khớp nối linh hoạt giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng thì yêu cầu bức thiết đang đặt ra là phải tăng cường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ Trong đó, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL ở thị trường trong nước
Vì vậy, đề tài nghiên cứu về: “Hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ
phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” được chọn làm đề
tài Luận án Tiến sĩ kinh tế nhằm giải quyết vấn đề cấp thiết nêu trên
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước
Tình hình nghiên cứu đề tài ở trong nước
Đến nay ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu ở các góc độ khác nhau về bán buôn, bán lẻ, về dịch vụ bán lẻ, về hệ thống phân phối hàng hóa và về từng loại hình dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa (Chợ, siêu thị, trung tâm thương
Trang 13mại…) Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu trực diện, có tính hệ thống và toàn diện về chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa, về đổi mới và hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam Một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận
- Đề tài cấp Bộ “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu thương mại chủ trì năm 2002
(PGS.TS Lê Trịnh Minh Châu làm chủ nhiệm) Trong đó, đã nghiên cứu kỹ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở nước ta nhưng chưa đi sâu nghiên cứu cơ chế quản lý và đề xuất chính sách cụ thể và đồng bộ cho sự phát triển đó
- Đề tài cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị của nước
ta hiện nay” do Viện nghiên cứu thương mại chủ trì năm 2005, TS Nguyễn Thị
Nhiễu làm chủ nhiệm đề tài Trong đó, chỉ nghiên cứu sâu về hệ thống siêu thị và đề
ra giải pháp phát triển cho loại hình này, chưa nghiên cứu toàn diện về dịch vụ bán
lẻ và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ này
- Đề tài cấp Bộ “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta” do Viện nghiên cứu Thương mại chủ trì
thực hiện năm 2006, PGS.TS Đinh Văn Thành làm chủ nhiệm Trong đó đi sâu nghiên cứu về kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu (rau quả, thịt, hàng may mặc, sắt thép, phân bón, xi măng…), chưa nghiên cứu phân phối và dịch vụ phân phối đối với tất cả các nhóm hàng để đề xuất chính sách phát triển các kênh phân phối hàng hóa
- Đề tài cấp Bộ “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi vận doanh theo chuỗi
ở Việt Nam đến năm 2010” do Trường cán bộ Thương mại Trung ương chủ trì thực
hiện năm 2005 Trong đó chỉ đi sâu nghiên cứu về cửa hàng tiện lợi và đề xuất giải pháp phát triển, chưa nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ và đề xuất hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL
Trang 14- Luận án Tiến sỹ kinh tế “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam” của Phạm Hữu Thìn thực hiện tại Viện Nghiên cứu
thương mại năm 2008 Trong đó, chỉ đề cập đến quản lý nhà nước đối với siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi Chưa đi sâu đề xuất hoàn thiện, chính sách phát triển DVPPBL
- Đề tài cấp Bộ “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” do Viện Nghiên cứu thương mại chủ trì thực hiện
năm 2009, TS Từ Thanh Thủy làm chủ nhiệm Trong đó, đã nghiên cứu tổng quan
về dịch vụ bán buôn, buôn lẻ ở Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất hoàn thiện môi trường kinh doanh cho lĩnh vực dịch vụ này theo một số tiêu chí chủ yếu từ góc
độ thuận lợi hóa thương mại cho thương nhân, chưa đi sâu nghiên cứu dịch vụ bán
lẻ từ các góc độ cơ cấu dịch vụ phân phối bán lẻ, chính sách mặt hàng, chính sách
và cơ chế quản lý giá cả, quản lý thị trường theo địa bàn lãnh thổ và các thiết chế quản lý đối với lĩnh vực dịch vụ phân phối bán lẻ
- Dự án nghiên cứu “Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng đến năm 2030” do Viện nghiên cứu thương mại chủ
trì thực hiện năm 2010, PGS.TS Nguyễn Văn Lịch làm chủ nhiệm, được phê duyệt tại Quyết định số 3098/QĐ-BCT ngày 24/06/2011 của Bộ trưởng Bộ Công Thương
Dự án “Nghiên cứu xây dựng khung khổ pháp lý cho hệ thống phân phối” do
Bộ thương mại và GTZ phối hợp chủ trì thực hiện năm 2005 Trong đó đã xây dựng một số chuyên đề nghiên cứu đề cập đến khía cạnh pháp lý và môi trường pháp lý cho hoạt động phân phối trong đó có dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam, chưa đi sâu nghiên cứu về cơ chế, chính sách quản lý sự phát triển DVPPBL ở Việt nam
- Đề án Nghiên cứu “Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020” do Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì thực hiện Trong đó, có đề
cập đến phát triển dịch vụ phân phối ở góc độ chiến lược khung chưa có cơ chế chính sách cụ thể về phát triển DVPPBL
- Tập tài liệu Hội thảo quốc gia “Việt Nam- WTO: mở cửa thị trường trong lĩnh vực dịch vụ phân phối – bán lẻ” do Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam và Ủy ban quốc
gia về hợp tác kinh tế quốc tế phối hợp tổ chức thực hiện tại Hà Nội năm 2008
Tình hình nghiên cứu đề tài ở nước ngoài
Đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến dịch vụ bán lẻ nhưng có rất ít công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ Một số công trình tiêu biểu là:
Trang 15- Francis Kwong (2002) A retail – Led distribution Model (Mô hình bán lẻ hàng đầu), China Resourcer Enterprise Ltd
- AT Kearney, “Những cánh cửa hy vọng cho bán lẻ toàn cầu – chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu 2009” AT Kearney 2009
- Fels, Allan “Quản lý bán lẻ - bài học từ các quốc gia đang phát triển”, Asia
Pacific Business Review, quyển 15, số 1 năm 2009
- Mutebi, Alex M “Những thay đổi về quản lý đối với bán lẻ xuyên quốc gia quy
mô lớn ở các thành phố Đông Nam Á”, Nghiên cứu đô thị, số 44 kỳ 2 năm 2007
Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đây đều liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận án và nghiên cứu sinh có thể kế thừa các kết quả nghiên cứu này trong việc giải quyết nội dung đề tài Luận án Tuy nhiên, điểm mới và khác biệt
là chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận án
Mục tiêu chung : Xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chính
sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế thời kỳ tới năm 2020
Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Đánh giá thực trạng chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa
ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa thời kỳ tới năm 2020
1.4 Đối tƣợng và giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài Luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là Chính sách phát triển dịch vụ
phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án:
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu ba nhóm chính sách tác động trực tiếp
đến sự phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ ở Việt Nam gồm : (i) Các chính sách tác động đến sự gia nhập thị trường và cạnh tranh trên thị trường DVPPBL của các chủ thể kinh doanh; (ii) Các chính sách tác động đến cơ sở ra quyết định đầu tư, điều kiện
Trang 16thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển các loại hình DVPPBL; (iii) Các chính sách
tác động đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả vận doanh của các cơ sở bán lẻ
- Về không gian nghiên cứu: Chính sách vĩ mô phát triển dịch vụ phân phối bán
lẻ của Việt Nam và nghiên cứu kinh nghiệm hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ
phân phối bán lẻ của một số nước (Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Hoa Kỳ)
- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng Chính sách phát triển dịch vụ
phân phối bán lẻ từ khi Việt Nam thực hiện hội nhập quốc tế, trọng tâm là từ năm 2001 đến nay và đề xuất hoàn thiện chính sách cho thời kỳ đến năm 2020
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Hệ thống hóa và khái quát hóa, Logích- lịch sử, phân tích, tổng hợp, chứng minh, diễn dịch, quy nạp, thống kê – so sánh Đồng thời Nghiên cứu sinh cũng kết hợp hình thức nghiên cứu tại bàn với kế thừa kết quả của một số dự án điều tra thực tiễn có liên quan đến dịch vụ phân phối bán lẻ do Viện nghiên cứu thương mại chủ trì, thực hiện và một số cơ quan trong và ngoài Bộ Công Thương cụ thể:
- Sử dụng phương pháp hệ thống hóa để kế thừa có chọn lọc các kết quả
nghiên cứu của các công trình Khoa học đã công bố về những nội dung liên quan đến đề tài Luận án trên cơ sở đó sử dụng phương pháp khái quát hóa để rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn có tính logích của đề tài đồng thời dùng phương pháp tổng hợp để xây dựng các luận cứ khoa học có tính độc lập và rút ra các kết luận khoa học của Luận án
- Sử dụng phương pháp logích – lịch sử kết hợp với phân tích, chứng minh, thống kê – so sánh và quy nạp để đánh giá tiến trình đổi mới chính sách của Nhà
nước ta đối với phân phối bán lẻ hàng hóa từ khi tiến hành hội nhập quốc tế đến nay; phát hiện những khiếm khuyết cần điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam trong thời kỳ tới
- Phương pháp thống kê – so sánh và diễn dịch được sử dụng chủ yếu kết hợp
với phương pháp phân tích chứng minh để làm rõ những tác động của chính sách của Nhà nước đối với sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ
1.6 Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
- Về lý luận : hệ thống hóa, bổ sung và phát triển một số lý luận về hoàn
thiện chính sách phát triển DVPPBL hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Trang 17quốc tế, nghiên cứu kinh nghiệm hệ thống chính sách phát triển DVPPBL của Trung Quốc, Thái Lan và một số nước khác, rút ra những bài học kinh nghiệm cụ thể có thể áp dụng cho Việt Nam Tạo lập khung lý thuyết về hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Về thực tiễn :
+ Tổng kết thực trạng chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam thời gian từ năm 2001 đến nay, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những thành công và hạn chế, bất cập trong việc xây dựng và thực thi các chính sách phát triển DVPPBL hàng hóa ở Việt Nam, xác lập cơ sở thực tiễn cho các đề xuất hoàn thiện chính sách tới 2020
+ Đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng hoàn thiện chính sách phát triển DVPPBL hàng hóa ở Việt Nam thời kỳ tới năm 2020, kiến nghị hoàn thiện chính sách hội nhập quốc tế mở cửa thị trường DVPPBL, chính sách phát triển mặt hàng
và thị trường DVPPBL, chính sách phát triển thương nhân, phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực phân phối bán lẻ…v…v…
1.7 Kết cấu nội dung Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ, hình vẽ và phụ lục, nội dung Luận án kết cấu thành 4 chương
Chương 1 : Giới thiệu chung về Luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận về hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân
phối bán lẻ hàng hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chương 3: Thực trạng chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ
hàng hóa trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển
dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam thời kỳ tới năm 2020
Trang 18CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHÂN PHỐI BÁN LẺ
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1 Tổng quan về dịch vụ phân phối bán lẻ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
2.1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ
2.1.1.1 Khái niệm về phân phối và dịch vụ phân phối bán lẻ
- Khái niệm phân phối hàng hóa : Phân phối là một khâu trung gian trong quá
trình tái sản xuất mở rộng xã hội : Sản xuất – phân phối, lưu thông – trao đổi – tiêu dùng Vì thế cần phân định khái niệm phân phối với các khái niệm liên quan Sản xuất là hành vi người lao động thông qua việc sử dụng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động và làm thay đổi đối tượng theo dự kiến Mục đích của sản xuất
là phải làm cho đối tượng lao động thay đổi theo dự kiến để thỏa mãn một loại nhu cầu nào đó của con người Phân phối là quá trình tách rời giữa các chủ thể kinh tế của sản phẩm xã hội trong sản xuất chung hoặc sản xuất xã hội hóa Do hoạt động chung hoặc do mối liên hệ xã hội của sản xuất, khi chưa thực hiện phân phối, sản phẩm được sản xuất là sản phẩm chung, sau khi phân phối đến từng cá nhân dựa theo những nguyên tắc và tỷ lệ nhất định mới trở thành mức của mỗi cá nhân Sự phân phối sản phẩm xã hội là một khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, nó thực hiện sự quá độ của sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng Sản xuất quyết định phân phối, ngược lại phân phối có tác động trở lại đối với sản xuất, trở thành điều kiện và cơ sở của tái sản xuất Hình thức phân phối sản phẩm xã hội không giống nhau trong các chế độ kinh tế khác nhau hoặc trong các thời kỳ phát triển khác nhau trong cùng một nền kinh tế xã hội Trong hình thức sản xuất của kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường, phân phối không phải được hoàn thành từ trực tiếp phân phối bằng hiện vật mà là phân phối thông qua tiền tệ Mức độ mà các chủ thể hoạt động kinh tế có được trong phân phối thông qua tiền tệ, lấy về giá trị sử dụng tương ứng
là vật phẩm mà mình cần thiết trên thị trường Phân phối (không kể là phân phối hiện vật hay phân phối tiền tệ) phản ánh trực tiếp trình độ thỏa mãn lợi ích vật chất của các cá nhân Tỷ lệ và cơ cấu phân phối giữa các cá nhân được hình thành trong phân phối đã phản ánh địa vị kinh tế - xã hội giữa con người với con người [27;105] Trao đổi là hành vi của con người nhằm chuyển đổi lao động hoặc sản
Trang 19phẩm của mình để có được lao động và sản phẩm của người khác trong quá trình sản xuất xã hội Trao đổi là sản phẩm của chuyên môn hóa sản xuất và phát triển phân công lao động xã hội; là cái nút liên kết xã hội hóa lao động với xã hội hóa sản xuất, là sự môi giới giữa lao động và sản phẩm cá nhân chuyển hóa thành lao động
và sản phẩm xã hội Trong quá trình tái sản xuất xã hội, trao đổi làm cho lao động
và sản phẩm chuyển từ người sản xuất đến người tiêu dùng Nó là một khâu không thể thiếu trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Cùng với sự phát triển của phân công xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, sự phát triển của trao đổi từ thấp đến cao, từ trao đổi hiện vật đến hình thành vật ngang giá chung (vàng, tiền giấy, thẻ tín dụng ) Lưu thông trong sự vận hành của kinh tế thị trường, xuất hiện do người sản xuất và người tiêu dùng tách rời nhau, sản phẩm sau khi sản xuất ra phải trải qua một loạt khâu và hình thái biến hóa mới có thể đến tay người tiêu thụ, khiến cho sản phẩm trở thành vật phẩm tiêu dùng Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, khi mà chuyên môn hóa sản xuất và phân công xã hội phát triển cao độ thì hầu như mọi sản phẩm đều được sản xuất và tiêu dùng dưới hình thức hàng hóa Vì vậy, sự vận động của một số lượng lớn sản phẩm xã hội từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng
đã hình thành quá trình lưu thông Trên thực tế, quá trình lưu thông chính là quá trình hàng hóa không ngừng tách rời người sản xuất để tiếp cận người tiêu dùng (mà phân phối bán lẻ là khâu cuối cùng của quá trình đó), cũng chính là sự tổng hòa những hành vi chuyển nhượng sản phẩm phát sinh giữa các chủ thể thị trường khác nhau Trong đó trao đổi là tế bào riêng biệt và yếu tố cấu thành lưu thông Vì thế, do mâu thuẫn bên trong của quá trình trao đổi sản sinh ra tiền tệ, nên trong lưu thông hàng hóa gắn với dòng lưu thông tiền tệ theo hướng ngược lại với dòng lưu thông hàng hóa Quá trình lưu thông trên thực tế là sự thống nhất của lưu thông hàng hóa
và lưu thông tiền tệ Lưu thông hàng hóa quyết định lưu thông tiền tệ nhưng lưu thông tiền tệ có tác dụng ngược trờ lại lưu thông hàng hóa, nó kích thích lưu thông hàng hóa Tiêu dùng là hành vi kinh tế có tính chất xã hội của con người, là sự tiêu hao các sản phẩm vật chất và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất và nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân Tiêu dùng theo nghĩa rộng bao gồm cả tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho cá nhân Tiêu dùng cho sản xuất là việc sử dụng và tiêu hao sức lao động và tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất Tiêu dùng cho cá nhân là chỉ việc sử dụng các tư liệu tiêu dùng cho cá nhân nhằm duy trì sự sinh tồn và phát triển của các cá nhân Tiêu dùng cho sản xuất đóng vai trò mở đường và tiền đề của tiêu dùng cá nhân (vì các loại tư liệu tiêu dùng là sản phẩm trực tiếp của sản xuất, mặt khác, hao phí lao động trong quá trình sản xuất của sức lao động là điều kiện để
Trang 20cho sự tiêu dùng cá nhân của người lao động có thể thực hiện được) Ngược lại, tiêu dùng cá nhân lại là điều kiện tiêu dùng cho sản xuất vì sức lao động được tái sản xuất thông qua tiêu dùng cá nhân [27; 105 – 106]
Như thế, hoạt động phân phối hàng hóa (bán buôn, bán lẻ) thuộc lĩnh vực lưu thông, trao đổi hàng hóa Lưu thông hàng hóa là chỉ quá trình chuyển dịch hàng hóa
từ khu vực sản xuất đến khu vực tiêu thụ Đây là một quá trình vô cùng phức tạp, trong quá trình này có 3 nhân tố tham gia : Người sản xuất, người phân phối và người tiêu thụ Trong vòng quay lưu thông hàng hóa, hoạt động phân phối được thực hiện trong suốt quá trình hàng hóa được chuyển từ khu vực sản xuất sang khu vực tiêu dùng (trong đó phân phối bán lẻ là khâu cuối cùng) Trong điều kiện xã hội hóa sản xuất và lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển, hàng hóa từ sản xuất tới tiêu dùng thường phải qua 4 khâu chủ yếu : Khâu thu mua, khâu vận tải, khâu tồn trữ, khâu tiêu thụ Nếu như thông qua khâu thu mua, sản phẩm của người sản xuất chuyển thành hàng hóa và thoát ly khỏi khu vực sản xuất đi vào lĩnh vực lưu thông thì ở khâu tiêu thụ hàng hóa được chuyển từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh vực tiêu dùng; đó là cách thức để thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và cũng là điều kiện tất yếu của sản xuất hàng hóa
Trong các nền kinh tế thị trường hiện đại, lĩnh vực phân phối là sự kết nối sống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Hoạt động của lĩnh vực này ảnh hưởng mạnh mẽ tới lợi ích của người tiêu dùng Hiệu quả và tính cạnh tranh tăng trong hệ thống phân phối có thể dẫn đến việc giảm giá, đặc biệt khi chiết khấu phân phối chiếm phần đáng kể trong giá bán của các sản phẩm cuối cùng và giảm được
sự méo mó trong cơ cấu giá Hơn nữa, việc cung cấp sản phẩm cũng ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Tuy nhiên lĩnh vực phân phối không chỉ đơn thuần là người giao hàng hay chỉ có một vai trò duy nhất Hoạt động phân phối còn cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ bổ sung (địa điểm thuận tiện, đảm bảo về giao hàng, các thông tin và môi trường kinh doanh) là những dịch vụ giúp cho sự lựa chọn chính xác hơn và tăng thêm sự thuận tiện hơn khi mua hàng Đồng thời, nó cũng cung cấp cho người sản xuất nhiều thông tin cần thiết để điều chỉnh những quyết định của họ theo nhu cầu của người tiêu dùng Sự thất bại của ngành phân phối trong việc thực hiện đầy đủ vai trò của mình có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong việc phân bổ nguồn lực và thiệt hại về kinh tế như
đã xảy ra ở nhiều nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Việc thừa nhận rằng chính sự cạnh tranh ngày càng tăng, cả ở thị trường trong
và ngoài nước, có thể cải thiện hoạt động của lĩnh vực phân phối sẽ đưa đến việc
Trang 21giảm bớt các quy định và tăng cường tự do hóa trong lĩnh vực này Đồng thời, phạm
vi của lĩnh vực phân phối trong thương mại quốc tế đã được phát triển nhanh chóng thông qua việc mở rộng đầu tư trực tiếp nước ngoài và việc phát triển các công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin
- Phân phối bán lẻ hàng hóa là khâu cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng, là sự cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng bằng cách mua, thu gom, cất giữ hàng hóa và vận chuyển đến một địa điểm thuận tiện nào đó, đồng thời thực hiện một loạt các dịch vụ bổ sung để làm cho người tiêu dùng dễ dàng mua được hàng hóa đó và sử dụng tiện lợi hàng hóa đó Hoạt động phân phối bán lẻ không tạo ra sản phẩm mới nhưng làm tăng thêm giá trị sản phẩm đã được sản xuất
- Dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa :
Hoạt động phân phối hàng hoá mang bản chất của hoạt động dịch vụ, nó là hoạt động lao động có tính chất phục vụ và mang tính xã hội của con người để tạo
ra những sản phẩm có giá trị và giá trị sử dụng, đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thoả mãn nhu cầu sản xuất hay đời sống của con người và là một thực thể quan trọng cấu tạo nên GDP của nền kinh tế quốc dân
Trong Danh mục phân loại các ngành dịch vụ, tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 (W/120) (trong khuôn khổ của WTO) được xây dựng trong Vòng Uruguay và phần lớn dựa trên Danh mục Phân loại tạm thời các sản phẩm chính của Liên Hiệp Quốc (CPC), lĩnh vực dịch vụ phân phối được định nghĩa bao gồm bốn nhóm dịch vụ
chính: Dịch vụ đại lý uỷ quyền, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising) Các đại lý uỷ quyền khác với những nhóm còn lại ở chỗ họ
tiến hành giao dịch thay mặt cho người khác, ví dụ họ bán những mặt hàng được cung cấp và thông thường những hàng này thuộc sở hữu của người khác cho những người bán buôn, bán lẻ hoặc các cá nhân Dịch vụ bán buôn bao gồm việc bán hàng cho những người bán lẻ, những doanh nghiệp sử dụng của các ngành công nghiệp, thương mại, các tổ chức hoặc các đơn vị chuyên môn, hoặc cho những người bán buôn khác Những người bán lẻ bán hàng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc
hộ gia đình Những người nhượng quyền bán một số quyền và ưu đãi cụ thể, ví dụ như quyền sử dụng một mô hình bán lẻ cụ thể hoặc một thương hiệu
Danh mục CPC xác định rằng “Dịch vụ chính do các nhà bán buôn và bán lẻ thực hiện là bán lại hàng hoá, kèm theo hàng loạt các dịch vụ phụ trợ có liên quan khác, như: Bảo quản lưu kho hàng hoá; lắp rắp, sắp xếp và phân loại đối với hàng
Trang 22hoá khối lượng lớn, bốc dỡ và phân phối lại đối với hàng hoá khối lượng nhỏ; dịch
vụ giao hàng; dịch vụ bảo quản lạnh; các dịch vụ khuyến mãi do những người bán buôn thực hiện; và các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như chế biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe”
Trong thực tế, sự phân phối giữa các nhóm nhà phân phối có thể không rõ ràng Nhiều doanh nghiệp thực hiện một vài chức năng, hoặc nhà sản xuất cũng
có thể tự mình thực hiện chức năng phân phối Hơn nữa, định nghĩa về dịch vụ phân phối có thể chưa thực sự phản ánh đầy đủ vai trò ngày càng rộng của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này Ví dụ, sự thay đổi trong lĩnh vực sản xuất hướng tới các kỹ thuật sản xuất được kiểm soát chặt chẽ đã khiến hệ thống phân phối trở nên phức tạp Bên cạnh những hoạt động mà danh mục CPC phần nào đã tiên lượng trước như bảo quản lưu kho, quảng cáo và đóng gói, các nhà phân phối phải thực hiện thêm một số chức năng như đặt cọc trước, kiểm soát và quản lý chất lượng
Sơ đồ 2.1 Các kênh lưu thông hàng hoá và các cấp trung gian
thương mại trong nền kinh tế thị trường [57;5]
Người sản xuất/
Nhập khẩu
Người tiêu dùng
Nguời sản xuất/
Nhập khẩu
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Nguời sản xuất/
Nhập khẩu
Nguời bán buôn
Người bán lẻ
Nguời tiêu dùng
Nhập khẩu
Đại lý, môi giới
Người bán buôn
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Trang 23Trong bối cảnh nêu trên, việc phân định sự khác nhau giữa hành vi bán buôn và bán lẻ sẽ cho ta cách tiếp cận cụ thể về dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa :
+ “Bán buôn” theo cơ quan Thống kê của Liên Hợp quốc (UNSTATS) là việc bán lại (bán mà không có chế biến) hàng mới và hàng đã qua sử dụng, cho các nhà bán lẻ, các nhà công nghiệp, thương mại, các đối tượng sử dụng chuyên nghiệp, hay các tổ chức, hay các nhà buôn khác, gồm cả các đại lý và môi giới mua hoặc bán hàng cho các đối tượng kể trên Bán buôn thường thực hiện với số lượng lớn và giá cả thấp hơn giá bán lẻ, tức là giá trị đầy đủ của hàng hoá Người bán buôn không phải là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hay sở hữu sản phẩm Người bán buôn đóng vai trò trung gian trong việc chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến người bán lẻ
+ “Bán lẻ” theo từ điển kinh tế thị trường (tra cứu trực tuyến) là hình thức
“bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân của họ, từ đây hàng hoá kết thúc quá trình lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng cá nhân; giá trị hàng hoá được thực hiện đầy đủ”
Ngoài ra còn có khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ:
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bán lẻ là hình thức “bán từng cái, từng ít một trực tiếp cho người tiêu dùng” [25;95]
Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120 (W/120) của vòng đàm phán Uruguay của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và
danh mục sản phẩm chính tạm thời của Liên Hợp quốc (CPC) định nghĩa: “Bán lẻ
là hoạt động bán hàng hoá cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan” [42;2]
Trong cuốn sách “Quản trị Marketing” Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻ
như sau: “Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh” [43;628]
Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: “Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan”
Tuy đã có nhiều định nghĩa bán lẻ theo nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều
thể hiện một đặc điểm chung của bán lẻ đó là hoạt động dịch vụ đưa hàng hoá đến
Trang 24tay người tiêu dùng cuối cùng (Tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng của cá nhân
hay gia đình) Nghĩa là, bán lẻ là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với người tiêu dùng Lĩnh vực thương mại bán lẻ, bao gồm những cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hoá và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng; gồm hai loại nhà bán lẻ chính là các nhà bán lẻ qua chợ, cửa hàng, và các nhà bán lẻ không qua cửa hàng
- Dịch vụ phân phối và dịch vụ logistics :
Trong danh mục ngành và phân ngành dịch vụ theo phân loại của WTO (12 ngành và 155 phân ngành dịch vụ) không định danh dịch vụ logistics Trong bảng phân ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam (SNA Việt Nam), theo Nghị định 75/CP ngày 27/10/1993 của Chính phủ cũng không định danh rõ ngành dịch vụ logistics Tuy nhiên, theo điều 233 Luật thương mại Việt Nam (2005) đã đưa ra khái niệm dịch vụ logistics, trong đó quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,
tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kỹ mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Theo định nghĩa này của Luật thương mại thì có sự giao thoa giữa khái niệm dịch
vụ logistics và dịch vụ phân phối (theo phân định trong danh mục CPC của Liên hợp quốc)
Dịch vụ logistics (theo Luật thương mại 2005)
Dịch vụ phân phối (theo danh mục CPC của Liên hợp quốc
- Dịch vụ bảo quản, kho bãi, bốc dỡ
- Dịch vụ đóng gói, phân loại, bao bì
- Dịch vụ giao hàng
Trang 25Hiện nay một số sách chuyên khảo và tài liệu dịch thuật về dịch vụ logistics đã đưa ra quan niệm rộng về dịch vụ logistics, bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế nhằm tới việc tối ưu hóa quá trình từ tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng, với mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng Trong đó, logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng Theo quan niệm này thì dịch vụ phân phối nói chung, dịch vụ phân phối bán lẻ nói riêng là loại hình cụ thể của hoạt động logistics Trong luận án này tác giả không tiếp cận dịch vụ phân phối bán lẻ từ góc độ là loại hình cụ thể của dịch vụ logistics, mà tiếp cận dịch vụ phân phối bán lẻ với tính chất
là ngành dịch vụ chính trong ngành dịch vụ phân phối theo phân định ngành dịch vụ của WTO dựa trên danh mục CPC của Liên hợp quốc
- Cơ sở bán lẻ là các hình thức tổ chức kinh doanh dịch vụ bán lẻ cố định với các loại hình doanh nghiệp thương mại bán lẻ hoặc điểm bán lẻ được phân loại chủ yếu theo ngành hàng, mặt hàng, mức giá, phương thức phục vụ, diện tích kinh doanh, địa điểm gắn với các không gian lãnh thổ, khu vực địa lý cụ thể
Các loại hình cơ sở bán lẻ chủ yếu gồm: Trung tâm mua sắm, đại siêu thị, siêu thị, cửa hàng bách hóa, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng đồ hiệu, cửa hàng giá rẻ, cửa hàng tạp hóa, chợ, trung tâm phân phối, trung tâm tiêu thụ của nhà sản xuất…
2.1.1.2 Phân loại và đặc điểm dịch vụ phân phối bán lẻ
Tùy theo góc độ và mục đích nghiên cứu, có thể phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ theo các tiêu chí sau:
- Phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ (DVPPBL) theo phương thức phục vụ/phương thức bán lẻ:
Trên thực tế, ở góc độ quản lý Nhà nước người ta thường dựa theo phương thức phục vụ hay phương thức bán lẻ để phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá trên thị trường trong nước Trên cơ sở đó, có thể chia dịch vụ phân phối bán lẻ
ra thành 2 loại hệ thống dịch vụ bán lẻ là hệ thống dịch vụ phân phối bán lẻ truyền thống và hệ thống dịch vụ phân phối bán lẻ hiện đại
Trang 26Sơ đồ 2.2 Phân loại dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá trên thị trường trong nước theo phương thức phục vụ [79;15]
+ Dịch vụ phân phối bán lẻ truyền thống: Là phương thức bán lẻ trong đó chủ
yếu sử dụng phương thức bán hàng thủ công, trực tiếp Người mua hàng thực hiện việc lựa chọn hàng hoá dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của người bán hàng Các loại hình bán lẻ truyền thống thường được tổ chức dưới dạng các cửa hàng nhỏ, chợ, xe bán hàng rong
+ Dịch vụ phân phối bán lẻ hiện đại: Là phương thức phân phối bán lẻ trong
đó có sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại vào việc quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh Người mua hàng thường tự mình thực hiện toàn bộ công đoạn lựa chọn và mua hàng mà không cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía người bán hàng Các loại hình bán lẻ hiện đại bao gồm các siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng, trung tâm mua sắm [57;42]
- Theo quy mô và hình thức tổ chức hoạt động kinh doanh bán lẻ: Người ta có
thể chia các hình thức tổ chức bán lẻ thành các loại như: Đại siêu thị, siêu thị, siêu thị mini, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, chợ, cửa hàng, kiốt Ở Việt Nam, việc phân chia qui mô các hình thức tổ chức bán lẻ được thực hiện theo Qui chế về siêu thị, trung tâm thương mại được ban hành kèm theo quyết định số
Xe bán hàng rong Chợ
Kiốt, cửa hàng bán lẻ
Siêu thị
Trung tâm thương mại
Cửa hàng tiện lợi…
Hệ thống dịch vụ phân phối bản lẻ truyền thống
Hệ thống dịch
vụ phân phối bán lẻ hiện đại
Hệ thống
dịch vụ phân
phối bán lẻ
trong nước
Trang 271371/2004/QĐ-BTM ngày 24/3/2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương)
- Theo hình thức phục vụ khách hàng, người ta phân ra thành: Hình thức tổ
chức bán lẻ cố định (cửa hàng, kiốt ), hình thức tổ chức bán lẻ lưu động (xe bán hàng lưu động, các cửa hàng lưu động, các nhóm bán hàng lưu động ), hình thức
tổ chức bán lẻ trực tuyến (bán lẻ trên mạng) Ngày nay với sự hỗ trợ của các phương tiện điện tử, các hình thức bán lẻ phục vụ khách hàng ngày càng phát triển
đa dạng, có sự kết hợp giữa thương mại điện tử và bán hàng lưu động theo nhóm nhà phân phối
- Theo phạm vi mặt hàng kinh doanh bán lẻ người ta chia các hình thức tổ
chức bán lẻ hàng hoá thành các loại: Cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện dụng, các siêu thị chuyên doanh, và các siêu thị tổng hợp, cửa hàng bách hoá
- Theo phương thức tổ chức kinh doanh bán lẻ, người ta chia làm ba loại:
Phương thức tổ chức kinh doanh bán lẻ độc lập (cửa hàng bán lẻ độc lập, siêu thị độc lập ); phương thức tổ chức kinh doanh bán lẻ theo chuỗi liên kết (chuỗi cửa hàng tiện lợi, chuỗi siêu thị ); và hình thức tổ chức kinh doanh bán lẻ trên mạng / trực tuyến
2.1.2 Vai trò của dịch vụ phân phối bán lẻ đối với phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại ngày nay
- Trong tất cả các quốc gia có đầy đủ dữ liệu, lĩnh vực phân phối (bán buôn và bán lẻ cộng lại) chiếm một phần đáng kể trong các hoạt động kinh tế Phần đóng góp của lĩnh vực phân phối trong tổng GDP nằm trong khoảng từ 8% ở Đức, Ireland đến trên 20% ở Hồng Kông, Trung Quốc và Panama Tại Philippin và Indonesia, dịch vụ phân phối đóng góp khoảng 16% GDP Tại nhiều nền kinh tế, lĩnh vực này chỉ đứng thứ hai sau lĩnh vực chế tạo về mức đóng góp GDP và vượt trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, khai khoáng, vận tải, viễn thông và dịch vụ tài chính Đóng góp của lĩnh vực này trong việc tạo công ăn việc làm thường còn lớn hơn đóng góp vào GDP, thể hiện khả năng thu hút lao động mạnh mẽ của lĩnh vực này Dịch vụ bán lẻ bao giờ cũng sử dụng nhiều lao động hơn dịch vụ bán buôn Chỉ số thể hiện tầm quan trọng của lĩnh vực phân phối trong các hoạt động kinh doanh chính là tỷ lệ số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối trong tổng số các doanh nghiệp trong một nền kinh tế, tỷ lệ này nằm trong khoảng từ nhỏ hơn 20% tại Hoa Kỳ, Đan Mạch và Ireland, lên tới 40% tại Hy Lạp và Bồ Đào Nha
Trang 28Một số nước có số lượng tương đối lớn các doanh nghiệp phân phối là do đặc thù có nhiều doanh nghiệp bán lẻ qui mô nhỏ Ở Việt Nam, dịch vụ phân phối đóng góp 13
- 14% vào tổng GDP của nền kinh tế từ sau năm 2004 đến nay
Ý nghĩa kinh tế của DVPPBL trong nền kinh tế thị trường và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế còn hơn nhiều so với đóng góp đơn thuần vào GDP, các DVPPBL có các vai trò và ý nghĩa kinh tế chủ yếu sau:
- Góp phần giải quyết các mâu thuẫn cơ bản về phân phối hàng hoá của nền
kinh tế thị trường Các mâu thuẫn cơ bản về phân phối của nền kinh tế thị trường
được giải quyết đó là:
+ Mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn, chuyên môn
hoá sâu với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nhỏ và đa dạng
+ Mâu thuẫn thứ hai là sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng + Mâu thuẫn thứ ba là sự khác biệt về thời gian do thời gian sản xuất và thời
gian tiêu dùng không trùng khớp
Dịch vụ bán lẻ chiếm vị trí trọng tâm trong lĩnh vực phân phối vì tạo giá trị gia tăng
và việc làm, chỉ đạo marketing cho liên kết dọc của mỗi chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị hàng hóa với giá trị gia tăng cao Nhờ sự phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ chuyên nghiệp, Nhà nước có thể thực hiện được hiệu quả các chức năng điều tiết và kiểm soát thị trường như điều tiết cung cầu hàng hóa, kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại, kiểm soát giá cả thị trường…
- Tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, sức cạnh tranh quốc
gia Các quyết định về xây dựng hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá đã và đang trở
thành những chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, là một công cụ cực kỳ quan trọng và phức tạp trong chiến lược marketing hỗn hợp cua doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp tạo lập được lợi thế cạnh tranh bền vững dài hạn trên thị trường và thành công trong kinh doanh Phát triển và quản lý được hệ thống phân phối bán lẻ hàng hoá hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm của mình
- Tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao mức hưởng thụ của
người tiêu dùng Dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá giữ vai trò ngày càng quan
trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội, bởi nó đảm bảo một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất là khâu tiêu thụ Dịch vụ phân phối bán lẻ cung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng loại hàng hoá mà họ cần, đúng thời gian, tại một địa điểm và ở một mức giá mà người tiêu dùng chấp nhận Dịch vụ phân phối bán lẻ
Trang 29có thể dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hàng hoá và phát triển thị trường cho các ngành kinh tế và sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước [5;21-30]
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển và các xu hướng phát triển DVPPBL
2.1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển DVPPBL
Sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ được thể hiện thông qua sự mở rộng về qui mô và sự nâng cao về chất lượng, hiệu quả của dịch vụ bán lẻ Vì vậy,
để đánh giá sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ, người ta thường dựa vào các chỉ tiêu sau:
- Giá trị sản xuất ngành thương nghiệp (bán buôn, bán lẻ) : Theo SNA Việt
Nam, giá trị sản xuất ngành thương nghiệp được tính bằng chi phí thương nghiệp (trade margins) đối với hàng hóa được bán cho người tiêu dùng Phí thương nghiệp được xác định bằng hiệu số giữa giá trị hàng hóa bán ra và nguyên giá hàng hóa bán (hay giá trị hàng hóa mua vào để bán, kể cả chi phí cho đến khi hàng hóa được bán) Đẳng thức đầy đủ :
Giá trị sản xuất thương nghiệp = Tổng giá trị hàng bán + Giá trị hàng mua vào
để bán nhưng đã sử dụng cách khác + Thay đổi tồn kho – Nguyên giá hàng bán (1)
Trong đó : đối với hàng hóa nhập khẩu, trong nguyên giá hàng bán (cost of goods sold) đã bao gồm thuế nhập khẩu nên trong giá trị sản xuất nêu trên không bao gồm thuế nhập khẩu hàng hóa khi mục nguyên giá hàng bán là tổng giá phải trả cho sản phẩm được đem bán trong chu kỳ kế toán, kể cả chi phí vận tải Đẳng thức tương đương với đẳng thức (1) :
Giá trị sản xuất thương nghiệp = Tổng chi phí thương nghiệp + Lãi + thuế thương nghiệp (2)
Trong đó : Tổng chi phí thương nghiệp bao gồm chi phí liên quan đến hàng hóa
từ mua vào đến chi phí vận tải, bốc dỡ, lưu kho, phân loại đóng gói cho đến khi bán
Từ hai đẳng thức nêu trên (1) và (2), có thể xác định giá trị sản xuất của phân ngành DVPPBL như sau :
Giá trị sản xuất ngành DVPPBL = Tổng giá trị hàng hóa bán lẻ + giá trị hàng mua vào (từ nhà bán buôn và/hoặc từ nhà sản xuất để bán nhưng đã sử dụng cách khác + thay đổi tồn kho – Nguyên giá hàng bán (3)
Trang 30Đẳng thức tương đương đẳng thức (3) :
Giá trị sản xuất ngành DVPPBL = Tổng chi phí bán lẻ + Lãi + thuế thương nghiệp
- Số lượng điểm bán lẻ cho thấy qui mô của mạng lưới phân phối bán lẻ trong nền
kinh tế, không gian bao phủ và mật độ bao phủ của mạng lưới bán lẻ trên thị trường Số lượng địa điểm bán lẻ càng tăng cao thì qui mô của hệ thống phân phối bán lẻ càng lớn,
độ bao phủ thị trường càng rộng, qua đó thể hiện tiềm lực của doanh nghiệp, nhất là về tài chính, cũng như về khả năng tổ chức, quản lý và vận hành hệ thống
- Doanh thu bán lẻ và tốc độ tăng trưởng doanh thu bán lẻ cho thấy hiệu quả
hoạt động của mạng lưới phân phối bán lẻ Bên cạnh đó, để đánh giá được chính xác mức độ phát triển của hệ thống phân phối bán lẻ so với tình hình thực tế của thị trường, người ta còn phải dựa vào tốc độ tăng trưởng doanh thu bán lẻ và tỷ trọng doanh thu bán lẻ của hệ thống so với tổng doanh thu bán lẻ của toàn bộ thị trường
để từ đó có đánh giá xác thực Trong đó :
Doanh thu bán lẻ (theo SNA Việt Nam) là tổng giá trị hàng hóa bán lẻ cho người tiêu dùng cuối cùng Tổng doanh thu bán lẻ có thể được tính theo 4 cách : (1) Tổng cộng doanh thu bán lẻ của tất cả các ngành hàng, mặt hàng bán lẻ, bao gồm : (i) Doanh thu bán lẻ nhiên liệu, động cơ; (ii) Doanh thu bán lẻ lương thực, thực phẩm, đồ uống và thuốc lá; (iii) Doanh thu bán lẻ các mặt hàng thuốc, dụng cụ y tế,
mỹ phẩm và vật phẩm vệ sinh; (iv) Doanh thu bán lẻ vải, hàng may sẵn, giầy dép và
đồ ăn; (v) Doanh thu bán lẻ đồ dùng, trang thiết bị gia đình; (vi) Doanh thu bán lẻ
đồ mỹ kim, sơn, kính; (vii) Doanh thu bán lẻ đồ cũ; (viii) Doanh thu bán lẻ các mặt hàng khác (2) Tổng cộng doanh thu của các hình thức bán lẻ gồm : (i) Doanh thu bán lẻ trong các cửa hàng không chuyên doanh; (ii) Doanh thu bán lẻ hàng hóa (trừ
đồ cũ) trong các cửa hàng chuyên doanh; (iii) Doanh thu bán lẻ ngoài cửa hàng (bán
lẻ qua bưu điện, bán lẻ bằng xe lưu động hoặc ở chợ, bán lẻ ngoài cửa hàng bằng các hình thức khác như bằng các hình thức thương mại điện tử ) (3) Tổng cộng doanh thu bán lẻ của các nhóm chủ thể bán lẻ, gồm : (i) Doanh thu bán lẻ của các cơ
sở kinh doanh thương nghiệp; (ii) Doanh thu bán lẻ của các cơ sở sản xuất và nông dân trực tiếp bán sản phẩm hàng hóa ra thị trường (4) Tổng cộng doanh thu bán lẻ của các hệ thống phân phối bán lẻ gồm : (i) Doanh thu bán lẻ qua hệ thống phân phối bán lẻ truyền thống (chợ, cửa hàng, kiốt bán lẻ ); (ii) Doanh thu bán lẻ qua hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi )
- Tỷ trọng giá trị hàng hóa bán lẻ qua các hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại
Trang 31(siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi…) trong tổng doanh thu bán lẻ của toàn nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường tính theo năm
hoặc trong cả giai đoạn 5 năm) Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hiện đại hóa phương thức bán lẻ, phương thức phục vụ khách hàng của dịch vụ bán lẻ trong nền kinh tế Chẳng hạn chỉ tiêu này của nước ta hiện nay là khoảng 20%, trong khi của Thái Lan
là khoảng 60%, phản ánh trình độ phát triển DVPPBL của Thái Lan cao hơn Việt Nam rất nhiều
- Tỷ lệ giá trị gia tăng của DVPPBL so với tổng doanh thu bán lẻ của toàn nền kinh tế Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả và khả năng đóng góp của lĩnh vực
DVPPBL vào GDP của nền kinh tế, phản ánh chất lượng tăng trưởng DVPPBL của nền kinh tế Chẳng hạn tỷ lệ này của Việt Nam trong thời kỳ 2001 – 2010 có xu hướng tăng nhưng chỉ dao động ở mức 24 – 29% cho thấy chất lượng và hiệu quả DVPPBL của Việt Nam chưa được cải thiện rõ nét Trong đó, cách tính giá trị gia tăng của DVPPBL được tính theo cách tính giá trị gia tăng thương nghiệp theo SNA Việt Nam Một số cách tính cụ thể như sau :
Giá trị gia tăng của DVPPBL (gộp) = Tổng giá trị sản xuất ngành DVPPBL – chi phí trung gian bán lẻ
Trong đó: chi phí trung gian bán lẻ gồm chi phí cho các hàng hóa và dịch vụ được
sử dụng cho mục đích sản xuất của phân ngành DVPPBL, làm đầu vào cho hoạt động kinh doanh DVPPBL, không bao gồm khấu hao tài sản cố định thuộc sở hữu của cơ sở bán lẻ nhưng lại bao gồm tiền thuê sử dụng tài sản cố định của các đơn vị thể chế khác (Đơn vị thể chế là một chủ thể kinh tế tự chủ , có sở hữu tài sản, có tư cách và khả năng chịu nợ, tham gia vào các hoạt động kinh tế và các giao dịch đối với các chủ thể kinh tế khác) cùng các khoản phí, tiền hoa hồng, tiền thuê bản quyền Giá trị hàng hóa và dịch
vụ tiêu dùng trung gian được tính theo giá người mua tại thời điểm nó được sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh của các cơ sở bán lẻ
Giá trị gia tăng ngành DVPPBL thuần = Giá trị sản xuất ngành DVPPBL – chi phí trung gian – khấu hao
Nếu tính theo giá sản xuất thì :
Giá trị gia tăng ngành DVPPBL (theo giá sản xuất) = Giá trị sản xuất ngành DVPPBL (theo giá sản xuất) – chi phí trung gian (theo giá người mua)
- Tỷ trọng giá trị giao dịch thương mại bán lẻ bằng phương thức thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ hàng hóa của toàn nền kinh tế Chỉ tiêu này phản ánh
mức độ hiện đại hóa phương thức hoạt động dịch vụ phân phối bán lẻ của nền kinh tế
Trang 32- Số lượng, quy mô phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng thể
hiện qua tỷ lệ doanh thu các dịch vụ bổ sung trong quá trình kinh doanh bán lẻ so với doanh thu bán lẻ thuần túy của các doanh nghiệp/nhà bán lẻ trong nền kinh tế
Tỷ lệ càng cao thì ý nghĩa kinh tế của dịch vụ bán lẻ và mức độ thỏa mãn khách hàng của các nhà cung ứng dịch vụ bán lẻ càng lớn Thông thường ở các nên kinh tế
có lĩnh vực DVPPBL phát triển thì tỷ lệ này thường cao hơn ở các nền kinh tế có trình độ phát triển DVPPBL thấp hơn.Các dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng hay các dịch vụ bổ sung trong quá trình kinh doanh bán lẻ chủ yếu gồm : dịch vụ phân loại đóng gói, dán nhãn hàng hóa, chế biến phục vụ khách hàng, dịch vụ giao hàng, dịch vụ kho hàng, bảo quản lạnh và bãi đỗ xe, trông giữ xe
- Số lượng các tập đoàn bán lẻ, các thương hiệu bán lẻ có uy tín của quốc gia trên thị trường trong nước và thị trường thế giới Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp
trình độ phát triển DVPPBL của quốc gia trong quan hệ cạnh tranh quốc tế hướng đến người tiêu dùng Theo đó, một nước có số lượng càng nhiều các thương hiệu bán lẻ lớn thì DVPPBL càng phát triển
2.1.3.2 Các xu hướng phát triển dịch vụ bán lẻ
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành phân phối thay đổi theo mức độ phát
triển của mỗi quốc gia Mặc dù có sự khác biệt về trình độ phát triển, đặc trưng về cấu trúc và các chính sách của các quốc gia… Có thể khái quát một số vấn đề chung
về lĩnh vực phân phối Thứ nhất, tại hầu hết các nước, số đông các doanh nghiệp bán lẻ chỉ có một cửa hàng và có quyền sở hữu duy nhất Tuy nhiên, các cửa hàng độc lập có ưu thế về tổng doanh số bán lẻ kém hơn so với ưu thế về sử dụng lao động, đặc biệt tại các nước có hệ thống bán lẻ phát triển Thứ hai, một phần lớn lĩnh vực này, cả về số doanh nghiệp lẫn doanh số bán lẻ, liên quan đến bán lẻ thực phẩm Các mặt hàng bán lẻ quan trọng tại các chợ là nông sản, vải sợi, quần áo và giày dép, các thiết bị gia dụng và phụ tùng ô tô Thứ ba, đặc trưng của lĩnh vực này
là có giá trị gia tăng cao và sử dụng nhiều lao động Sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng và thay đổi công nghệ thể hiện ở các sản phẩm ngày càng phức tạp, tinh
vi đã tạo nên sự chuyển biến theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ và do vậy cũng làm tăng nhu cầu đối với lao động có trình độ cao
- Về xu hướng hình thành và phát triển các hệ thống phân phối bán lẻ
Hiện đang có những thay đổi quan trọng diễn ra trong lĩnh vực phân phối, đặc biệt là tại các nước phát triển Sự thay đổi này tác động đến cơ cấu của từng phân ngành trong lĩnh vực phân phối cũng như tầm quan trọng tương đối của mỗi phân
Trang 33ngành này Thứ nhất, tập trung hóa hệ thống phân phối ngày càng cao hơn Điều này được thể hiện cả ở việc nổi lên một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực này lẫn việc ngày càng có nhiều mối quan hệ gần gũi giữa các nhà sản xuất, những người bán buôn và những người bán lẻ, đặc biệt thông qua việc tạo ra các mạng lưới phân phối hàng hoá Cụ thể như trong lĩnh vực bán lẻ, những cửa hàng nhỏ truyền thống bán những sản phẩm thiết yếu đã được thay thế bằng hệ thống các cửa hàng bách hoá lớn hơn hoặc các siêu thị, đại siêu thị, các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm lớn… v v Thêm vào đó, qui mô trung bình của các cửa hàng cũng đã tăng nhiều cả về mặt doanh thu và số nhân công bán hàng, và mật độ các cửa hàng bán lẻ cũng giảm xuống Trong một số trường hợp, các cửa hàng nhỏ không biến mất mà nhập vào thành một phần trong dây chuyền lớn các cửa hàng bán lẻ hoặc hoạt động theo thoả thuận nhượng quyền của các công ty lớn, hướng tới các phân đoạn chuyên biệt hơn trên thị trường Thứ hai, vài trò của các nhà bán buôn truyền thống nhìn chung đã suy giảm trên thị trường, với ảnh hưởng mạnh nhất đối với phân đoạn thị trường của nhóm “hàng rẻ tiền mau hỏng” (hàng tiêu dùng không bền)
- Về xu hướng phát triển thị trường dịch vụ phân phối bán lẻ
Ngày nay, cùng với sự phát triển của sản xuất, tiêu dùng, của thị trường bán lẻ hàng hoá và các phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại, bên cạnh các hệ thống phân phối bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng bách hoá hoặc chuyên doanh, các kiốt bán
lẻ thì hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại ngày càng phát triển về qui mô và loại hình
tổ chức như siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng tiện lợi …v v
- Sự phát triển của thương mại điện tử có thể mang lại sự thay đổi toàn diện
trong lĩnh vực phân phối Những tiến bộ trong công nghệ chuyền tải dữ liệu điện tử (EDI) đã từng là nhân tố quan trọng trong giao dịch của các doanh nghiệp Giờ đây, những tiến bộ tương tự cũng ảnh hưởng đến dịch vụ bán lẻ: Từ làn sóng các cửa hàng ảo, sau đó thành công hơn nữa là những người chuyên doanh bán lẻ, và gần đây là những cửa hàng lớn bán đa dạng nhiều loại hàng hoá đã xuất hiện Các cửa hàng trên mạng bán hoa, sách, báo, ô tô, băng đĩa, máy tính hoặc phần mềm máy tính và thậm chí cả hàng tạp hoá cũng đã và đang xâm nhập vào hệ thống bán lẻ truyền thống thông qua việc chuyên kinh doanh một số mặt hàng hoặc nhóm sản phẩm nhất định
- Thương mại dịch vụ phân phối giữa các nền kinh tế trên thế giới được thực
hiện chủ yếu thông qua phương thức hiện diện thương mại và cung cấp qua biên giới Tuy nhiên việc tiêu dùng ở nước ngoài của dịch vụ phân phối có thể không
Trang 34quan trọng vì việc mua hàng của dân cư vùng biên giới của các nước láng giềng cũng được xếp vào phương thức này Nhưng theo qui định tại Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), việc mua hàng (giá bán buôn tịnh của sản phẩm) của người tiêu dùng Thụy Sỹ từ hệ thống cửa hàng Migros của Thụy Sỹ đặt tại Pháp sẽ được coi là tiêu dùng ở nước ngoài, trong khi đó việc bán hàng (giá bán buôn tịnh của sản phẩm) của cửa hàng Migros đặt tại Pháp lại được xem là cung cấp dịch vụ phân phối thông qua hiện diện thương mại Hai nhóm dịch vụ chính là bán buôn và bán lẻ được cung cấp chủ yếu thông qua phương thức hiện diện thương mại
- Quá trình quốc tế hoá dịch vụ phân phối diễn ra mạnh mẽ cùng với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Những công ty và Tập đoàn đa quốc gia và xuyên quốc gia là những minh chứng sinh động cho nguyên nhân của tiến trình quốc tế hoá dịch vụ phân phối Một số công ty trình độ cao, ví dụ như Compaq Computer và Levi Strauss được biết đến nhiều hơn với
tư cách là nhà sản xuất và người ta biết đến họ với tư cách là nhà xuất khẩu trong dịch vụ phân phối chủ yếu do lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất sản phẩm của chính họ Compaq Computer tham gia vào hoạt động phân phối thể hiện những ưu thế của quá trình hội nhập theo chiều dọc của các nhà sản xuất hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng dài, với nhóm hàng này các dịch vụ trước và sau khi bán hàng là rất quan trọng Trong số
10 công ty bán lẻ lớn nhất thế giới (tính theo doanh số bán hàng) có 3 công ty có nguồn gốc từ Hoa Kỳ, 5 công ty từ Đức, và 2 công ty của Nhật Bản Những khó khăn trong việc quốc tế hoá là do sự khác nhau về thị hiếu và luật pháp quốc gia Những động thái quốc
tế của các công ty bán lẻ châu Âu đang được tiến hành thông qua các cách thức như phát triển nội bộ, sáp nhập, mua lại và liên doanh Các liên doanh là hình thức hay được dùng trong tiến trình quốc tế hoá trong nội khối EU, trong khi mua lại và sáp nhập là hình thức hay dùng nhất để mở rộng ngoài EU
- Về xu hướng các rào cản thương mại dịch vụ phân phối trên thế giới
Chế độ, chính sách về đầu tư nước ngoài có quan hệ rất mạnh mẽ đối với các điều kiện tiếp cận thị trường tại nhiều quốc gia Những hạn chế đối với đầu tư nước ngoài, bao gồm hạn chế về quyền sở hữu nước ngoài (ví dụ hạn chế phần vốn góp
sở hữu nước ngoài ở mức độ nhất định), về hình thức của thực thể pháp lý (ví dụ yêu cầu phải liên doanh với trong nước), về quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất định (ví dụ như đất đai) và về phạm vi hoạt động (hạn chế vế số lượng và địa điểm đặt cửa hàng) cũng có ảnh hưởng mạnh đối với lĩnh vực này Tương tự, yêu cầu thành lập liên doanh với những nhà cung cấp trong nước cũng tước đi tự do của
Trang 35những nhà cung cấp nước ngoài trong việc lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu Nói chung hơn nữa, việc áp dụng các kiểm tra nhu cầu kinh tế trước khi quyết định cho phép đầu tư mới làm giảm tính minh bạch của chính sách và cho các cơ quan quản lý mức độ tùy tiện cao
Dịch vụ phân phối sử dụng nhiều lao động (đặc biệt là dịch vụ bán lẻ) nên ngành này luôn bị ảnh hưởng bởi những hạn chế về sự di chuyển của thể nhân Những yêu cầu về quốc tịch đối với nhân viên sẽ hạn chế các doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí lao động thông qua việc tuyển dụng lao động quốc tế Yêu cầu những người quản lý và giám đốc phải là người thường trú trên thực tế đã gây bất lợi cho những người cung cấp dịch vụ nước ngoài, cho dù yêu cầu này được áp dụng cho tất cả các nhà phân phối Chính sách nhập cư, các hạn chế về visa, thuế và
lệ phí cho an ninh xã hội cũng có ảnh hưởng đến lĩnh vực này
Sự phân biệt đối xử đối với các công ty nước ngoài cũng có thể được thực hiện thông qua thuế và trợ giá, cho dù các nhà đầu tư nước ngoài đôi khi cũng hưởng lợi từ
ưu đãi thuế Các yêu cầu về hoạt động và yêu cầu nội địa hoá cũng có ảnh hưởng làm biến đổi các điều kiện cạnh tranh bất lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài Sự phân biệt đối xử đối với người lao động nước ngoài còn thể hiện qua thuế và trợ cấp, hay việc không cho tiếp cận các lợi ích và những tiện nghi, những hạn chế về quyền của những người sống dựa vào họ và sự đối xử không công bằng tại nơi làm việc
Những hạn chế đối với dịch vụ phân phối qua biên giới bao gồm các biện pháp như phân biệt về thuế đối với hàng hoá cung cấp qua mạng Tiêu dùng ở nước ngoài thường bị hạn chế bởi giới hạn về ngoại tệ và lượng chi tiêu ở nước ngoài đối với khách du lịch và đôi khi là các hạn chế du lịch
Lĩnh vực phân phối còn chịu ảnh hưởng của hàng loạt các qui định khác của Chính phủ Những qui định này tồn tại do nhiều nguyên nhân, bao gồm nguyên nhân bảo vệ sức khoẻ và an toàn, qui hoạch đô thị và bảo vệ môi trường, cũng như
vì các mục tiêu kinh tế
Một số loại qui định đã nhận được sự quan tâm, đặc biệt là những qui định về cửa hàng có qui mô lớn, thời gian mở cửa hàng và pháp luật về qui hoạch và phân vùng Những qui định khác có liên quan là về các hạn chế từ trên xuống, các hạn chế về giá cả và xúc tiến thương mại và các qui định về thị trường lao động Ở nhiều nước, Chính phủ tập trung vào các qui định về các cửa hàng qui mô lớn và chính sách cạnh tranh Thực tế có rất nhiều trong số các qui định gây ảnh hưởng tới
Trang 36lĩnh vực phân phối được thực thi bởi chính quyền địa phương hoặc bởi chính quyền
tự trị là những người có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc cấp phép cửa hàng mới và ảnh hưởng tới các điều kiện hoạt động Do đó, các nhà phân phối phải đối mặt không chỉ với những khác biệt về chính sách ở từng nước, mà với cả sự khác biệt về thái
độ ở từng khu vực Một vài quốc gia, trình độ cao như Nhật Bản, Pháp, Ý, Bỉ và Tây Ban Nha, có hoặc cho đến gần đây vẫn có những qui định pháp lý cụ thể về các cửa hàng bán lẻ có qui mô lớn [42;9-12 ]
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ trong điều kiện hội nhập quốc tế
Sự hình thành và phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ chịu tác động của rất nhiều yếu tố chủ quan lẫn khách quan Sự thay đổi của những yếu tố này có thể làm mất đi những hình thức phân phối cũ và xuất hiện những hình thức phân phối mới, một số trung gian thương mại cũ mất đi thay vào đó là các loại trung gian thương mại mới Cấu trúc cạnh tranh trên thị trường thường xuyên thay đổi cũng kéo theo những sự thay đổi các loại hình kinh doanh phân phối bán lẻ Sự thay đổi các yếu tố hành vi mua của người tiêu dùng, những công nghệ buôn bán mới cũng làm tăng thêm khả năng thay đổi của hệ thống phân phối bán lẻ
Sơ đồ 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của
dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá
Chính trị - Pháp luật
Dịch vụ phân phối bán lẻ
Kinh tế
Điều kiện tự nhiên,Văn hoá –
xã hội
Công nghệ
Hội nhập Hội nhập
Trang 37Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hoá, gồm:
Thứ nhất, Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Một mặt, quá trình
hội nhập đem lại cơ hội hợp tác to lớn trong lĩnh vực bán lẻ giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài, mở rộng thị trường bán lẻ cho các doanh nghiệp, cũng như tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho hệ thống phân phối bán lẻ trong nước Mặt khác, quá trình hội nhập cũng tạo ra sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt giữa hệ thống bán lẻ của các doanh nghiệp Việt Nam còn “non trẻ” với các doanh nghiệp nước ngoài đã có rất nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ
Thứ hai, Yếu tố chính trị - pháp luật Những ảnh hưởng của cơ chế, chính
sách sẽ tác động rất mạnh đến sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ Những qui định và ràng buộc pháp lý cũng ảnh hưởng đến qui mô của hệ thống phân phối bán
lẻ truyền thống và hiện đại, các qui định về điều kiện nhượng quyền thương mại có thể làm hạn chế sự gia tăng các nhà bán lẻ chuyên nghiệp Luật pháp ngăn cản việc phát triển các hệ thống phân phối bán lẻ có xu hướng triệt tiêu cạnh tranh và tạo độc quyền Sự phân bố lại dân cư cũng kéo theo sự thay đổi của quy mô bán lẻ trên từng điạ bàn Qui hoạch phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại và hệ thống bán lẻ trên các địa bàn lãnh thổ cũng kéo theo sự thay đổi của các loại hình kinh doanh bán
lẻ Sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước thể hiện qua việc Chính phủ và các Bộ ngành liên quan ban hành hàng loạt các văn bản liên quan đến việc khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước phát triển mạng lưới phân phối bán lẻ cũng như hạn chế tốc độ gia nhập thị trường bán lẻ Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài
Mặt khác, thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách phát triển dịch
vụ phân phối, Nhà nước sẽ tác động đến hiệu quả đầu tư xây dựng và vận doanh của các cơ sở phân phối bán lẻ Chẳng hạn, nhà nước tác động đến việc ra quyết định đầu tư và hiệu quả đầu tư của các cơ sở dịch vụ bán lẻ thông qua: Chính sách đất đai, quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng thương mại (thể hiện cụ thể ở địa điểm được phép mở cơ sở bán lẻ); Các quy định chính sách về tiêu chuẩn của loại hình, tiêu chuẩn thiết kế của từng loại hình kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ; Các quy định
về xây dựng, thủ tục đầu tư, quy mô tối đa, tối thiểu của các hạng mục, loại hình đầu tư phát triển kinh doanh bán lẻ; Chính sách sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển các loại hình phân phối bán lẻ; các chính sách tín dụng, ưu đãi
Trang 38hoặc hỗ trợ của Nhà nước đối với từng loại hình DVPPBL; chính sách đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cho phát triển DVPPBL…
Thứ ba, Yếu tố điều kiện tự nhiên, văn hoá - xã hội Các điều kiện tự nhiên – xã
hội có tác động trực tiếp đến việc lựa chọn khu vực và xác định không gian, địa điểm
để thiết lập cơ sở bán lẻ, bao gồm điều kiện về địa hình, vị trí địa – kinh tế, điều kiện giao thông, nguồn cung cấp và thị trường tiêu thụ Điều kiện tự nhiên – xã hội còn tác động đến chi phí đầu tư xây dựng, vận doanh cơ sở phân phối bán lẻ (cửa hàng, siêu thị, trung tâm mua sắm…) như tác động đến chi phí tạo lập mặt bằng, xây dựng đường giao thông, thiết lập hệ thống điện, nước, thông tin…, chi phí vận chuyển vật liệu, thiết bị, hàng hóa, thuê nhân viên và các chi phí phân phối khác…
Thời gian và tập quán tiêu dùng, thị hiếu mua sắm của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của dịch vụ phân phối bán lẻ theo phương thức truyền thống và hiện đại, đến sự phát triển của các hình thức, phương thức bán lẻ theo địa điểm cố định hay trực tuyến …v v Bên cạnh đó, kinh doanh bán lẻ còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm văn hoá xã hội của phần đông người tiêu dùng theo địa bàn lãnh thổ đặc thù Nhà nước tác động đến hiệu quả vận doanh của các loại hình DVPPBL thông qua các chính sách tài chính, tín dụng (nhất là các chính sách về thuế như thuế nhập khẩu hàng hóa, thiết bị kinh doanh, thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp…); các quy định về quản lý giá, vệ sinh an toàn thực phẩm, điều kiện kinh doanh; các chính sách về hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát triển hệ thống thông tin thị trường; các quy định chính sách về cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ về kiểm tra, xử lý vi phạm có liên quan đến lĩnh vực bán lẻ; các chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ kinh doanh bán lẻ hiện đại, tiên tiến
Thứ tư, Yếu tố kinh tế Yếu tố này tác động đến sự phát triển dịch vụ phân phối
bán lẻ trên các phương diện chủ yếu là trình độ phát triển của tiêu dùng và trình độ phát triển của sản xuất và cạnh tranh…Mức thu nhập và chi tiêu của các tầng lớp dân cư xác định khả năng mua sắm, yêu cầu về chất lượng hàng hóa, tần suất hay nhịp độ mua sắm… của người tiêu dùng nên ảnh hưởng đến số lượng khách hàng, doanh số bán, thời gian hoạt động của các cơ sở bán lẻ Xu hướng phát triển của tiêu dùng và điều kiện sống của dân cư tác động mạnh mẽ đến cơ cấu, chất lượng và
cả mức giá hàng hóa bán ra của các cơ sở bán lẻ Cách thức tiêu dùng (bao gồm cả thói quen mua sắm, tiêu dùng) của các tầng lớp dân cư có ảnh hưởng đến việc tổ chức và thực hiện các tầng lớp dân cư có ảnh hưởng đến việc tổ chức và thực hiện
Trang 39các dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cho khách hàng cũng như lợi ích của hệ thống phân phối bán lẻ Quy mô hay mức độ tập trung hóa trong tiêu dùng cũng ảnh hưởng lớn đến quy mô về diện tích kinh doanh và phạm vi thị trường của các cơ sở phân phối bán lẻ
Sản xuất tạo cơ sở nguồn hàng cung cấp cho các cơ sở phân phối bán lẻ Cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất là cơ sở quyết định cơ cấu nguồn hàng và cơ cấu sản phẩm cung ứng qua các cơ sở phân phối bán lẻ Trình độ phát triển của sản xuất ảnh hưởng đến sự phát triển của các loại hình phân phối qua việc bảo đảm nguồn hàng phù hợp với yêu cầu của từng loại hình phân phối về mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu chủng loại hàng và giá cả hợp lý
Cạnh tranh thương mại là động lực cho sự phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ, vừa lựa chọn những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối bán lẻ hiệu quả nhất tồn tại vừa thải loại các doanh nghiệp kém hiệu quả ngay trong nội tại hệ thống phân phối cũng có sự cạnh tranh giữa các loại hình phân phối khác nhau, giữa truyền thống và hiện đại, giữa hiện đại và hiện đại, giữa trong nước và ngoài nước… Cạnh tranh diễn ra trong việc tìm địa điểm mở cơ sở bán lẻ mới trong việc đảm bảo chất lượng hàng hóa và dịch vụ khách hàng, trong bán hàng và sau bán hàng, trong xúc tiến bán hàng…v…v…
Thứ năm, Yếu tố khoa học và công nghệ Sự phát triển của công nghệ thông tin
và mạng Internet đã tạo điều kiện cho sự phát triển các loại dịch vụ phân phối bán lẻ mới, hiện đại có sử dụng các hình thức thương mại điện tử Các doanh nghiệp có thể cải thiện dòng thông tin của hệ thống bán lẻ nhờ các phương thức truyền tin qua mạng Internet Các doanh nghiệp có thể sử dụng mạng Internet để quảng bá cho sản phẩm Một số doanh nghiệp kinh doanh trong những ngành hàng nhất định có thể phát triển các mạng lưới bán hàng trực tiếp qua mạng Internet Đó chính là sự phát triển của thương mại điện tử bán lẻ, với các hình thức đa dạng như siêu thị ảo, chợ ảo, gian hàng
Trang 40dạng văn bản chính sách và ban hành theo các văn bản pháp luật (Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) hoặc được quy định trong các Nghị quyết, các chương trình phát triển… nhưng đều có nội dung bản chất là thể hiện rõ lập trường và thái độ ứng xử của Nhà nước (Chủ thể quản lý) đối với sự phát triển lĩnh vực DVPPBL (đối tượng quản lý) trước các vấn đề ai ? cái gì ? ở đâu
? điều kiện nào ? với hình thức nào ? và bằng cách nào ? nhằm hướng sự phát triển của lĩnh vực DVPPBL đến các mục tiêu xác định trong từng giai đoạn Chính sách phát triển DVPPBL là sự cụ thể hóa và để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong các chiến lược và quy hoạch phát triển, các đề án, chương trình phát triển quốc gia
về lĩnh vực DVPPBL trong từng thời kỳ Chính sách phát triển DVPPBL là một thuật ngữ được dùng để chỉ các chính sách của Nhà nước ban hành để tác động điều chỉnh sự phát triển của lĩnh vực DVPPBL Có thể được phân chia chính sách phát triển DVPPBL thành 2 cấp độ: (1) Chính sách khung để làm khung khổ chung cho các chính sách cụ thể, đặc thù; (2) các chính sách cụ thể đối với từng vấn đề quản lý hay đối tượng tác động của chính sách Các chính sách cụ thể như: ai ? (chính sách thương nhân tham gia hoạt động kinh doanh DVPPBL), cái gì ? (Chính sách mặt hàng) Ở đâu ? (Chính sách phát triển thị trường DVPPBL), điều kiện nào ? (chính sách phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh DVPPBL), bằng cách nào ? (chính sách thuế, tín dụng, hỗ trợ đào tạo nhân lực, hỗ trợ thông tin thị trường …nhằm khuyến khích phát triển các lĩnh vực ưu tiên, đặc thù….)
Vị trí, vai trò của chính sách phát triển DVPPBL trong hệ thống các chính sách thương mại của Nhà nước được xác định như sau :
- Ở góc độ tiếp cận của ngành thương mại, chính sách phát triển DVPPBL là
chính sách thương mại cụ thể hay nó là chính sách bộ phận của chính sách thương mại trong nước Thương mại với tư cách là một ngành của nền kinh tế quốc dân
nhưng hoạt động chủ yếu trong khâu phân phối, lưu thông Quá trình tái sản xuất xã
hội là một chu trình tuần hoàn bao gồm các khâu: Sản xuất - phân phối - lưu thông
- tiêu dùng Thương mại nằm trong khâu phân phối, lưu thông của quá trình tái sản
xuất xã hội và đảm nhiệm chức năng lưu chuyển hàng hoá xã hội, kết nối sản xuất với tiêu dùng Trong đó, thương mại bán lẻ chỉ là một khâu cuối cùng trong quá trình lưu thông hàng hoá, thực hiện chức năng phân phối hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Ở góc độ tiếp cận này thì chính sách phát triển DVPPBL
là loại chính sách cụ thể của chính sách lưu thông hàng hoá của Nhà nước