Từng bước thực hiện tự do hóa thương mại chính sách thuế nhập khẩu trong thời kỳ này đã có những bước tiến phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội, gắn với những thay đ
Trang 12 TXK : Thuế nhập khẩu
3 GTGT : Giá trị gia tăng
4 TTDB : Tiêu thụ đặc biệt
5 TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
6 TMQT : Thương mại quốc tế
7 WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
8 ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
9 WB : Ngân hàng thế giới
10 IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
11 AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
12 ACFTA : Khu vực mậu dich tự do ASEAN-Trung Quốc
13 IFC : Tổ chức Tài chính quốc tế
14 APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
15 CEPT : Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
16 GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
17 MFN : Tối huệ quốc
18 NT : Đãi ngộ quốc gia
Trang 2MỞ ĐẦU
Chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam trong quá trình đổi mới đã có những thay đổi đáng kể và đang chuyển từ chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương sang cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước Từng bước thực hiện tự do hóa thương mại chính sách thuế nhập khẩu trong thời kỳ này đã có những bước tiến phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội, gắn với những thay đổi trong nước và quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể Nhờ đó mà hoạt động nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, cũng như các khoản thu từ nhập khẩu cũng đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu nhưng nền kinh tế của Việt Nam vẫn ở tình trạng thấp kém, chính sách pháp luật thuế xuất nhập khẩu còn nhiều hạn chế Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như hiện nay, Việt Nam sẽ phải cắt giảm đáng kể hàng rào thuế nhập khẩu Trong bối cảnh đó việc tìm hiểu các quy định về thuế nhập khẩu cũng như yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu là vô cùng cần thiết
Chính vì thế em xin chọn đề tài: “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay” để làm bài tiểu luận cuối kì của mình Sau đây là những nội dung
cụ thể
NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU.
1 Khái niệm về thuế nhập khẩu.
Có nhiều cách hiểu về khái niệm TNK tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận, tuy nhiên dưới góc
độ pháp lý: “thuế nhập khẩu phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) và tổ chức, cá nhân (người nộp thuế) về việc tạo lập và thưc hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình thu thuế nhập khẩu” Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật
đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các cá nhân, tổ chức là người nộp thuế
Khái niệm thuế nhập khẩu cũng đồng nghĩa với khái niệm thuế quan được tổ chức thương
mại thế giới WTO định nghĩa: “thuế hải quan đánh vào hàng hoá nhập khẩu gọi là thuế quan Thuế quan tạo ra lợi thế về giá cả cho hàng hoá sản xuất trong nước so với hàng hoá tương tự được nhập khẩu và đem lại nguồn thu cho các Chính phủ”.
Tuy nhiên trên thực tế chưa có một định nghĩa nào thống nhất hoàn chỉnh mang tính pháp
lý về TNK Dựa trên Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 và Luật Hải quan sửa đổi bổ
sung 2005 thì TNK có thể được hiểu là: “loại thuế đánh vào hàng hoá được nhập khẩu vào khu vực lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh
tế, thềm kục địa của Việt Nam, nơi luật hải quan được áp dụng”.
2 Khái niệm pháp luật thuế nhập khẩu.
Pháp luật thuế nhập khẩu là danh từ pháp lý để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế,miễn giảm thuế, xử lý các vi phạm tranh chấp về TNK phát sinh giữa nhà nước và ngưoiừi nộp thuế
Xét về hình thức, pháp luật TNK bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật: văn bản luật, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị của các bộ…
Trang 3Xét về nội dung, pháp luật TNK bao gồm các vấn đề chủ yếu, phạm vi áp dụng (được thể hiện thông qua các quy định về chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, hành thu TNK, chế
độ miễn giảm thuế, xử lý các vi phạm tranh chấp về TNK phát sinh giữa nhà nước và người nộp thuế
Ngoài ra trong bối cảnh tự do hóa thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu hướng toàn cầu thì việc hoàn thành, thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan tới thuế nhập khẩu là một tất yếu Nội hàm khái niệm pháp luật về thuế nhập khẩu không chỉ được quy định trong luật quốc gia mà còn bao hàm cả các quy định trong luật quốc tế có liên quan: Hiệp định CEPT (Hiệp định ưu đãi thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung; Hiệp định thương
mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Hiệp định WTO…Như vậy, nội hàm khái niệm “pháp luật về thuế nhập khẩu” phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm không chỉ các quy định trong pháp luật quốc
gia mà còn bao gồm cả trong các quy định của pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu
3 Các đặc trưng cơ bản của thuế nhập khẩu.
So với các loại thuế khác, TNK có đặc điểm riêng biệt xuất phát từ bản chất của loại thuế này Có thể thấy TNK có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất: đối tượng chịu thuế
- Thứ hai: TNK không hoàn toàn là thuế trực thu hay gián thu
- Thứ ba: TNK gắn liền với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ
- Thứ tư: TNK được quản lý bởi cơ quan chuyên trách là cơ quan hải quan
- Thứ năm: TNK bị chi phối bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia
4 Ý nghĩa của thuế nhập khẩu.
Vai trò quan trọng của TNK có thể khái quát ở một số khía cạnh sau:
*) Tạo nguồn thu cho NSNN.
Trong những năm gần đây, trong điều kiện hội nhập kinh tế, quốc tế, tự do hóa thương mại, Việt Nam thực hiện cắt giảm TNK theo các cam kết quốc tế, nhưng TNK vẫn là nguồn thu quan trọng cho NSNN Theo số liệu công khai NSNN của Bộ Tài chính từ năm
2000-2005, thu hải quan luôn chiếm từ 20%-25% tổng thu NSNN
*) Là công cụ điều tiết hoạt động ngoại thương, và hướng dẫn tiêu dùng.
Việc đánh thuế nhập khẩu cao hay thấp ảnh hưởng tới giá cả, từ giá cả ảnh hưởng tới sức mua, qua đó Nhà nước điều tiết hoạt động ngoại thương, và hướng dẫn tiêu dung Thuế nhập khẩu đánh trên hàng nhập khẩu làm cho chúng đắt đỏ hơn so với hàng nội địa Và như vậy, chúng kém sức cạnh tranh so với hàng hóa trong nước Ví dụ: Nhà nước muốn giảm bớt nhập khẩu hàng hóa mà Nhà nước không khuyến khích vò nó ảnh hưởng tới đời sống, môi trường, sức khỏe: rượu, bia, thuốc lá, ô tô…Nhà nước sẽ đánh thuế nhập khẩu cao vào hàng hóa này, dẫn đến giá bán của hàng hóa đó cao, người tiêu dung không dễ dàng mua được, nên sức tiêu dung hạn chế, sức mua giảm Vì vậy nhà nhập khẩu hàng hóa đó phải hạn chế nhaapk khẩu hàng hóa đó vì nhập nhiều sẽ không tiêu thụ được
*) Là công cụ hỗ trợ, bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Thông qua thuế nhập khẩu Nhà nước gián tiếp tác động vào việc điều tiết nền sản xuất trong nước Thuế nhập khẩu đánh ở mức khác nhau đối với từng loại hàng hóa nhập khẩu, điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thực tế, tạo ra sự phân bổ nguồn lực trong các ngành sản xuất Điều này được thể hiện như sau: khi một ngành sản xuất được Nhà nước chú trọng đầu tư phát triển thì chính sách thuế nhập khẩu giành cho nguyên liệu,
Trang 4máy móc, trang thiết bị sản xuất phải nhập khẩu từ nước ngoài sẽ thấp trong khi thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa tiêu dùng lại cao
So với các loại thuế khác, thuế nhập khẩu có vai trò khá đặc thù: bảo hộ nền sản xuất trong nước, góp phần phát triển khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước so với hàng ngoại nhập Điều này được thể hiện như sau: đối với hàng hóa nhập khẩu nên về lý thuyết giá cả của loại hàng hóa này trên thị trường nhập khẩu sẽ tăng lên, trong khi đó hàng hóa trong nước do không phải chịu thuế nhập khẩu nên giá cả có xu hướng rẻ hơn, có sức cạnh tranh cao hơn so với thị trường ngoại nhập Vì vậy việc đánh thuế nhập khẩu chính là một biện pháp bảo hộ nền sản xuất trong nước
Đối với những nước kinh tế phát triển, thuế nhập khẩu còn là mục tiêu chính trị: áp dụng chính sách thuế quan ưu đãi với một số quốc gia thân thiện hoặc sử dụng nó như một biện pháp trả đũa trong chính sách đối ngoại hoặc gây sức ép chính trị với quốc gia khác
II NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1 Thực trạng thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
Trong những năm qua,nhất là từ khi thực hiện cải cách thuế bước 2 từ năm 1999 đến nay,cùng với việc sửa đổi, bổ sung ban hành, áp dụng mới các sắc thuế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, pháp luật về thuế nói chung và TNK nói riêng đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, Việt Nam sẽ phải cắt giảm đáng kể hàng rào TNK Ngoài WTO, Việt Nam còn phải thực hiện nhiều lộ trình cắt giảm thuế để tham gia vào các khu vực mậu dịch tự do : khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA); khu vực mậu dịch tự do ASEAN với các đối tác khác: Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ trong bối cảnh đó, pháp luật về TNK là một vấn đề cần phải có sự quan tâm thích đáng
Thực tiễn áp dụng TNK ở Việt Nam trong những năm qua đã được phản ánh cụ thể ở những con số về quy mô NK, về cơ cấu mặt hàng, và về cơ cấu thị trường NK
*) Về quy mô NK.
Tốc độ tăng trưởng NK bình quân giai đoạn 1991-2000 là 17,5%, giai đoạn 2001-2006 là 19% Giai đoạn năm 2001-2006, nước ta đẩy mạnh hội nhập và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong quí I năm 2007 tốc độ tăng của NK cao gần gấp đôi tốc độ tăng của XK 33,6% so với 17,9% và nhập siêu mới chỉ trong một quý đó lên đến 1.315 triệu USD Đó là vì quý đầu tiên chúng ta thực hiện cam kết của Việt Nam về TNK trong khuôn khổ WTO
*) Về cơ cấu mặt hàng NK.
Cơ cấu mặt hàng NK có sự biến động giữa hai nhóm ngàn tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng NK hàng tiêu dùng có xu hướng giảm nhanh Trước năm 1995,tỷ trọng hàng NK tiêu dùng dao động 13-15%, từ năm 1996 đến nay tỷ lệ này đã giảm xuống đáng kể và ổn định ở mức 7%-8%; giai đoạn 2000-2006,hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng bình quân 7%-11%
*) Về cơ cấu thị trường NK Đến năm 2006, thị trường NK Việt Nam đã được mở rộng tới
hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ Châu Á là thị trường có kim ngạch Nk cao nhất, đạt trên 35,84 tỉ USD chiếm tỉ trọng 80,7% kim ngạch NK của các thị trường Các khu vực châu Á: chủ yếu là ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,Hồng Công, Đài Loan là thị trường
NK lớn nhất của nước ta trong thời gian qua do có những vị thế địa lý thuận lợi nhất định, giá cả Đồng thời đây cũng là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ cao Khu vực này cung cấp chủ yếu nguyên liệu,phụ liệu máy móc phụ tùng, hàng tiêu dùng
Trang 5*) Về việc thực thi các quy định của pháp luật thuế NK.
Từ 1/1/2006, khi thực hiện Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật hải quan, thủ tục kê khai thuế, nộp thuế đã được cải tiến, chuyển từ việc ấn định số thuế phải nộp theo thông báo thuế sang cơ chế đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự nộp thuế vào ngân sách nhà nước, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm thực hiện chế độ kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế
Các thủ tục về thuế nhập khẩu đã từng bước được đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho
cơ sở kinh doanh, ý thức tuân thủ pháp luật thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng ngày càng được nâng cao Năm 2006, với tổng số 1.315 cuộc đối thoại về thuế với doanh nghiệp, 4.499 lượt bài viết về thuế đăng tải trên các báo, tạp chí, 30.484 buổi phát thanh, 3.744 buổi truyền hình, 823.628 ấn phẩm tuyên truyền, 92.092 lượt tố chức, cá nhân được tập huấn về chính sách thuế, v.v… đã góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của cán bộ thuế, của đối tượng nộp thuế, tạo điều kiện để họ thực hiện nghĩa vụ của mình
Ngay từ khi bắt đầu chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường (1986), thực hiện mở cửa hội nhập và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cùng với việc cải cách chính sách thuế Việt Nam nói chung (1990) đến nay, chính sách thuế nhập khẩu luôn được quan tâm xây dựng và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế đất nước từng thời kỳ Chính vì thế, thuế nhập khẩu đã góp phần to lớn trong việc đảm bảo nguồn thu ngân sách, bảo hộ và tạo điệu kiện cần thiết cho một số ngành công nghiệp non trẻ như: Sắt thép, xi măng, điện tử, hoá chất, v.v… có cơ hội đứng vững và từng bước chiếm lĩnh thị trường trước hàng nhập khẩu
Theo thống kê của cơ quan hải quan, bình quân có khoảng 70% kim ngạch nhập khẩu
áp dụng thuế suất ưu đãi, 27% áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt và 3% áp dụng thuế suất thông thường
*) Về việc thực hiện các cam kết quốc tế.
- Tình hình thực hiện CEPT/AFTA.
- Năm 1996, là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế theo chương trình CEPT, theo Nghị định số 91/CP ngày 18/12/1995 của Chính phủ, 875 mặt hàng đã được đưa vào danh mục mặt hàng tham gia CEPT của Việt Nam Danh mục này đã có thuế suất thông thường 0-5% hoặc nhỏ hơn 20% Đây mới chỉ là bước đưa các mặt hàng vào thực hiện CEPT chứ chưa thực hiện cắt giảm thuế trên thực tế
- Năm 1998, chương trình CEPT của Việt Nam được thực hiện theo Nghị định số 15/1998/ NĐ-CP ngày 12/3/1998 của chính phủ Danh mục CEPT 1998, gồm: 1733 mặt hàng, trong
đó có 1496 mặt hàng đã được vào từ năm 1996-1997 và 137 mặt hàng mới Do đó, việc tách
mã số của một số mặt hàng được thực hiện trong năm 1998, tổng số mặt hàng của danh mục này được nâng lên 1719, chiếm 1/2 toàn bộ biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam
- Năm 1999, Danh mục hàng hoá của Việt Nam thực hiện CEPT năm 1999 được ban hành kèm theo Nghị định số 14/1999/NĐ-CP ngày 23/3/1999 của chính phủ Danh mục CEPT
1999 gồm 3591 mặt hàng, tăng 1949 mặt hàng bao gồm cả các mặt hàng được chuyển từ danh mục TEL theo quy định và những mặt hàng tăng lên do việc chi tiết hoá một số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu vừa qua
- Năm 2000, Danh mục hàng hoá của Việt Nam thực hiện CEPT năm 2000 được ban hành kèm theo Nghị định số 9/2000/NĐ-CP ngày 21/3/2000 của chính phủ Danh mục CEPT năm
2000 gồm 4234 mặt hàng trong đó co 3591 mặt hàng đã được thực hiện CEPT từ năm 1999 trở về trước và 643 mặt hàng mới chuyển từ danh mục TEL sang danh mục IL để thực hiện CEPT
Trang 6- Tính đến 5/2/2002, Việt Nam thực hiện cắt giảm 5500 mặt hàng, đạt gần 90% tổng các mặt hàng Việt Nam cam kết, trong số này có 2/3 mặt hàng có thuế suất 0-5%
- Năm 2003, được xem là một năm sự kiện với tiến trình hội nhập AFTA của Việt Nam vì:
đã đưa 750 mặt hàng còn lại vào danh mục cắt giảm thuế theo AFTA, đưa các mặt hàng có mức bảo hộ cao, thuế suất 30%-100% giảm xuống còn 20% vào1/1/2003 và tiếp tục giảm 0-5% vào năm 2006, đưa 20% danh mục loại trừ tạm thời sang danh mục cắt giảm thuế
Trên thực tế, năm 2003, Việt Nam đã thực hiện được 80% nghĩa vụ của mình Mức thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng ASEAN là 9.3%
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có đến 90% số dòng thuế trong biểu thuế có mức thuế suất CEPT trong khoảng 0-5%, mức thuế suất bình quân CEPT/AFTA năm 2006 là 4,7% so với mức thuế suất bình quân trong biểu thuế MFN là 17,4 %
Bảng 2.7: Lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo CEPT/AFTA 2003-2006
n v : Dòng thu Đơn vị: Dòng thuế ị: Dòng thuế ế
Nguồn: Bộ Tài chính.
Tình hình thực hiện cam kết trong WTO.
Theo công bố, Biểu cam kết về hàng hoá của Việt Nam khi vào WTO có 3800 dòng thuế sẽ phải cắt giảm Cụ thể, Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ biểu thuế nhập khẩu hiện hành gồm 10600 dòng thuế Thuế suất cam kết cuối cùng sẽ giảm còn 13.4% so với mức thuế hiện hành là 17.4 %.Trong 10600 dòng thuế, có 35% số dòng thuế thực sự bị cắt giảm, 35% số dòng thuế vẫn giữ nguyên và 30% số dòng thuế bị cam kết cao hơn mức thuế suất hiện hành (sắt thép, xăng dầu, hoá chất, một số phương tiện vận tải) Ngoài ra, Viện Nam còn cam kết tham gia một số Hiệp định tự do hoá theo ngành hàng, theo đó, các mặt hàng theo Hiệp định sẽ được cắt giảm thuế quan xuống mức cực thấp với lộ trình 3-5 năm Trước mắt, các mặt hàng được giảm thuế ngay từ đầu năm 2007 gồm 1812 dòng thuế, chiếm 17% biểu thuế, mức cắt giảm bình quân 44% so với hiện hành Đây là các mặt hàng
có thuế suất cao và chủ yếu là các hàng tiêu dùng nên đa số người dân sẽ hưởng lợi
Việc thực hiện các cam kết trên đây sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam có vị thế hội nhập đầy đủ với kinh tế thế giới, khẳng định nền kinh tế Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn và nguyên tắc chung của nền kinh tế thị trường,
2 Những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
Trang 7Việc thực thi pháp luật TNK ở Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Những yếu tố này tác động cả mặt tích cực và tiêu cực tới việc thực thi pháp luật TNK ở nước ta
2.1 Hoàn cảnh thực tế của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Pháp luật bao giờ cũng là sự phản ánh dưới hình thức pháp lí các quan hệ xã hội, sự phản ánh lệ thuộc vào sự biến đổi của xã hội Để phát huy vai trò, tác dụng của mình trong đời sống xã hội, pháp luật phải phản ánh đầy đủ hiện thực khách quan với những tiến trình đang diễn ra trong xã hội
Pháp luật TNK có mục tiêu quan trọng là công cụ khuyến khích hỗ trợ bảo vệ nền sản xuất trong nước Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung bộ phận pháp luật này là cần thiết
Các yếu tố về hoàn cảnh thực tế của đất nước trong giai đoạn hiện tại là một vấn đề vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn trong hoàn thiện pháp luật thuế nói chung, pháp luật TNK nói riêng, bởi lẽ không một quy phạm pháp luật nào lại không được xây dựng và áp dụng gắn liền với hoàn cảnh nhất định của quốc gia – nơi các quy định đó được ban hành hay áp dụng Bản chất của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự tác động trực tiếp này đến nội dung pháp luật về TNK thể hiện: một mặt, nền kinh tế thị trường đỏi hỏi chính sách thuế nói chung và chính sách TNK nói riêng phải đáp ứng nhu cầu huy động khoảng 24-25% GDP vào NSNN để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, ổn định xã hội; mặt khác, sự chuyển đổi nền kinh tế thị trường lại đòi hỏi hệ thống thuế nói chung, TNK nói riêng phải là công cụ điều tiết tích cực, hợp lý đối với đời sống kinh tế và đời sống tiêu dùng, góp phần thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động XNK và định hướng tích cực đối với các hoạt động tiêu dùng trong xã hội Dù muốn hay không, các yêu cầu đòi hỏi khách quan này cũng tác động trực tiếp đến việc điều chỉnh hệ thống thuế suất, phạm vi đối tượng chịu thuế, chủ thể nộp thuế, cơ chế hành thu thuế NK
2.2 Cơ sở chính trị - pháp lý.
Cơ sở chính trị - pháp lý là quan điểm đường lối chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và chiến lược xây dựng pháp luật của Nhà nước Điều này ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với một quốc gia có một chính đảng duy nhất như Việt Nam Môi trường chính trị-pháp là yếu tố cơ bản điều chỉnh hành vi và tác động sâu sắc đến kết quả hành động của con người trong đó có hoạt động sản xuất kinh doanh, Một chế độ chính trị ổn định tiến bộ, phù hợp với xu thế thời đại và một hệ thống thể chế nhất quán, minh bạch đồng
bộ, khả thi sẽ là điều kiện đảm bảo cho mọi thành viên phát huy năng lực lao động và sáng tạo
Những quy định của pháp luật và điều hành của Chính phủ đóng vai trò quan trọng không những giữ nghiêm kỉ cương phép nước mà còn tạo môi trường kinh doanh lành mạnh Bằng quyền uy của mình Nhà nước ban hành các biện pháp nhằm kiểm soát hoạt động nộp thuế NK, ngăn cấm không cho phép hoặc cho phép NK, bắt buộc NK phải có giấy phép, hạn chế định lượng hoặc đưa ra các chính sách thuế quan hoặc hàng rào phi thuế quan để ngăn cản hàng hóa NK vào nước mình vào bảo hộ nền sản xuất trong nước Mặt khác những quyết sách của Chính phủ có tác dụng hướng dẫn, thúc đẩy ngăn cản hoạt động xã hội hoặc tạo ra môi trường cạnh tranh trong hoạt động NK, từ đó tác động đến việc thực thi TNK Cùng với đó, chính sách quản lý ngoại hối, sự điều tiết về tỉ giá hối đoái cũng làm hạn chế hoặc thúc đẩy NK phát triển, cũng như việc thực thi TNK trong thực tế
Môi trường chính trị pháp lý được tạo lập từ hệ thống các luật lệ, các cơ quan quyền lực nhà nước và tác động mạnh mẽ đến hoạt động của mọi tổ chức cá nhân trong xã hội Vì vậy
Trang 8các tổ chức kinh tế, các nhà sản xuất kinh doanh trong đó có kinh doanh XNK đều phải xem xét môi trường và những xu hướng tiến triển của nền chính trị pháp lý để đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp và có hiệu quả
Đối với hoạt động của doanh nghiệp, pháp luật không những điều tiết, bảo vệ quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch mà còn ngăn ngừa sự thỏa hiệp giảm giá hoặc chuyển giá giữa người XK và NK để gian lận trong thương mại cũng như hoạt động nộp thuế Rõ ràng
hệ thống pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động XNK Vì vậy các nhà kinh doanh phải quan tâm nghiên cứu, hiểu biết thấu đáo các đạo luật, những chính sách liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, nhất là những quy định của pháp luật về XNK, thuế quan, phi thuế quan, bảo vệ sự cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và những lợi ích rộng lớn của xã hội
để tránh khỏi sai lầm trong việc hoạch định kế hoạch hành động
Ở Việt nam trong hơn 10 năm trở lại đây, chính sách thuế nói chung và chính sách thuế nhập khẩu nói riêng đã có nhiều thay đổi, theo hướng phù hợp hơn với điều kiện kinh tế thị trường, và từng bước tiếp cận gần hơn với chuẩn mực quốc tế Trong một Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ ,bảo đảm môi trường thuận lợi, khuyến khích sản xuất kinh doanh Điều chỉnh các chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu,điều tiết hợp lý thu nhập, không lồng ghép chính sách
xã hội trong chính sách thuế Từng bước thực hiện phương pháp tính thuế,quản lý thu thuế,
xử lý vi phạm về thuế theo thông lệ quốc tế” Như vậy, tuy Báo cáo chính trị không trực tiếp nêu ra đường lối cụ thể cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật TNK nhưng sự tuyên bố
về chính sách về môi trường cho hệ thống thuế đã đặt ra những pháp lý nền tảng ban đầu vững chắc cho việc hoàn thiện pháp luật thuế nói chung pháp luật thuế NK nói riêng
2.3.Yêu cầu trong điều kiện hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Hội nhập nền kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Quá trình toàn cầu hóa có thể được định nghĩa là sự kết nối trên toàn cầu Quá trình toàn cầu hóa đã được đẩy mạnh khi các rào cản tại quốc gia đối với thương mại đang dần được loại bỏ, các thể chế thị trường trong nước được củng cố và các công nghệ mới được áp dụng nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư xuyên biên giới quốc gia (MUTRAP II- Dự án hỗ trợ thương mại đa biên, Việt Nam gia nhập tổ chức thươn mại thế giới – giải thích các điều kiện khi gia nhập, tragn 11) Như vậy các quốc gia không thể đứng ngoài xu hướng toàn cầu hóa mà phải nắm bắt cơ hội của nó đề đưa đất nước hội nhập nền kinh tế quốc tế Tổ chức Thương mại thế giới WTO ra đời đã và đang tạo ra một môi trường thương mại quốc tế lành mạnh và hiệu quả 1995 Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO, và tới năm 2007 thì trở thành thành viên thứ 170 của WTO Từ đó đã đưa quá trình phát triển kih tế của Việt Nam lên một tầm cao mới, thông qua việc thực thi các cam kết gia nhập WTO Với việc gia nhập WTO, Việt Nam có thể tiếp cận các thị trường NK một cách ổn định, dễ dự đoán hơn, từ đó số lượng và chất lượng hàng hóa NK sẽ tăng theo Việc gia nhập WTO cũng thúc đẩy quá trình
tự do hóa NK, từ đó cho phép tiếp cận với các đầu vào NK: công nghệ, trang thiết bị, các phương pháp quản lý hiện đại cũng như hàng tiêu dùng đa dạng và rẻ hơn Với dân số hơn
80 triệu người, các thành viên WTO coi Việt Nam là một nước đang phát triển với thị trường
có tiềm năng lớn Vì vậy trong quá trình đàm phán,gia nhập, Việt Nam đã bị yêu cầu phải
mở cửa mạnh mẽ thị trường cho hàng hóa dịch vụ nước ngoài Vấn đề thuế quan và lộ trình cắt giảm thuế quan NK đã trở thành một trong những tâm điểm qua các vòng đàm phán WTO Điều đó đồng nghĩa với việc Chính phủ và Quốc hội luôn quan tâm đến việc sửa đổi
bổ sung điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định về TNK để phù hợp với
Trang 9các cam kết gia nhập WTO Vì phạm vi bài viết có hạn nên người viết chỉ đề cập tới một số quy định cốt lõi về thuế quan và thương mại ảnh hưởng đến pháp luật TNK ở Việt Nam hiện nay
WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các thành viên kí, đặc biệt là Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (GATT) Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa dịch vụ và sở hữu trí tuệ
*) Các nguyên tắc chung về thuế quan và thương mại.
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade -GATT) có đặt 3 nguyên tắc nền tảng:
- chỉ cho phép bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế quan, không cho phép hạn chế định lượng trừ những trường hợp đặc biệt (chỉ áp dụng thuế quan để kiểm soát thương mại) Việc bảo hộ thông qua thuế quan để đảm bảo tính minh bạch và dễ đoán trước Thuế quan thể hiện đại lượng rõ ràng là những con số, do đó người khác dễ nhận thấy được mức độ bảo hộ giành cho một mặt hàng, ngành hàng Thuế quan cao tức mức độ bảo hộ cao và như vậy hàng hóa tương tự của nước ngoài khó xâm nhập vào thị trường
- Thuế quan phải giảm dần và bị ràng buộc không tăng trở lại Sau mỗi vòng đàm phán, thuế suất mà các nước thỏa thuận với nhau được ghi vào 1 bản gọi là danh mục thuế quan.Thuế suất ghi trong bản danh mục này được gọi là thuế suất ràng buộc tức là sau này nước đó không được phép tăng thuế suất cao hơn mức thuế suất đã ghi trong danh mục Tuy nhiên các bên cũng có thể thỏa thuận với nhau mức thuế suất trần (mức thuế cao hơn mức đang áp dụng) nhằm giảm bớt rủi ro trong việc điểu chỉnh tăng,giảm thuế
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử bao gồm đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia + Đối xử tối huệ quốc (MFN): Nguyên tắc này quy định rằng việc NK hàng hóa và dịch vụ từ một thành viên WTO sẽ được đối xử không kém thuận lợi hơn việc NK hàng hóa
và dịch vụ từ bất kì thành viên nào khác Đối xử MFN là vô điều kiện Trên thực tế, trong hầu hết các trường hợp, điều này có nghĩa một nước không thể áp dụng mức thuế NK đối với sản phẩm NK từ một thành viên cao hơn so với mức thuế áp dụng tương tự từ bất kỳ thành viên nào khác
+ Đối xử quốc gia (NT): sản phẩm dịch vụ NK sẽ được hưởng đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử giành cho sản phẩm tương tự trong nước Trên thực tế, nguyên tắc này quy định các Chính phủ không được phân biệt đối xử với hàng NK khi áp dụng các luật lệ
và quy định trong nước; quy định về thuế hay bảo vệ người tiêu dùng và môi trường
*) Các quy định về xác định trị giá hải quan.
Sau vòng đàm phán Tokyo 1979, Hiệp định xác định trị giá hải quan ra đời (ACV).Mục đích của Hiệp định này là đảm bảo rõ ràng rằng những nhân viên hải quan của các nước thành viên WTO có thể có những cách tiếp cận giống nhau để xác định giá trị của một loại hàng hóa với mục đích áp dụng thuế quan Hiệp định này quy định sự thống nhất hơn trong phương pháp xác định trị giá chứ không cần thiết phải có sự thống nhất về giá trị Số thuế quan phải trả = Thuế suất x giá trị của hàng hóa
*) Các quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng:
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) tăng cường kỷ luật đối với các trợ cấp làm biến dạng, bóp méo hoạt động thương mại mà Chính phủ các nước sử dụng để tạo ra những lợi thế so sánh không lành mạnh cho các doanh nghiệp của họ SCM không bắt buộc các nước phải bỏ toàn bộ các khoản trợ cấp mà chỉ cấm hoặc hạn chế những loại trợ
Trang 10cấp gây tác động tiêu cực đến thương mại của những nước khác trong WTO Có sự phân loại trợ cấp thành 3 loại:
- Trợ cấp bị cấm sử dụng (trợ cấp đèn đỏ): gồm các hình thức trợ cấp XK, để sử dụng hàng hóa trong nước thay thế hàng NK
- Trợ cấp được phép sử dụng nhưng có thể bị kiện (trợ cấp đèn vàng): mang tính đặc trưng không phổ biến
- Trợ cấp được phép sử dụng (trợ cấp đèn xanh):mang tính phổ cập, không phân biệt giữa các ngành hay dịch vụ dựa trên những tiêu chí khách quan; hoặc dạng trợ cấp không tính phổ cập nhưng được tự do sử dụng
*) Các quy định về phá giá và thuế chống bán phá giá.
Các biện pháp chống bán phá giá theo quy định của WTO cũng như các thông lệ quốc
tế được tiến hành khi có các điều kiện sau:
- Sản phẩm đang bán phá giá có nghĩa là sản phẩm của nước xuất khẩu đang bán ở thị trường của nước NK với mức giá thấp hơn bán thông thường của sản phẩm đó ở trên thị trường của nước XK
- Có sự tổn thương vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe dọa đối với công nghiệp nội địa sản xuất các sản phẩm tương tự sản phẩm bán phá giá; hoặc gây ra trì hoãn về vật chất đối với sự thành lập của một ngành công nghiệp trong nước
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và tổn thương vật chất hoặc đe dọa gây tổn thương phải do chính hành động bán phá giá đó gây ra
- Hành động chống bán phá giá chỉ được tiến hành khi ảnh hưởng của nó bao trùm lên cộng đồng
Khi nước NK chứng minh được các điều kiện nói trên thì họ có quyền tiến hành các biện pháp chống bán phá giá Phương pháp thông thường nhất là áp đặt mức thuế đặc biệt đánh vào hàng hóa bán phá giá gọi là thuế chống bán phá giá Thuế chống bán phá giá làm tăng giá hàng NK “giá sàn” dự kiến Theo quy định “giá sàn” không cao hơn giá thông thường ở trong nước XK và không gây tổn hại đến ngàng sản xuất hàng hóa tương tự của nước NK
2.4 Nhu cầu Ngân sách nhà nước
Để phục vụ nhu cầu chi tiêu về hàng hóa, dịch vụ công cộng của nhà nước, nguồn thu ngân sách chủ yếu hình thành từ thuế - những khoản thu này mang tính bắt buộc Mặc dù hiện nay TNK được sử dung chủ yếu với ý nghĩa bảo vệ nền sản xuất cụ thể trong cạnh tranh với NK, nhưng TNK vẫn là nguồn thu chủ yếu, quan trọng của NSNN Việc cắt giảm thuế quan cso thể tạo ră ảnh hưởng trực tiếp đến nguôn thu NSNN và quaddos là các vấn đề vĩ mô khác của Việt nam Vấn đề này buộc Việt Nam phải nghiên cứu, đánh giá tác động của thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu những tác động không mong muốn của xu hướng tự do hóa thương mại Trong một số nghiên cứu kinh tế gần đây của Việt Nam cho thấy việc cắt giảm TNK làm giảm cơ cấu nguồn thu ngân sách, nhưng tổng số thu thay đổi không đáng kể Việc cắt giảm TNK thường gây ra những tác động hai chiều:
Tác động làm tăng thu NSNN Việc cắt giảm thuế quan của các nước hữu quan là nhân tố làm tăng kim ngạch XK nên sẽ làm tăng thu ngân sách từ oạt đọng ngoại thương, cắt giảm TNK làm giảm giá máy móc, thiết bị nguyên vật liệu NK, do đó góp phần làm giảm giá thành sản phẩm trong nước và phát triển lượng sản xuất trong nước những ngành đó Điều này dẫn đến phát triển nguồn thu NSNN từ một số loại thuế khác: thuế GTGT, thuế TNDN
Tác động làm giảm thu NSNN thể hiện trực tiếp ở việc giảm sút trong các nguồn thu từ thuế NK Bên cạnh đó, giảm TNK còn làm giảm thu từ một số loại thuế khác có kiên quan: