1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nông nghiệp đồng bằngsông Cửu Long và tác động của nó đến củng cố khu vực phòng thủ tỉnh (thànhphố) trên địa bàn Quân khu 9 hiện na

163 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống nội dung của công trình nghiên cứu nàynhất là những định hướng mang tính đột phá, có ba điểm chắt lọc rất quantrọng có liên quan đến đề tài nghiên cứu, cần tham khảo để vậ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sản xuất nông nghiệp, đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân vàdiện mạo nông thôn nước ta đã và đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận

xã hội, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và tổ chức thực hiệnnhiệm vụ KT - XH ở các cấp, các ngành cả Trung ương và địa phương; nhất làkhi nước ta đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Bởi vì,phát triển nông nghiệp không chỉ bảo đảm nhu cầu lương thực, thực phẩm chotoàn xã hội; bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, làmột trong những mũi nhọn tạo ra nguồn hàng xuất khẩu đa dạng có khả năngcạnh tranh trên thị trường thế giới trong thời kỳ hội nhập; thu hút nhiều việc làmmới, tạo tiền đề vững chắc để đẩy mạnh phân công lao động theo ngành và lãnhthổ…, mà còn là cơ sở và lực lượng để phát triển KT - XH bền vững, ổn địnhchính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dântộc và bảo vệ môi trường sinh thái [21, tr.124] Đúng như quan điểm của Đảng taluôn nhấn mạnh: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nôngdân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” [20, tr.191]

ĐBSCL là mảnh đất ngàn đời “sống chung với lũ”, nhưng mảnh đất nàyđược biết đến không chỉ là vựa lúa của Miền Nam, mà còn là vùng trọng điểmlúa số một của cả nước, có nguồn thuỷ sản dồi dào nhất hiện nay Nơi đây cónhiều sông ngòi, kênh rạch, đất đai màu mỡ, cây trái tươi tốt, nước ngọt bốnmùa, lắm cá, nhiều tôm, làm ra “hạt lúa, củ khoai” rất thuận lợi so với cả nước.Hàng năm sản xuất khoảng 50% sản lượng lúa, 52% sản lượng thuỷ sản, cungcấp 90% sản lượng gạo cho xuất khẩu Sự phát triển nông nghiệp ĐBSCL nhấtđịnh sẽ là một vùng đất “đi trước, về trước”, có ảnh hưởng rất lớn đến sự pháttriển KT - XH của các vùng khác và của đất nước Vùng kinh tế đặc thù này, mộtmặt có ý nghĩa chiến lược về kinh tế nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực cho cảnước, mặt khác còn có ý nghĩa QP - AN đặc biệt Trong quá khứ và hiện tại, ĐBSCL

có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất, vùng biên giới trên bộ giáp Vương

Trang 2

quốc Campuchia và vùng biển rộng giáp hầu hết các nước ASEAN, có vị trí chiến lượcrất quan trọng cả về kinh tế - quốc phòng trong chiến lược phòng thủ chung của đấtnước - là tuyến đầu do lực lượng vũ trang QK9 đảm nhiệm, cả trên biên giới đất liền vàbiên giới biển cực Nam của Tổ quốc.

Thấy rõ vị trí và tiềm năng to lớn của ĐBSCL, trong những năm gần đây,Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt, chỉ đạo và hỗ trợ trên nhiềumặt nhằm đẩy nhanh nhịp độ phát triển ở vùng này như tiến hành quy hoạchtổng thể, đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, chinh phục vùngĐồng Tháp Mười, khai thác tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, cải tạo chuaphèn vùng ngập mặn…Nhờ vậy, kinh tế của vùng đã có bước phát triển mạnh

mẽ, bộ mặt KT - XH ở nhiều địa phương đã có những thay đổi, đời sống nhândân được nâng lên rõ rệt, thế trận phòng thủ không ngừng được củng cố

Tuy vậy, so với tiềm năng vốn có mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùngnày thì nông nghiệp tuy có phát triển, nhưng không đều, phân hoá giàu nghèongày càng sâu sắc, một số địa phương nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bàodân tộc, vùng kháng chiến cũ phát triển chậm, còn nhiều hộ nghèo; giá cả hànghoá nông phẩm không ổn định, ảnh hưởng đến đời sống nông dân, thực tiễn đangvấp phải hiện trạng “nông nghiệp đi lên, nông dân đi xuống”, tác động tiêu cực đếnquân sự, QP - AN Đặc biệt trong điều kiện mới, phát triển nông nghiệp ĐBSCLđang đặt ra những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới củng cố KVPT trên địa bàn Quânkhu như: tổ chức xây dựng lực lượng, triển khai thế trận, huy động sức dân… Chưa

có phương thức kết hợp chặt chẽ giữa qui hoạch phát triển KT - XH với QP - AN,nhận thức nội dung, biện pháp củng cố KVPT chưa đầy đủ, chưa thật sự cơ bản vàđồng bộ [16, tr.7], đòi hỏi phải xử lý một cách khoa học thì mới đáp ứng yêu cầuxây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới Trong khi đó việc đánh giá, quản

lý, khai thác mọi tiềm năng trong phát triển nông nghiệp và mối tương tác của nóđến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9 hiện nay chưa thích ứng với

xu thế hội nhập, vẫn chưa thể hiện đầy đủ tầm chiến lược, chưa mang tính đột phá,nhiều vấn đề chưa có lời giải đáp thoả đáng Vì vậy, tiếp cận ở góc độ chuyên

Trang 3

ngành kinh tế chính trị, tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long và tác động của nó đến củng cố khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trên địa bàn Quân khu 9 hiện nay” làm luận án tiến sỹ.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích:

Luận giải những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của phát triển nôngnghiệp ĐBSCL và tác động của nó đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địabàn QK9 Trên cơ sở đó, xem xét những tác động của phát triển nông nghiệpĐBSCL, đề xuất những định hướng và giải pháp khả thi để phát huy tác độngtích cực của phát triển nông nghiệp ĐBSCL đối với củng cố KVPT tỉnh (thànhphố) trên địa bàn QK9 hiện nay

* Nhiệm vụ:

Thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:

- Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệpĐBSCL và tác động của nó đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp ĐBSCL và tácđộng của nó đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9

- Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm phát huy tác động tíchcực của phát triển nông nghiệp ĐBSCL đối với củng cố KVPT tỉnh (thành phố)trên địa bàn QK9 hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển nông nghiệp ĐBSCL (chủ yếu là lương thực

và thuỷ sản) và tác động của nó đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9

* Phạm vi nghiên cứu: Khu vực 12 tỉnh, thành phố ĐBSCL: Cần Thơ,

Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang,Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (không kể tỉnh Long An thuộc địa bànQuân khu 7) Tập trung nghiên cứu sự tác động của phát triển nông nghiệp đếncủng cố KVPT trên địa bàn, nhất là sự tác động đó trên tuyến vành đai biên giớiTây Nam (kể cả vành đai biên giới biển có liên quan)

Trang 4

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp nghiên cứucủa kinh tế chính trị Mác - Lênin, kinh tế học quân sự Mác - Lênin, cùng cácphương pháp phân tích, so sánh, thống kê…để làm sáng tỏ cả về mặt định tính

và định lượng những nội dung đề tài đề cập tới

Mặt khác, đề tài bám sát các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; cácNghị quyết của Đảng bộ 12 tỉnh, thành phố thuộc ĐBSCL và các Nghị quyết củaĐảng uỷ QK9 Đồng thời tác giả tham khảo các đề tài có liên quan của các nhàkhoa học trong và ngoài nước trên tinh thần vận dụng, kế thừa có chọn lọc

5 Những đóng góp mới

- Làm rõ tính đặc thù của phát triển nông nghiệp ĐBSCL và vấn đề củng

cố KVPT trên địa bàn QK9 so với các vùng khác trong cả nước

- Làm rõ sự tác động của phát triển nông nghiệp ĐBSCL (nhất là pháttriển nông nghiệp vành đai biên giới) đến củng cố KVPT trên địa bàn QK9 làyêu cầu khách quan và chỉ ra nội dung tác động đó

- Đề xuất những giải pháp thiết thực để phát huy tác động tích cực củaphát triển nông nghiệp ĐBSCL đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bànQK9 hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn

Đề tài được thực hiện sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễncho hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và pháttriển nông nghiệp ĐBSCL nói riêng, có tính đến sự tác động của nó đến củng cốKVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9 trong giai đoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và giảng dạymôn kinh tế chính trị, kinh tế quân sự ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, luận án gồm 3 chương, (8 tiết), kết luận, danh mụccông trình đã được công bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục

Trang 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

AN Điển hình như Trung Quốc, trong quá trình cải cách thể chế kinh tế, cuộccải cách nông nghiệp là một lĩnh vực đột phá đầu tiên, được quan tâm nhất vàđược coi là lĩnh vực thu được thành công nhiều nhất trong giai đoạn đầu khởixướng; nhưng càng về sau cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất, những vấn đề phứctạp chủ yếu diễn ra ở nông thôn, nếu không giải quyết triệt để sẽ tác động đến sự

ổn định chính trị xã hội Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã chỉ rõ: “Trung Quốc có 1,3 tỷdân, đa số là người dân nông thôn, nông nghiệp và nông thôn không phát triểnđược, đời sống của người nông dân không được cải thiện rõ rệt, chúng ta khôngthể thực hiện được mục tiêu xây dựng xã hội khá giả, không thể thực hiện đượchiện đại hoá cả nước, không thể thực hiện được toàn dân cùng giàu có, không thểgiữ ổn định lâu dài được” [14, tr.7] Vì vậy, trong những năm gần đây đã có

nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này như: Lục Học Nghệ (2007) với “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân Trung Quốc: biến đổi và phát triển”, Cốc Nguyên Dương (2007) với “Tình trạng tam nông Trung Quốc: thành tựu, vấn đề

và thách thức”, Nguyễn Hoa Mai (2008) với “Trung Quốc: một số thách thức trong thực hiện chính sách tam nông”… tập trung nhất là những“văn kiện số 1”

về chính sách của Đảng cộng sản Trung Quốc đối với nông nghiệp, nông dân,nông thôn (thường được gọi là chính sách “tam nông” và từ năm 2004 đến năm

2009 đã có 11 văn kiện số 1 đề cập đến vấn đề này); trong đó định hướng nhiềunội dung quan trọng như: Nhà nước đầu tư mạnh mẽ cho nông nghiệp, chú trọng

Trang 6

kết cấu hạ tầng, từng bước xây dựng nền “nông nghiệp điện tử”, coi trọng cácvấn đề chính sách, giáo dục, bảo hiểm nông thôn, làm tốt chức năng hệ thốngchính trị ở cơ sở (một nội dung quan trọng của KVPT)

Đặc biệt, tài liệu nghiên cứu của Trác-Vệ-Hoa với “lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc 30 năm qua” đã phản

ánh rõ nét bức tranh phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn TrungQuốc thời kỳ cải cách Nội dung nghiên cứu này chỉ rõ: tiến trình lịch sử vĩ đạicải cách, phát triển nông nghiệp, nông thôn trải qua bốn giai đoạn; năm thànhtựu chủ yếu và kinh nghiệm quan trọng trong cải cách, phát triển trong lĩnh vựcnày; bốn định hướng mở ra cục diện mới trong cải cách, phát triển nông nghiệp,nông thôn Trung Quốc Trong hệ thống nội dung của công trình nghiên cứu này(nhất là những định hướng mang tính đột phá), có ba điểm chắt lọc rất quantrọng có liên quan đến đề tài nghiên cứu, cần tham khảo để vận dụng như lànhững bài học, yêu cầu “cốt tử” trong phát triển nông nghiệp, đó là: phải coitrọng cao độ an ninh lương thực quốc gia, đặt phát triển sản xuất lương thực vào

vị trí hàng đầu trong xây dựng nông nghiệp hiện đại, xác định rõ và thực hiệnmục tiêu phát triển lương thực, tăng cường chính sách nâng đỡ, huy động đầy đủtính tích cực trong nông dân trồng lương thực, địa phương nắm lương thực,không ngừng tăng cường năng lực sản xuất tổng hợp; phải định hướng cho nôngdân xây dựng vững chắc tư tưởng chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể, CNXH,hình thành tác phong xã hội tốt đẹp; phải coi sản xuất lương thực, nông dân tăngthu nhập, bảo vệ đất canh tác, xử lý môi trường hài hoà, ổn định, liên hệ mậtthiết với quần chúng, giữ gìn nông thôn ổn định là những nội dung trong sát hạchthành tích chính trị của ban lãnh đạo địa phương đặc biệt là cấp huyện (thị)

Gần đây, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Cường (2009) với “Nông nghiệp Trung Quốc chặng đường 60 năm” đã phân tích khá sâu sắc nền nông nghiệp

Trung Quốc trải qua những bước thử nghiệm quanh co, thăng trầm với hai giaiđoạn phát triển cơ bản: Từ 1949 – 1978 là thời kỳ nông nghiệp “nuôi” công

Trang 7

nghiệp, từ 1978 đến nay là thời kỳ giải phóng và phát triển sức sản xuất nôngnghiệp, nông thôn Trên cơ sở phân tích những thành tựu, khó khăn trong quátrình phát triển nông nghiệp 60 năm qua, nêu ra phương hướng phát triển nôngnghịêp của Trung Quốc trong thời gian tới, rút ra một số bài học cần nghiêncứu vận dụng, đó là: nâng cao nhận thức và giải quyết vấn đề nông nghiệp phảigắn chặt với việc giải quyết vấn đề ‘tam nông”; phối hợp giữa thị trường – Nhànước và xã hội để phát huy ưu thế của mỗi địa phương, kết hợp nguồn lực vùngmiền, nguồn lực trong và ngoài nước; tập trung giải quyết hài hoà quan hệthành thị - nông thôn, giải quyết những bức xúc của nông dân, đẩy mạnh pháttriển sự nghiệp xã hội nông thôn; chủ động hội nhập, tiếp thu các thành quả củavăn minh nhân loại và ứng phó kịp thời với những biến động thị trường nông

sản quốc tế

Bên cạnh đó, tham khảo những nghiên cứu về phát triển nông nghiệp củacác nước ASEAN, những quốc gia có điều kiện tương đồng về nhiều mặt vớinước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng về địa lý, khí hậu, trình độ phát triểnnông nghiệp, tập quán canh tác…cũng rất cần thiết Chẳng hạn như: Vũ Tuyết

Loan (2008) với “ Thái Lan – quốc gia có nền nông nghiệp phát triển” khẳng

định việc xây dựng chiến lược toàn diện định hướng ngay từ đầu lấy xuất khẩuhàng hoá nông sản làm mũi nhọn đột phá để tích luỹ vốn ban đầu cho côngnghiệp hoá ở Thái Lan đã thành công với vị thế là nước đứng đầu thế giới vềxuất khẩu gạo, là nước xuất khẩu thực phẩm mạnh nhất khu vực Đông – Nam Á

và đang tiến hành các chiến lược đột phá về phát triển nông nghiệp trong thời

gian tới; Đặng Kim Oanh (2008) với “Chính sách phát triển nông nghiệp của Inđônêxia” khẳng định để vực dậy lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc

dân sau hai thập kỷ bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, khủng hoảng tiền tệ khuvực, Nhà nước Inđônêxia đã tập trung vào xây dựng hệ thống chính sách để tăngtrưởng nông nghiệp hiệu quả và bền vững rất cần được tham khảo, đó là: thựchiện an ninh lương thực được coi là chương trình hoạt động đặc biệt; đẩy mạnh

Trang 8

hoạt động thị trường một số đầu vào của nông nghiệp; đa dạng hoá việc pháttriển thị trường giống cây trồng và đầu tư mạnh vào hệ thống hợp tác xã Hay

như nhiều tài liệu đều thống nhất khẳng định: việc ổn định và phát triển nhanh

chóng tình hình KT - XH sau thời kỳ đen tối của nạn diệt chủng ở Vương quốcCampuchia chính là nhờ khai thác hiệu quả tiềm năng nông nghiệp, bảo đảm anninh lương thực bằng chính nội lực quốc gia, làm tiền đề để nhân dân định cư antâm sản xuất

Tất cả những vấn đề nêu trên chính là những bài học bổ ích góp phần địnhhướng phát triển nền nông nghiệp nước ta trong thời kỳ hội nhập Tuy nhiên, do

sự khác nhau về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, về chế độ chính trị

-xã hội, tính đặc thù của mỗi quốc gia; kể cả khác biệt về đường lối nghệ thuật,chiến lược quân sự, nên đề tài chỉ có thể tham khảo kinh nghiệm, kế thừa từnhững bài học đó một số nhân tố đặc trưng, chứ không sao chép, ứng dụng mộtcách máy móc vào điều kiện của nước ta, trong đó có vùng nông nghiệp ĐBSCL.Hơn nữa, những nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ở các nước nêu trên thườngchú trọng về các giải pháp kinh tế hướng đến sự tăng trưởng hiệu quả, bền vữngcho lĩnh vực này, nếu có đề cập ảnh hưởng đến tình hình KT - XH thì cũng rất

“nhạt”, thậm chí có xu hướng tách biệt khi nghiên cứu, nhất là vấn đề phức tạp,nhạy cảm như lĩnh vực QP - AN

2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài

Thứ nhất, trên phương diện chủ trương, chính sách, luật pháp: Đảng và

Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, đề án, chỉ thị quan trọng định hướng phát triển

KT - XH nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng phù hợp với yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Điểmđột phá đầu tiên là bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp theo tinhthần chỉ thị 100-CT/TW (13-1-1981) của Ban Bí thư Trung ương về “Cải tiếncông tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao độngtrong hợp tác xã nông nghiệp”; đây là bước tiến lớn trong nông nghiệp nước ta,

Trang 9

nhưng vẫn còn nhiều điều bất cập, nhất là vẫn còn xem nhẹ lợi ích của xã viêntrong việc thực hiện chế độ khoán dẫn đến tình hình xã viên trả lại ruộng khoán,cùng với thiên tai liên tiếp xảy ra làm cho sản xuất giảm sút, nạn đói xuất hiệnvào năm 1987 và 1988 Để khắc phục tình hình này, cơ chế quản lý kinh tế nôngnghiệp được tiếp tục bổ sung và phát triển theo tinh thần nghị quyết 10 của BộChính trị (4-1988) với các nội dung như: bảo đảm cho người nông dân nhậnkhoán canh tác trên diện tích có qui mô thích hợp và ổn định trong khoảng 5năm, khuyến khích xã viên đầu tư phát triển chăn nuôi, mua sắm các công cụ,máy móc thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế gia đình…Tháng 3 năm 1989 cơchế “khoán 10” lại được tiếp tục hoàn thiện một bước theo tinh thần Hội nghị lầnthứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá VI, với chủ trương thanh toán và khoángọn đến hộ gia đình nông dân Thực chất là đổi mới toàn diện cả về quan hệ sởhữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối trong hợp tác xã nông nghiệp, thừanhận vai trò chủ thể của kinh tế hộ gia đình và tôn trọng lợi ích của nông dân.Đây là sự đổi mới vừa đòi hỏi quá trình, vừa đòi hỏi có tính bước ngoặt trongnhận thức về cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp của Đảng ta Nhìn lại chặngđường hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạtđược thành tựu khá toàn diện và to lớn; tuy nhiên, những thành tựu đạt đượcchưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nôngnghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần,sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất Vì vậy,Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy khoá

X (tiến hành từ ngày 9 đến 17-7-2008) “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”

đã thể hiện bước tiến mới về nhận thức, trong đó đã phản ánh đầy đủ, sâu sắcnhững thành tựu, hạn chế, quan điểm, mục tiêu, tám nhóm nhiệm vụ và giải phápchính như: xây dựng nền nông nghiệp toàn diện; xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XHnông thôn; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; đổi mớicác hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ ở nông thôn; nghiên cứu, chuyển giao,

Trang 10

ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; đổi mới mạnh mẽ cơchế, chính sách; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, pháthuy sức mạnh cộng đồng; thực hiện tốt các nhiệm vụ cấp bách đến năm 2010;Nghị quyết đã khẳng định:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệpCNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quantrọng để phát triển KT - XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảmbảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo

vệ môi trường sinh thái của đất nước…Trong mối quan hệ mật thiết giữanông nghiệp, nông dân, nông thôn thì nông dân là chủ thể của quá trìnhphát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở côngnghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo qui hoạch là căn bản; phát triểntoàn diện, hiện đại hoá nông nghiệp là then chốt…Tiếp tục đẩy mạnhthâm canh sản xuất lúa, nhất là ở ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng Đảm bảovững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài là ưu tiên hàngđầu trong phát triển nông nghiệp [21, tr.130]

Sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 7 là rất kịp thời và đúng đắn, nóxoá bỏ triệt để tư tưởng coi thường nông nghiệp, nông dân, nông thôn về mặttình cảm cũng như khoa học Đặc biệt, xuất phát từ vị trí, vai trò rất quan trọngcủa vùng ĐBSCL, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 21 về “Chiến lược phát triểnĐBSCL” đề cập một cách toàn diện: cả về đánh giá tình hình, đề ra phươnghướng, nhiệm vụ và giải pháp đến năm 2010 trên các mặt phát triển kinh tế, pháttriển xã hội, QP - AN và đảm bảo nguồn vốn đầu tư; Nghị quyết đã nhấn mạnh:phát triển nông nghiệp ĐBSCL xứng đáng là vùng trọng điểm số một của cảnước, góp phần xây dựng ĐBSCL trở thành một vùng trọng điểm phát triển kinh

tế của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hiệu quả, bền vững, đồng thờichú trọng đến các lĩnh vực khác trong đó có yêu cầu về củng cố vững chắcKVPT Đồng thời, ngày 17 tháng 02 năm 2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị

Trang 11

quyết 45 “Về xây dựng Thành phố Cần Thơ trong thời kỳ CNH, HĐH đấtnước”, đề cập tình hình hình xây dựng và phát triển thành phố, đề ra phươnghướng và nhiệm vụ phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2020 với các nộidung: làm tốt công tác quy hoạch; tận dụng và phát huy tối đa lợi thế, tiềmnăng; phát triển nhanh kết cấu hạ tầng KT - XH và kiến trúc đô thị; chăm lophát triển con người; kết hợp chặt chẽ phát triển KT - XH với củng cố QP -AN; củng cố hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở Đặc biệt yêu cầuxây dựng Cần Thơ thành trung tâm của ĐBSCL: vừa là đầu tàu kinh tế, vừa làKVPT then chốt trên địa bàn QK9.

Cũng cần nhấn mạnh rằng: bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng đã có chủtrương chuyển hướng chiến lược về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là, Đảng đãchủ trương xây dựng tỉnh (thành phố) thành KVPT vững chắc theo kế hoạch củaQuân khu và cả nước Vấn đề này luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổchức thực hiện của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Đảng uỷ Quân sự Trung ương,

Bộ Quốc phòng và cấp uỷ, chính quyền địa phương các tỉnh (thành phố) trong cảnước; được nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học quantâm nghiên cứu; đã có một số tài liệu có liên quan đến vấn đề này ở những góc

độ nghiên cứu khác nhau Bao trùm nhất là Nghị quyết 02 Bộ Chính trị (khoáVI), Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) và Nghị quyết 28 Bộ Chính trị (khoá X)

đã xác định những vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc về nhiệm vụ quốc phòngtrong giai đoạn cách mạng mới, nhất thiết phải khẩn trương xây dựng tỉnh, thànhphố, quận, huyện thành KVPT vững chắc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa Quán triệt tinh thần đó, nhiều công trình khoa học đã tích cực được

nghiên cứu, triển khai thực hiện như: Bộ Tổng tham mưu(1987) với “Xây dựng tỉnh (thành phố) thành KVPT vững chắc để bảo vệ Tổ quốc”, lưu hành nội bộ, tháng 10-1987 Học viện Quốc phòng (1988) với “xây dựng huyện thành KVPT vững chắc”, Nxb QĐND, Hà Nội, tháng 8-1988 Bộ Quốc phòng (2004) với

“KVPT tỉnh, thành phố trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Giáo trình

Trang 12

giáo dục Quốc phòng, Chuyên đề 7, Tập 2, Nxb QĐND Chính phủ (2005) với

“Báo cáo tổng kết 15 năm xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành KVPT vững chắc (1989-2004”, Lưu hành nội bộ, Tháng 2-2005 Đảng uỷ quân sự Trung ương (2008) với “Báo cáo tổng kết 20 năm xây dựng các tỉnh, thành phố thành KVPT vững chắc theo Nghị quyết 02/NQ-TW của Bộ Chính trị (khoá VI), Lưu hành nội bộ, Tháng 8-2008…Tất cả những tài liệu nêu trên đều

khẳng định xây dựng KVPT tỉnh (thành phố) là tất yếu khách quan làm cơ sởcho phòng chống ‘diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và chống chiến tranh xâmlược của các thế lực thù địch, khẳng định những quan điểm, nội dung, yêu cầu,nêu ra một số bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựng KVPT như: xây dựngKVPT là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân; xây dựng toàn diện cả

về chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, QP – AN, và phải được kết hợp chặt chẽvới nhau, trong đó xây dựng về chính trị (cốt lõi là thế trận lòng dân) là nội dung

có tính chất quyết định đối với sự vững chắc của KVPT

Đây là những tư liệu quý cho việc tiếp cận, vận dụng giải quyết nhữngvấn đề củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9 Mặc dù vậy, như trìnhbày vừa nêu những chủ trương, chính sách, luật pháp thường mang giá trị địnhhướng, chỉ đạo ở tầm vĩ mô, vẫn cần có sự nghiên cứu, bổ sung và nhất là phảiđưa ra được các giải pháp, kiến nghị cụ thể để hiện thực hoá các văn bản có tínhpháp lý trong đời sống thực tiễn

Thứ hai, trên phương diện các đề tài nghiên cứu khoa học: Sau Nghị

quyết 10/NQ-TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnViệt Nam về : “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (1988), đã có rất nhiềucông trình khoa học đề cập trực tiếp đến phát triển nông nghiệp và mối quan hệgiữa phát triển nông nghiệp với vai trò nông dân và diện mạo nông thôn nước tatrong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Những công trình khoa học của các tác giảnhư:

Trang 13

Trần Xuân Châu (2002) với “Đẩy nhanh phát triển nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam hiện nay”, trong đó phân tích đặc trưng, vai trò, xu hướng phát triển nền

nông nghiệp hàng hoá ở nước ta trong tiến trình CNH, HĐH và trên cơ sở phân tíchnhững thời cơ, thách thức đã đưa ra những giải pháp nhằm đẩy nhanh phát triểnnông nghiệp hàng hoá nước ta trong điều kiện mới

Đặng Kim Sơn (2008) với “nông nghiệp nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau” và “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá”, trong đó phân tích khá sâu sắc tình hình

nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây theo tinhthần Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khoá X), đề xuất một số giải pháp về chínhsách; đồng thời trên cơ sở tổng hợp, phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn trongquá trình công nghiệp hoá của nhiều nước trên thế giới từ các nước châu Âu, NhậtBản đến Trung Quốc…đã nêu ra một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn trongquá trình công nghiệp hoá ở nước ta và giải quyết những vấn đề cụ thể của nôngnghiệp, nông thôn

Nguyễn Từ (2008) Với “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam”, trong đó đã phân tích những tác động một cách sâu

sắc trên nhiều mặt của hội nhập quốc tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn ViệtNam, chỉ ra những thuận lợi cần tận dụng và thách thức cần vượt qua với nhữnggiải pháp thích hợp và tích cực

Hoàng Ngọc Hoà (2008) với “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta”, trong đó tiến hành nghiên cứu, tổng kết,

góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để tìm ra nguyên nhân củanhững thành công và hạn chế cũng như đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằmtiếp tục đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển lên trình độ mới Nhữngcông trình nghiên cứu trên do đặc điểm và phạm vi nghiên cứu chi phối, nên chỉ tậptrung giải quyết những vấn đề phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn mộtcách thuần tuý mà không đề cập tới những tác động có liên quan đến QP – AN

Trang 14

Xung quanh các công trình khoa học tiếp cận lĩnh vực nông nghiệp gắn với

QP – AN cũng đã có nhiều tác giả tiếp cận sâu sắc những vấn đề lý luận chung về

phạm trù, khái niệm, đặc trưng, vai trò của phát triển nông nghiệp hàng hoá, cũng

như tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau phản ánh sự kết hợp KT XH với QP

-AN, phù hợp với đối tượng, phạm vi, nội dung nghiên cứu cụ thể như: Vũ Quang

Lộc (1985) với “Cải tạo xã hội chủ nghĩa nền nông nghiệp và củng cố quốc phòng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ; Lại Ngọc Hải (1991) với “ Sự phát triển của quan hệ sản xuất trong nông nghiệp và tác động của nó đối với củng cố quốc phòng trong chặng đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam”,

Lê Minh Vụ (1996) với “Phát triển kinh tế nông thôn hàng hoá và tác động của

nó đối với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang ở Việt Nam hiện nay”…Qua tiếp

cận tìm những nét tương đồng qua các công trình khoa học, rất cần chú ý đến

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Văn Bảy (2001) với “CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đồng bằng Bắc bộ và tác động của nó đối với tăng cường sức mạnh KVPT tỉnh, thành phố thuộc khu vực này” Đây là công trình khoa học tiếp

cận mối tương tác giữa hai nhân tố CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và KVPT,ngoài phần lý luận chung xoay quanh đối tượng nghiên cứu, trên cơ sở đánh giáthực trạng, tác giả đã khẳng định sự tác động theo hai chiều hướng (thuận chiều vàkhông thuận chiều) của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đồng bằng Bắc bộđến tăng cường sức mạnh KVPT tỉnh, thành phố ở khu vực này Từ đó đề xuấtnhững quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn gắn với tăng cường sức mạnh KVPT Tất cả những kiếnthức nêu trên cần tiếp thu, kế thừa có chọn lọc.Tuy nhiên, sự khác biệt về địa bàn,đối tượng tác động, cách tiếp cận phụ thuộc rất nhiều vào chính kiến chủ quan;hơn nữa lĩnh vực kinh tế (trong đó có kinh tế nông nghiệp) là vấn đề rộng lớn,không ngừng vận động, phát triển, luôn đặt ra nhiều vấn đề mới, và do những điềukiện khác nhau (cả khách quan lẫn chủ quan), cho nên chưa có bất kỳ công trình

Trang 15

khoa học nào đề cập trực diện đến phát triển nông nghiệp ĐBSCL và tác động của

nó đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9

Thứ ba, trên phương diện loại hình các tài liệu, bài báo khoa học: Đã có

một khối lượng khá lớn các tài liệu, bài báo khoa học xoay quanh vấn đề vai trò

phát triển nông nghiệp đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Điển hình

là nghiên cứu của Tô Huy Rứa với “nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong đổi mới ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [64, tr.2], đã phản ánh bức

tranh toàn diện về lĩnh vực này trong những năm đổi mới Tài liệu nghiên cứunày nêu rõ: vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tiến trìnhcách mạng và trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay; định hướng chonông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, pháttriển mạnh mẽ kinh tế thị trường và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam.Trong đó có mấy nội dung có thể tham khảo để vận dụng như là những bài học

“đắt giá” để phát triển nông nghiệp, đó là: phải nhận thức đúng mối quan hệ hữu

cơ giữa những đối tượng nông nghiệp, nông dân, nông thôn để xây dựng cơ sởkhoa học đề ra chính sách và giải pháp phát triển toàn diện; phải xem nôngnghiệp nước ta là ngành kinh tế có tầm quan trọng sống còn, có vị trí trọng yếutrong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, đảm nhiệm an ninh lương thực cho quốc gia,cung cấp cho xã hội nguồn lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùngtrong nước và xuất khẩu, cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất công nghiệp,đồng thời là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp và dịch vụ; côngbằng xã hội là một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển, mục tiêu nàychưa được thực hiện đối với nông dân và cộng đồng xã hội nông thôn, nếu khôngkịp thời có những điều chỉnh thì sẽ không thực hiện được những bảo đảm cho ổnđịnh xã hội để phát triển toàn diện và lâu dài; kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế

và dân chủ hoá là những nhân tố nổi bật nhất tác động vào đời sống KT - XH ởnông thôn cả tích cực lẫn những hạn chế yếu kém, bất cập và những vấn đề phátsinh, thậm chí có cả những vấn đề bức xúc

Trang 16

Đáng chú ý hơn, nhiều tài liệu, bài báo khoa học đề cập trực tiếp đến pháttriển nông nghiệp ĐBSCL gắn với những đặc thù riêng và vai trò quan trọng của

nó đối với các mặt của đời sống xã hội Nhiều nhà nghiên cứu gắn bó, tâm huyếtvới vùng đất này (trong đó có những người là cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhànước) đã có tầm nhìn chiến lược phân tích sâu sắc vị trí, tầm quan trọng củaphát triển nông nghiệp ĐBSCL đối với an ninh lương thực cả nước và khu vực

như: Võ Văn Kiệt, Nguyễn Tấn Dũng với “Tây Nam bộ tiến vào thế kỷ 21”; Nguyễn Đình Đầu với “Nam bộ xưa và nay”; Võ Tòng Xuân với “Hướng đi bảo đảm an ninh lương thực quốc gia ở ĐBSCL”; Võ Hùng Dũng với “Chiến lược phát triển kinh tế ĐBSCL”…Rất nhiều chuyên gia kinh tế đều đồng tình

với nhận định tổng quát của Võ Văn Kiệt về vùng đất này: Đầu tư một đồngvào nông nghiệp ở ĐBSCL sẽ sinh lợi gấp ba so với đầu tư cho vùng nôngnghiệp khác Lấy cái lời của nơi này chia sẻ cho vùng khác là bài toán hiệu quảnhất Cho đến bây giờ, khi lương thực trở thành vấn nạn của thế giới, người tacàng thấy đầu tư cho ĐBSCL như thế còn quá ít Đồng thời các nhà nghiên cứuđều nhấn mạnh: vùng đất này cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề có liên quanđến phát triển nông nghiệp nhanh, hiệu quả và bền vững như: hạ tầng giaothông, tri thức, môi trường nước…Hơn nữa, trước đòi hỏi của quá trình đẩymạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói chung và ĐBSCL nói riêng đã

và đang đặt ra nhiều vấn đề mới có liên quan đến lĩnh vực này và những tácđộng của nó đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9 cần đượcnghiên cứu kỹ và có hệ thống hơn

Tóm lại, phát triển nông nghiệp ở nước ta nói chung và ở ĐBSCL nói riêng

là vấn đề có ý nghĩa vừa cấp bách vừa lâu dài Từ trước đến nay đã có nhiều nghịquyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước định hướng cả tầm vĩ mô

và vi mô cho từng vùng (đặc biệt là ĐBSCL); đồng thời nhiều công trình khoahọc của nhiều tác giả đã nghiên cứu ở các góc độ, phương diện khác nhau đãđược công bố rộng rãi qua các ấn phẩm nghiên cứu, hội thảo khoa học, đăng tải

Trang 17

trên các tạp chí, các báo của Trung ương, ngành và địa phương Các công trình,tài liệu nghiên cứu khá toàn diện, tiếp cận và chú trọng dưới nhiều góc độ: hoặc

là lý luận chung hoặc là kinh tế kỹ thuật hoặc là từng khía cạnh, từng địa bàn có

tính đặc thù Riêng phát triển nông nghiệp ĐBSCL với tính chất là một vùng

kinh tế nông nghiệp đặc trưng đã có nhiều nhà nghiên cứu, các tác giả đầy tâmhuyết luận giải ở những khía cạnh, phạm vi khác nhau, chủ đích bàn nhiều vềtăng trưởng nông nghiệp, ít quan tâm sự tương tác của nó đến các yếu tố khác,nhất là tác động đến KVPT, nếu có cũng chỉ là gợi mở những giải pháp tình thế

Do đó, có thể khẳng định: từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên

cứu về “Phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long và tác động của nó đến củng cố khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trên địa bàn Quân khu 9 hiện nay” tiếp cận ở góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị với tư cách là một công

trình khoa học độc lập, đề cập một cách trực tiếp, hệ thống và đầy đủ Cho nên,

đề tài này được tác giả nghiên cứu trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu củanhiều nhà khoa học đi trước, những chính kiến của những người am hiểu và tâmhuyết vùng đồng bằng sông nước Miền Tây, song không trùng lắp với bất kỳ mộtcông trình khoa học nào đã được công bố trước đây

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN

NÔNG NGHIỆP ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CỦNG CỐ KHU VỰC PHÒNG THỦ TỈNH (THÀNH PHỐ)

TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 9

1.1 Phát triển nông nghiệp nước ta và phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long

1.1.1.Quan niệm về phát triển nông nghiệp nước ta ngày nay

Các nhà kinh điển Mác - Lênin và Hồ Chí Minh đã đề cập đến sự pháttriển nông nghiệp, chứng minh tầm quan trọng của lĩnh vực này - một trongnhững ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội - có vai trò to lớn đối với

sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Lý luận về phát triển nông nghiệpđược Mác - Ăngghen đúc kết từ việc nghiên cứu nông nghiệp phương Tây và

cả phương Đông nêu rõ ở phần địa tô tư bản chủ nghĩa, giá cả của ruộng đất,quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa trong bộ Tư Bản C.Mác nói:Khu vực cuối cùng và tinh lực tự nhiên của sức lao động đang ẩn náu vàđược tàng trữ làm kho dự trữ để đổi mới nguồn sinh lực của các dân tộc là ởchính ngay nông thôn [49, tr.533] Còn V.I.Lênin, khi nghiên cứu chủ nghĩa

tư bản ở Nga đã phân tích tình hình cụ thể và tìm con đường riêng đưa nôngnghiệp, nông dân nước Nga đi lên CNXH Trong Cương lĩnh ruộng đất của

Đảng dân chủ - xã hội, V.I.Lênin khẳng định: “Không thể phát triển nông

nghiệp nước Nga theo con đường “đại điền trang kiểu Phổ” vì đó là kiểuphát triển kém hiệu quả, mà phải là kiểu “một chủ trại tự do” [40, tr.182].Đối với nước ta, từ khi xây dựng CNXH ở Miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã vận dụng sáng tạo quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điềukiện cụ thể Việt Nam Theo Người, ở nước ta vấn đề sản xuất nông nghiệp,

bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân chiếm một vị trí đặc biệt trong tiếntrình đi lên CNXH Người đã nhấn mạnh:

Trang 19

Nước ta là một nước nông nghiệp giống như Trung Quốc, Triều Tiên Muốnphát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy phát triển nôngnghiệp làm gốc, làm chính Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ

sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp ngoài đảm bảo an toàn lương thựcquốc gia còn cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụhàng hoá của công nghiệp làm ra…phải cải tạo và phát triển nông nghiệp đểtạo điều kiện cho việc công nghiệp hoá nước nhà [51, tr.7]

Đây là cơ sở lý luận quí báu để Đảng ta ngày càng nhận thức đúng đắn hơn

vị trí, vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn và có định hướngchiến lược để khai thác mọi tiềm năng lĩnh vực này góp phần thực hiện thắng lợiđường lối CNH, HĐH

Ngày nay, đặc điểm lớn nhất của thời đại là vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và

sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Hai đặc điểmnày chi phối trực tiếp đối với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới trêntất cả các mặt, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp Nông nghiệp nước ta ngày nay

khi hội nhập kinh tế quốc tế, coi như từ giã “cái ao nhỏ ở làng để đi ra biển cả”

chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội, nhưng cũng lắm nguy cơ, thách thức

Do đó, trong lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở nước ta ngày nay

cần thống nhất quan niệm: Nông nghiệp theo nghĩa rộng chứa đựng đầy đủ các

đặc điểm kinh tế tự nhiên, kinh tế - kỹ thuật và KT – XH của nó Vì vậy, nghiên

cứu vấn đề phát triển nông nghiệp là nghiên cứu quá trình vận động của cả nông,

ngư, lâm nghiệp, dịch vụ tổng hợp, gắn với xu thế hội nhập, với đời sống thực tế củangười nông dân và diện mạo xã hội nông thôn (tức là luôn tiếp cận ở trạng thái

“động” cả ba mặt: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng xãhội nông thôn) Tiếp cận này sẽ khắc phục được tình hình trước đây khi bàn về pháttriển nông nghiệp (cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn) thông thường quan niệmchỉ dừng lại ở khía cạnh nội hàm hẹp - tức là thường nhấn mạnh các yếu tố chủ yếunhư: lương thực, chăn nuôi…ít chú ý đến một cơ cấu nông nghiệp hoàn chỉnh, xem xétphát triển nông nghiệp thường ở trạng thái “tĩnh”, trong xu thế nội tại, khép kín, chú ý

Trang 20

nhiều về mặt lượng; quan niệm phát triển nông nghiệp đơn thuần chỉ là lĩnh vực kinh

tế Tiếp cận mới sẽ hình thành lối tư duy về phát triển nông nghiệp trên cơ sở xem xéttoàn diện, đặt nó trong trạng thái “động”, ở xu thế mở, chú trọng nhiều hơn về chấtlượng tăng trưởng và gắn chặt chẽ phát triển nông nghiệp trong tổng thể đời sống xã hội

Với cách tiếp cận này, nhìn ở góc độ kinh tế chính trị, nội hàm của phát triểnnông nghiệp ở nước ta ngày nay được thể hiện với các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, phát triển nông nghiệp với việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

toàn diện Đây là yêu cầu khách quan có nghĩa sống còn đối với bất kỳ lĩnh vực

kinh tế nào trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Bởi vì chuyển dịch cơcấu nông nghiệp gắn chặt với tăng trưởng kinh tế nội bộ ngành Thực tiễn trongmột thời gian dài với quan niệm tiếp cận phát triển nông nghiệp theo nghĩa hẹp(hầu như chỉ nhấn mạnh lương thực), cho nên hầu hết các vùng, miền ở nước takhông khai thác triệt đễ tiềm năng riêng, sẵn có (dĩ nhiên còn nhiều nguyên nhânkhách quan khác như: đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài, thực hiện

cơ chế nông nghiệp một thời gian dài không phù hợp…), làm cho sản xuất lúagạo có lúc không đủ ăn; còn chăn nuôi, trồng rừng, cây ăn trái và đánh bắt thuỷ,hải sản hầu như là những yếu tố “phụ trợ” trong sản xuất nông nghiệp Kể cả sauhơn 20 năm đổi mới, tuy nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng tăngtrưởng có dấu hiệu chững lại và phát triển chưa vững chắc Điển hình như vùngĐBSCL - được mệnh danh là một trong ba đồng bằng lớn nhất và phì nhiêu nôngnghiệp nhất thế giới – nơi có đến 35% giá trị sản xuất nông nghiệp, 66% giá trịsản xuất thuỷ sản, hơn 50% diện tích và 65% sản lượng cả nước về cây trái ănquả và cây có múi [13, tr.32] ; nhưng theo các chuyên gia đánh giá: cho đến naykinh tế nông nghiệp vùng đất này vẫn đang ở dưới mức tiềm năng! Vì vậy hiệnnay, yêu cầu trước tiên của sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở nước ta là phảituân thủ quy luật kinh tế thị trường, nhất là phải chuyển dịch đồng bộ các nguồnlực từ nơi có lợi suất thấp đến nơi có lợi suất cao; sự dịch chuyển phải góp phầnxoá dần lối sản xuất manh mún, lạc hậu, thay vào đó là ngày càng tập trung cao,

Trang 21

ứng dụng công nghệ tiên tiến; phải tận dụng tốt các điều kiện, môi trường đểviệc chuyển dịch cơ cấu diễn ra thuận lợi Kinh nghiệm của Thái Lan: từ nhữngnăm 1960 họ đã sớm nhận ra con đường công nghiệp hoá phải được thực hiện dựachủ yếu vào nền nông nghiệp có cơ cấu hoàn chỉnh, xác định buổi đầu phát triểnnền kinh tế tư bản chủ nghĩa phải xuất phát từ thế mạnh nông nghiệp Cho nên kếhoạch phát triển nông nghiệp 5 năm lần lượt, kế tiếp nhau ra đời với những mụctiêu đặt ra rất cụ thể có tính khả thi cao, và không có gì bất ngờ khi đến thập niên 80của thế kỷ XX, Thái Lan đã có đủ tiền đề vật chất cần thiết gặt hái được chủ yếu từnông nghiệp để đưa đất nước đứng vào hàng ngũ “những nền kinh tế mới côngnghiệp hoá” với mục tiêu trở thành con rồng thứ 5 của châu Á, đứng thứ 2 ở Đông -Nam Á (sau Xin-ga-po)

Phân tích điều này để thấy rằng: khi đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nôngnghiệp toàn diện sẽ tạo lập đồng bộ các yếu tố cho tăng trưởng bền vững, trong đócác yếu tố như: chất lượng sản phẩm, thị trường, bảo hiểm nông nghiệp được xemtrọng Đây lại là các yếu tố tiên quyết để các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư,

mà dòng đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp ở nước ta rất hạn chế (theoCục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết: riêng năm 2007 vừaqua, dòng vốn FDI chảy vào nước ta đã đạt mức kỷ lục với tổng số vốn đầu tưđăng ký đạt gần 18 tỷ USD, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 60,1%, dịch

vụ chiếm 34,4%, còn nông -lâm - ngư nghiệp chỉ có 5,4%!) Hơn nữa, việc đẩymạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn là cơ sở khoa học để định hình những

kế hoạch ngắn hạn, trung hạn 5 năm, 10 năm, trước hết tập trung cho các vùngkinh tế nông nghiệp trọng điểm như: ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng để nôngnghiệp nước nhà xứng đáng với vai trò đã, đang và sẽ tiếp tục là điều kiện, nềntảng vững chắc cho sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân

Thứ hai, phát triển nông nghiệp theo hướng mở, coi trọng năng suất, chất

lượng tăng trưởng Nước ta tiến hành CNH, HĐH trong điều kiện hội nhập sâu

vào nền kinh tế thế giới, bùng nổ của khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hoá

Trang 22

ngày càng mở rộng Bởi vậy, không thể tiếp tục duy trì một nền nông nghiệp pháttriển khép kín, tăng trưởng theo chiều rộng mà ngược lại, vấn đề phát triển nôngnghiệp phải được ưu tiên và chủ động giải quyết theo hướng mở - nhìn ở trạngthái “động” cả về: phạm vi, tính chất, cơ cấu, hình thức sở hữu…nhằm thích ứngnhanh và phản ứng linh hoạt trong mọi biến đổi của thị trường trong và ngoàinước – đồng thời, coi trọng năng suất, chất lượng: thực chất là quan tâm hàng đầuđến tay nghề lao động, sắp xếp hợp lý trong sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học,công nghệ; quan tâm đến tăng trưởng theo chiều sâu, hướng vào các sản phẩm cógiá trị gia tăng cao từ sản phẩm nông nghiệp

Thực tiễn nước ta sau khi gia nhập WTO, khu vực nông thôn (72% số dânsống ở nông thôn và 70% lao động làm nghề nông nghiệp) là đối tượng dễ bị tổnthương nhất bởi sự tác động của các yếu tố có tính chất quy luật của nền kinh tếthị trường và các yếu tố bất lợi khác Sức ép của giá cả bấp bênh, thiên tai, dịchbệnh…gây ra cho ngành nông nghiệp đã lấy đi sự dành dụm của người nông dânrất nhiều so với mất mát, tổn thất chung của toàn xã hội Hơn nữa, xét từ nhân tốnội lực, một bộ phận nông dân chưa thoát ly hẳn được lối tư duy bao cấp, sảnxuất nhỏ lẻ, manh mún; sản phẩm thất thoát trong và sau thu hoạch cao (khoảng

10 - 13%) và năng lực cạnh tranh thấp; chưa khai thác, phát huy có hiệu quả mọinguồn lực và thế mạnh của từng địa phương, nhất là nguồn nhân lực chất lượngcao Do đó, tăng trưởng của kinh tế nước ta phụ thuộc chủ yếu vào gia tăng cácyếu tố đầu vào, phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của kết cấu hạ tầng, còn sảnphẩm có hàm lượng trí tuệ và sáng tạo cao rất ít Năng suất lao động đóng góp vàotăng trưởng kinh tế chưa cao, ước tính khoảng 20% vào tăng trưởng GDP, trongkhi đó Thái Lan là 35%, Philippin là 41%, Indonexia là 43% Càng hội nhập, nước

ta càng bộc lộ một sự thật là thiếu trầm trọng lao động có tay nghề, trình độ cao.Đơn cử, một tập đoàn kinh tế cần tuyển dụng 1.000 lao động, họ đã tiến hành thửviệc 2.000 người Thế nhưng, chỉ có 68 ứng viên đáp ứng đủ yêu cầu về trình độ,tay nghề, ngoại ngữ Trình độ nguồn nhân lực đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự

Trang 23

khẳng định thương hiệu của các doanh nghiệp [84, tr.28] Đó là thực trạng ở lĩnhvực công nghiệp, còn ở lĩnh vực nông nghiệp, thanh niên thất nghiệp từ độ tuổi15-29 lên tới 77% Điều này nói lên nguồn nhân lực ở lĩnh vực này còn thấp kémhơn là một điều hiển nhiên.

Nêu lên vấn đề này để khẳng định rằng: chỉ khi nào phát triển theo xuhướng mở, chú trọng về năng suất, chất lượng sản phẩm thì khu vực nông nghiệpmới được hưởng lợi từ hội nhập, từ thành tựu của khoa học - công nghệ; trong đóvai trò chính vẫn là “bốn nhà”: nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nôngdân Hy vọng rằng trong tương lai không xa cuộc cách mạng về nông nghiệp cógiá trị cao hoà chung dòng chảy của kinh tế toàn cầu sẽ góp phần bảo đảm vị thế

nước ta đủ sức “bơi” ra biển lớn.

Thứ ba, Phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn gắn với thị

trường hội nhập Đây là nguyên lý có tính qui luật, bởi từ khi bắt tay xây

dựng CNXH ở Nga (trước đây), V.I.Lênin đã từng khẳng định: “chính sự traođổi là một sự khuyến khích, thúc đẩy đối với nông dân…và điểm chủ yếu làphải làm cho tiểu dân một sự khuyến khích, kích thích, một sự thúc đẩy tronghoạt động kinh doanh của chúng ta” [41, tr.296], và thật ra, kinh tế thị trường

là sản phẩm của văn minh nhân loại được phát triển tới trình độ cao dưới chủnghĩa tư bản nhưng tự bản thân kinh tế thị trường không đồng nghĩa với chủnghĩa tư bản Thực tiễn cải cách ở Trung Quốc, đổi mới ở nước ta đã chứngminh đầy sức thuyết phục về việc sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiệnxây dựng CNXH, nhằm mục đích giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bướccải thiện đời sống nhân dân Đây là mô hình chưa có tiền lệ trong lịch sử,nhưng đã và đang được khẳng định đầy sức thuyết phục

Phát triển nông nghiệp gắn chặt với nền kinh tế thị trường hội nhập thựcchất là mọi hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp phải tuân thủ và bám sát cácqui luật thị trường như qui luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh…Hay nói cáchkhác, trong sản xuất nông nghiệp, trồng cây gì? Nuôi con gì? Chế biến ra sao?

Trang 24

phải luôn bám sát nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, được thị trườngchấp nhận và tính toán hiệu quả cụ thể, nhất là những mặt hàng hoá nông phẩmchủ lực ở nước ta như: gạo, trái cây, tôm, cá ở ĐBSCL, cà phê Tây Nguyên, chèTây Bắc…phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh trong cơ chế thị trường,không chỉ cung cấp đầy đủ trong nước mà còn luôn chủ động trong hội nhậpkinh tế thế giới bằng nguồn xuất khẩu dồi dào với ngày càng có nhiều thươnghiệu có chất lượng được ưa chuộng Điều này được chứng minh rất rõ là từ sauđổi mới, Đảng và Chính phủ luôn nhất quán chủ trương thực hiện tự do hoá lưuthông, mua bán các sản phẩm nông nghiệp và các loại vật tư, kỹ thuật nôngnghiệp trên địa bàn cả nước Xoá bỏ tình trạng chia cắt thị trường theo địa bànhành chính, xoá bỏ việc “ngăn sông, cấm chợ” của thời kỳ kinh tế kế hoạch hoátập trung Giá cả nông sản từ chỗ do Nhà nước quy định một cách chủ quan, ápđặt và nhiều giá, đã được chuyển sang cơ chế một giá, do người mua và ngườibán thoả thuận trên thị trường Mặt khác, để hạn chế những tác động bất lợi củathị trường, nhất là khi có biến động lớn về giá nông sản trên thị trường thế giớiđối với nông dân, Nhà nước chủ trương sẽ can thiệp một cách tích cực để giúp

họ giữ vững sản xuất và đảm bảo đời sống Nhà nước thực hiện chính sách muanông sản của nông dân theo giá thoả thuận trên thị trường, không ép buộc nôngdân phải bán nông sản cho Nhà nước như trước Đồng thời để khuyến khíchnông dân đi vào sản xuất hàng hoá, Nhà nước còn chủ trương miễn, giảm thuếcho họ, nhất là nông dân ở những nơi mới khai hoang, các vùng núi cao, vùngsâu, vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn do thiên tai gây ra…Chính vì vậy mà chỉtrong một thời gian ngắn, nông nghiệp nước ta đã có bước chuyển biến rất nhanhchóng, là một trong những “điểm sáng” của thế giới về phát triển nông nghiệptrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ tư, phát triển nông nghiệp gắn với phát triển hài hoà mọi mặt đời

sống xã hội Điều này khẳng định: phát triển nông nghiệp ngày nay không đơn

thuần là kinh tế, mà còn là vấn đề xã hội, chính trị, gắn kết với toàn bộ quá trìnhchuyển đổi và phát triển KT - XH ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 25

Dấu ấn phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng ở nước tasau hơn 20 năm đổi mới là rất ấn tượng; nhưng điều quan trọng đáng lưu tâm lànếu xét theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế vì con người, vì sự công bằng xã hội –điều cốt lõi của bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa - thì thật đáng lo ngại: mứcchênh lệch giàu nghèo ở nước ta (năm 2006 là 8,4 lần) còn cao hơn một số nước,

kể cả những nước đã qua nhiều năm phát triển tư bản chủ nghĩa (Mỹ năm 2000

là 8,4 lần, Thái Lan năm 2000 là 7,7 lần, Hàn Quốc năm 2003 là 5,2 lần, Đứcnăm 2000 là 4,3 lần…) [54, tr.17] Do đó, nếu theo đà này dù phát triển nôngnghiệp đến đâu cũng không có ý nghĩa gì cả, thậm chí có tác động trái chiều Vìvậy, phát triển nông nghiệp ở nước ta trong thời kỳ hội nhập, bất luận lý do gìcũng phải tính đến các yếu tố khác, trước hết là vấn đề nông dân, nông thôn Đây

là một đòi hỏi bức bách có ý nghĩa sống còn của một chế độ chính trị - xã hộicần sự nhận thức đồng thuận của tất cả mọi chủ thể

Phát triển nông nghiệp phải tạo điều kiện thu hút lao động, việc làm, nângcao thu nhập của dân cư nông thôn Cần có sự phối hợp, tổ chức thực hiện nhiềubiện pháp đồng bộ để phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn, thu hútđầu tư và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động trong khu vực này Đặc biệt, cácchính sách an sinh xã hội phải được người nông dân có khả năng tiếp cận ngàymột tốt hơn Đây vừa là yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa làđạo lý của dân tộc Việt Nam Hơn nữa, phát triển nông nghiệp phải là “cú hích”

để xây dựng nông thôn mới gắn với những tiêu chí cụ thể, phù hợp với đặc thùcủa từng vùng miền; chú trọng xây dựng nông thôn mới với việc giải quyết kịpthời các vấn đề bức xúc ở nông thôn, nhất là bảo đảm công bằng, dân chủ, côngkhai, minh bạch khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, cần xử lý thoảđáng mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nông dân có đất chuyển mục đích sử dụng,trên cơ sở bảo đảm lợi ích lâu dài, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực cũngnhư sự phát triển KT - XH của khu vực và đất nước Ngoài ra, phát triển nôngnghiệp ngày nay phải có tư duy chiến lược phát triển bền vững và thân thiện với

Trang 26

môi trường Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) đã cảnh báo: biếnđổi khí hậu và môi trường nước là hai thách thức lớn nhất của thế kỷ 21 Trongkhi đó ở nước ta có nhiều khu vực chịu tác động rõ nhất do biến đổi khí hậu và

dễ bị tổn thương, nhất là vùng núi Tây bắc, vùng ven biển Nam trung bộ, đặcbiệt là vùng ven biển ĐBSCL Theo đánh giá, nếu nước biển tăng 1m, thì 7%diện tích đất nông nghiệp sẽ ngập lụt, tổng sản lượng lương thực sẽ giảmkhoảng12% (xấp xỉ 5 triệu tấn), ngoài ra sẽ gây tác động tiêu cực đến 5% đấtđai, gần 11% dân số và 10% GDP [38, tr.6] Do đó, ngày nay mọi tư tưởng xemnhẹ vấn đề phát triển nông nghiệp gắn với phát triển hài hoà mọi mặt đời sống xãhội không chỉ gây khó khăn cho đời sống KT - XH của nhân dân, mà còn cónguy cơ gây mất ổn định chính trị của đất nước

Từ phân tích trên đây có thể khái quát quan niệm về phát triển nông nghiệp

nước ta ngày nay như sau: phát triển nông nghiệp nước ta ngày nay là quá trình chuyển nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu sang phát triển toàn diện nền sản xuất lớn tiên tiến, hiện đại, có cơ cấu hợp lý, gắn với mở rộng thị trường hội nhập tạo ra những tiền đề, điều kiện cho sự phát triển KT – XH bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống nông dân và xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa.

Quan niệm trên chỉ ra toàn diện các yếu tố có liên quan đến phát triển nôngnghiệp gắn với xu thế hội nhập ngày nay, trong đó phản ánh hai yêu cầu cơ bản:

Thứ nhất, phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay phải theo hướng CNH, HĐH.

Đây là yêu cầu khách quan để làm cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất, đưa tới

sự thay đổi về kỹ thuật, công nghệ của sản xuất nông nghiệp theo hướng tiên tiến,hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấulao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống củanông dân, đúng như C.Mác đã từng chỉ ra: những thời đại kinh tế khác nhaukhông phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cáchnào, với những tư liệu lao động nào

Kinh nghiệm thế giới cho thấy: hầu hết các nước có tài nguyên về nôngnghiệp dù ít hay nhiều, ban đầu đều tiến hành công nghiệp hoá (sau này chuyển

Trang 27

sang hoặc gắn với hiện đại hoá) trên lĩnh vực này như: Phần Lan, Đan Mạch, cácnước Bắc Mỹ; đặc biệt không phải ngẫu nhiên ở hàng loạt các nước trong khuvực châu Á -Thái Bình Dương như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Philipin, TháiLan…có tương đồng về địa lý khí hậu, thời tiết, tập quán canh tác nông nghiệp,nhất là điểm xuất phát kinh tế cũng giống như nước ta, luôn lấy điểm xuất phátcủa sự phát triển hay cải cách kinh tế, chính trị, lại từ công nghiệp hoá nôngnghiệp, nông thôn Bởi lẽ, vai trò của nông nghiệp không chỉ dừng lại trong việccung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống xã hội, nguyên liệu cho côngnghiệp, mà còn là thị trường rộng lớn của công nghiệp và các ngành kinh tế quốcdân khác, trực tiếp liên quan đến môi sinh, bảo vệ môi trường và cả đến nhữngyếu tố nhạy cảm khác của đời sống chính trị của mỗi quốc gia.

Quan điểm phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH đã được hìnhthành sau khi đường lối đổi mới được khởi xướng, để rồi sau đó từ Đại hội lần thứVIII đến nay Đảng ta luôn chủ trương:

Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thônvẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnhCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệphàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững [20, tr.191]

Như vậy có thể khẳng định: theo qui luật khách quan để phát huy lợi thế tựnhiên vốn có, tạo động lực phát triển nông nghiệp cũng như nâng cao đời sống củangười nông dân, xây dựng nông thôn mới, góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn địnhđời sống chính trị - xã hội, bất cứ quốc gia nào cũng tích cực chuyển mình mạnh mẽ

từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với quátrình CNH, HĐH; tuy nhiên tuỳ thuộc vào từng thời điểm cụ thể, từng đặc điểmvùng, miền khác nhau với những lợi thế so sánh khác nhau nên có những nội dung

cụ thể, bước đi cụ thể về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, với yêu cầu cao nhất

là tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và tiến bộ xã hội Thứ hai, phát

triển nông nghiệp phải đem lại lợi ích thiết thực cho người nông dân và góp phầnlàm thay đổi diện mạo nông thôn mới Điều này vừa khẳng định vai trò to lớn của

Trang 28

nông nghiệp, vừa đồng thời khẳng định vai trò của người nông dân trong cơ cấu xãhội và của nông thôn trong lịch sử, trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xâydựng CNXH, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Nhận thức đúng mối quan

hệ tương tác này là một trong những cơ sở để đề ra chính sách và giải pháp pháttriển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nước ta Sự phát triển đồng bộ

sẽ làm cho nền nông nghiệp nước ta chuyển động theo hướng phát triển cân đối, hàihoà, hiệu quả, ổn định và bền vững

1.1.2 Phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long

* Khái lược về ĐBSCL và quan niệm về phát triển nông nghiệp ĐBSCL

ĐBSCL bao gồm thành phố Cần Thơ và các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre,Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, HậuGiang, Bạc Liêu, Cà Mau (không tính tỉnh Long An thuộc địa bàn Quân khu 7)[Phụ lục 1], với diện tích khoảng 4,06 triệu ha, có cơ cấu thổ nhưỡng rất đadạng: đất phù sa (1.200.000ha), đất nhiễm phèn (1.600.000ha), đất nhiễm mặn(750.000ha); ngoài ra còn có các loại đất khác như: đất xám, đất đồi núi, đấtgiồng cát, đất than bùn… dân số của vùng là 17,4 triệu người, chiếm 20,69%tổng dân số, đứng thứ hai cả nước sau vùng đồng bằng sông Hồng Đây là vùngsản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước với giá trị sản xuất nông nghiệp năm

2006 đạt 47.837,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 33,68% giá trị sản xuất nông nghiệptoàn quốc, đóng góp trên 80% lượng gạo xuất khẩu [7, tr.5] Với đặc điểm thuầnnông, chỗ dựa kinh tế từ khi “khai thiên, lập địa” cho đến nay chủ yếu là lúa gạo,thuỷ sản và luôn giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực cho cả nước; vì vậy chủtrương, chính sách phát triển KT - XH trong từng giai đoạn phải tính đến lợi thế

so sánh và tập trung cho phát triển nông nghiệp ĐBSCL Đây là qui luật kinh tếtất yếu Có một đặc điểm gắn với vùng đất này cần phải tính đến, đó là hàng nămluôn “chung sống với lũ”, mỗi người dân đã làm quen với phương châm “thoát

lũ, vượt lũ, chống lũ, né lũ”, như hầu hết ý kiến của những người tâm huyết và

am hiểu tường tận vùng đất này đều nhắc nhở: như là một “số phận”, nên phải

Trang 29

tìm mọi cách sống chung với lũ để ĐBSCL tồn tại và phát triển Đây cũng là

nguồn tài nguyên rất quan trọng để phát triển nông nghiệp Với lợi thế nằm ở hạ

nguồn sông Mê-kông, vùng đất này thụ hưởng nguồn tài nguyên nước thuận lợicho sản xuất lương thực và nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản Mỗi năm vào mùa

lũ, sông Cửu long đón trên 500 tỷ mét khối nước đổ về cung cấp lượng phù samàu mỡ, còn giúp thau chua, rửa phèn, làm vệ sinh đồng ruộng ĐBSCL cókhoảng 28.000 km sông rạch, thuận lợi cho giao thông thuỷ và nhất là khai thácthuỷ sản Đặc biệt hơn là ĐBSCL các mặt bao quanh đều là vùng biên giới –biên giới đất liền tiếp giáp với Vương Quốc Campuchia và biên giới biển ba mặttiếp giáp các nước ASEAN, với tổng chiều dài bờ biển 740 km, vùng biển đặcquyền kinh tế trên 360.000km2, chiếm 23,4% chiều dài bờ biển và 37,1% lãnhhải đất nước, tổng diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản trên 1.100.000 ha,hàng năm cung cấp trên 42% sản lượng thuỷ sản đánh bắt và gần 67% sản lượngthuỷ sản nuôi trồng so với cả nước [32, tr.5]

Do vị trí địa lý của ĐBSCL vừa xen lẫn đồng bằng với một ít núi đất,núi đá cặp biên giới Campuchia và một phần diện tích đất ngập mặn nối liềnvới biển Đông và Tây cho nên lâm nghiệp cũng đóng góp một phần trong pháttriển kinh tế ở vùng đất này Trong những năm gần đây, nhất là sau nhữngtrận lũ có tính chất ác liệt xảy ra, chính quyền các địa phương đã làm mọicách để bảo vệ diện tích rừng đã có, đồng thời nhanh chóng phát triển rừngphòng hộ, rừng đặc dụng, đẩy mạnh trồng cây phân tán theo tuyến lộ, bờkênh, khu dân cư…Điều này không những phòng hộ chắn sóng, chắn gió, bảo

vệ môi trường sinh thái, bảo vệ dân trong mùa lũ; mà xét về góc độ kinh tếđây cũng là nguồn thu nhập lớn từ chế biến gỗ, thu hút lớn nguồn vốn và nhânlực; đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng thế trận phòng thủliên hoàn giữa các địa phương trên địa bàn

Hoàn cảnh địa lý tuy không quyết định đến đời sống xã hội nhưng nó cóvai trò quan trọng đối với phát triển KT – XH, phát triển con người ĐBSCL với

Trang 30

đặc trưng một vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào thiên nhiên, mưathuận gió hoà, tuân theo qui luật sinh thành của tự nhiên, người dân ở đây trảiqua một thời bị cuốn theo quan niệm sống “làm chơi ăn thiệt”, có tâm niệm trôngchờ, ỷ lại mình, chủ quan trong cung cách làm ăn, tính chất sản xuất nông nghiệplạc hậu, manh mún, phân tán, riêng lẻ không liên kết nhau, không vượt qua khỏiphạm vi gia đình, làng xã, phần nào đó đã gây khó khăn nhất định trong ý thức

về việc nắm bắt và vươn lên làm chủ kiến thức khoa học – kỹ thuật mới, đến nayvẫn là “vùng trũng” của ngành giáo dục Chính nguyên nhân này mà nôngnghiệp ĐBSCL khi hội nhập với xu thế mới của toàn cầu hoá và bùng nổ cáchmạng khoa học - công nghệ, thì những yêu cầu đặt ra cho nông nghiệp phát triểnnhanh, hiệu quả và bền vững gắn với các nhân tố như quy hoạch, hạ tầng KT –

XH, văn hoá, xã hội, môi trường…lại không đáp ứng được Đặc biệt là giaothông, thuỷ lợi [Phụ lục 6] và giáo dục, y tế, môi trường [Phụ lục 7] không theokịp sự phát triển của các vùng khác trong cả nước Đây là bài học đắt giá khichuyển lối sản xuất truyền thống phụ thuộc quá nhiều vào tài nguyên sang lốisản xuất hiện đại quyết định phần lớn bởi áp dụng tiến bộ khoa học Tuy nhiênxét về góc độ khác, cũng chính từ vị trí địa lý của mảnh đất tận cùng này vớimuôn vàn thử thách đã sản sinh ra truyền thống yêu nước, thương người, cần cùlao động, hết lòng vì nghĩa, khẳng khái bộc trực và nhất là sớm chịu ảnh hưởngtiếp thu những yếu tố tích cực của văn hoá văn minh bên ngoài, đúng như nhậnđịnh của các nhà Nam bộ học: Người dân miền Tây mang tính chất nông dân –nông dân miệt vườn tiếp cận thành thị với nét đặc trưng nổi bật là: phóngkhoáng, hào hiệp, mến khách, trọng nghĩa, tình cảm mộc mạc, chân thành, trựctính, táo bạo và năng động Cho nên dù là vùng đất trẻ, tồn tại mới hơn 300 năm,nhưng cung cách làm ăn của người dân ĐBSCL đã gắn liền với tính chất sảnxuất hàng hoá rất sớm và đã ăn sâu vào đời sống của dân cư trong vùng; do đókhông có gì đáng ngạc nhiên khi công cuộc đổi mới bắt đầu thì ĐBSCL nhanhchóng trở thành vùng nông nghiệp thương phẩm sôi động hơn bao giờ hết Điều

Trang 31

đáng chú ý là nơi đây hội tụ nhiều tôn giáo, dân tộc sinh sống (nhất là dân tộcKhơ-Me Nam bộ), đất đai do lịch sử để lại có nguồn gốc rất phức tạp, tài nguyênnước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào nhiều nước trongtiểu vùng sông Mêkong và chịu sự tác động của biến đổi khí hậu của vùng đấtnày là lớn nhất so với cả nước

Tóm lại, những yếu tố như: thường xuyên “sống chung với lũ” (cả lũ ngọt

và lũ mặn), nơi hội tụ nhiều tôn giáo, dân tộc, đất đai do lịch sử để lại có nguồngốc rất phức tạp, tài nguyên nước phụ thuộc rất lớn vào nhiều nước trong tiểuvùng sông Mêkong và chịu sự tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu chính lànhững nét riêng phản ánh đặc thù phát triển nông nghiệp ĐBSCL và cũng là vấn

đề tác động toàn diện đến củng cố KVPT tỉnh (thành phố) trên địa bàn QK9

* Nội dung phát triển nông nghiệp ĐBSCL

Thứ nhất, Tập trung quy hoạch đất đai nông nghiệp, xây dựng chiến lược

công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến làm mũi đột phá Đây được xem là nội

dung “nền tảng” của phát triển kinh tế vùng đất này, bởi vì có quy hoạch đất đainông nghiệp một cách căn bản, lâu dài đồng nghĩa với việc khẳng định tầm quantrọng và thế mạnh của nông nghiệp nước ta nói chung và nông nghiệp ĐBSCLnói riêng, đồng thời kiểm soát một cách chủ động, chặt chẽ và đúng hướng việcphát triển nông nghiệp ở vùng đất phì nhiêu này, tránh được vết xe đổ của việctuỳ tiện chuyển dịch đất đai nông nghiệp - tài sản vô giá của người nông dân vàcủa quốc gia - một cách thiếu tính toán khoa học Chính vì chưa có một quyhoạch “đúng tầm” về phát triển nông nghiệp ĐBSCL mà gần đây xuất hiện nhiều

luồng nhận thức và chỉ đạo thực tiễn có phần sai lệch về lĩnh vực này Về mặt nhận thức, có cách lập luận và định kiến rằng người sản xuất nông nghiệp ở

ĐBSCL không thể làm giàu Cũng có loại nhận thức chưa thật chuẩn xác vềđánh giá cây lương thực, nhất là lúa gạo Định kiến rằng nông nghiệp thu nhậpthấp, trong đó sản xuất gạo lại càng thấp, sản xuất lúa gạo không hiệu quả, phảigiảm dần đất trồng lúa để chuyển sang sản xuất cây trồng khác có hiệu quả cao

Trang 32

hơn Lập luận này chỉ đúng một phần Nếu thế giới xoá bỏ rào cản về bảo hộmậu dịch, lúa gạo được lưu thông toàn cầu, giá lúa sẽ còn tăng Vả lại, với chiềuhướng sản xuất ê-tha-nôn nhiên liệu tăng cùng với giá dầu mỏ tăng, giá lươngthực tăng (cơn “bão giá” có lúc hoành hành làm điêu đứng cả thế giới) thì giá lúagạo cũng tăng theo Vào thời điểm này, giá lúa vùng ĐBSCL đã vượt ngưỡng5.000 đồng/kg, với năng suất trung bình 12 tấn/ha/năm, giá trị tạo ra đạt trên 60triệu đồng/ha/năm, chưa hẳn đã thua thiệt cây khác; người làm nông nghiệp cũngvẫn có cơ hội có thu nhập cao gấp nhiều lần so với hiện nay Nhiều tỷ phú “chân

đất” đã xuất hiện ở ĐBSCL đã minh chứng rõ cho điều này Về mặt chỉ đạo thực tiễn, đã có hàng loạt vấn đề tác động tiêu cực đến phát triển nông nghiệp, nhất là

các địa phương đua nhau chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp mộtcách tuỳ tiện, chỉ thấy lợi ích trước mắt chứ không thấy lợi ích lâu dài Ai cũngbiết rằng: cả nước chỉ có hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có trên 4 triệu

ha đất lúa thuộc diện tích đất nông nghiệp, nhưng theo thống kê mỗi năm nước ta

có khoảng 70.000 ha đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp [33, tr.3].Tình hình này lại đang diễn ra thật sự “nóng” ở ĐBSCL: địa phương nào cũngquá “hăng hái” chuyển đổi đất nông nghiệp để đầu tư công nghiệp Đó là mongmuốn tốt rất đáng trân trọng, nhưng không thể chấp nhận lối tư duy thiếu tínhkhoa học, tính thực tế Vì ĐBSCL sở hữu rất ít các yếu tố thuận lợi cho côngnghiệp phát triển (như: địa hình thấp bị chia cắt bởi kênh rạch, cơ sở hạ tầng kỹthuật hạn chế, không có nguồn tài nguyên đề phát triển công nghiệp khaithác…), mà là vùng đất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Mọi chủ trươngphát triển công nghiệp lúc này phải được xem xét kỹ lưỡng, có bước đi thích hợp

và phải bảo đảm hiệu quả trong quá trình chuyển đổi quỹ đất sang sản xuất côngnghiệp (hàng loạt quy hoạch “treo”, xây dựng tràn lan sân golf khắp cả nướcđang bị dư luận xã hội lên án là những minh chứng điển hình) Do đó, phải cóchiến lược quy hoạch đất đai đúng đắn là phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 33

nội bộ nông nghiệp: nông – ngư – lâm nghiệp và cơ cấu ngành: nông – côngnghiệp – dịch vụ, du lịch trong toàn vùng Làm được điều này sẽ phát huy tối đalợi thế so sánh của ĐBSCL, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực của địaphương và của cả nước, lợi ích của đại bộ phận nông dân được quan tâm đúngmức hạn chế những tranh chấp, mâu thuẫn ruộng đất chứa đựng nhiều yếu tốphức tạp do lịch sử để lại Càng chú trọng hơn khi biết rằng: sau khi siêu bãoNargis đổ bộ vào Myanmar năm 2008 làm trên 133.000 người chết (AFP đưatin), nhiều người mới “giật mình” nghĩ tới ĐBSCL Nơi tâm bão Nargis đổ bộ,vùng Irrawaddy (Myanmar) có nhiều nét tương đồng với ĐBSCL: địa hình thấp,đồng bằng trống trải, nhà cửa và công trình xây dựng chưa kiên cố…Vì vậy,nhiều chuyên gia môi trường cảnh báo về một thảm hoạ tương tự có thể xảy ratại vùng đất này nếu bão mạnh đổ bộ vào đây [14, tr.5] Đây là vấn đề có ý nghĩachiến lược liên quan trực tiếp đến quy hoạch đất đai nông nghiệp ở vùng đất này,phải có tầm nhìn xa tìm các giải pháp tối ưu để bảo vệ đất nông nghiệp, hạn chếthấp nhất những thách thức luôn đặt ra.

Hơn nữa, trong điều kiện đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH và hội nhậpWTO, việc đặt ra hàng đầu là không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đủsức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới Do đó, xây dựng chiếnlược công nghệ sinh học và công nghiệp chế biến ở ĐBSCL phải là “việc làmngay”, phải xác định là mũi đột phá để làm “liều thuốc” kích thích tăng trưởngnhanh và bền vững Đây là khâu vừa yếu vừa thiếu hiện nay ở các địa phươngĐBSCL Xây dựng chiến lược công nghệ sinh học và công nghiệp chế biến làbài toán thiết thực cho phát triển nông nghiệp vùng đất này Mặc dù đầu tưkhông quá tốn kém, nhưng mang lại hiệu quả lớn: về lâu dài sẽ làm thay đổi cáchnghĩ, cách làm của người nông dân Nam Bộ, còn trước mắt sẽ hỗ trợ tăng năngsuất cây trồng, nuôi trồng thuỷ sản, bảo vệ thực vật, bảo quản và chế biến, tiêuthụ nông phẩm theo hướng hiện đại và “sạch” nhằm nâng cao chất lượng và giátrị nông phẩm trong tiêu dùng và xuất khẩu

Trang 34

Thứ hai, Thực hiện cơ chế và hệ thống chính sách đặc thù để huy động

mọi nguồn lực Đây có thể được xem là nội dung “đòn bẩy” của phát triển kinh

tế ĐBSCL Thực tiễn cho thấy, dù được xem là vựa lúa lớn nhất cả nước (trong

đó tứ giác Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau là một trong bốn vùngkinh tế trọng điểm của cả nước), nhưng rõ ràng ĐBSCL chưa có bước phát triểnđột phá mạnh mẽ, thậm chí vị trí của vùng đất này trong nền kinh tế đất nướctheo những đánh giá gần đây là đã giảm sút (theo đánh giá của các cơ quanTrung ương: GDP tính theo đầu người chỉ bằng 70% so với mức trung bình củaquốc gia) và môi trường kinh doanh tiếp tục không lôi cuốn, hấp dẫn các nhà đầu

tư [66, tr.37] Nguyên nhân chủ quan là thiếu một cơ chế đặc thù và hệ thốngchính sách trợ giúp cần thiết để thu hút nguồn lực bên ngoài đầu tư vào nôngnghiệp, đó là các nhà đầu tư từ các nước có nền nông nghiệp mạnh như Hoa Kỳ,Canada, Australia và các nước châu Âu bằng vốn FDI để tạo đà đẩy nhanh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn trong vùng Cơ chế, chính sách đặc thù còn nhằmtạo ra môi trường kinh doanh thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư lớn vào trong lĩnhvực nông nghiệp, nông thôn Cơ chế, chính sách đặc thù còn nhằm cung cấpthông tin đúng về ĐBSCL, từ đó thu hút các nguồn lực khác như: nhân lực, khoahọc công nghệ cho phát triển nông nghiệp, tạo sự tăng trưởng về sản lượngnông, ngư nghiệp trên cơ sở khai thác điều kiện tự nhiên, trình độ tay nghề ngườilao động và công nghệ cao, chuyển mạnh nền nông nghiệp truyền thống sangphát triển “nền nông nghiệp điện tử”, tri thức hóa một bộ phận nông dân Muốnđạt được điều nêu trên bên cạnh việc thành lập viện nghiên cứu lúa, cần có việnnghiên cứu thuỷ sản, thiết lập hệ thống tư vấn, khuyến nông - những hình thứcvừa đơn giản vừa hiệu quả để đưa khoa học, công nghệ vào cuộc sống ởĐBSCL, hạn chế sự thua thiệt về cạnh tranh các mặt hàng nông sản ở “sân chơi”toàn cầu khi đã gia nhập WTO của nông nghiệp ĐBSCL

Thứ ba, Phát triển nông nghiệp ĐBSCL với bảo đảm ngày càng tốt hơn

về đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân ở những địa bàn khó khăn.

Trang 35

Đây vừa được xem là nội dung vừa là “mục tiêu” của phát triển kinh tếĐBSCL Thực tế cho thấy: sự phát triển nông nghiệp ở nước ta trong nhữngnăm qua đã góp phần đáng kể cải thiện đời sống người nông dân, nhưng tìnhtrạng đói nghèo vẫn là vấn đề bức xúc hiện nay, họ chịu nhiều thiệt thòi tronglĩnh vực vật chất lẫn tinh thần, ít được hưởng lợi tương xứng từ thành quả củaphát triển xã hội, của quá trình hội nhập, thường đối mặt với những khó khăn,rủi ro về thiên tai, bão lụt, cơ sở hạ tầng và trình độ dân trí thấp nhất, số nhàlàm tạm bợ cao nhất, tiếp cận nước sạch ít nhất, nông dân thu nhập thấp nhất.Những nghịch lý vừa nêu có rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhânchủ quan của bản thân nông dân (năng động nhưng ít chịu khó nâng cao trình

độ tri thức, lối sống phóng thoáng ít chịu tích luỹ…) nhưng còn có mộtnguyên nhân không kém phần quan trọng là việc chưa quan tâm kịp thời vàthiếu một hệ thống đồng bộ các chính sách KT - XH của nhà nước để ổn định

và phát triển nông thôn, chăm lo đúng mức đời sống vật chất – tinh thần củangười nông dân vùng đất này

Biết rằng thực hiện mục tiêu “dân giàu, xã giàu, huyện giàu, tỉnh giàu” ởĐBSCL là điều không dễ dàng - nơi có hơn 17 triệu dân, có 40% đến độ tuổi laođộng, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động chỉ đạt 65%, phần lớn là lao động giảnđơn, chỉ thích ứng với sản xuất nông nghiệp lạc hậu [56, tr.39], nhưng đã đến lúckhông thể để những nghịch lý tiếp tục đè nặng trên vai người nông dân “mộtnắng, hai sương” khi đất nước đã có điều kiện kinh tế chuyển biến tích cực vàvững chắc qua hơn 20 năm đổi mới và hội nhập Cần nhận thức lại cho đúng vaitrò nông nghiệp, nông dân, tăng cường vai trò chỉ đạo của chính quyền địaphương Cần có chính sách đất đai giải quyết căn bản vấn đề sở hữu, sử dụngđất đai trong nông nghiệp, trong đó tạo thuận lợi cho việc dồn điền đổi thửa,tạo khả năng tích tụ tập trung đất đai cho các hộ sản xuất hàng hoá, trang trại,công ty kinh doanh nông nghiệp, lấy hiệu quả sử dụng đất đai là thước đochính sách Phải đầu tư kết cấu hạ tầng ở nông thôn để kêu gọi đầu tư, có

Trang 36

chính sách đột phá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho nôngdân, gia tăng các biện pháp bố trí lại sản xuất ở nông thôn: thủ công nghiệp,công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp để thực hiện “ly nông bất ly hương” Coitrọng giáo dục cho nông dân kiến thức, kỹ năng sản xuất hàng hoá, sản xuấttheo yêu cầu thị trường để người nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàungay chính mãnh đất trù phú về nông nghiệp ở phía Tây Nam Tổ quốc.

Từ những khái quát về ĐBSCL có liên quan đến nông nghiệp, có thể nêu

lên quan niệm về phát triển nông nghiệp ĐBSCL như sau: phát triển nông nghiệp ĐBSCL là quá trình không ngừng tăng về số lượng và nâng cao chất lượng nông phẩm hàng hoá, gắn với cơ cấu chủ yếu là sản xuất lương thực và khai thác, chế biến thuỷ, hải sản theo hướng sản xuất lớn, tiên tiến, hiện đại, hội nhập, và bền vững, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, ổn định KT – XH nông thôn, xứng tầm là khu vực phát triển nông nghiệp lớn nhất cả nước.

Quan niệm trên vừa thể hiện được các yếu tố chung có liên quan đếnlực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, vừa thểhiện được nét riêng của vùng là cung cách làm ăn đã hình thành sớm và hoànhập nhanh trong cơ chế thị trường thời kỳ hội nhập, với thế mạnh tuyệt đối làsản xuất lương thực và khai thác, chế biến thuỷ, hải sản so với các vùng kháctrong cả nước; đồng thời luôn làm tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thựcquốc gia trong mọi hoàn cảnh Đây cũng là hướng đi ưu tiên lâu dài trong mọichủ trương, chính sách phát triển KT – XH ở ĐBSCL

1.2 Khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) và sự tác động của phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long đến củng cố khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trên địa bàn Quân khu 9

1.2.1 Một số vấn đề về khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố)

* Quan niệm về KVPT tỉnh (thành phố)

Quá trình triển khai xây dựng KVPT tỉnh (thành phố) hơn 20 năm qua đãchứng minh sự kế thừa và phát triển phong phú kinh nghiệm truyền thống giữ

Trang 37

nước của dân tộc ta có nét độc đáo là: “toàn dân đánh giặc giữ nước” bằng thếtrận “làng nước” Sự phát triển đó phù hợp, đúng hướng và đã đem lại nhữnghiệu quả bước đầu, với nhận thức tương đối thống nhất là:

KVPT tỉnh (thành phố) là một tổ chức QP - AN địa phương theo địa giớihành chính, là bộ phận hợp thành, là nền tảng của lực lượng và thế trậnquốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân cả nước Được xây dựngvững mạnh về mọi mặt theo kế hoạch chung thống nhất, dưới sự lãnh đạocủa cấp uỷ Đảng và điều hành của chính quyền địa phương Nhằm pháthuy sức mạnh tổng hợp tại chỗ độc lập, tự lực ngăn ngừa và đối phó hiệuquả mọi tình huống cả thời bình, thời chiến để bảo vệ tỉnh, thành phố,phối hợp với các địa phương đơn vị khác bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa [3, tr.112]

Điều này loại bỏ được quan niệm cũ cho rằng: xem công cuộc bảo vệ Tổ quốchầu như là nhiệm vụ đấu tranh vũ trang, khái niệm quân sự, đánh giặc là công việcriêng của lực lượng chuyên trách Ngày nay, tư duy bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta khôngchỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách mà còn là của toàn dân, lực lượng vũ trang

là nòng cốt Vì vậy, cần nên hiểu KVPT không phải là một tổ chức quân sự, kinh tế, xãhội mà là một thiết chế phối hợp có tổ chức chặt chẽ, phát huy mọi nguồn sức mạnhbảo vệ tổ quốc trong địa bàn, nó là bộ phận trong thế trận liên hoàn của chiến tranhnhân dân cả nước Xây dựng, củng cố KVPT không phải là để chờ có chiến tranh, mà

nó phát huy tác dụng to lớn trong sản xuất, xây dựng và phát triển mọi mặt hiện nay

* Nội dung xây dựng KVPT tỉnh (thành phố)

Xây dựng KVPT tỉnh (thành phố) với nội dung toàn diện cả chính trị, kinh

tế, quân sự, an ninh, văn hoá xã hội, cả về lực lượng và thế trận Nội dung đượcthể hiện với các vấn đề chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xây dựng yếu tố chính trị tinh thần, cốt lõi là nhân dân tin Đảng,

tin chính quyền, tin vào sự tất thắng của chế độ mới phải xem là “cái gốc, cái nền”vững chắc của KVPT Hiện nay, với cơ chế thị trường, quá trình đô thị hoá, CNH,

Trang 38

HĐH diễn ra nhanh chóng, bên cạnh những mặt tích cực đã khẳng định cũng bắt đầu

lộ diện những gam màu tối của nó, nếu không chú trọng giải quyết đúng mức sẽ nảysinh sự xáo trộn và bất ổn xã hội là điều khó tránh khỏi, nhất là ở các địa bàn “nóng”như vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng dân tộc thiểu số Rất cần những phongtrào như: xoá đói giảm nghèo, uống nước nhớ nguồn, tình làng nghĩa xóm, thôn xómbình yên gia đình hoà thuận…được quan tâm chu đáo, thường xuyên, liên tục của cảcộng đồng, chắc chắn sẽ là “liều thuốc miễn dịch” đủ sức đề kháng các loại hiệu ứngtiêu cực, và cũng là thứ “vũ khí” đáng tin cậy nhất của KVPT

Thứ hai, phát triển kinh tế với ý nghĩa quyết định trực tiếp tạo ra sức

mạnh QP - AN Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một thực tế là: cả yếu tố kinh

tế và QP - AN đều vận động theo qui luật riêng Trong tình hình kinh tế đấtnước vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửahội nhập với nền kinh tế thế giới và yêu cầu bảo vệ tổ quốc ngày nay đang đặt

ra nhiều vấn đề mới Đúng là: “hiện nay lợi nhuận và vụ lợi sẽ có vai trò mới,một động lực vật chất thúc đẩy các hoạt động trong xã hội ta” [80, tr.230],nhưng nếu không có tư duy biện chứng và xử lý khoa học sẽ nãy sinh nhiềubất cập Vì vậy, ngày nay trong phát triển ở địa phương cần tính toán hợp lý

và khoa học theo hướng: vấn đề gì có lợi cho kinh tế và cả KVPT cần đượctập trung thì kiên quyết tiến hành; vấn đề gì cần xây dựng để đối phó ngay vớitình huống sẽ xảy ra thì cho dù tốn kém cũng phải làm (nhất là những tìnhhuống lũ lụt, thiên tai, thảm hoạ môi trường trong KVPT); vấn đề gì chưa cấpthiết đối với xây dựng KVPT, nếu làm sẽ có ảnh hưởng đến kinh tế thì phảicân nhắc (nhất là KVPT then chốt, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương đượcchuẩn bị ngay trong thời bình), có thể chỉ chuẩn bị kế hoạch hoặc chuẩn bịdần từng bước để khi cần thiết có thể triển khai được nhanh chóng và pháthuy được tác dụng

Thứ ba, xây dựng về quân sự và an ninh (thực chất là xây dựng lực lượng

và thế trận) Đây là nhiệm vụ trung tâm, tạo ra các tiềm lực nòng cốt tạo nên sức

Trang 39

mạnh QP - AN của KVPT, có mối quan hệ biện chứng với các nội dung xâydựng khác Cụ thể là:

- Lực lượng nòng cốt trong KVPT, trước sau vẫn là các lực lượng vũ trangđịa phương (bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên, an ninh, biênphòng) được xây dựng theo hướng cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bướchiện đại Cần chú ý rằng: trong thời bình, quân thường trực cần được tổ chứctinh gọn, có chất lượng và sức cơ động cao là chính; đồng thời tập trung xâydựng, tăng cường lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên rộng khắp theophương châm: “ Ở đâu có dân, có tổ chức Đảng thì ở đó có dân quân tự vệ và dự

bị động viên” [65, tr.4] Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, nhất thiết từnglĩnh vực cần được bảo vệ bằng lực lượng rộng rãi của chính lực lượng đó theophương châm: “Biến các mục tiêu cần bảo vệ thành lực lượng bảo vệ” [35,tr.222], vì chỉ có những người có chuyên sâu trong ngành, trong từng lĩnh vực cụthể mới hiểu rõ phải bảo vệ cái gì và bảo vệ như thế nào cho có hiệu quả Hơnnữa, lực lượng hùng hậu nhất trong KVPT mà ta có truyền thống động viên làphải phát động ý thức bảo vệ rộng rãi trong quần chúng nhân dân, trên cơ sở làmcho nhân dân nhận biết đầy đủ thời cơ và thách thức khi đất nước chuyển đổi cơ

chế kinh tế và hội nhập Xây dựng “ba nhóm” lực lượng cơ bản trong KVPT nêu

trên với tinh thần không ngừng được bổ sung liên tục bằng tiềm lực tổng hợp cả

về chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, khoa học – công nghệ bên cạnh tiềm lựcquân sự Nếu có cơ chế huy động những khả năng về vật chất và tinh thần cảtrong nước và ngoài nước vừa tự nguyện vừa bắt buộc thì chắc chắn sẽ phát huytác dụng ngay trong phòng thủ thời bình và luôn ở tư thế chủ động đối phó cóhiệu quả trong mọi tình huống

- Thế trận trong KVPT tỉnh (thành phố) là sự kết hợp hài hoà giữa thế trậnquốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và các hoạt động đối ngoạikhông ngừng nâng cao vị thế của các địa phương và của đất nước trên trườngquốc tế Thế trận ấy được hình thành từ cơ sở xã (phường), đến thế trận ở huyện

Trang 40

(quận), và hợp thành thế trận chung của tỉnh (thành phố) Hiện nay thế trận ở cơ

sở xã (phường) vững mạnh toàn diện phải được xem là nền tảng tạo nên sự vữngchắc của thế trận KVPT Theo đó, phải quy tụ được các đoàn thể nhân dân, cáctầng lớp nhân dân, các tôn giáo, các dân tộc làm sức mạnh để bồi dưỡng nhữngnhân tố tích cực, phòng ngừa các nhân tố tiêu cực, xây dựng thế trận lòng dân.Nếu không tạo được thế trận đó, mà chỉ dựa vào các lực lượng vũ trang chuyêntrách, các biện pháp nghiệp vụ, để sự việc xảy ra mới giải quyết thì tác dụngngăn chặn rất kém, không tránh khỏi phức tạp, càng để kéo dài sẽ tiềm ẩn bất ổnđịnh về chính trị Cần thống nhất nhận thức rằng: ở địa phương, lực lượng vũtrang làm nòng cốt trong thế trận KVPT chỉ phát huy được sức mạnh khi bám sátcác hoạt động xây dựng và phát triển kinh tế văn hoá – xã hội làm nhiệm vụtrung tâm, có sự kết hợp hài hoà giữa các mặt của địa phương Đặc biệt, trongthời bình việc xây dựng các công trình phòng thủ phải được cân nhắc, tính toán

kỹ để không ảnh hưởng đến phát triển kinh tế- xã hội (kể cả ở vành đai biên giới,hải đảo), nơi nào cấp thiết thì làm trước, chưa cấp thiết thì làm sau, nhưng nhấtthiết phải được hoàn chỉnh về kế hoạch với phương châm: “vững toàn diện,mạnh trọng điểm”để không bị động trong mọi tình huống có thể xảy ra, nhất là ởnhững “điểm nóng” đã xác định

1.2.2 Đặc điểm, nội dung củng cố khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trên địa bàn Quân khu 9

* Đặc điểm địa bàn QK9

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, với vị thế kinh tế là vùng đôngdân, trù phú, vựa lúa lớn nhất nước, chứa đựng những tiềm năng giàu có về thuỷsản, khoáng sản; đồng thời với vị thế QP - AN, đây là địa bàn có nhiều nét đặcthù cần phải chú ý khi củng cố KVPT trong thời gian tới

Thứ nhất, QK9 là địa bàn “vùng xa” theo đúng nghĩa: trấn nhiệm ở đầu

phía Nam của Tổ quốc, hầu hết các địa phương đều giáp biên giới (trên bộ vàtrên biển), trong đó có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài

Ngày đăng: 14/01/2016, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1877), “Chống Đuy-rinh”, C.Mác và Ăngghen, toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tr.235-242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy-rinh”, "C.Mác và Ăngghen, toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
2. Bộ Quốc phòng (2004), Giáo trình giáo dục quốc phòng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhândân
Năm: 2004
3. Bộ Quốc phòng (2005), Giáo trình Giáo dục quốc phòng, tập II-cuốn 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2005
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008), “Phát triển vùng nuôi tôm nước lợ: mạnh ai nấy làm”, trang web www.laodong.com.vn, ngày 29.9, tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển vùng nuôi tôm nướclợ: mạnh ai nấy làm”, "trang web www.laodong.com.vn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2008
5. Bùi Chí Bửu (2008), “Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (791), tr.40-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệpcủa Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Bùi Chí Bửu
Năm: 2008
6. Bùi Căn (2008), “Campuchia phát triển đất nước”, Báo Nhân Dân, (19237), tr.4 7. Lê Minh Châu (2008), “phát triển công nghiệp khu vực ĐBSCL”, Báo Nhân dân(19268), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Campuchia phát triển đất nước”, "Báo Nhân Dân", (19237), tr.47. Lê Minh Châu (2008), “phát triển công nghiệp khu vực ĐBSCL”, "Báo Nhân dân
Tác giả: Bùi Căn (2008), “Campuchia phát triển đất nước”, Báo Nhân Dân, (19237), tr.4 7. Lê Minh Châu
Năm: 2008
9. Võ Hùng Dũng (2007), “Chiến lược phát triển kinh tế đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (7) , tr.24-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế đồng bằng sông CửuLong”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Võ Hùng Dũng
Năm: 2007
10. Võ Hùng Dũng(2009), “Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: những tác động chính sách”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (370), tr.3-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: những tácđộng chính sách”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Võ Hùng Dũng
Năm: 2009
11. Nguyễn Tấn Dũng (2005), Tây Nam Bộ tiến vào thế kỷ 21,Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Nam Bộ tiến vào thế kỷ 21
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
12. Nguyễn Xuân Dũng (2006), “Những điều chỉnh chính sách của Campuchia để thực hiện cam kết hội nhập tổ chức WTO”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, 2(118), tr.40-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều chỉnh chính sách của Campuchiađể thực hiện cam kết hội nhập tổ chức WTO”, "Tạp chí Những vấn đềkinh tế thế giới
Tác giả: Nguyễn Xuân Dũng
Năm: 2006
13. Quang Duẫn (2008), “Lo ngại thảm hoạ Irrawaddy xảy ra tại ĐBSCL”, Báo Thanh niên, (139), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lo ngại thảm hoạ Irrawaddy xảy ra tại ĐBSCL”, "BáoThanh niên
Tác giả: Quang Duẫn
Năm: 2008
14. Cốc Nguyên Dương (2007), “Tình trạng tam nông của Trung Quốc: thành tựu, vấn đề và thách thức”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (354), tr.7-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng tam nông của Trung Quốc: thànhtựu, vấn đề và thách thức”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Cốc Nguyên Dương
Năm: 2007
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số vấnđề phát triển nông nghiệp và nông thôn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1998
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khoá X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTWkhoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2008
22. Nguyễn Đình Đầu (2002), Nam Bộ xưa và nay, Ấn phẩm Xưa và nay, Nxb TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Bộ xưa và nay
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: NxbTP.Hồ Chí Minh
Năm: 2002
24. Trần Đức (1997), “Con đường phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (20), tr.36-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ởnước ta”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Đức
Năm: 1997
25. Trần Hồng Hà (2008), “Bảo vệ môi trường ĐBSCL”, Tạp chí Cộng sản, (793), tr.30-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường ĐBSCL”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Hồng Hà
Năm: 2008
26. Giang Hoàng (2008), Báo Quân đội nhân dân, (17025), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Quân đội nhân dân
Tác giả: Giang Hoàng
Năm: 2008
27. Hà Hồng (2008), “bảo vệ bền vững môi trường lưu vực các dòng sông”, Báo Nhân dân, (19418), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bảo vệ bền vững môi trường lưu vực các dòng sông”, "BáoNhân dân
Tác giả: Hà Hồng
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w