1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay

66 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của nghề TCTT đã góp phần đáng kể vào việc đẩymạnh sự phân công LĐ xã hội, chuyển dịch cơ cấu KT nông thôn theo hướng CNH,HĐH, và quan trọng nhất là góp phần xoá đói giảm n

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển nghề TCTT là một trong những nội dung cơ bản của CNH, HĐH Nôngnghiệp nông thôn Thực tế cho thấy nơi nào có nghề TCTT thì nơi đó có KT phát triển,nông thôn đổi mới Sự phát triển của nghề TCTT đã góp phần đáng kể vào việc đẩymạnh sự phân công LĐ xã hội, chuyển dịch cơ cấu KT nông thôn theo hướng CNH,HĐH, và quan trọng nhất là góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo ra nhiều việc làm, nângcao thu nhập và cải thiện đời sống cho người LĐ ở các địa phương

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) và mới đây nhất làHội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X (7/2008) đã đề ra nhiềugiải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong điềukiện mới, trong đó có giải pháp về phát triển các ngành nghề, LNTT Sự ra đời củaNghị định số 66/2006 của Chính phủ về “Phát triển ngành nghề nông thôn” đã đánhdấu một bước phát triển mới, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đềphát triển nghề TCTT và phát triển KT ở nông thôn theo hướng hiện đại Tỉnh Hà Tĩnh là nơi có nhiều ngành nghề truyền thống nổi tiếng gắn liền với têntuổi của các LN đã có lịch sử phát triển từ hàng trăm năm nay như: làng rèn ĐứcThuận, làng rèn Trung Lương, làng mộc Thái Yên, làng gốm Cẩm Trang, làng nónTiên Điền, làng dệt vải Trường Lưu, làng thợ bạc Nam Trị…

TX Hồng Lĩnh là trung tâm KT, văn hoá, xã hội phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, là TX

có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển KT, đặc biệt là phát triển các ngành nghềTCTT với hai LN nổi tiếng là làng rèn Đức Thuận và làng rèn Trung Lương Trongnhững năm qua, nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh đã có bước phát triển mới và gặt háiđược nhiều thành công, góp phần quan trọng vào phát triển KT - XH của TX, xoá đóigiảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì sự phát triển của nghề TCTT trên địa bàn TXHồng Lĩnh vẫn còn có nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của TX.Hơn nữa do SX nông nghiệp mang tính chất thời vụ, thời gian LĐ nhàn rỗi chiếm tỷ lệ

Trang 2

tích đất nông nghiệp bị thu hồi đã ảnh hưởng đến việc làm và đời sống của người dân

ở nông thôn Do đó, việc phát triển ngành nghề TCTT là hướng chủ yếu để tạo ranhiều việc làm và tăng thu nhập cho người LĐ

Vấn đề đặt ra là cần có giải pháp khả thi để thúc đẩy sự phát triển của nghề TCTT

TX Hồng Lĩnh, đồng thời bảo tồn được nét văn hoá trong các LN, góp phần tạo ranhiều việc làm cho người LĐ, đưa nền KT của TX Hồng Lĩnh nói riêng và của tỉnh HàTĩnh nói chung phát triển đi lên, đẩy nhanh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghề TCTT, LN và

LN TCTT, tiêu biểu như: "Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình côngnghiệp hoá" của TS.Dương Bá Phượng; "Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam"của Ths.Bùi Văn Vượng; "Phát triển ngành nghề truyền thống trong các làng nghề ởhuyện An Nhơn, tỉnh Bình Định" của Hoàng Trung Trực - ĐH Kinh tế Huế

Ở TX Hồng Lĩnh, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ,toàn diện về lĩnh vực này Nó mới chỉ dừng lại ở các báo cáo, số liệu thống kê ở cácphòng, ban chức năng của TX Để có một cách nhìn tổng quát về tình hình phát triểncủa nghề TCTT, từ đó có thể đưa ra các giải pháp nhằm phát triển nghề TCTT trong

thời gian tới, tôi đã quyết định chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình là “Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay”.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng phát triển nghề TCTT ở TX HồngLĩnh, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nghề TCTT trên địa bàn

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghề TCTT

- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển của nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh, từ

đó tìm ra những mặt tích cực và hạn chế, chỉ ra những vấn đề vướng mắc cần đượcgiải quyết

- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nghề TCTT ở TX HồngLĩnh trong thời gian tới

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Các hộ làm nghề TCTT trong các LN ở TX Hồng Lĩnh

* Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: địa bàn TX Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

- Thời gian: từ năm 2004 đến nay

- Nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển của nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh

Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nghề TCTT trên địa bàn trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phươngpháp chủ yếu sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng

- Phương pháp duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp quy nạp và diễn dịch

- Phương pháp điều tra bằng ankét

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Chọn điểm điều tra: LN Đức Thuận, LN Trung Lương và cụm LNTTTrung Lương

+ Chọn mẫu điều tra: 40 hộ SX nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh, trong đó: 30 hộ ở

LN Trung Lương, 5 hộ ở LN Đức Thuận và 5 hộ ở cụm LNTT Trung Lương

+ Số liệu sơ cấp: LĐ, vốn SX, đất đai, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của

Trang 4

- Góp phần đánh giá thực trạng phát triển của nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh và phântích những mặt tích cực, hạn chế của nó

- Đề xuất những giải pháp phù hợp, có tính khả thi nhằm phát triển nghề TCTT ở

TX Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

6 Ý nghĩa của đề tài

- Làm cơ sở lý luận và thực tiễn giúp địa phương xây dựng chiến lược và hoàn thiệnchính sách, đưa ra các giải pháp phát nghề TCTT trong thời gian tới ở TX Hồng Lĩnh,tỉnh Hà Tĩnh

- Làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn đề này, trong đó có sinhviên ngành Kinh tế chính trị

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần phụ lục và phầnmục lục, đề tài gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghề TCTT

Chương 2: Thực trạng phát triển của nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Chương 3: Định hướng và những giải pháp chủ yếu phát triển nghề TCTT ở TXHồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

Trang 5

NỘI DUNGChương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHỀ

THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG 1.1 Quan niệm, vai trò, đặc điểm của nghề TCTT

1.1.1 Quan niệm về nghề TCTT và LNTT

1.1.1.1 Quan niệm về nghề TCTT

Có rất nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề TCTT ở nước ta như: nghề truyềnthống, nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề phụ, nghề tiểu thủ công nghiệp…Và chođến nay, cũng đã tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nghề TCTT

* Theo các nhà sử học Việt Nam hiện nay thì:

Nghề TCTT bao gồm những ngành nghề phi nông nghiệp có từ trước thời thuộcPháp còn tồn tại cho đến ngày nay Nghề TCTT còn bao hàm cả những ngành nghề đãđược cải tiến hoặc sử dụng cả những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ SX nhưng phảituân thủ công nghệ truyền thống, thể hiện được nét văn hoá đặc sắc của dân tộc ViệtNam [2,12]

* Theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP về “Phát triển ngành nghề nông thôn”:

Nghề TCTT là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, cótính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị maimột, thất truyền [5]

* Theo Th.s.Bùi Văn Vượng:

Đối với những ngành nghề được xếp vào nghề TCTT, nhất thiết phải có các yếu tố sau:

- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta

- SX tập trung, tạo thành các LN, phố nghề

- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam

- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất

- Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa

là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các disản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá Việt Nam

Trang 6

- Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng

kể vào ngân sách Nhà nước[1,12]

Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Nghề TCTT là những ngànhnghề SX chủ yếu bằng thủ công, dựa vào kỹ thuật và công nghệ truyền thống là chủyếu và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần đáng kể vào tăng thunhập, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của người dân địa phương

1.1.1.2 Quan niệm về LNTT

Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các LN và

LNTT Cho đến nay, cũng đã có nhiều khái niệm về LN và LNTT

* Theo TS.Dương Bá Phượng:

- LN là làng ở nông thôn có một (hoặc một số) nghề thủ công nghiệp tách hẳn rakhỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập

- LNTT là những LN xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay,

là những LN đã tồn tại hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm [2,15]

* Theo Ths.Bùi Văn Vượng:

- LN là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làngđều SX hàng thủ công, người thợ thủ công trong nhiều trường hợp cũng đồng thời làngười làm nghề nông

- LNTT là trung tâm SX hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ giađình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết, hỗ trợ SX, bán sảnphẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề vàcác thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc [1,13-14]

* Có quan niệm khác lại cho rằng:

LNTT là những làng có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền Nó được hìnhthành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệkhác theo kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm Trong làng,

SX mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa để phát triển nghề, sản phẩm mangtính độc đáo và tinh xảo, nổi tiếng và mang đậm nét văn hoá dân tộc [3,6]

Trang 7

* Còn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP về “Phát triển ngành nghề nông thôn” thì:

- LN là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặccác điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, một thị trấn, có các hoạt động ngànhnghề nông thôn, SX ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

- LNTT là LN có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời [5]

Từ những quan niệm trên có thể hiểu rằng LNTT là làng ở nông thôn, có một haynhiều nghề TCTT Những nghề TCTT đó được lưu truyền từ đời này sang đời khác và

SX ra sản phẩm bằng sự thuần tục, khéo léo của đôi bàn tay, sự tinh ý, sáng tạo củangười thợ và mang đậm nét văn hoá của dân tộc

1.1.2 Vai trò và đặc điểm của nghề TCTT

1.1.2.1 Vai trò của nghề TCTT trong công cuộc phát triển KT ở nông thôn

KT nông nghiệp cùng KT phi nông nghiệp là hai bộ phận quan trọng không thểthiếu được tạo thành KT nông thôn ở hầu hết các nước trên thế giới cũng như ViệtNam Trong công cuộc đổi mới KT của Đảng, Nhà nước ta về nông nghiệp, nông thônluôn chú trọng khuyến khích các ngành nghề truyền thống ở nông thôn phát triển Sựphát triển của nghề TCTT được coi là giải pháp tích cực trong tiến trình thực hiệnCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, được thể hiện ở các vai trò sau:

Thứ nhất: Sự phát triển của nghề TCTT đã góp phần giải quyết việc làm cho người

LĐ ở nông thôn

Hiện nay, do quá trình đô thị hoá và CNH diễn ra mạnh mẽ nên một phần lớn diệntích đất nông nghiệp đã bị thu hồi và chuyển sang sử dụng cho mục đích khác Vấn đềmất đất nông nghiệp đang là thách thức lớn đối với đời sống người dân ở nông thôn

Do đó, giải quyết việc làm cho người LĐ nông thôn đang là vấn đề bức xúc số mộthiện nay, bởi dân số và LĐ gia tăng nhanh, diện tích đất canh tác trên đầu người thấp

và ngày càng thu hẹp, tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp cao Vì vậy, phát triểnngành nghề ở nông thôn sẽ góp phần tích cực giải quyết sự mất cân đối giữa nguồn LĐ

dư thừa với quỹ đất nông nghiệp quá ít và ngày càng giảm Hiện nay, khi mà khu vựcnông thôn chiếm trên 73% dân số cả nước thì với 11 triệu LĐ làm việc tại các LN,chiếm khoảng 30% lực lượng LĐ nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng Có những LN

Trang 8

thường xuyên thu hút trên 60% LĐ, nhờ đó tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của

LĐ trong độ tuổi ở khu vực nông thôn đạt 80% [17]

Sự phát triển của nghề TCTT còn kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác,trên cơ sở đó tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người LĐ Chẳng hạn như nghềchạm khắc đá tạo điều kiện cho nghề khai thác đá phát triển…Và hiện nay, nghềTCTT và các LNTT đã kéo theo sự phát triển khá mạnh mẽ của ngành du lịch

Ngoài ra, nghề TCTT còn có một ý nghĩa khác là tận dụng được lực lượng LĐ nôngnhàn và lực lượng LĐ phụ (người già, người khuyết tật, trẻ em, học sinh) tham gia vàocác hoạt động SX - KD, do việc SX chủ yếu được tiến hành ngay tại nhà, với quy mô nhỏ Trong các LN, ngoài những hộ chuyên SX - KD ngành nghề phi nông nghiệp thìcòn có những hộ kiêm SX nông nghiệp và ngành nghề phi nông nghiệp vào những lúcthời vụ nông nhàn Không những thế, vào những lúc nông nhàn, những người LĐthuần nông ở các làng lân cận thường đến làm thuê cho các cơ sở SX - KD trong LN

Do đó đã rút ngắn được thời gian nhàn rỗi của người LĐ, giúp họ tăng thêm nguồn thunhập cho gia đình

Thứ hai: Đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội cho nền KT, thúc đẩy SX hàng

hoá phát triển

Xuất khẩu là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển KT

-XH, nó không những thu về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn mà quan trọng hơn

là tạo ra cơ hội để chúng ta phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, mở rộng cácngành nghề SX, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội

Hiện nay, sản phẩm TCTT của Việt Nam đã được xuất khẩu tới trên 100 quốc gia

và vùng lãnh thổ trên thế giới với nhiều mặt hàng được thế giới đánh giá cao Giá trịhàng TCTT xuất khẩu tăng lên nhanh chóng và đang có nhiều triển vọng Nếu nhưnăm 2001, kim ngạch xuất khẩu hàng TCTT mới chỉ đạt 235 triệu USD thì đến năm

2007 đã đạt 750 triệu USD, đó là chưa kể mặt hàng gỗ và đồ gỗ mỹ nghệ đạt kimngạch xuất khẩu trên 2,36 tỷ USD [18]

Thứ ba: Thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, nâng cao thu nhập và đời sống cho

người LĐ, hạn chế di dân tự do từ nông thôn lên thành thị

Trang 9

Phần lớn các cơ sở SX - KD ngành nghề TCTT đều có quy mô nhỏ, được xây dựngtrong phạm vi diện tích nhà ở của gia đình mình, số vốn ban đầu để thực hiện các hoạtđộng SX không lớn lắm, do đó nó dễ dàng lôi kéo các hộ gia đình đến với nghề Ngoàinhững hộ chuyên SX ngành nghề TCTT thì còn có những thành phần khác như các hộgia đình làm nông nghiệp, trong thời gian nông nhàn họ cũng tiến hành hoạt động SX -

KD để tăng thêm nguồn thu nhập cho gia đình Do đó, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân ởcác LN gần như được huy động tối đa, nó không những góp phần tạo ra nhiều việc làmcho người LĐ mà còn có khả năng nâng cao đời sống của người dân Thu nhập củangười LĐ tham gia ngành nghề thường cao gấp 3 - 4 lần so với LĐ thuần nông đơnthuần, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực có LN thường thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèobình quân trong cả nước

Việc làm đầy đủ, thu nhập đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng đượcnâng cao làm cho người LĐ làm nghề TCTT sẽ yên tâm giữ lấy nghề và gắn bó vớiquê hương Họ sẽ tích cực hăng hái làm việc để làm giàu cho bản thân, cho gia đìnhmình và xây dựng quê hương, làng xã ngày một khang trang, giàu đẹp hơn Họ sẽkhông phải đi “tha hương cầu thực”, đi tìm việc làm ở những nơi thị thành hoặc ở cácđịa phương khác Điều này sẽ dẫn đến hạn chế tình trạng di dân tự do, một trongnhững vấn đề nan giải hiện nay ở nước ta Đồng thời nó cho phép thực hiện đượcphương châm “rời ruộng mà không rời làng” và thực hiện được quá trình đô thị hoáphi tập trung [2,45]

Thứ tư: Thực hiện các yêu cầu chuyển dịch cơ cấu KT nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Sự hình thành và phát triển của nghề TCTT có vai trò rất quan trọng đối với quátrình chuyển dịch cơ cấu KT nông thôn theo hướng CNH, HĐH, làm cho tỷ trọng củanông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên.Đồng thời nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán từ SX nhỏ, độccanh, mang tính tự cấp tự túc sang SX hàng hóa

Với sự phát triển theo từng nấc thang từ hộ gia đình SX nhỏ lên các doanh nghiệpvừa và nhỏ, sau đó là các doanh nghiệp lớn, LN TCTT sẽ là cầu nối giữa công nghiệp

Trang 10

thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn, hiện đại và đô thị hoá LN sẽ là điểmthực hiện tốt việc phân công LĐ tại chỗ, là nơi tạo ra sự kết hợp giữa nông nghiệp –công nghiệp có hiệu quả Sự phát triển của nghề TCTT là một trong những hướng rấtquan trọng để chuyển dịch cơ cấu KT nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Thứ năm: Bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc

Lịch sử phát triển của nghề TCTT luôn gắn liền với lịch sử phát triển của nền vănhoá Việt Nam Các sản phẩm TCTT Việt Nam luôn chứa đựng phong tục, tập quán, tínngưỡng…mang sắc thái riêng của dân tộc Nhiều sản phẩm TCTT mang tính nghệthuật cao, mang đặc trưng riêng của LN SX ra nó, những sản phẩm này không chỉ cógiá trị hàng hóa đơn thuần mà nó là những sản phẩm văn hóa, là biểu tượng đẹp đẽ củatruyền thống dân tộc Việt Nam

1.1.2.2 Đặc điểm của nghề TCTT Việt Nam

Thứ nhất: Nghề TCTT Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp và nông thôn

Đây là đặc điểm nổi bật nhất của nghề TCTT Việt Nam Là một nước nông nghiệpvới đại đa số dân cư sống ở nông thôn, phần lớn các làng quê sống chủ yếu bằng nghềtrồng lúa, chỉ một bộ phận ít có nghề phụ gia đình Trong những năm gần đây, nhất là

từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (1986), diện mạo nông thôn đã có nhiều đổi thay,nghề TCTT phát triển mạnh mẽ trong các làng xã ở nông thôn và trở thành một bộphận quan trọng trong nền KT quốc dân

Các ngành nghề TCTT tách dần ra khỏi nông nghiệp nhưng không rời khỏi nôngthôn Các hoạt động SX nông nghiệp và SX ngành nghề đan xen lẫn nhau Người thợthủ công phần lớn có xuất thân từ nông nghiệp, và trong nhiều trường hợp người thợthủ công cũng đồng thời là người nông dân

Thứ hai: LĐ làm nghề TCTT chủ yếu là LĐ thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo,

tinh xảo của đôi bàn tay và đầu óc thẩm mỹ, sáng tạo của người thợ, người nghệ nhân;

phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền nghề

Hiện nay, trong cả nước có hơn 40 nhóm nghề lớn với hàng trăm nghìn mẫu mã sảnphẩm khác nhau Sản phẩm từ nghề TCTT không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước mà còn vươn tới nhiều thị trường nước ngoài như Đài Loan, Hồng Kông, Mỹ,

Trang 11

Canađa, Trung Quốc, Nhật Bản… Có được những kết quả đó là nhờ vào sự khéo léo,tinh xảo của đôi bàn tay, sự năng động, sáng tạo của những người thợ thủ công.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng nhữngthành tựu đó vào SX đã giảm bớt được nhiều công đoạn thủ công Tuy nhiên, việc ápdụng công nghệ mới vào SX cũng phải tuân thủ theo công nghệ truyền thống, có như thếmới tạo ra được sản phẩm độc đáo, mang tính trí tuệ cao của người nghệ nhân Trước đây, việc dạy nghề cho người thợ thủ công là theo phương thức truyền nghềtrong các gia đình từ đời này sang đời khác, các nghề được bảo tồn trong phạm vi giađình, ít được phổ biến ra bên ngoài Hiện nay, có 3 hình thức đào tạo nghề là truyềnnghề trong các LN, dạy nghề trong doanh nghiệp và đào tạo trong các trường dạynghề Tuy nhiên, chỉ có 3% được dạy nghề tại trường và truyền nghề tại doanh nghiệp,97% số thợ còn lại được học theo hình thức “cha truyền con nối” [19] Vì vậy, phươngthức đào tạo nghề theo lối truyền nghề trong các LN vẫn là phương thức mang tínhchủ đạo

Thứ ba: Phần lớn nguồn nguyên vật liệu cung cấp cho các LN là nguồn nguyên vật liệu tại chỗ

Đa số các LNTT được hình thành xuất phát từ nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại địaphương, đặc biệt là các ngành nghề thủ công như nghề làm nón, nghề mây tre đan,nghề làm quạt giấy… hoặc là các ngành nghề chế biến thực phẩm như nghề nấu rượu,nghề làm bún, nghề làm tương…Nguyên vật liệu của các ngành nghề này một phần là

do gia đình tự SX được hoặc là thu mua ở các điểm SX khác trong địa phương hay ởđịa phương lân cận Việc thu mua nguyên vật liệu cũng khá dễ dàng, thuận tiện choviệc SX - KD

Cũng có một số ngành nghề phải mua nguyên liệu từ tỉnh, thành khác do ở địaphương mình không có; hoặc là phải nhập khẩu từ nước ngoài về như nghề thêu ren,nghề thuốc nhuộm… tuy nhiên số lượng không nhiều

Thứ tư: Hình thức tổ chức SX của nghề TCTT chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một

số đã có sự hình thành tổ chức hợp tác và các doanh nghiệp

Từ xưa đến nay, hình thức tổ chức SX chủ yếu của nghề TCTT là các hộ gia đình

Trang 12

lực lượng LĐ dư thừa trong gia đình và sử dụng một phần đất đai của gia đình làm nơi

SX - KD Tuy nhiên, hình thức này lại có hạn chế đó là SX nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu,chậm cải tiến sản phẩm, tầm nhìn thông tin hạn hẹp, do đó đã ảnh hưởng tới khả năngphát triển SX - KD của gia đình

Từ hạn chế đó, các hộ gia đình đã biết liên kết lại với nhau thành các tổ hợp tác SX,hợp tác xã SX, cùng giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn trong kinh doanh Một số

hộ gia đình có điều kiện SX và quy mô lớn hơn thì đã tiến tới thành lập các doanhnghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và đã đạt hiệu quả rất cao Tuy nhiên,

số lượng các doanh nghiệp này còn chiếm tỷ lệ nhỏ, chưa đáng kể

Thứ năm: Sản phẩm TCTT thường mang tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc

Mỗi một sản phẩm TCTT là một tác phẩm nghệ thuật, nó vừa có giá trị sử dụng vừa

có giá trị thẩm mỹ cao Các sản phẩm này là sự kết tinh giữa sự khéo léo của đôi bàntay và tính sáng tạo nghệ thuật của người thợ thủ công, nó mang đậm nét sắc thái riêngcủa các LN làm ra nó

Trong mỗi sản phẩm đều chứa đựng những nét truyền thống, những yếu tố văn hoá,những quan niệm về nhân văn, tín ngưỡng, tôn giáo của quê hương, của vùng miền SX

ra nó Chính điều này đã làm cho sản phẩm TCTT Việt Nam rất phong phú, đa dạng

Vì vậy, khi các sản phẩm này được xuất khẩu ra các nước trên thế giới thì nó cònmang thông điệp giới thiệu với bạn bè quốc tế những đặc trưng văn hoá, phong tục tậpquán của mỗi dân tộc, mỗi LN Việt Nam

1.1.2.3 Tiêu chí về nghề TCTT và LNTT

Theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP về “Phát triển ngành nghề nông thôn” thì tiêuchí về nghề TCTT, LN, LNTT được xác định như sau:

* Tiêu chí công nhận nghề truyền thống

Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau:

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghịcông nhận

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc

- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của LN

Trang 13

* Tiêu chí công nhận LN

LN được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau:

- Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

- Hoạt động SX - KD ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Các ngành nghề SX công cụ SX như: rèn sắt, làm cày bừa, nông cụ, đóng thuyền

- Các ngành nghề SX các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: dệt chiếu,làm nón, đan mành, rổ, rá, dệt vải, may mặc

- Các ngành nghề phục vụ cho SX và đời sống như: nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang,

SX vật liệu xây dựng

- Các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm như: xay xát, làm bún, bánh,đường, mật, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các loại [2,12]

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nghề TCTT

Trong quá trình phát triển, từ khi bắt đầu hình thành cho đến nay, nghề TCTT đã chịutác động của nhiều nhân tố Chúng ta có thể kể đến một số nhân tố chủ yếu sau đây:

1.2.1 Sự biến động của nhu cầu thị trường

Trên thị trường, bất kỳ một ngành SX nào cũng phải tuân thủ theo quy luật cung cầu thị trường Nghề TCTT ra đời bắt nguồn từ nhu cầu tiêu dùng cho các hoạt độngsinh hoạt hàng ngày của gia đình, khi nhu cầu này đã được thỏa mãn thì nhu cầu tronghoạt động SX nông nghiệp lại nảy sinh, do đó nghề TCTT lại có cơ hội để phát triểnmạnh mẽ hơn Ngày nay, khi đời sống người dân đã được nâng cao thì nhu cầu củangười tiêu dùng về sản phẩm TCTT cũng phức tạp hơn, nó không chỉ đơn thuần là nhu

Trang 14

Do đó, để việc SX - KD của ngành nghề ngày càng phát triển thì phải biết nắmvững các quy luật kinh tế thị trường, phải luôn cập nhật thông tin về nhu cầu của ngườitiêu dùng để kịp thời có những chiến lược kinh doanh thích hợp, từ đó đưa các sảnphẩm TCTT đến được ngày càng nhiều hơn với người tiêu dùng

1.2.2 Trình độ của người nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề

Vai trò của người nghệ nhân đối với nghề TCTT và LNTT là rất lớn Mỗi một sảnphẩm đều gắn liền với tên tuổi của LN, của người nghệ nhân làm ra nó Chính tài năngcủa người nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm quý giá, tinh xảo và độc đáo, những

SP sống mãi với thời gian, góp phần làm vẻ vang cho mỗi dân tộc, mỗi LN, và ngàynay nó đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới

Vì vậy, việc phát triển nghề TCTT cần phải chú trọng xây dựng, phát triển đội ngũcác nghệ nhân và thợ thủ công của LN Đội ngũ này chính là lực lượng nòng cốt quyếtđịnh sự tồn tại của LN

1.2.3 Trình độ kỹ thuật và công nghệ

Trình độ kỹ thuật và công nghệ SX có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất LĐ vàchất lượng sản phẩm Trước đây, ngành nghề TCTT là ngành nghề chủ yếu dựa vàocông nghệ truyền thống và kinh nghiệm SX được truyền qua nhiều thế hệ, cho nên sảnphẩm làm ra số lượng còn thấp, chất lượng kém và giá thành cao, khả năng cạnh tranhcòn hạn chế Vì vậy, trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiệnnay thì việc ứng dụng công nghệ mới vào SX là một tất yếu để nâng cao năng suất vàchất lượng sản phẩm Tuy nhiên, việc áp dụng khoa học - công nghệ mới vào SX cầnphải kết hợp với công nghệ truyền thống để không làm mất đi nét văn hoá truyềnthống kết tinh trong mỗi sản phẩm

1.2.4 Yếu tố truyền thống của LN và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Yếu tố truyền thống trong các LN, đây là nhân tố quan trọng chi phối đến hoạt động

SX và tiêu dùng của người dân Các sản phẩm làm ra sẽ mang đậm nét văn hoá củayếu tố truyền thống của mỗi vùng miền, làm cho sản phẩm mang tính độc đáo và cógiá trị cao hơn

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đểkhuyến khích phát triển các ngành nghề nông thôn, như việc đưa ra Nghị định số

Trang 15

132/2000/QĐ-TT ngày 24/11/2000 của Chính phủ về “Khuyến khích phát triển ngànhnghề nông thôn”, Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 về “Phát triển ngànhnghề nông thôn”… Và mới đây nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá X) đãđưa ra những giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôntrong điều kiện mới, trong đó phát triển LN là một trong những giải pháp quan trọngtrong việc xây dựng và phát triển nông thôn hiện nay Chính điều này đã tạo ra môitrường thông thoáng, thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển của ngành nghề truyền thống vàcông cuộc đổi mới ở nông thôn

1.3 Cơ sở thực tiễn của phát triển nghề TCTT

1.3.1 Tình hình phát triển của nghề TCTT ở Việt Nam và tỉnh Hà Tĩnh

1.3.1.1 Tình hình chung cả nước

Năm 1954, sau hoà bình lập lại, SX thủ công nghiệp giữ một vai trò rất quan trọngtrong việc khôi phục và phát triển KT ở miền Bắc Trong 3 năm (1954 - 1957) SX thủcông nghiệp đã nhanh chóng được khôi phục Tính đến cuối năm 1957, toàn miền Bắc

đã có trên 15 vạn cơ sở SX thủ công nghiệp, giá trị sản lượng thủ công nghiệp chiếmtới 63% tổng giá trị hàng công nghiệp SX trong nước

Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, do những khó khăn về KT - XH và tácđộng của cơ chế quản lý bao cấp nên SX của nhiều LN đã bị giảm sút, mai một.Nhưng từ khi đất nước đổi mới (1986) các LN đã từng bước được khôi phục và pháttriển, đóng góp ngày càng nhiều vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhất là trongviệc giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc [21]

Từ năm 1994 trở lại đây, cùng với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước, nhiều địaphương, nhiều LNTT đã vươn lên, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm, cải tiến mẫu mã,đổi mới công nghệ…

Hiện nay sản phẩm TCTT Việt Nam đã được xuất khẩu đến trên 100 nước với kimngạch xuất khẩu liên tục tăng Chúng ta có thể thấy rõ qua biểu đồ 1:

Trang 16

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng TCTT của Việt Nam

qua các năm (chưa kể đồ gỗ)

Đơn vị: Triệu USD

Theo ngành nghề thì ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều LN với những ngành nghềtiêu biểu khác nhau Chúng ta có thể thấy rõ qua biểu đồ 2

Biểu đồ 2: Tỷ lệ các LN phân theo ngành nghề

Đơn vị:%

Nguồn: Báo Phát triển Công nghiệp[21]

Từ biểu đồ 2 chúng ta thấy rằng LN thủ công mỹ nghệ chiếm tỷ lệ cao nhất(65,5%), còn LN SX vật liệu xây dựng chiếm tỷ lệ thấp nhất LN thủ công mỹ nghệ và

Trang 17

LN tiểu thủ công nghiệp đang chiếm ưu thế, nó sẽ là xu hướng phát triển trong thờigian tới của nghề TCTT Việt Nam.

Trong năm 2008, do tác động của cuộc khủng hoảng KT toàn cầu nên sự phát triểncủa nghề TCTT, LNTT ở nước ta cũng bị ảnh hưởng Nhiều cơ sở SX phải đóng cửahoặc SX cầm chừng do chỉ số tiêu dùng các mặt hàng TCTT giảm, các đơn đặt hàng từcác nước trên thế giới giảm mạnh, giá cả xuất khẩu các sản phẩm TCTT đã giảm 20%

so với năm 2007 Nhiều LĐ rơi vào tình trạng không có việc làm Điều này ảnh hưởngrất lớn đến đời sống người LĐ trong ngành nghề và gia đình của họ Do đó, trong thờigian tới, Đảng và Nhà nước ta cần tập trung khắc phục khó khăn, đưa ra những chínhsách hợp lý nhằm tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc phát triển nghề TCTT

- Nhiều mặt hàng có chất lượng tốt, sản phẩm đa dạng đã chiếm lĩnh được thịtrường trong và ngoài nước

- Nhiều LN đã bước đầu ứng dụng khoa học - công nghệ vào SX và đã đạt đượcnhững thành công đáng kể Quy mô và giá trị SX của các LN không ngừng tăng lênqua các năm

- Tốc độ tăng giá trị SX ở các LN trong những năm qua đều đạt được mức tăng khácao Nhiều LN đã có sự chuyển đổi cơ cấu sản phẩm phù hợp với yêu cầu thị trường

+ Hạn chế:

- Khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế còn thấp

- SX hàng TCTT chủ yếu dựa vào LĐ thủ công Nhiều LNTT còn hạn chế trongviệc đầu tư cải tiến công nghệ, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào SX

Trang 18

- Trình độ tay nghề của người LĐ trong các LN còn thấp, chủ yếu được đào tạothông qua hình thức “cha truyền con nối”, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Kinh nghiệmkinh doanh và trình độ quản lý của chủ hộ còn thấp

- Nguồn nguyên liệu tại các địa phương đang bị khai thác bừa bãi, thiếu quy hoạch,việc đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu còn nhiều hạn chế

- Quy mô SX nhỏ lẻ, manh mún, thiếu mặt bằng SX, thiếu vốn, thiếu thông tin vềthị trường, sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao Thiếu sự liên kết giữa các cơ sở SX,các doanh nghiệp

- Khả năng tiếp cận thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu còn hạn chế

- Quá trình phát triển LN luôn kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường, việc xử lýchất thải của quá trình SX chưa được quan tâm đúng mức

Những hạn chế trên sẽ làm cho sức cạnh tranh trên thị trường của SP thấp Điều này

sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xuất khẩu của sản phẩm này

1.3.1.2 Tình hình phát triển nghề TCTT ở tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 6.055,7 km2, dân số1.278.388 người Ngành nghề nông thôn ở Hà Tĩnh xuất hiện rất sớm, tồn tại và phát triểncùng với sự phát triển KT - XH của địa phương và đã có những đóng góp quan trọngtrong việc giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới… Hiện tại Hà Tĩnh có trên 30 làng có nghề truyền thống với quy mô và ngành nghềkhác nhau, tập trung vào các ngành chính như: SX đồ gỗ, hàng kim khí, chế biếnlương thực, chế biến thủy hải sản, SX hàng mây tre đan

Tốc độ gia tăng sản lượng ngành nghề nông thôn thời kỳ 1997 - 2002 là 14%,trong đó: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 9,5%, vận tải tăng 35%, xây dựngtăng 25,5%, dịch vụ tăng 6,7% Giá trị sản lượng ngành nghề nông thôn được phảnánh ở bảng 1:

Trang 19

Bảng 1: GIÁ TRỊ SẢN LƯỢNG NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN HÀ TĨNH

tỷ trọng thấp nhất là vận tải nội bộ Giá trị xuất khẩu của ngành nghề nông thôn quacác năm có sự biến động nhưng chưa mạnh mẽ Tốc độ tăng bình quân của giá trị xuấtkhẩu ngành nghề nông thôn thời kỳ 1997 - 2002 là 8,76%

Còn về tình hình SX của ngành nghề nông thôn ở Hà Tĩnh năm 2002 được thể hiệnqua bảng 2

Qua bảng chúng ta thấy rằng: Thu nhập của người LĐ ở các LN không đều Nhóm

SX đồ gỗ, vật liệu xây dựng, đúc rèn, cơ khí, chế biến nông hải sản và vận tải có thunhập cao hơn các nhóm còn lại Do có thu nhập cao hơn nên số LĐ tập trung ở cácnhóm nghề này cũng nhiều hơn

Ngành nghề có giá trị sản lượng cao nhất là ngành chế biến hải sản (43.607 triệuđồng), tiếp đến là SX đồ gỗ (34.877,8 triệu đồng), SX vật liệu xây dựng (18.544 triệuđồng) Các nhóm ngành có giá trị sản lượng thấp nhất là SX vôi hàu (260,8 triệu

Trang 20

đồng), cơ khí (1.479 triệu đồng), chiếu cói (2.710 triệu đồng), SX nón lá (2.729 triệuđồng)

Các nhóm ngành chế biến hải sản, SX vật liệu xây dựng, vận tải và SX đồ gỗ lànhững ngành có giá trị sản lượng cao nên những ngành này có đóng góp tương đối lớnvào ngân sách Nhà nước Đây cũng chính là những ngành đang có ưu thế ở Hà Tĩnh.Những ngành này đang giải quyết việc làm cho rất nhiều LĐ và tạo ra giá trị sản lượngcao cho nền KT của tỉnh Hà Tĩnh

Tóm lại, ngành nghề truyền thống ở nước ta có lịch sử hình thành và phát triển từlâu đời Nó có vị trí rất quan trọng trong đời sống KT - XH của đất nước Sự phát triểncủa các LN và các LNTT đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu KT nông thôn theohướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất côngnghiệp và dịch vụ nông thôn, góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người LĐ, nângcao đời sống của người dân Góp phần thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông thôntrong thời đại mới

Trang 21

Bảng 2: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CÁC LÀNG NGHỀ NÔNG THÔN HÀ TĨNH NĂM 2002

TT

Sản phẩm

Số hộ tham gia (hộ)

Số lao động tham gia (lao động)

Số tháng hoạt động (tháng)

Thu nhập bình quân (1000đ/năm)

Giá trị sản lượng (triệu đồng)

Nộp ngân sách (triệu đồng)

Chuyên Kiêm Chuyên Kiêm Chuyên Kiêm Chuyên Kiêm

Trang 22

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển nghề TCTT ở một số nước trên thế giới và địa phương trong nước

1.3.2.1 Kinh nghiệm phát triển nghề TCTT ở một số nước trên thế giới

- Nhật Bản

Nhật Bản nổi tiếng với các ngành tiểu thủ công nghiệp như nghề đan lát, nghề dệtchiếu, nghề dệt lụa, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề rèn nông cụ…

Năm 1970, các ngành nghề thủ công Nhật Bản bị suy thoái Trong bối cảnh đó, năm

1974 Nghị viện Nhật Bản đã ban hành Luật Phát triển nghề TCTT Được sự hỗ trợ củaChính phủ, phong trào “mỗi làng mỗi sản phẩm” đã khai sinh tại quận Oita vào năm 1979với ý tưởng làm sống lại các ngành nghề TCTT Phong trào này đã nhanh chóng lan rộng

ra các quận khác ở Nhật Bản và nhiều nước trên thế giới Nhờ phong trào này, các sảnphẩm TCTT của Nhật Bản đã nổi tiếng ở nhiều nước trên thế giới Ngay những năm đầutiên họ đã SX được 143 loại sản phẩm, thu được 1,2 tỷ USD Năm 1993, nghề thủ công và

LN Nhật Bản đã đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ USD

- Thái Lan

Các nghề tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng ở Thái Lan là nghề chế tác vàng, bạc, đá quý,

đồ trang sức, nghề gốm…Do kết hợp tay nghề của nghệ nhân tài hoa với kỹ thuật công

Trang 23

nghệ tiên tiến, sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao, sức cạnh tranh tốt Năm 1990, kimngạch xuất khẩu sản phẩm mỹ nghệ như vàng, đá quý đạt gần 2 tỷ USD [3,30] Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” cũng đã xuất hiện ở Thái Lan vào năm 1999 vàbắt đầu đi vào hoạt động tháng 10/2001 Trong phong trào này, Chính phủ Thái Lan hỗtrợ ở các khâu tiếp thị, xúc tiến bán hàng, huấn luyện và chuyển giao công nghệ cho nôngdân để mỗi làng làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng, có chất lượng cao Chỉ tínhtrong 4 tháng đầu năm 2002, Phong trào này đã đem lại 84,2 triệu USD lợi nhuận chonông dân Năm 2003, doanh số bán hàng của các làng tham gia phong trào “mỗi làng mỗisản phẩm” đạt mực 30,8 tỷ Bạt, tăng 13% so với 2002 [20]

Từ tình hình phát triển của nghề TCTT ở một số nươc như trên, ta có thể rút ra một sốkinh nghiệm cho sự phát triển nghề TCTT ở Việt Nam như sau:

- Thứ nhất, phát triển nghề TCTT phải chú trọng bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ nghệnhân và thợ thủ công lành nghề

- Đề cao vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ nguồn lực tài chính, khoa học - côngnghệ, thông tin thị trường…cho các hộ SX, các doanh nghiệp

- Bên cạnh công nghệ truyền thống, cần ứng dụng các công nghệ mới vào SX để nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

- Mỗi LN nên có một hoặc một vài sản phẩm TCTT chủ đạo để chú trọng đầu tư pháttriển và là biểu tượng đặc trưng của LN

- Các hộ SX, các doanh nghiệp cần có sự hợp tác trong SX để hỗ trợ nhau các vấn đề

về vốn, công nghệ, kỹ thuật SX và thị trường…nhằm nâng cao hiệu quả SX - KD

1.3.2.2 Kinh nghiệm phát triển nghề TCTT ở một số địa phương trong nước

* Tỉnh Nghệ An

Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương đổi mới về KT của Đảng và Nhànước, Nghệ An rất quan tâm phát triển nghề TCTT và các LNTT Từ năm 2001 đến 2007,giá trị SX ngành nghề nông thôn tỉnh Nghệ An đã tăng từ 714.812 triệu đồng (năm 2001)lên 1.702.993 triệu đồng (năm 2006) Một số lĩnh vực SX ngành nghề nông thôn có tốc độ

Trang 24

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm ngành nghề nông thôn tăng từ 17,575 triệu USD (năm2001) lên 39,069 triệu USD (năm 2006), tốc độ tăng trưởng đạt 25,28%.

Số lượng cơ sở SX ngành nghề nông thôn tính đến năm 2006 có trên 34.972 cơ sở sovới năm 2001 là 23.416 cơ sở Tạo việc làm cho trên 67 ngàn LĐ, thu nhập của LĐ ngànhnghề đạt từ 500 ngàn đồng đến 1,5 triệu đồng/tháng, cao gấp 1,2 - 3 lần so với LĐ thuầnnông [10]

* Tỉnh Nam Định

Hiện nay Nam Định có hơn 80 LNTT, tiêu biểu là các LN như: LN đúc đồng Tống Xá,

LN gồ gỗ La Xuyên (huyện Ý Yên); LN dệt chăn xuất khẩu ở thôn Liên Tỉnh, LN Vị Khê(huyện Nam Trực) Trong đó phải kể đến làng rèn Vân Chàng (thuộc xã Nam Giang,huyện Nam Trực) Thời xa xưa, LN Vân Chàng chỉ SX được một số mặt hàng đơn điệumang tính thủ công như: dao, kéo, bản lề, đinh, ốc, vít, bếp kiềng, cuốc xẻng, răng cào Nhưng trong những năm gần đây, LN Vân Chàng đã có những bước phát triển mới: 2/3

số cơ sở SX có trang bị máy móc, LN đã thu hút được 1000 - 1.200 LĐ từ khắp nơi đổ về.Máy móc đưa vào SX ngày một nhiều, sản phẩm ngày càng có uy tín cao trên thị trường Hiện nay, LN Vân Chàng có khoảng 200 hộ, thu nhập mỗi ngày từ 120 - 150 ngànđồng Người thợ thủ công ở đây đang từng bước được nâng cao tay nghề, hầu hết nhữngngười có tay nghề giỏi đều có nhà xưởng SX riêng với quy mô trung bình từ 5 - 8 LĐ.Nhờ thế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở đây không ngừng được nâng cao,diện mạo làng quê đang có những thay đổi từng ngày theo hướng tích cực [25]

Nghiên cứu quá trình phát triển nghề TCTT ở tỉnh Nghệ An và tỉnh Nam Định ta cóthể rút ra được những kinh nghiệm sau:

- Tiếp tục xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách khuyến khích pháttriển nghề TCTT và các LN

- Chú trọng việc khôi phục một số nghề truyền thống tiêu biểu Cần đầu tư phát triểnmột số LN gắn với du lịch ở một số địa phương có điều kiện thuận lợi về du lịch

- Mạnh dạn đầu tư, ứng dụng các thành tựu của KH - KT vào SX trên để có điều kiệnnâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

Trang 25

- Tổ chức tốt công tác truyền nghề, dạy nghề Củng cố và phát triển các trung tâm đàotạo nghề đã có để nâng cao chất lượng đào tạo.

- Tổ chức tốt công tác tham quan học tập các địa phương có nghề TCTT phát triển.Đồng thời, khuyến khích thành lập và phát triển các hiệp hội ngành nghề để hỗ trợ nhautrong SX và tiêu thụ sản phẩm Hàng năm, tổ chức hội ngành nghề để các cơ sở SX, các

LN có dịp giao lưu, học hỏi lẫn nhau

Tóm lại, qua việc tìm hiểu cơ sở lý luận chung về nghề TCTT và kinh nghiệm pháttriển nghề TCTT ở một số nước trên thế giới và một số địa phương trong nước, chúng tathấy rằng sự phát triển của nghề TCTT là một đòi hỏi khách quan, là một yêu cầu có tínhquy luật trong quá trình phát triển KT - XH của đất nước Sự phát triển của nghề TCTT có

ý nghĩa rất quan trọng, nó không những góp phần giải quyết việc làm cho người lao động,nâng cao đời sống của người dân, mà còn góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của nền

KT, làm chuyển dịch cơ cấu KT nông thôn và bảo tồn được nét văn hoá độc đáo của dântộc Các LN và ngành nghề TCTT sẽ là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữathành thị và nông thôn, giữa truyền thống và hiện đại, và là nấc thang phát triển quantrọng trong tiến trình CNH, HĐH đất nước

Trang 26

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN

THỐNG Ở THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH 2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của Thị xã Hồng Lĩnh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

TX Hồng Lĩnh nằm ở phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, có đường 1A, 1B, 8A và 8B chạyqua; cách thành phố Vinh 20 km về phía Bắc, TP Hà Tĩnh 30 km về phía Nam và cửakhẩu Quốc tế Cầu Treo 92 km về phía Tây

Phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân, phía Đông giáp huyện Nghi Xuân và Can Lộc, phíaTây giáp huyện Đức Thọ và phía Nam giáp huyện Can Lộc

từ Bắc xuống Nam, với độ cao trung bình 3 - 5m

2.1.1.3 Khí hậu

TX Hồng Lĩnh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết mùa đông lạnh do ảnhhưởng của gió mùa Đông bắc; mùa hè khô, nóng do ảnh hưởng của gió mùa Tây nam.Khí hậu được phân làm hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa

Trang 27

Mùa khô bắt đầu từ tháng 3, 4 đến cuối tháng 8 Nhiệt độ trung bình cao nhất vàotháng 6 là 31,1oC, thấp nhất vào tháng 12 là 19,4oC

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 7,8 đến tháng 11 hàng năm Lượng mưa thấp nhất là tháng 7(16mm) và lớn nhất là tháng 9 (480mm)

2.1.1.4 Thuỷ văn

TX Hồng Lĩnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ văn Sông La, Sông Lam (thuộc

hệ thống Sông Cả) Ngoài ra, còn có tuyến kênh nhà Lê, nhập với Sông Minh ở phía TâyBắc TX, tuyến kênh này chủ yếu phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp Hồng Lĩnh còn có cácdòng suối bắt nguồn từ trên núi Hồng Lĩnh chảy xuống các xã Trung Lương, Bắc Hồng vàĐậu Liêu, đây là nguồn cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho dân cư ở đồng bằng

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

TX Hồng Lĩnh có tổng diện tích đất tự nhiên là 5.855,23 ha với mật độ dân số là 635

người/km2 Diện tích đất đang sử dụng của toàn huyện là 5.402,34 ha, chiếm 92,27% tổngquỹ đất Trong đó đất nông nghiệp chiếm diện tích lớn nhất (33,69%), còn đất thổ cưchiếm diện tích nhỏ nhất (4,23%) Đất chưa sử dụng ở TX Hồng Lĩnh là 452,89ha, chiếm

tỷ lệ 7,73%

Trang 28

2.1.2.2 Dân số và lao động

Bảng 4: Dân số và mật độ dân số của TX Hồng Lĩnh năm 2007

Dân số trung bình (người)

Mật độ dân số (Người/Km 2 )

Nguồn: Niên giám Thống kê Thị xã Hồng Lĩnh năm 2007 [8]

Theo số liệu thống kê của TX Hồng Lĩnh, dân số của TX năm 2007 là 37.102 người,

phân bố ở thành thị là 16.952 người và ở nông thôn là 20.150 người Mật độ dân số năm

2007 là 635 người/Km2, trong đó có sự chênh lệch rất lớn giữa mật độ dân số ở thành thị(1.662 người/Km2) và nông thôn (418 người/Km2), mật độ dân số ở thành thị cao hơn gần

4 lần ở nông thôn

Hiện nay, TX Hồng Lĩnh có 18.298 LĐ, bao gồm 9.151 nam và 9.147 nữ Trong đó số

LĐ trong các ngành nghề như sau:

Trang 29

người, chiếm 6,54% Cao đẳng: 1.190 người, chiếm 6,5% Đại học: 1.905 người, chiếm10,41% trong [11]

Qua đây chúng ta thấy rằng tỷ lệ LĐ trong ngành nông nghiệp còn khá cao, còn LĐtrong ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ còn thấp Số lượng LĐ đã tốtnghiệp THCS và THPT chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên, số LĐ chưa qua đạo tạo còn nhiều(67,01%) Đây là một hạn chế lớn về trình độ LĐ, làm cản trở tới sự phát triển KT - XHcủa TX

2.1.2.3 Kết cấu hạ tầng

- Cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật công nghiệp: Đã quy hoạch được 3 cụm công nghiệp –tiểu thủ công nghiệp: Cụm SX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tập trung Nam Hồng,cụm tiểu thủ công nghiệp LNTT tại xã Trung Lương, khu công nghiệp nam Hồng Lĩnhthuộc xã Đậu Liêu

- Y tế: Có 1 trung tâm y tế với quy mô 100 giường bệnh Ngoài ra mỗi xã, phường đều

có một trạm y tế đang được xây dựng đạt chuẩn quốc gia với quy mô 5 - 10 giường bệnhđạt tiêu chuẩn

- Giáo dục: Mầm non, mẫu giáo: 7 trường; Tiểu học: 6 trường; THCS: 6 trường;THPT: 2 trường; Đào tạo nghề: 1 Trung tâm GDTX - HNDN và 2 trường trung họcchuyên nghiệp

- Di tích lịch sử: Có 3 di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia: Chùa và HồThiên Tượng, đền Bùi Cầm Hổ, đền Song Trạng Sử; 1 di tích xếp hạng cấp tỉnh là chùaLong Đàm

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật:

+ Giao thông: Có 3 tuyến quốc lộ chạy qua là 1A, 8A, 8B

+ Thông tin liên lạc: Mạng thông tin liên lạc cố định cũng như di động đã phủ kín địabàn, mật độ điện thoại cố định 14máy/100dân [12]

2.1.3 Nhận xét về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT - XH để phát triển nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh

Trang 30

- TX Hồng Lĩnh được xác định là trung tâm KT - XH phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh, điểmgiao lưu trên 2 tuyến quốc lộ 1A và 8A, trong đó đường 8A là đường ngắn nhất đi từ ViệtNam sang Lào và các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Mianma tạo điều kiện thuận lợi cho giaolưu buôn bán trong nước và quốc tế Chính điều kiện giao thông thuận lợi sẽ tạo điều kiệncho các hộ SX, các cơ sở và doanh nghiệp làm nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh có nhiều cơhội để giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh bạn, đồng thời tiếp thu khoahọc công nghệ và mở rộng thị trường tiêu thụ ra bên ngoài

- Việc quy hoạch các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việctập trung SX với quy mô lớn, tăng cường sự hợp tác giữa các hộ, các doanh nghiệp cũngnhư ứng dụng KH - KT mới vào SX

- Các khu di tích, điểm du lịch ở TX Hồng Lĩnh cũng rất phát triển, đây sẽ là điều kiệnthuận lợi để tạo ra bước đột phá cho sự phát triển nghề TCTT, LNTT ở TX Hồng Lĩnh.Việc kết hợp giữa tham quan du lịch và tham quan các LNTT sẽ có sức hấp dẫn rất lớnđối với du khách Đây là một thị trường đầy tiềm năng của TX Hồng Lĩnh

- Quỹ đất chưa sử dụng của TX còn khá nhiều (452,89ha), do đó trong tương lai có thểkhai thác quỹ đất này để đưa vào quy hoạch cụm SX ngành nghề TCTT, mở rộng quy môcủa ngành nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh

- Nguồn nhân lực dồi dào, đặc biệt người Hồng Lĩnh cần cù, sáng tạo, mạnh dạn đầu tưvào các hoạt động, các lĩnh vực mới Đảng bộ và nhân dân Hồng Lĩnh có tinh thần đoànkết, có kinh nghiệm trong việc quản lý KT - XH Đây là điều kiện tốt để phát triển KT -

XH, trong đó có việc khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống, LNTT

* Khó khăn:

- TX Hồng Lĩnh là đơn vị hành chính nhỏ, dân số ít, điểm xuất phát thấp, thị trườngtiêu thụ hàng hóa hẹp, cơ sở hạ tầng và các cơ sở dịch vụ còn bất cập, khả năng đầu tưchưa tương xứng với tiềm năng

- Tỷ lệ LĐ chưa qua đào tạo khá cao (67,01%) và LĐ trong nông nghiệp chiếm tỷ lệkhá lớn (41,96%) Đây là một trở ngại lớn trong việc chuyển đầu tư phát triển nghềTCTT, LNTT ở TX Hồng Lĩnh trong thời gian tới

Trang 31

2.2 Thực trạng phát triển nghề TCTT ở Thị xã Hồng Lĩnh

2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh

Nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh chủ yếu là nghề rèn và nghề đúc Nghề rèn, đúc ở đây cótruyền thống từ rất lâu đời, với hai LN nổi tiếng là làng rèn Đức Thuận và làng rèn TrungLương Từ việc rèn đúc nông cụ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, người thợ rèn ở đây

đã chế được súng, lựu đạn phục vụ cho các chiến trường Trong kháng chiến chống Mỹ,người thợ rèn Trung Lương và Đức Thuận là lực lượng chính của các xưởng cơ khí HồngLĩnh, cơ khí Trung Lương,…Các cơ sở cơ khí này nhiều năm liên tục là ngọn cờ đầu trongphong trào phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Nghệ Tĩnh

Từ khi bước sang cơ chế thị trường, do không chuyển kịp với cơ chế mới nên các cơ sở

cơ khí SX - KD kém hiệu quả và đi đến giải thể, thợ rèn đúc chuyển về SX tại các hộ giađình Liên tiếp từ năm 1995 - 2000 nhiều mặt hàng truyền thống được coi là thế mạnh củanghề rèn bị mai một như cân treo, búa, cuốc, đinh thuyền… Hàng loạt thợ đang phải giảinghệ và chuyển sang mưu sinh nghề khác, các hộ rèn đã giảm đi một nửa Đến năm 2000,toàn TX chỉ còn khoảng 400 hộ làm nghề rèn đúc với khoảng 1000 lao động

Trước tình hình trên, tại ĐH Đảng bộ khóa XX (nhiệm kỳ 2000 - 2005) đã đề ra Nghịquyết lãnh đạo về phát triển KT - XH, trong đó nhấn mạnh: “Đẩy mạnh việc tuyên truyền,ứng dụng khoa học công nghệ, kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống và kỹ thuật cơ khí mới,tạo ra sự đa dạng các mặt hàng có sức cạnh tranh cao trên thị trường" Từ Nghị quyết củaBCH Tỉnh Đảng bộ về phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đề án của UBND TXHồng Lĩnh về đẩy mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2000 -

2010, đồng thời học tập kinh nghiệm của các LN Đa Hội (Bắc Ninh), Đập Đá (Bình Định),Văn Chàng (Nam Định), Thị ủy, UBND TX đã có chỉ đạo xây dựng dự án quy hoạch cụm

SX tiểu thủ công nghiệp - LNTT tại xã Trung Lương với diện tích 3 ha Đến nay đã có 13

cơ sở, doanh nghiệp đúc - cơ khí đã đi vào SX ổn định, với hệ thống máy móc hiện đại, khảnăng nắm bắt thông tin thị trường tốt nên đã nâng cao được năng lực SX Năng suất tănggấp 4 - 5 lần so với trước Mỗi cơ sở ,doanh nghiệp đã giải quyết việc làm cho 25 LĐ

Trang 32

Từ năm 2004 đến nay, tốc độ tăng trưởng KT của các LN hàng năm đạt 15% Giá trịcông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng 23 - 24% Phát huy những kết quả đạtđược, TX Hồng Lĩnh đang có xu hướng mở rộng quy hoạch cụm tiểu thủ công nghiệp -LNTT Trung Lương thêm 7 ha, các hạng mục hạ tầng kỹ thuật đang khẩn trương được xâydựng để đón các cơ sở lớn vào SX Không những thế mà hiện nay TX Hồng Lĩnh cũngđang có quy hoạch đầu tư mở rộng phát triển nghề TCTT sang phường Nam Hồng với cụm

SX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên diện tích 5 ha, mà đến nay chuẩn bị có 2 doanhnghiệp tư nhân đi vào SX, với số vốn ban đầu lên tới 2 tỷ đồng [4]

2.2.2 Quy mô và tốc độ phát triển của nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh giai đoạn

2004 - 2008

2.2.2.1 Số lượng các hộ làm nghề TCTT

Các sản phẩm của nghề rèn, đúc ở đây bao gồm: dao, liềm, búa, cuốc, xẻng, đinhthuyền, cào lúa, chi tiết máy, lưỡi diệp cày, bừa, máy bơm cát… Ở LN Trung Lương và

LN Đức Thuận, các hộ SX ở đây là các hộ rèn Còn ở cụm LNTT Trung Lương, quy mô

SX của các hộ lớn hơn, phần lớn là các doanh nghiệp, cơ sở đúc - cơ khí

Số lượng các hộ SX làm nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh từ năm 2004 - 2008 có sự thayđổi đáng kể, nó được thể hiện trong bảng 6:

- Từ năm 2004 - 2008 ở cả 2 LN Trung Lương và Đức Thuận, số hộ làm nghề rèn đều

có xu hướng giảm Tốc độ giảm bình quân của số hộ làm nghề rèn ở cả 2 LN giai đoạn

Trang 33

2004 - 2008 là 2,46 %, trong đó tốc độ giảm bình quân ở LN Trung Lương là 0,76 % và

LN Đức Thuận là 27,35%

- Ngược lại với số lượng ngày càng giảm của các hộ rèn ở LN Đức Thuận và LNTrung Lương thì số lượng các cơ sở, doanh nghiệp đúc - cơ khí lại ngày càng tăng lên vàtập trung ở LN Trung Lương Tốc độ tăng bình quân của các cơ sở, doanh nghiệp đúc - cơkhí từ 2004 - 2008 là 44,19 % Trong tổng số 13 cơ sở SX - KD ở cụm LNTT TrungLương thì có 4 doanh nghiệp tư nhân và 2 công ty TNHH Các cơ sở đúc - cơ khí còn lạicũng đang có xu hướng tiến tới đăng ký để thành lập doanh nghiệp

Từ thực tiễn đó cho thấy: TX Hồng Lĩnh đã bắt đầu chú trọng vào công tác pháttriển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với việc khôi phục và phát triển nghề TCTT,LNTT Việc SX trong các LN đang có phát triển theo hướng mở rộng quy mô từ các

hộ gia đình sang các cơ sở lớn, các doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty TNHH Điềunày sẽ làm cho hoạt động SX của nghề TCTT được tập trung, dễ dàng trong việc ứngdụng tiến bộ KH - KT vào SX và tìm kiếm thị trường nguyên vật liệu cũng như thịtrường tiêu thụ sản phẩm

Qua số liệu ở bảng 7, chúng ta thấy rằng:

Ngày đăng: 14/01/2016, 18:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: GIÁ TRỊ SẢN LƯỢNG NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN HÀ TĨNH - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1 GIÁ TRỊ SẢN LƯỢNG NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN HÀ TĨNH (Trang 19)
Bảng 2: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CÁC LÀNG NGHỀ NÔNG THÔN HÀ TĨNH NĂM 2002 - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA CÁC LÀNG NGHỀ NÔNG THÔN HÀ TĨNH NĂM 2002 (Trang 21)
Bảng 3: Diện tích đất phân theo loại đất năm 2007 - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3 Diện tích đất phân theo loại đất năm 2007 (Trang 27)
Bảng 5: LĐ trong các ngành nghề ở TX Hồng Lĩnh năm 2008 - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 5 LĐ trong các ngành nghề ở TX Hồng Lĩnh năm 2008 (Trang 28)
Bảng 6: Số lượng các hộ làm nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh (2004 - 2008) - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 6 Số lượng các hộ làm nghề TCTT ở TX Hồng Lĩnh (2004 - 2008) (Trang 32)
Bảng 10: Đặc điểm cơ bản của các chủ hộ sản xuất. - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 10 Đặc điểm cơ bản của các chủ hộ sản xuất (Trang 38)
Bảng 11: Mức vốn đầu tư của các hộ sản xuất - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 11 Mức vốn đầu tư của các hộ sản xuất (Trang 39)
Bảng 13: Quy mô diện tích sản xuất của các hộ sản xuất - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 13 Quy mô diện tích sản xuất của các hộ sản xuất (Trang 41)
Bảng 15: Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ sản xuất - Phát triển nghề thủ công truyền thống ở thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 15 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ sản xuất (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w