Bộ NN&PTNN : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bộ TNMT : Bộ Tài Nguyên Môi Trường BĐKH : Biến Đổi Khí Hậu Tiếp cận dựa vào cộng đồng CVCA Climate Vulnerability and Capacity Analysis
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Tài nguyên và môi trường Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Tài nguyên và môi trường Lớp : K43 – DCMT – NO1 Khóa học : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đặng Thị Hồng Phương
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3Bảng 2.1: Khái quát chương trình Thích ứng dựa vào cộng đồng 11 Bảng 2.2: Tác động của BĐKH đến các khu vực trên Thế giới 12
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích Error! Bookmark not defined
Bảng 4.1: Thay đổi của nhiệt độ 50 năm qua ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ và trung bình cho cả nước 23 Bảng 4.2: Thay đổi của lượng mưa 50 năm qua ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ và trung bình cho cả nước 24 Bảng 4.3: Các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ở vùng ĐBSH 24 Bảng 4.4: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 vùng ĐBSH 30 Bảng 4.5: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980-1999 vùng ĐBSH……… 31 Bảng 4.6: Nước biển dâng khu vực bờ biển từ Móng Cái đến Đèo 32 Ngang (cm) 32 Bảng 4.7: Diện tích Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh có nguy cơ bị ngập theo mực nước biển dâng 32 Bảng 4.8: Bảng ranh giới xâm nhập mặn lớn nhất theo các kịch bản nước biển dâng khác nhau 33 Bảng 4.9: Tác động của BĐKH vùng ĐBSH theo đánh giá của 35 người dân 35 Bảng 4.10: Những biện pháp được người dân sử dụng để ứng phó với lũ lụt trong phát triển nông nghiệp 42
Trang 4Hình 2.1: Lồng ghép những tri thức bản địa với kiến thức khoa học trong thích
ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng 7
Hình 2.2: Sơ đồ mối tương tác của BĐKH và các hợp phần của hệ sinh thái-nhân văn(A); và Khung các vấn đề của BĐKH (B) 10
Hình 3.1: Sơ đồ lựa chọn phương pháp điều tra lấy mẫu………16
Hình 4.1: Bản đồ vị trí vùng Đồng bằng sông Hồng 19
Hình 4.2: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế ở ĐBSH 29
năm 2000, 2010 (%) 29
Hình4.3: Mô hình theo SRI vụ xuân 2013 tại xã Giao Hà, 45
Giao Thủy, Nam Định 45
Hình 4.4: Trồng rừng ngập mặn chống BĐKH ở Hải Phòng 49
Hình 4.5: Cách tiếp cận trong thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng 51
Trang 5Bộ NN&PTNN : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Bộ TNMT : Bộ Tài Nguyên Môi Trường
BĐKH : Biến Đổi Khí Hậu
Tiếp cận dựa vào cộng đồng CVCA Climate Vulnerability and Capacity Analysis
Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH
IPCC : International on Climate Change
Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu IEA : International Energy Agency
Tổ chức Năng lượng Thế giới
KT – XH : Kinh Tế - Xã Hội
MCD : Marinelife Conservation and Community Development
Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng
PTNNBV : Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững
SGP : Small Grant Projects
Chương trình tài trợ nhỏ
Trang 6Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức SRI System Rice Intensification
Hệ thống thâm canh Lúa cải tiến
UNDP : United Nations Development Programme
Liên Hiệp Quốc UNFCCC : United Nations Framework Convention on Climate
Change Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu
VACVINA Hội Làm vườn Việt Nam VAC VINA
Ngân hàng Thế giới
Trang 7PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
1.1.Sự cần thiết phải nghiên cứu 1
1.2.Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1.Mục đích 2
1.2.2.Yêu cầu 3
1.3.Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1.Cơ sở lý luận về ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp bền vững vùng ĐBSH 4
2.1.1.Các định nghĩa 4
2.1.2.Vai trò của cộng đồng trong ứng phó với BĐKH 6
2.2.Kinh nghiệm thực tiễn về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng 7
2.2.1.Kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới 7
2.2.2.Kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam 13
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 15
3.1.1.Đối tượng nghiên cứu 15
3.1.2.Phạm vi nghiên cứu 15
3.2.Địa điểm thực tập và thời gian thực tập 15
3.3.Nội dung nghiên cứu 15
3.4.Phương pháp nghiên cứu 16
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu Error! Bookmark not defined 3.4.2 Phương pháp phân tích Error! Bookmark not defined 3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu Error! Bookmark not defined
Trang 84.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực đồng bằng sông Hồng 18
4.1.1.Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 18
4.1.2.Điều kiện tự nhiên 19
4.1.3.Đặc điểm kinh tế – xã hội 25
4.2.Thực trạng ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp ở vùng ĐBSH 30
4.2.1 Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng vùng ĐBSH 30
4.2.2.Tác động và tác động tiềm tàng của BĐKH 34
4.3.Năng lực cộng đồng và thực trạng ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong nông nghiệp 41
4.3.1.Kiến thức truyền thống về các hiện tượng khí hậu 41
4.3.2.Nhận thức của người dân về BĐKH và các nguy cơ từ thiên tai 41
4.3.3.Các biện pháp được cộng đồng địa phương sử dụng 42
4.3.4.Tham gia các hoạt động tập thể 43
4.4.Một số mô hình cộng đồng ứng phó với BĐKH trong phát triển nông nghiệp 44
4.4.1.Mô hình “Hệ thống thâm canh lúa cải tiến - SRI” 44
4.4.2.Mô hình “Vườn – ao – chuồng” 46
4.4.3.Mô hình “Trồng rừng ngập mặn và phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng” 48
4.5.Giải pháp đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông nghiệp bền vững ứng phó với BĐKH 50
4.5.1.Phát huy và nhân rộng những mô hình hiện hữu 50
4.5.2.Giải pháp về công cụ tiếp cận cộng đồng 50
4.5.3.Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên có sự tham gia của cộng đồng nhằm thích ứng với BĐKH trong phát triển nông nghiệp bền vững 52
4.5.4.Các hoạt động thích ứng với BĐKH trong nông nghiệp 52
4.5.5.Xây dựng mô hình giảm nhẹ rủi ro thiên tai cấp hộ gia đình 53
4.5.6.Nâng cao năng lực cộng đồng trong thích ứng BĐKH 54
Trang 94.5.8.Về mặt quản lý và tài chính: 55
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1.Kết luận 56
5.2.Kiến nghị 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết phải nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng, là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với loài người trong Thế kỷ 21 Việt Nam được coi là một trong các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng là những khu vực có tính tổn thương đặc biệt cao do BĐKH
và thiên tai Trong những năm gần đây, tình hình BĐKH ở nước ta diễn ra ngày càng gay gắt, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, trên nhiều vùng, đặc biệt nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng ven sông, ven biển Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong hai vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước, bao gồm 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình Vùng là cửa ngõ ở phía biển Đông với thế giới và là một trong những cầu nối trực tiếp giữa hai khu vực phát triển năng động là khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á Với BĐKH và kèm theo nó là
sự dâng cao mực nước biển, chắc chắn ảnh hưởng của thiên tai tại khu vực này sẽ gia tăng, là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước, trở thành thách thức lớn với mọi cộng đồng Và trong thực tế, cộng đồng địa phương nơi đây vốn hằng ngày phải đối mặt với sự thay đổi thất thường của thời tiết, đã vận dụng những tri thức truyền thống của mình, đưa
ra và áp dụng những sáng kiến nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực do hiện tượng tự nhiên mang lại Có thể thấy, cộng đồng dân cư là lực lượng đông đảo, có khả năng huy động nhanh chóng để ứng phó với những trường hợp cấp bách Các cộng đồng có sự am hiểu rõ về khu vực, có khả năng đánh giá tác động tại chỗ của biến đổi khí hậu thông qua quan sát hàng ngày và tự tìm
Trang 11biện pháp ứng phó Tuy nhiên, nhận thức cũng như năng lực ứng phó với thiên tai và BĐKH của người dân vẫn chưa cao Nhiều người coi thiên tai là những hoạt động của tự nhiên và không thể kiểm soát, không ý thức được vai trò của bản thân Hơn ai hết, các cộng đồng dân cư phải được trang bị kỹ năng, năng lực ứng phó với những thách thức mang tính toàn cầu này Các hoạt động phát triển dựa vào cộng đồng (Community-based) được xác định là một định hướng và giải pháp cơ bản, quan trọng trong thực hiện phát triển bền vững
Từ những lý do trên, đề tài “Ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào
cộng đồng trong phát triển nông nghiệp bền vững vùng Đồng bằng sông Hồng” đã được lựa chọn để nghiên cứu nhằm tìm hiểu những biện pháp cộng
đồng địa phương sử dụng để ứng phó với BĐKH và các hình thức thiên tai khác nhằm đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Mục đích chung:
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn địa phương về ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng và từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững tại khu vực nghiên cứu
Trang 12-Đề xuất một số giải pháp tăng cường năng lực và các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp bền vững khu vực nghiên cứu
1.2.2 Yêu cầu
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác
- Làm rõ hơn vai trò của cộng đồng trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng và PTBV nói chung
- Đóng góp tổng kết cách thức, mô hình ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong PTNNBV vùng ĐBSH và kiến nghị các giải pháp
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng và phát huy kiến thức đã học tập và nghiên cứu
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này
- Là báo cáo tốt nghiệp cho sinh viên
- Là cơ sở, tài liệu cho các nghiên cứu khoa học về sau
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
-Thông qua đề tài này mong rằng có thể giúp nhận thấy rõ hơn vai trò của cộng đồng trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng và PTBV nói chung Để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm trong ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
-Đề tài là cơ sở để giúp các nhà quản lý có các giải pháp tối ưu nhất để
có những đóng góp tổng kết cách thức, mô hình ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong PTNNBV vùng ĐBSH và kiến nghị các giải pháp
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận về ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp bền vững vùng ĐBSH
2.1.1 Các định nghĩa
Biến đổi khí hậu (Climate Change)
Theo IPCC (2007), BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập
kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển
Cộng đồng:
Trong bối cảnh của thích ứng với BĐKH, cộng đồng được hiểu là nhóm người sống trong cùng một khu vực địa lý, cùng chịu tác động của BĐKH do vị trí cư trú của họ, và có thể có chung kinh nghiệm thích ứng với BĐKH Tuy nhiên, họ có thể có những nhận thức và cách nhìn đối với rủi ro
do BĐKH gây ra khác nhau
Ngòai ra cộng đồng còn được hiểu như một nhóm người có tổ chức, có mối quan tâm chung, cùng chia sẻ mục tiêu chung, có mối quan hệ chặt chẽ tương tác lẫn nhau
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability)
Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới [IPCC, 1996]
Trang 14Ứng phó với biến đổi khí hậu (Response)
Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH
Thích ứng (adaptation) với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT - XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng
và tận dụng các cơ hội do nó mang lại
Giảm nhẹ (mitigation) BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính
Thích ứng dựa vào cộng đồng:
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một quá trình do cộng đồng xây dựng và làm chủ, dựa vào các ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng Mục đích của quá trình này là nâng cao khả năng của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp ứng phó với tác động của BĐKH
Phát triển bền vững
Phát triển bền vững có nhiều khái niệm, tổng hợp những quan điểm khác nhau có thể hiểu rằng “phát triển bền vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội
và môi trường nhằm thỏa mãn được nhu cầu của xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”
Nông nghiệp
Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có trồng trọt và chăn nuôi Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản
Phát triển bền vững nông nghiệp
Phát triển bền vững nông nghiệp là việc quản lý có hiệu quả các nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay
Trang 15làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (FAO)
2.1.2 Vai trò của cộng đồng trong ứng phó với BĐKH
a Cộng đồng đóng vai trò trung tâm trong quá trình thích ứng
Trọng tâm chú ý trong thích ứng dựa vào cộng đồng là cộng đồng địa phương Phương pháp thích ứng dựa vào cộng đồng thừa nhận khả năng khởi xướng và duy trì sự phát triển của chính người dân địa phương Trách nhiệm thay đổi tùy thuộc vào những người sống trong cộng đồng địa phương
b Cộng đồng là nguồn lực chủ yếu trong thích ứng với BĐKH
Cộng đồng là người hành động chính cũng là người hưởng lợi trước tiên của quá trình thích ứng
Thật vậy, cộng đồng là chủ nhân nhưng cũng là nạn nhân nhận lãnh hậu quả BĐKH, do đó, từ việc xác định vai trò của cộng đồng trong ứng phó với biến đổi khí hậu cho thấy cần phải có sự tham gia tốt của cộng đồng, xem cộng đồng như là một đối tác cùng với chính quyền, tạo nên sức mạnh tại chỗ Theo nhiều chuyên gia, cộng đồng dân cư là chìa khóa giải quyết những vấn
đề cơ bản của BĐKH Người dân không hề biết đến khái niệm “biến đổi khí hậu” nhưng vốn tri thức bản địa của họ kịp thời có sự điều chỉnh, bổ sung để thích ứng một cách hợp lý trước mọi sự thay đổi, biến động của điều kiện tự nhiên, có hành vi thân thiện môi trường và khí hậu Vì vậy, cần phát huy tốt vai trò của cộng đồng, học hỏi từ tri thức, kinh nghiệm tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng lối sống xanh cho cả cộng đồng nhằm làm chậm lại tần suất của BĐKH
Tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA) dựa trên nguyên tắc "Thực hiện từ cộng đồng, dựa vào cộng đồng và làm lợi cho cộng đồng nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực của người dân vào các giải pháp ứng phó với thiên tai và BĐKH CBA còn tạo ra sự linh hoạt, nhạy bén trong thích ứng với BĐKH, tận dụng lực lượng đông đảo cũng như huy động những phương tiện sẵn có
Trang 16trong cộng đồng Ngoài ra, CBA còn giúp cho cộng đồng địa phương tăng cường năng lực thích ứng sẵn có, xây dựng một môi trường sống có tính đàn hồi, giảm thiểu khả năng dễ bị tổn thương và rủi ro do thiên tai Cũng chính
vì cơ chế hoạt động và định hướng của phương pháp này phù hợp với điều kiện văn hóa của địa phương nên sẽ thúc đẩy khả năng thích nghi và góp phần vào sự phát triển của cộng đồng rất lớn
Hình 2.1: Lồng ghép những tri thức bản địa với kiến thức khoa học trong
thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
2.2 Kinh nghiệm thực tiễn về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
2.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới
Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change - UNFCCC), “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu, được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài”
Báo cáo năm 2013 của Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (International on Climate Change - IPCC) nhận định: biến đổi khí hậu diễn ra
Trang 17nhanh hơn so với dự báo Báo cáo cũng chứng minh rằng, nhiệt độ bề mặt trái đất và mặt nước biển tăng lên hơn 0,480
C so với thời kỳ 1961-1990; mực nước biển toàn cầu cũng dâng cao kỷ lục, đạt mức 3,2mm/năm, cao gấp đôi so với 1,6mm/năm của thế kỷ 20
Song song với những diễn biến “nhanh hơn” đó là do những tác nhân của biến đối khí hậu cũng mạnh hơn Cũng theo IPCC, lượng phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu (hơn 50 tỷ tấn CO2 tương đương) đã vượt mức
dự báo cho năm 2030, lớn hơn 15% so với dự báo cho năm 2020, bỏ xa mốc kịch bản dự báo xấu nhất từng đưa ra Trong khi đó, Tổ chức năng lượng thế giới (International Energy Agency - IEA) đưa ra các con số kỷ lục: phát thải khí nhà kính từ đốt nhiên liệu hoá thạch đã đạt mức kỷ lục (31,6 tỷ tấn) trong năm 2011, tăng 3,2% so với năm 2010
Rõ ràng, biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại, sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Theo đó là các hệ lụy đến an ninh toàn cầu trên các mặt như: năng lượng, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh
tế, thương mại, đời sống, sức khỏe con người
Điều đáng báo động là những tác động nghiêm trọng đó diễn ra trong bối cảnh loài người đã nỗ lực rất lớn để ứng phó với nó ngay từ khi nó hiện hữu - gần 20 năm qua Bắt đầu từ năm 1992, nguyên thủ quốc gia đến từ hơn
150 nước đã ký một Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu, gọi tắt là UNFCCC Từ đó, đã gần 20 năm qua, hằng năm, hàng trăm quốc gia lại tham gia Hội nghị của UNFCCC để bàn thảo, thống nhất các cam kết về
nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là dường như nỗ lực của Liên hiệp quốc cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới phần nào đó bị định trệ vì những bất đồng về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia ký kết các văn kiện UNFCCC
Trang 18Đầu tiên là sự bất phê chuẩn Nghị định thư Kyoto 1997 của Mỹ (nước
có tổng lượng phát thải khí nhà kính lớn thứ 2 thế giới, sau Trung quốc) đã khiến Nghị định này bị đình trệ - kéo dài không hiệu lực trong suốt 8 năm sau
đó Mặc dù được ký kết – có hiệu lực từ năm 2008, nhưng cho đến thời điểm Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực – năm 2012, nó vẫn chưa được thực thi vì tiếp tục có một số bất đồng căn bản – sự nhìn nhau của các nước phát thải lớn, điển hình như Mỹ, Trung quốc và Ấn độ
Trong khó khăn đó, nỗ lực của các nước được tiếp tục được ghi nhận, đạt được những bước tiến khả quan Hội nghị gần đây tại Doha (Qatar) năm
2012, Nghị định thư Kyoto được tất cả các nước trên thế giới đồng thuận – gia hạn thêm đến năm 2020 Mặc dù Hội nghị này chưa có tính khả thi cao – khi chưa đưa rat được mức cam kết cụ thể của từng quốc gia, song nó cũng đã cho thấy về nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu toàn càu của loài người
a Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
Theo tuyên bố của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (Intergovermental Panel on Climate Change – IPCC) năm 2007, “Sự ấm lên của hệ khí hậu là điều không còn phải hoài nghi” BĐKH, tác động và ứng phó với nó là một quá trình phức tạp và được chia thành 7 pha (phase) kế tiếp nhau bao gồm: i) Pha 1: Hoạt động kinh tế xã hội và phát thải khí nhà kính; Pha 2: Chu kỳ cácbon và nồng độ cácbon trong khí quyển; Pha 3: Ấm lên toàn cầu; Pha 4: Tác động tới các HST và xã hội; Pha 5: Thích ứng; Pha 6: Giảm nhẹ; và Pha 7: Hệ thống xã hội Cơ sở khoa học để hiểu biết tường tận các pha này, nhất là pha 4, 5, 6 và 7 còn rất hạn chế [IPCC, 2007; Sumi và nnk., 2011]
Trang 19Nguồn: IPCC, 2007
Hình 2.2: Sơ đồ mối tương tác của BĐKH và các hợp phần của hệ sinh
thái-nhân văn(A); và Khung các vấn đề của BĐKH (B)
Có nhiều cách tiếp cận thích ứng với BĐKH như: Thích ứng dựa trên
hệ sinh thái, cộng đồng và quyền lợi….Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về cộng đồng thường sử dụng cách tiếp cận dựa trên cộng đồng để nghiên cứu khả năng thích ứng của cộng đồng với biến đổi khí hậu Cách tiếp cận thích ứng với BĐKH dựa trên cộng đồng là một phương pháp luận để thu thập, tổ chức và phân tích thông tin về khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân Nó cung cấp những hướng dẫn và công cụ cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi có sự tham gia Nó cũng tính đến vai trò của các cơ quan và chính sách quốc gia và địa phương trong thực hiện hoạt động thích ứng (CARE International, 2010)
Ngoài ra, Hannah Reid và cộng sự (2009) cũng sử dụng phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH Phương pháp này tập trung vào việc thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng giúp cộng đồng phân tích nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong việc tích hợp các kiến thức khoa học và kiến thức cộng đồng để lập kế hoạch thích ứng
Trang 20Trên thế giới, việc xây dựng mô hình cộng đồng thích ứng với BĐKH được đánh giá có hiệu quả cao Mô hình có thể kể đến là: Dự án Ứng phó dựa vào cộng đồng (Community Based Adaptation Project – CBA) được thực hiện bởi UNDP và GEF tại 10 quốc gia, bao gồm Bangladesh, Bolivia, Guatemala, Jamaica, Kazacstan, Morocco, Namibia, Niger, Samoa và Việt Nam
Bảng 2.1: Khái quát chương trình Thích ứng dựa vào cộng đồng
của UNDP - GEF
Chương trình thích ứng dựa vào cộng đồng ( CBA ) là một chương trình phát triển
5 năm của Liên Hiệp Quốc ( UNDP ) được tài trợ bởi Quỹ Môi trường Toàn cầu ( GEF ) trong Chương trình Tài trợ nhỏ ( SGP )
Mục tiêu của CBA : Để tăng cường khả năng phục hồi của cộng
đồng để giải quyết tác động của biến đổi khí
hậu
Kinh phí : Được cung cấp bởi Chính phủ Nhật Bản, Chính
phủ Thụy Sĩ, và AusAID
Quốc gia tham gia : 10 quốc gia, gồm Bangladesh, Bolivia,
Guatemala, Jamaica, Kazacstan, Morocco, Namibia, Niger, Samoa và Việt Nam
Tổng số dự án thực hiện : 90 dự án
Các tình nguyện viên Liên hợp quốc hợp tác với UNDP và GEF/SGP để tăng cường huy động cộng đồng, công nhận đóng góp của các tình nguyện viên và đảm bảo sự tham gia toàn diện xung quanh dự án, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng năng lực của các tổ chức phi chính phủ đối tác và tổ chức cộng đồng
b Tác động của BĐKH đến nông nghiệp
Do sự nóng lên của khí hậu toàn cầu nên các lớp băng tuyết sẽ bị tan nhanh trong những thập niên tới Trong thế kỷ XX, mực nước biển tại châu Á
Trang 21dâng lên trung bình 2,4 mm/năm, riêng thập niên vừa qua là 3,1 mm/năm, dự báo sẽ tiếp tục dâng cao hơn trong thế kỷ XXI khoảng 2,8mm - 4,3 mm/năm Mực nước biển dâng lên có thể nhấn chìm nhiều vùng rộng lớn, nơi ở của hàng triệu người sống ở các khu vực thấp ở Việt Nam, Bangladesh, Ấn
Độ và Trung Quốc,… làm khan hiếm nguồn nước ngọt ở một số nước châu Á
do biến đổi khí hậu đã làm thu hẹp các dòng sông băng ở dãy Hymalayas
Bảng 3.2: Tác động của BĐKH đến các khu vực trên Thế giới
Khu vực Sự thay đổi
Châu Phi Phân bố lại mưa -> diện tích trồng ngô giảm 33%
Châu Á Sản lượng tăng 20% ở Đông Á và Đông Nam Á, giảm 30%
tại Trung và Nam Á Châu Đại Dương Sản xuất giảm nhiều ở miền Đông và miền Nam
Châu Âu Sản lượng giảm ở Nam Âu, Trung Âu và Đông Âu; tăng ở
Bắc Âu Nam Mỹ Vùng nhiệt đới: sản lượng nói chung đều giảm
Vùng ôn đới: sản lượng đậu tăng Bắc Mỹ Sản lượng tăng nhờ lượng mưa tăng
Cơ cấu cây trồng giảm dần theo hướng giảm dần tính đa dạng Bắc cực và nam
cực
Tăng cơ hội phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp
Nguồn: IPCC, 2007
Trong nghiên cứu của Helal Ahammad, 2007 đã đề cập tới “các vấn đề
và thách thức của nông nghiệp Australia trong việc thích nghi với thay đổi thời tiết, đặc biệt là xem xét các ảnh hưởng của thay đổi khí hậu có thể xảy ra đối với ngành sản xuất nông nghiệp của Australia Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những khu vực (phụ thuộc lớn vào ngành nông nghiệp) có thể phải chịu những mất mát đáng kể do ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu Nghiên cứu này cũng phát hiện vai trò tiềm năng của thích nghi trong việc làm giảm những chi phí do những ảnh hưởng này
Trang 222.2.2 Kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam
Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập niên 90 của thế kỷ XX Năm 1992, các nhà khoa học đã thực hiện và công bố báo cáo “BĐKH và tác động của chúng ở Việt Nam”
Ngày 02/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 158/2008/QĐ–TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH (NTP-RCC) Kể từ đó, nhiều hoạt động nghiên cứu, ứng dụng đã được triển khai Một số cơ quan, ban, ngành chuyên phụ trách về vấn đề BĐKH cũng đã được thành lập nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng về BĐKH
và tác động của nó Nhiều dự án do nước ngoài tài trợ đã được triển khai nhằm đánh giá tác động của BĐKH và năng cường năng lực, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước những tác động của BĐKH
Về đánh giá tổn thương: Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2002, 2005, 2009) đã nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương về môi trường, vùng ven biển Việt Nam, đới duyên hải Nam Trung Bộ, đới ven biển Phan Thiết - Hồ Tràm, tài nguyên địa chất tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Cũng theo hướng nghiên cứu này, Thái Thành Lượm và nnk (2008) đã đánh giá mức độ tổn thương hệ thống tự nhiên kinh tế - xã hội vùng biển Hà Tiên - vịnh Cây Dương (Kiên Giang) Nguyễn Kim Lợi (2012) đã nghiên cứu Đánh giá tính dễ bị tổn thương do trượt lở đất ở Việt Nam Võ Hồng Tú và nnk (2012) đã đánh giá tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó Thiên về hướng rủi ro kinh tế Tô Ngọc Thúy và nnk (2010) đã nghiên cứu đánh giá tổn thương do nước biển dâng đến từng ngành kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế Và đáng chú ý trong thời gian này phải kể đến những nghiên cứu của Trương Quang Học theo hướng tiếp cận xuyên ngành trong ứng phó với BĐKH và phát triển bền vững – một vấn đề mang tính liên ngành trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay [Trương Quang Học,
2010, 2012]
Trang 23Về thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng: Tổ chức CARE International nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong đó đề cập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân Nghiên cứu cho thấy người nghèo và người dân vùng ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất nông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng (Morten Fauerby Thomsen, 2010, CARE International)
Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông thôn (CSRD), tác giả Lâm Thị Thu Sửu và nnk (2010) nghiên cứu thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại khu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung vào: Tìm hiểu những biện pháp thích ứng mà người dân địa phương và nhiều
tổ chức đã thực hiện; Xác định các biện pháp thích ứng chính liên quan đến quản lý nguồn nước; Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể
để hỗ trợ trực tiếp và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương
Qua kết quả tổng hợp nêu trên cho thấy, ở Việt Nam bước đầu đã có những nghiên cứu về vấn đề BĐKH Tuy nhiên, chúng ta chưa có những nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên và KT - XH của Việt Nam Trong đó, nghiên cứu ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp bền vững của Việt Nam nói chung và những khu vực, địa phương cụ thể cũng chưa được thực hiện đầy đủ Vì vậy, hướng nghiên cứu này trong thời gian tới cần phải được tiếp tục triển khai
Trang 24PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
-Đề tài tập trung nghiên cứu 2 đối tượng chính, đó là: i) Cộng đồng dân
cư với vai trò là chủ thể trong ứng phó với biến đổi khí hậu; ii) Cách thức và
mô hình ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng trong phát triển nông nghiệp
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Một số tỉnh trên địa bàn khu vực đồng bằng sông Hồng Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên đề tài tập trung tìm hiểu ở một số địa phương thuộc tỉnh Nam Định, Hải Phòng
3.2 Địa điểm thực tập và thời gian thực tập
-Địa điểm thực hiện: Phòng Tài nguyên Môi trường thành phố Thái Nguyên
-Thời gian thực hiện: 5/1/2015 – 30/4/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực đồng bằng sông Hồng
3.3.2 Thực trạng ứng phó với BĐKH dựa vào cộng đồng trong phát triển
nông nghiệp ở vùng ĐBSH
3.3.3 Năng lực cộng đồng và thực trạng ứng phó với BĐKH dựa vào cộng
đồng trong nông nghiệp
3.3.4 Một số mô hình cộng đồng ứng phó với BĐKH trong phát triển nông
nghiệp
3.3.5 Giải pháp đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông
nghiệp bền vững ứng phó với BĐKH
Trang 253.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra nghiên cứu thực địa
Nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính (điều tra xã hội học), trong
đó ưu tiên định tính vì lý do hạn chế nguồn lực (thời gian, tài chính) thực hiện
Điều tra xã hội học nhằm thu thập các thông tin định tính cũng như định lượng để qua đó có thể hiểu rõ hơn những tổn thất và thiệt hại do BĐKH gây
ra và cộng đồng người dân đã phải hứng chịu, cũng như hiểu được các hành động ứng phó của dân địa phương với hoàn cảnh Điều tra xã hội học được thực hiện thông qua 2 hình thức: (i) Phỏng vấn sâu; và (ii) Điều tra bằng bảng hỏi
Hình 3.1: Sơ đồ lựa chọn phương pháp điều tra lấy mẫu
3.4.2 Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp
Các phương pháp này được áp dụng trong nghiên cứu vai trò cộng đồng,
cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức, trong đó phương pháp SWOT
(Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats) sẽ giúp tổng hợp các kết quả phân tích, đánh giá
3.4.3 Phương pháp chuyên gia
Các cuộc gặp gỡ tham vấn, tư vấn với các nhà nghiên cứu và quản lý ở Trung Ương và địa phương sẽ giúp nghiên cứu phân tích, đánh giá các vấn đề cũng như gợi ý định hướng giải quyết vấn đề
3.4.4 Phương pháp kế thừa
Điều tra xã hội học
Bảng hỏi Phỏng vấn sâu
Trang 26Mục đích của việc nghiên cứu kế thừa là phân tích các dữ liệu, thông tin
và báo cáo sẵn có được thu thập tử Bộ NN&PTNT, Bộ TNMT và các cơ quan trong tỉnh, trong các huyện, các xã và từ các ấn phẩm, các website chuyên ngành để cung cấp cho việc tổng quan các nghiên cứu trước đây về ứng phó với BĐKH, phát triển nông nghiệp bền vững…
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm excel để xử lý số liệu
Trang 27PHẨN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực đồng bằng sông Hồng
4.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ
Vị trí địa lý
Toạ độ địa lý (phần đất liền), của vùng từ 21034’B (huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc) đến 19054’B (huyện Kim Sơn – Ninh Bình) và từ 105018’Đ (huyện Ba Vì – Hà Nội) tới 106048’Đ (quận Đồ Sơn – Hải Phòng)
+ Phía bắc và tây của vùng được bao bọc bởi vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ – vùng giàu tiềm năng khoáng sản, thuỷ điện, nông – lâm sản;
+ Phía nam và tây nam giáp vùng Bắc Trung Bộ trên tuyến giao thong kết nối với trung tâm kinh tế phía nam;
+ Phía đông, đông nam giáp vịnh Bắc Bộ – vùng biển giàu tiềm năng với chiều dài đường bờ biển khoảng 350km
Phạm vi lãnh thổ
Ranh giới hành chính của vùng Đồng bằng sông Hồng đã được điều chỉnh nhiều lần trong quá trình phân vùng kinh tế của nước ta Đồng bằng sông Hồng hiện bao gồm 2 thành phố trực thuộc Trung ương là thành phố Hà Nội, Hải Phòng và 8 tỉnh là Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Ngoài phần đất liền, Đồng bằng song Hồng còn có một hệ thống các đảo ven biển, có vai trò quan trọng về kinh tế – xã hội cũng như an ninh – quốc phòng, trong đó có 2 huyện đảo là Cát Hải và Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng) Vùng này hiện có 8 thành phố trực thuộc tỉnh (bao gồm các thành phố: Hải Dương, Hưng Yên, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Yên), 5 thị xã (bao gồm: Chí Linh, Phúc Yên, Tam Điệp, Sơn Tây, Từ Sơn) và 85 huyện
Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích 14.964,1km2 (chiếm 4,5% diện tích cả nước)
Trang 28Hình 4.1: Bản đồ vị trí vùng Đồng bằng sông Hồng 4.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Đồng bằng sông Hồng có nguồn gốc hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình trên nền sụt võng Vì thế nét nổi bật về địa hình của Đồng bằng sông Hồng là thấp và khá bằng phẳng
Bề mặt đồng bằng phù sa hơi nghiêng về phía biển với độ dốc không đáng kể (4-5cm/km) Chênh lệch giữa nơi cao nhất và nơi thấp nhất không vượt quá 10m nếu không kể đến các bậc thềm cũ và đồi núi sót còn nằm rải rác trong đồng bằng, nhất là ở vùng rìa phía đông bắc
Theo GS Lê Bá Thảo, địa hình vùng Đồng bằng sông Hồng có thể chia thành các bộ phận chính sau:
+ Vùng đất cao ven đồng bằng: phân bố ở phía bắc và phía tây nam là dải đất cao nhấp nhô những đồi và thung lũng chạy từ phía bắc của thành phố
Trang 29Hải Phòng, Hải Dương, thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc rồi vòng về phía nam tới Hà Nam, Ninh Bình Bộ phận địa hình này có thể coi là phần tiếp nối của dải đồi núi vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và các bậc thềm phù sa cổ
+ Vùng đồng bằng trung tâm: giới hạn từ phía nam Sơn Tây về cho đến cửa sông Luộc, trên các nhánh của sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống và sông Luộc, là vùng đất ổn định nhất của châu thổ Tại Sơn Tây, độ cao đạt từ
12 – 16, sau đó giảm dần theo hướng phát triển của đồng bằng Từ khu vực của Hà Nội về đến Hưng Yên, Nam Định và Hải Dương, độ cao chỉ còn đạt 6 – 8m và xa hơn nữa về phía biển là độ cao 2 – 3m Trong lịch sử khai thác lãnh thổ, người dân Đồng bằng sông Hồng đã tiến hành đắp đê từ sớm nhằm ngăn lũ, ổn định sản xuất Tác động của việc đắp đê khiến lượng phù sa dồn
ra biển, đẩy nhanh tốc độ lấn biển của đồng bằng, đồng thời làm xuất hiện thêm nhiều ô trũng trong đê do chưa được phù sa bồi đắp
+ Vùng hạ châu thổ: chạy dọc duyên hải từ cửa sông Thái Bình tới Ninh Bình và ăn sâu vào đất liền đến tận Hải Dương, Hưng Yên và Nam Định Ở vùng này, do địa hình thấp nên vào thời kỳ nước cạn và triều, nước biển sâm nhập khá sâu khiến đất trở nên chua, mặn Ở đây cũng xuất hiện các kiểu địa hình cồn cát ven biển và địa hình bãi triều
Tài nguyên đất
Về các nhóm đất: Đồng bằng sông Hồng gồm khá nhiều nhóm đất phân bố tương ứng với các dạng địa hình:
+ Đất phù sa: phân bố ở trung tâm Đồng bằng sông Hồng, có nhiều loại, trong đó đất phù sa sông Hồng chiếm gần 71%, còn lại là đất phù sa của các con sông khác Đất phù sa sông Hồng rất màu mỡ, màu nâu tươi, thành phần cơ giới trung bình, cấu tượng tốt, phản ứng đất từ trung tính đến kiềm yếu Đất phù sa sông Thái Bình chua hơn, độ phì thấp hơn Loại phù sa này rất thích hợp để trồng lúa và các cây công nghiệp ngắn ngày…
Trang 30+ Đất phù sa cổ: tập trung ở phía bắc sông Hồng, sông Đuống Đất phân bố ở địa hình cao lại được khai thác từ hàng ngàn năm nên đã bạc màu, xám trắng, thành phần cơ giới nhẹ, phản ứng chua Đất phù sa với các cây trồng chịu khô hạn và các cây ưu đất nhẹ như khoai lang, đỗ, lạc, thuốc lá
+ Đất cát: ở ĐBSH tương đối ít do phù sa sông Hồng mịn, nhiều bùn, diện tích đất cát chỉ khoảng 6.000ha Đất cát thường có màu trắng xám, thành phần cơ giới là cát hay cát pha Đất thoát nước tốt, nhưng không màu mỡ, thường để trồng khoai lang, đỗ các loại, vừng và năng suất không cao Muốn cải tạo đất phải bón nhiều phân, nhất là phân hữu cơ
+ Đất mặn: có ở vùng duyên hải, phần lớn tập trung tại các vùng cửa song Hồng và song Thái Bình Đất này rất thích hợp cho việc trồng cói, nếu trồng lúa cần phải có các biện pháp cải tạo mới có hiệu quả
+ Đất phèn và đất mặn: tập trung ở phía bắc song Trà Lý, trong những chỗ trũng, úng, khó thoát nước, môi trường tích luỹ nhiều lưu huỳnh từ nước biển và các chất hữu cơ Đất có phản ứng chua Cây trồng thích hợp là cói Có thể thau chua rửa mặn, bón phân lân… có thể trồng lúa
+ Rìa phía tây ĐBSH còn có các bậc thềm cao, phù sa cổ, ở đó đã xuất hiện quá trình feralit và đá ong hoá Đất Feralit nâu vàng trên phù sa cổ có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, nói chung đã bị bạc màu, khô chặt, nếu được cải tạo và sử dụng hợp lý thì đây là khu vực thuận lợi để trồng cây
ăn quả và cây công nghiệp
Cơ cấu sử dụng đất: Trong tổng số gần 1,5 triệu ha đất tự nhiên, đất sản xuất nông nghiệp hiện nay chiếm 48,7% (năm 2010), đất lâm nghiệp chiếm 8,8%, đất chuyên dùng và đất ở chiếm 26,2%, đất chưa sử dụng và đất khác chiếm 16,3% bao gồm đất tôn giáo – tín ngưỡng, đất nghĩa trang, đất phi nông nghiệp khác và đất bằng chưa sử dụng
Như vậy, quỹ đất của Vùng chủ yếu là đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng cây hàng năm (chiếm 46% tổng diện tích tự nhiên, 90,4% đất sản xuất
Trang 31nông nghiệp, trong đó đại bộ phận là đất trồng lúa) mặc dù trong những năm gần đây tỉ trọng diện tích đất sử dụng loại này đang giảm mạnh Tỉ lệ đất chuyên dùng và đất ở của ĐBSH hiện cao nhất cả nước (26,2% so với 7,6% của cả nước) và có xu hướng tăng là kết quả của lịch sử khai thác lâu đời cùng nền sản xuất phát triển nhưng cũng cho thấy sức ép của dân số lên quỹ đất là rất lớn Đất lâm nghiệp chiếm tỉ lệ rất thấp (8,8%) và thấp nhất trong 7 vùng kinh tế, chỉ tập trung ở một số tỉnh như Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Hà Nội và Hải Phòng
Tài nguyên nước
Nước trên mặt: ĐBSH có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với mật
độ lưới sông khoảng 0,5 – 1,0km/km2 Vùng đông nam châu thổ có mạng lưới song dày đặc nhất Độ dốc của sông ngòi nhỏ, vì đây là hạ lưu của các hệ thống sông Nguồn nước mặt của vùng được cung cấp bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, trung bình hằng năm khoảng 139 tỉ m3 (trong đó sông Hồng chiếm gần 93%) Lưu lượng nước trung bình năm là 4.340m3/s
Nước dưới đất: Nước dưới đất là nguồn cơ bản cung cấp nước cho
sản xuất và sinh hoạt, đặc biệt là ở các đô thị Hiện tổng trữ lượng nước ngầm của vùng vào khoảng 1 tỉ m3
Khí hậu
Đồng bằng sông Hồng có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, ít có sự phân biệt theo không gian nhưng sự phân hoá theo mùa rất rõ nét Tính chung cả năm, Đồng bằng sông Hồng có nhiệt độ cao, dao động từ 22 – 240C, lượng mưa đạt từ 1500 – 1800mm
Khí hậu Đồng bằng sông Hồng chia làm 2 mùa rõ rệt:
+ Mùa hạ nóng, nhiệt độ cao nhất vào tháng VII, tháng VIII (từ 28 –
290C) Do có vị trí địa lý và địa hình đặc biệt nên ở đồng bằng hình thành vùng áp thấp hút gió nam, đông nam từ vịnh Bắc Bộ thổi vào nên gây mưa nhiều, lượng mưa chiếm trên 85% tổng lượng mưa cả năm
Trang 32+ Mùa đông, do nằm sát vùng Đông Bắc, trên con đường tràn qua của
fr ông và khối khí cực đới NPc nên nền nhiệt độ của Đồng bằng sông Hồng thấp hơn các đồng bằng ở phía nam, với 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới
180C Mùa đông cũng là thời kỳ mưa ít, nhưng vẫn có những ngày mưa phùn (vào cuối năm) và sương mù nên tính chất khô hạn không quá gay gắt như ở Tây Nguyên và Nam Bộ
Những biểu hiện về BĐKH vùng ĐBSH
Nhiệt độ và xu thế diễn biến: Trong 50 năm qua (1958-2007), nhiệt
độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,1o
C qua mỗi thập kỷ Nhiệt
độ trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1- 0,3o
C/thập kỷ Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa
Có thể nhận thấy nhiệt độ tháng 1 (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng 7 (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm vùng Đồng bằng Bắc Bộ tăng cao hơn so với mức trung bình trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua
Bảng 4.1: Thay đổi của nhiệt độ 50 năm qua ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
và trung bình cho cả nước
o C) Tháng 1 Tháng 7 Trung bình năm
Lượng mưa và xu thế diễn biến: Tính trung bình trong cả nước, lượng
mưa năm trong 50 năm qua (1958 – 2007) giảm khoảng 2% Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam
Trang 33Bảng 4.2: Thay đổi của lượng mưa 50 năm qua ở vùng Đồng Bằng Bắc
Bộ và trung bình cho cả nước
Vùng khí hậu
Lượng mưa (%) Thời kỳ 12 -
5 Thời kỳ 5 – 10 Tổng lượng mưa
Mực nước biển và xu thế diễn biến: Số liệu quan trắc tại các trạm hải
văn dọc ven biển Việt Nam cho thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993 – 2008) Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên khoảng 20cm
Bảng 4.3: Các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ở vùng ĐBSH
kiến
%
1 Bão, lốc Số lượng cơn bão nhiều hơn và
mùa mưa bão kéo dài hơn
109 18,4
2 Hạn hán Đến sớm, kéo dài hơn, cường độ
mạnh hơn
71 12,0
3 Mưa Số cơn mưa giảm đi nhưng lượng
mưa tăng lên
114 19,3
4 Xâm nhập mặn Xuất hiện hàng năm, cường độ
mạnh hơn
6 Nắng nóng Nhiệt độ cao, thời gian kéo dài hơn 120 20,3
Nguồn: số liệu điều tra, năm 2014
Trang 34Tài nguyên biển
ĐBSH có chiều dài đường bờ biển khoảng 350km, có nhiều cửa sông lớn đổ ra biển, thuận lợi cho việc xây dựng các cảng phục vụ vận tải, phát triển thuỷ sản và các ngành kinh tế biển như các cảng Hải Phòng, Diêm Điền, Hải Thịnh, Ninh Cơ Tài nguyên biển và ven biển là lợi thế và tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế của vùng
Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật trong vùng khá phong phú với nhiều động thực vật quí hiếm đặc trưng cho giới sinh vật của Việt Nam Mặc dù trong vùng có các khu dân cư và đô thị phân bố dầy đặc nhưng giới sinh vật vẫn được bảo tồn ở các vườn quốc gia Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương
4.1.3 Đặc điểm kinh tế – xã hội
Dân cư
Về quy mô dân số: ĐBSH là vùng có số dân cũng như mật độ dân số lớn nhất cả nước Năm 2010, số dân của vùng là 18.610,5 nghìn người (chiếm 21,4% dân số cả nước) với mật độ đạt 1.244 người/km2 (cao gấp 4,7 lần mức trung bình cả nước) Đến năm 2015, dân số của vùng vào khoảng 20,8 triệu người
Về gia tăng dân số, tỷ suất sinh giảm khá nhanh từ 26,50/00 năm 1989 xuống còn 16,20
/00 năm 1999 và tương đối ổn định (dao động trong khoảng
16 - 170/00) cho đến nay Tỷ suất tử ở mức thấp (từ 5 - 70
/00), nên gia tăng tự nhiên của vùng tương đối thấp hơn mức trung bình của cả nước Năm 2010,
tỷ suất gia tăng tự nhiên của vùng là 0,960
/00, cả nước là 1,050
/00 Đây là vùng đất chật người đông, còn nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm nên cho đến năm 2009, ĐBSH luôn là vùng xuất cư Trong giai đoạn 1999 – 2009 tỷ suất nhập cư là 15,50
/00, tỷ suất xuất cư là 17,90/00, tỷ suất di cư thuần là -2,60
/00 Tuy nhiên tình trạng di cư sang vùng khác chủ yếu diễn ra ở nông thôn thuộc các tỉnh thuần nông trong tiểu vùng Nam ĐBSH như Thái Bình, Hà Nam,