1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy

73 333 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên sơ của phong thủy là những kinh nghiệm về sinh họat như khoét đá, đào hang, làm nhà… Từ cuộc sống thực tế, phải chống chọi với thú dữ, chống lại cả sự tấn công của đồng lọai, phải

Trang 1

TRIỆU MINH NGỌC

“ĐÁNH GIÁ CÁC CÔNG TRÌNH DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG

THEO KHÍA CẠNH KHOA HỌC PHONG THỦY”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Địa chính Môi trường

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

TRIỆU MINH NGỌC

“ĐÁNH GIÁ CÁC CÔNG TRÌNH DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG

THEO KHÍA CẠNH KHOA HỌC PHONG THỦY”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Địa chính Môi trường

Giảng viển hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Thế Đặng

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết của mỗi sinh viên, nhằm vận dụng và củng cố những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên trường Đại học Nông Lâm, em đã nghiên cứu đề tài: “Đánh giá các công trình di tích lịch sử Đền Hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy”

Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp tại Khu di tích lịch sử đền Hùng – Phú Thọ đã hoàn thành Với lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ cho em trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Nguyễn Thế Đặng Thầy đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này

Em xin chân thành cảm ơn Khu di tích lịch sử đền Hùng – Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập cũng như trong việc hoàn thành bản khoá luận này

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các gia đình, bạn bè và người thân đã luôn cổ vũ, động viên em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Do trình độ bản thân còn hạn chế và thời gian có hạn, bước đầu làm quen với thực tế và phương pháp nghiên cứu nên trong khoá luận không thể tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để khoá luận tốt nghiệp của em được hoàn chỉnh và sâu sắc hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Phú Thọ, ngày tháng năm 2015

Sinh viên thực hiện

Triệu Minh Ngọc

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Ngũ hành 9

Hình 2.2 Phương vị 14

Hình 2.3: Phương vị gốc của Cửu tinh trong Hậu thiên bát quái 18

Hình 2.4: Lượng thiên Xích 19

Hình 4.1 Khu di tích lịch sử đền Hùng chụp từ độ cao 500m 34

Hình 4.2: Cổng chính Đền Hùng 51

Hình 4.3: Đền Hạ 52

Hình 4.4: Tinh bàn của đền Hạ sửa năm 2011 50

Hình 4.5: Đền Trung 55

Hình 4.6: Tinh bàn của đền Trung sửa năm 2009 56

Hình 4.7: Đền Thượng 59

Hình 4.8: Tinh bàn của đền Thượng sửa vào năm 2008 60

Hình 4.9: Đền Giếng 61

Hình 4.10: Tinh bàn của đền Giếng sửa vào năm 2012 63

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài 3

2.1.1 Khái niệm về Phong thủy 3

2.1.2 Nguồn gốc ra đời của khoa học phong thủy 4

2.1.3 Cơ sở khoa học của phong thủy 6

2.1.4 Bản chất khoa học của phong thủy 15

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 23

2.2.1 Thuật phong thủy trên thế giới 23

2.2.2 Thuật phong thủy ở Trung Quốc 25

2.2.3 Thuật phong thủy tại Việt Nam 27

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31

3.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu 32

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 32

3.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 32

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Khái quát Khu di tích lịch sử Đền Hùng 33

4.1.1 Vị trí địa lý 33

4.1.2 Cảnh quan 35

4.1.2.1 Địa hình, địa mạo 35

Trang 6

4.1.2.2 Khí hậu 35

4.1.2.3 Thủy văn 35

4.1.3 Di tích Đền Hùng 37

4.1.4 Khái quát về Giỗ Tổ và khách du lịch tâm linh đến Đền Hùng 38

4.2 Tinh bàn và nhận định tốt xấu cho dương trạch 39

4.2.1 Phương pháp lập tinh bàn 39

4.2.1.1 Lập vận bàn/niên bàn 40

4.2.1.2 Lập sơn bàn 40

4.2.1.3 Lập hướng bàn 40

4.2.2 Nhận định tốt xấu cho dương trạch 41

4.2.2.1 Vượng sơn, vượng hướng 42

4.2.2.2 Thượng Sơn, Hạ Thủy 44

4.2.2.3 Thu Sơn, Xuất Sát 46

4.2.2.4 Phản Ngâm, Phục Ngâm 49

4.3 Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh

khoa học phong thủy 51

4.3.1 Cổng Đền Hùng 51

4.3.2 Đền Hạ 52

4.3.2.1 Quang cảnh đền Hạ 52

4.3.2.2 Lập tinh bàn Đền Hạ 53

4.3.2.3 Nhận định vận khí của đền 54

4.3.3 Đền Trung 55

4.3.3.1 Quang cảnh đền Trung 55

4.3.3.2 Lập tinh bàn đền Trung 56

4.3.3.3.Nhận định vận khí của đền Trung 57

4.3.4 Đền Thượng 57

4.3.4.1 Quanh cảnh đền 57

4.3.4.2 Lập tinh bàn đền Thượng 60

4.3.4.3.Nhận định vận khí của đền Thượng 60

4.3.5 Đền Giếng 61

4.3.5.1 Quang cảnh đền Giếng 61

4.3.5.2 Tinh bàn đền Giếng 62

Trang 7

4.3.5.3 Nhận định vận khí của đền Giếng 63

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

5.1 KẾT LUẬN 65

5.2 ĐỀ NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 8

có chủ đích Nguyên sơ của phong thủy là những kinh nghiệm về sinh họat như khoét đá, đào hang, làm nhà… Từ cuộc sống thực tế, phải chống chọi với thú dữ, chống lại cả sự tấn công của đồng lọai, phải chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, con người đã biết chọn những vị trí cư trú có núi non che chở bao bọc, lại gần sông ngòi, nguồn nước Nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã có những cơ quan nghiên cứu về phong thuỷ Ở Việt Nam, phong thủy có từ thời vua Hùng nó được thể hiện trong các cung điện, đền thờ Ngày nay dù ở phương đông hay phương tây khi xây dựng công trình người ta đều phải chọn vị trí sao cho hài hòa với môi trường địa lý xung quanh địa bàn, ngoài mục đích thẩm mỹ nó còn đem lại lợi ích

về mặt ăn ở, học tập, sinh hoạt của cộng đồng

Vì vậy, thuật Phong thuỷ nghe có vẻ huyền bí nhưng thực ra lại rất thực tế

và gần gũi với đời sống

Thuật phong thủy là nghệ thuật vận dụng bố cục, sắp đặt, trang trí công trình kiến trúc, đền thờ, di tích lịch sử Theo những nguyên tắc cụ thể khai thông và hướng dẫn sinh khí làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Các công trình kiến trúc, lăng

mộ, đền thờ, di tích lịch sử… ngày xưa liệu có được xây dựng theo phong thủy hay chỉ là xây theo nguồn cảm hứng của con người Vì vậy việc đánh giá các công trình

di tích lịch sử theo khía cạnh khoa học phong thủy là một việc làm hết sức cần thiết nhất là các công trình di tích quan trọng.Vậy để tránh được những ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của con người cần phải bố trí công trình di tích, bố trí nội ngoại thất như thế nào thì mới phù hợp với quy luật phong thủy? Môi trường cảnh quan xung quanh công trình có ảnh hưởng như thế nào đến vận mệnh công trình và những người sống trong đó?

Trang 9

Đã có một vài nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên đối với một công trình di tích mang tính lịch sử như Đền Hùng thì chưa có tài liệu nào đề cập tới Vì vậy được sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo GS.TS Nguyễn

Thế Đặng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá các công trình di tích lịch sử

Đền Hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá được các công trình di tích lịch sử Đền Hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy để từ đó đề xuất giải pháp cho khắc phục những mặt chưa đạt về phong thuỷ

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Khái quát được những lý luận cơ bản của Phong thủy trong nhận định dương trạch

- Đánh giá được các công trình di tích Đề Hùng theo khía cạnh Phong thủy

- Đề xuất được hướng giải pháp cho khắc phục những mặt chưa đạt về phong thuỷ

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: giúp sinh viên củng cố được những

kiến thức đã học trong nhà trường cà bước đầu tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học

- Ý nghĩa trong thực tiễn: hiểu được bản chất của khoa học phong thủy và

ứng dụng khoa học phong thủy trong thực tiễn

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài

2.1.1 Khái niệm về Phong thủy

Phong thủy nguyên là một khoa học của người Trung Hoa, có từ khoảng

4000 năm trước Là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của địa lý, hướng gió, hướng khí và mạch nước đến đời sống hoạ phúc và đời sống của con người Phong thủy thuở họ còn sống dọc hai bên lưu vực sông Hoàng Hà, việc mùa màng,

no đói của họ phụ thuộc vào chuyện mưa gió của trời đất, họ đã nghiên cứu nó để cho vụ mùa tốt và đã sinh ra khoa Phong thủy.Phong có nghĩa là "gió", là hiện tượng không khí chuyển động.Thủy có nghĩa là "nước", là dòng nước, tượng trưng cho địa thế

Các kiến thức Phong thủy chủ yếu mang đến cho chúng ta cơ hội được sống hạnh phúc, khoẻ mạnh và sung túc vì ý nghĩa căn bản của Phong thủy là giữ gìn và duy trì một cuộc sống hài hoà với môi trường xung quanh ta

Phong thủy liên quan đến cát hung, họa phúc, thọ yểu, sự cùng thông của nhân sự Không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng gió, dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng Cát ắt là phong thủy hợp, hung

ắt là phong thủy không hợp Sách Táng thư viết: "Mai táng phải chọn nơi có sinh khí Kinh viết: Khí gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) ngăn thì dừng Cổ nhân làm sao cho khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng" Do vậy mà có tên là

Trang 11

Ngày nay, dù ở Phương Tây hay ở Phương Đông khi xây dựng nhà ở đều phải chọn những vị trí hợp với môi trường địa lí xung quanh địa bàn địa thế, dù theo một lối kiến trúc nào thì cũng phải căn cứ vào địa thế xung quanh để tạo dựng một kiến trúc đẹp về thẩm mĩ, lợi về sinh hoạt

Có thể hiểu rằng: Phong thủy là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của địa lý đến đời sống họa phúc của con người Là sự ảnh hưởng của hướng gió, khí, mạch nước đến mỗi cá nhân Phong thủy có vai trò rất to lớn, tuy nhiên nó chỉ

hỗ trợ, có tác dụng cải biến chứ không làm thay đổi hoàn toàn vận mệnh

Nhưng nếu chỉ hiểu như vậy thì quả là chưa đánh giá đúng cái chân giá trị và vai trò của Phong thuỷ trong đời sống con người! Lịch sử hình thành các dân tộc phương Đông có khoảng trên dưới năm ngàn năm thì cũng gần hết chiều dài lịch sử

đó đã thấy có sự xuất hiện của Khoa Phong thuỷ Những văn bản cổ xưa nhất đã ghi dấu lại bằng giáp cốt văn (chữ nòng nọc - Khoa đẩu) sau khi giải mã đã cho thấy rõ điều này

Trên thực tế, phong thủy học chính là môn khoa học tự nhiên tổng hợp nhiều ngành như địa lý, địa chất, khí tượng học, cảnh quan học, kiến trúc học, sinh thái học và nhân thể học Tôn chỉ của nó là khảo sát, tìm hiểu kĩ càng về môi trường tự nhiên, thuận theo tự nhiên, sử dụng và cải tạo tự nhiên hợp lý, tạo ra môi trường sinh sống tốt, được thiên thời, địa lợi, nhân hòa

2.1.2 Nguồn gốc ra đời của khoa học phong thủy

Nguồn gốc phong thủy bí ẩn như chính tên gọi của nó Thực ra cũng khó có thể xác định chắc chắn rằng phong thủy xuất hiện từ bao giờ Có lẽ là ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất thì họ đã có tư duy về phong thủy Tất nhiên vào những thời kỳ còn nguyên thủy thì khái niệm phong thủy còn rất manh nha nhưng chắc chắn con người đã tìm mọi cách để có thể thích ứng với thiên nhiên và mục đích hòa hợp với tự nhiên vẫn là một trong những nội dung chính của phong thủy cho đến ngày nay

Đã có thời gian Phong thủy được đánh đồng với tôn giáo Thậm chí bị coi là nhảm nhí, là mê tín dị đoan cũng do cách giải thích thiếu hiểu biết của chính các

Trang 12

thầy Phong thủy, muốn thần thánh hóa, làm thần bí phức tạp thêm trong con mắt của gia chủ nhằm trục lợi cho bản thân Ngày nay, Phong thủy đã được coi là một đối tượng nghiên cứu khoa học Nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã có những cơ quan nghiên cứu về Phong thủy Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu chính xác nào nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của khoa học phong thủy mà chỉ là những phỏng đoán theo tiến trình lịch sử của Trung Quốc là nơi đã phát sinh khoa Phong thủy Một trong những giả thuyết cho rằng khoa Phong thủy ra đời cùng với thời gian mà người Trung Hoa khám phá ra đặc tính của nam châm và sử dụng để làm la bàn tìm phương hướng, đó là thời gian mà người ta ước đoán là khoảng năm 2600 trước Công Nguyên

Trong lịch sử phát triển, thuật Phong Thuỷ hình thành nên nhiều trường phái khác nhau, mỗi trường phái có phương pháp lý luận và ứng dụng riêng Có một số trường phái lớn được biết đến như sau

+ Phái Bát Trạch : Do Thái Kim Oanh phát triển và hoàn thiện trong tác phẩm Bát Trạch Minh Cảnh Phái này căn cứ chủ yếu vào sự kết hợp giữa mệnh cung của chủ nhà với các hướng để luận tốt xấu và thiết kế nhà ở

+ Phái Huyền Không : căn cứ vào môn Cổ Dịch Huyền Không, dùng Phi Tinh tức là sự vận động các luồng khí khởi nguồn từ Bát Quái để luận đoán tốt xấu Phái này cũng đặc biệt chú trọng tới vận khí, tức là sự tốt xấu của căn nhà theo thời gian, còn được gọi là Trạch Vận Qua đó dự đoán được tốt xấu cho căn nhà theo từng thời điểm để có phương án bài trí và sửa chữa hợp lý

+ Phái cảm xạ Phong Thuỷ : Nghiên cứu về khí trường Phong Thuỷ và các nguồn năng lượng sinh học

Ngoài 2 trường phái lớn trên còn hình thành nên một số trường phái khác với những đặc trưng về học thuật và công phu nghiên cứu khác nữa, ví dụ :

+ Phái Dương Trach Tam Yếu : do Triệu Cửu Phong khởi xướng, sau là Lộc Dã Phu phát triển trong hai tác phẩm Dương Trạch Tam Yếu và Dương Cơ Chứng Giải

Trang 13

+ Phái Huyền Thuật Phong Thuỷ : Là môn Phong Thuỷ bí truyền trong dân gian, được truyền theo lối tâm truyền, không mấy phổ biến Phái này chuyên nghiên cứu việc phát hiện và trấn yểm các Long Mạch, chủ yếu áp dụng cho mộ phần

Tóm lại, Phong Thuỷ là một nghệ thuật bài trí không gian, rất tinh tuý, tuy nhiều bí ẩn nhưng nếu hiểu được và áp dụng đúng thì sẽ mang lại những hệ quả hết sức lớn lao nằm ngoài những nỗ lực về trí tuệ và sức lực thuần tuý của con người

Ngày nay dù ở Phương Tây hay ở Phương Đông khi xây dựng nhà ở đều phải chọn những vị trí hợp với môi trường địa lí xung quanh địa bàn, dù theo một lối kiến trúc nào thì cũng phải căn cứ vào địa thế xung quanh để tạo dựng một kiến trúc đẹp về thẩm mỹ, lợi về sinh hoạt Phong thủy dù còn vẻ huyền bí nhưng rất thực tế và gần gũi với đời sống con người

2.1.3 Cơ sở khoa học của phong thủy

2.1.3.1 Khí

Là hơi thở hoặc năng lượng Năng lượng được hiểu là Long mạch, nuôi dưỡng khí đề làm giàu cuộc sống và khí của những người cư ngụ Phong thủy ảnh hưởng đến khí của con người Do đó, có thể dùng phong thủy để giúp gỡ rối được các “nút” ngăn chặn hạnh phúc, mục đích và hi vọng của con người

Trong thuật phong thủy, khí là một khái niệm phổ biến và quan trọng Khí có sinh khí, tử khí, âm khí, dương khí, thổ khí, địa khí, tụ khí, nạp khí, khí mạch, khí mẫu… Khí là nguồn gốc của vạn vật, khí biến hóa vô cùng, khí quyết định họa phúc của con người

Nhìn một cách tổng quát, sinh khí là khí của nhất nguyên vận hóa, ở trên trời thì lưu chuyển xung quanh lục hư, ở dưới đất thì sinh ra vạn vật Dù là âm trạch hay dương trạch đều phải chú ý thặng sinh khí, tránh tử khí

Đặc điểm quan trọng là khí có tính linh hoạt trong vận động, chịu ảnh hưởng của cấu trúc môi trường và vật dẫn từ vi mô đến vĩ mô Khí cũng có thể phân là nhiều loại theo phương pháp luận của thuyết âm dương ngũ hành, trong đó sự phân loại có tính khái quát nhất là Dương khí và Âm khí Khí thường gặp nhất trong

Trang 14

phong thủy là Dương khí Dương khí vận động trên mặt đất, chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng trực tiếp đến các vật thể trên mặt đất, đặc biệt là vật thể sống

Theo sách cổ để lại, khí gặp gió thì tán, nghĩa là “khí” nhẹ, lẫn vào không khí nên bị gió cuốn đi Nếu gió nhẹ vừa phải sẽ có tác dụng dẫn khí lưu thông, được coi

là tốt Còn gió mạnh làm tán khí, mất khí lại là không tốt Sách cũng ghi “khí” gặp nước thì dừng Thường thì khí trong tự nhiên vận động dựa theo sức mang của không khí, khi gặp vật cản sẽ đổi hướng theo dòng khí Khí gặp nước thì dừng nghĩa là nước có khả năng giữ khí lại, khái niệm chuyên môn của phong thủy là “ tụ khí” Hay nói một cách khác mang tính hình tượng hơn là nước có khả năng hút khí, hòa tan khí Nước chảy chậm rãi, có chỗ dừng là rất tốt vì mang được khí tươi mới đến và lưu lại ở đó Đó là nguyên nhân để các chuyên gia phong thủy nhìn dòng nước chảy để dự đoán khí vận trong lòng đất mà từ chuyên môn gọi là “long mạch” Tính chất của khí sẽ khác nhau tùy theo sự tụ thủy, sức mạnh yếu trong lưu thông của dòng nước… “ Khí” cần lưu động nhẹ nhàng, bình ổn mới có tác dụng tương tác tốt Dòng chảy hỗn tạp, chảy rối, dòng rối hay các dạng dòng chảy hẹp, vòi phun, dòng xung kích đều không tốt, gây nguy hiểm

Chúng ta có thể hình dung tính chất thủy khí động học của “khí phong thủy” gần giống của nước, trừ tác dụng của trọng lực Dòng nước chảy xiết, nước xoáy mạnh cũng tạo ra xung khí, tạp khí Nếu dòng nước bẩn thỉu hôi hám thì khí cũng sẽ

bị uế tạp, không còn mang được năng lượng sống cho con người nữa

2.1.3.2 Âm dương

Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến hoá không ngừng của sự vật (Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn

và đoài)

Âm và dương theo khái niệm cổ xưa không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn

Trang 15

thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại Nói chung, phàm cái

gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực…đều thuộc dương Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực…đều thuộc âm

Một quy luật trọng yếu của âm dương đó là “vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản” có nghĩa là khí dương đến cực đỉnh thì sẽ biến thành âm, âm đến cực điểm sẽ biến thành dương Thí dụ như luồng địa khí nếu thong thả tiến vào khu vực kiến trúc thì tốt (sinh khí); nếu ngược lại nguồn địa khí ồ ạt tiến vào khu vực kiến trúc thì chẳng khác gì giặc cướp xông thẳng vào nhà, chỉ khác nhau cường độ mà tốt đã thành xấu, dương đã biến thành âm (tử khí)

Như vậy trong âm có dương, trong dương có âm, giữa chúng có thể là ức chế nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau Biết được điều đó chúng ta có thể điều hòa âm dương cho phù hợp

2.1.3.3 Ngũ hành

Học thuyết Âm dương được triển khai rộng ra thành lý luận Ngũ hành Tương tác được chia làm hai loại: Sinh và khắc Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại Tức năm hành thuỷ, hoả, thổ, mộc, kim (Nguyễn Thế Đặng, 2011) [1]

Học thuyết Ngũ hành là một học thuyết về mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng Đó là một mối quan hệ “động” (vì vậy mà gọi là hành) Có hai kiểu quan hệ:

Đó là Tương sinh và Tương khắc Người xưa mượn tên và hình ảnh của 5 loại vật chất để đặt tên cho 5 vị trí đó là Mộc - Hỏa - Thổ - Kim - Thủy, và gán cho chúng tính chất riêng:

+ Mộc: có tính chất động, khởi đầu (Sinh)

+ Hỏa: có tính chất nhiệt, phát triển (Trưởng)

+ Thổ: có tính chất nuôi dưỡng, sinh sản (Hóa)

+ Kim: có tính chất thu lại (Thu)

Trang 16

+ Thủy: có tính chất tàng chứa (Tàng)

Sau đó qui nạp mọi sự vật hiện tượng ngoài thiên nhiên lẫn trong cơ thể con người vào Ngũ hành để xét mối quan hệ Sinh - Khắc giữa các sự vật hiện tượng đó Như vậy, học thuyết Ngũ hành chính là sự cụ thể hóa qui luật vận động chuyển hóa của mọi sự vật hiện tượng

Ngũ hành có 2 chu kỳ: chu kỳ hình thành và chu kỳ hủy diệt Học thuyết này ra đời trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm, những quan sát có tính trực quan và do đó, nó có tính ứng dụng thực tiễn rất cao trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Người ta dùng Ngũ hành để chia tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội (ngũ âm, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ nhạc, ngũ giác quan ) Trong thuật phong thủy, các hình thể kể cả phương hướng, đất đai, sông núi đều được phân chia theo ngũ hành, sau đó căn cứ sự sinh hay khắc của ngũ hành để quyết định cát hung

Học thuyết ngũ hành sau khi ra đời và hoàn thiện kết hợp với học thuyết âm dương nên thường được gọi chung là học thuyết Âm dương - Ngũ hành

Hình 2.1: Ngũ hành

Trang 17

Các quy luật của Ngũ hành:

+ Tương sinh (Sinh: hàm ý nuôi dưỡng, giúp đỡ): Giữa Ngũ hành có mối quan hệ nuôi dưỡng, giúp đỡ, thúc đẩy nhau để vận động không ngừng, đó là quan

hệ Tương sinh Người ta qui ước thứ tự của Ngũ hành Tương sinh như sau: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc

+ Tương khắc (Khắc hàm ý ức chế, ngăn trở): Giữa Ngũ hành có mối quan

hệ ức chế nhau để giữ thế quân bình, đó là quan hệ Tương khắc Người ta qui ước thứ tự của Ngũ hành Tương khắc như: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc

Mỗi yếu tố phong thủy đều có tính chất riêng (trong đó bao gồm cả màu sắc và chất liệu), và những nguyên tắc để tạo nên sự cân bằng:

Khi nói đến một căn phòng "Mộc" là nói đến những bó hoa tươi tắn, cây cối, hoa cỏ, những vật liệu có nguồn gốc tự nhiên như cotton chẳng hạn và tất nhiên là các đồ đạc bằng gỗ Khi thiết kế đề cập đến yếu tố "Mộc", hãy sử dụng những hình dọc và đứng thẳng, hình khối kiểu thân cây, sự êm ái của lá cây và hoa Màu của

"Mộc" là những màu xanh lá và xanh dương

* Hỏa

Bản chất là đi lên và đi ra ngoài, tương trưng cho sự bành trướng, đốt cháy

và sức nóng, liên quan tới khí hoạt động của mùa Hè – phương Nam

Sử dụng yếu tố "Hỏa" trong nội thất là cách để giúp tăng sự phấn khích Yếu tố phong thủy này cũng được tạo ra để mang đến cảm hứng và một chút liều mạng

Trang 18

Khi sử dụng quá nhiều yếu tố "Hỏa" sẽ khiến người cư ngụ có cảm giác bực bội, tức giận, không kiểm soát được hành vi ngược lại khi có quá ít, sẽ khiến mọi thứ trở nên hời hợt, thiếu cảm hứng

Để tăng yếu tố "Hỏa" trong một căn phòng, bạn hãy bố trí nến, những ánh đèn sáng ấm áp và nếu có thể hãy để ánh sáng mặt trời xuyên vào Bất kỳ màu sắc nào có gốc từ đỏ, hồng hay tím, các thiết bị như đồ điện tử và những bức ảnh thú vật đều là đại diện của hành "Hỏa"

* Thổ

Bản chất là đi xuống, cắm chạt và liên quan tới khí suy giảm của cuối mùa

Hè – Trung cung (ở giữa)

Yếu tố "Thổ" ảnh hưởng tới sức khỏe, tạo cảm giác yên ổn và cân bằng Khi

sử dụng quá nhiều trong không gian sống, con người sẽ rơi vào tình trạng nặng nề trong cảm xúc, buồn tẻ, uể oải Còn ngược lại, người cư ngụ sẽ có cảm giác bối rối, hỗn loạn và không tập trung

Yếu tố "Thổ" sẽ mang đến ngôi nhà của bạn thông qua những hình ảnh về mặt đất, phiến đá, với những gam màu như nâu, xanh hay cát, những hình khối vuông và chữ nhật, bề mặt mỏng và phẳng cùng với những bức tranh phong cảnh

* Kim

Biểu tượng của sự kết tụ, đi vào trong, củng cố khí lực và liên quan tới thời

kỳ thu hoạch của mùa Thu - phương Tây

Yếu tố kim loại, sự minh bạch và logic là tiêu biểu của hành Kim Sự hiện diện của vật liệu bằng kim loại trong một không gian sống sẽ cho ta cảm giác gọn gàng, ngăn nắp Nhưng khi quá nhiều, sẽ hình thành sự vô định, không có khả năng kiểm soát bản thân Và ngược lại, cảm giác dễ nhận thấy là sự lạnh lẽo và thiếu tập trung Để nhận biết hành "Kim", hãy để ý đến hình tròn hay ovan, bất kỳ những yếu tố nào liên quan đến kim loại như sắt, thép, vàng, bạc hay aluminum, những viên đá, màu trắng, ghi, bạc hoặc các gam màu tông nhạt khác

Trang 19

bể cá hay những đài phun nước

Sự phối hợp Âm dương và Ngũ hành chính là sự vận động của vạn vật trong

tự nhiên và chi phối ảnh hưởng đến từng con người và vật thể

Theo cổ nhân xưa, lúc đầu vũ trụ chỉ là 1 khối hỗn độn, không có hình dạng

rõ ràng gọi là thời hỗn mang Trong sự hỗn mang đó, vũ trụ còn chưa có sự định hình và phân chia được gọi là Thái Cực Sở dĩ gọi là Thái Cực bởi vì nó huyền bí và

vô tận nên không thể xác định rõ ràng trạng thái của nó ra sao

Biến hóa là biểu hiện bên ngoài của Thái Cực mà đạo Dịch căn cứ sự biến hóa của vũ trụ và vạn vật Do đó Kinh Dịch mô tả diễn trình chuyển hóa (Dịch) một cách khái quát như sau: “Dịch hữu Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh Ngũ Hành”: Đạo Dịch có nguồn gốc là Thái Cực, Thái Cực sinh ra 2 Nghi (Âm và Dương), hai Nghi sinh ra 4 Tượng (Huyền Vũ, Chu Tước, Thanh Long, Bạch Hổ), bốn Tượng sinh ra 8 Quẻ (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn Đoài)

Trang 20

Tám quẻ sinh ra 5 Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Như vậy ta có thể hiểu, tám quẻ của Bát Quái tượng trưng cho 8 trạng thái khác nhau của Âm Dương trong quá trình hình thành Vũ trụ và mọi vật

Bát quái đồ là hình ảnh sắp xếp các quẻ bát quái thành một vòng tròn theo một trật tự nhất định

Có hai loại là Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát quái Phương vị của Bát quái theo Thiên văn ngược với phương vị trên mặt đất

+ Tiên thiên Bát Quái Là hình Bát quái được sắp xếp theo trật tự có tính đối xứng rất rõ Đối xứng với một hào Âm (vạch đứt) sẽ là một hào Dương (vạch liền) Quẻ càn ở trên cùng gồm 3 hào dương (3 vạch liền) thì đối xứng dưới cùng

là Quẻ khôn gồm 3 hào âm (3 vạch đứt) Quẻ Khảm gồm 1 hào dương nằm giữa 2 hào âm thì đối xứng là quẻ Ly gồm 1 hào âm nằm giữa hai hào dương

Sự vận động của Tiên thiên bát quái về mặt hình học là khá rõ ràng: ngược chiều kim đồng hồ, cứ thay thế một hào âm bằng một hào dương (hoặc một hào dương bằng một hào âm) từ trên xuống, sẽ cho quẻ tiếp theo phía bên trái

+ Hậu thiên Bát Quái đặt các quẻ theo trình tự thuận chiều kim đồng hồ là: Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - Đoài, với quẻ Càn nằm ở góc tây bắc,

vì phương vị người xưa nghịch với ngày nay - Trên Nam, Dưới Bắc, Phải Tây, Trái Đông (theo Kinh Dịch, Đạo của người quân tử của tác giả Nguyễn Hiến Lê)

Trang 21

2.1.3.5 Phương vị phong thủy

Phương vị là yếu tố quan trọng nhất của địa lý phong thủy Do đó trước hết phải đo chính xác phương vị Muốn đo chính xác phương vị phải dùng đến la bàn,

đó là loại dụng cụ đã có cách đây hai nghìn năm Tuy kim nam châm của la bàn chỉ

về hướng Bắc, nhưng như vậy cũng là đã chỉ rõ phương Nam

Nói đến phương vị thường ngụ ý chỉ bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Nhưng trong phong thủy thường chia ra 24 phương vị, tổng cộng giác độ của 24 phương vị là 3600, chia đều ra thành 24 phần, mỗi phương vị là 150 24 phương vị trong phong thủy còn gọi là “Nhị thập tứ sơn phương vị”, lấy tám thiên can “Canh, tân, nhâm, quý, giáp, ất, bính, đinh” cộng với 12 địa chi “Tý, sửu, dần, mão, thìn,

tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi”và 4 quẻ “Kiền, Khôn, Cấn, Tốn”mà thành, dựa theo chiều kim đồng hồ sắp xếp

Hình 2.2 Phương vị

Trang 22

2.1.4 Bản chất khoa học của phong thủy

Phong thủy học là một bộ môn khoa học cổ, đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lịch sử phát triển của các dân tộc ở phương Đông, nay lan truyền sang cả phương Tây

Phong thủy đã và đang trở thành phong tục, tập quán sinh hoạt, phương thức

tư duy, lòng tin, ý thức trầm tích ở trong mỗi người dân, mỗi quần thể tộc người ở phương Đông

Phong thủy giúp nâng cao hiểu biết của mọi người về môi trường sống tự nhiên và từ đó hình thành ý thức bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống

Do đó, nghiên cứu khoa học Phong thủy không chỉ là nghiên cứu tư duy cổ

mà còn dần dần nghiên cứu cả nền văn hóa phương Đông nói riêng và của nhân loại nói chung Ngày nay khoa học đương đại đã có cách nhìn, cách đánh giá mới về Phong thủy cổ truyền, coi phong thủy như là bộ môn khoa học cần phải nghiêm túc nghiên cứu và ứng dụng để giúp con người sống hài hòa với thiên nhiên, đón cát - trừ hung

Huyền không phi tinh:

Theo trường phái Huyền không thì mọi sự tương tác của các sự vật hiện tượng đều do Cửu tinh (9 ngôi sao) cai quản và họ dựa trên Cửu tinh để suy luận cát hung Huyền không phái hay còn gọi là Huyền không Phi tinh là một trường phái xuất hiện từ lúc nào thì chưa thể xác định chính xác được Theo sự ghi chép của những thư tịch cổ thì vào đời Hán, trong "Hán Thư, Văn nghệ chí" người ta thấy có mối quan hệ với các bài ca quyết của Huyền không phái được ghi chép vào khoảng đời Đường (Trung Quốc) trở về sau của các Phong thuỷ học

Huyền không phi tinh dựa vào tính chất và sự di chuyển của 9 sao (tức Cửu tinh hay 9 số) mà đoán định họa, phúc của từng căn nhà (dương trạch) hay từng phần mộ (âm trạch) Cửu tinh: tức là 9 con số, từ số 1 tới số 9, với mỗi số đều có tính chất và ngũ hành riêng biệt, đại lược như sau:

Số 1: Sao Nhất Bạch hoặc Tham Lang, có những tính chất như sau:

Về Ngũ Hành: thuộc Thủy

Trang 23

Về màu sắc: thuộc màu trắng

Về cơ thể: là thận, tai và máu huyết

Về người: là con trai thứ trong gia đình

Về tính chất: nếu vượng hay đi với những sao 4, 6 thì chủ về văn tài xuất chúng, công danh, sự nghiệp thăng tiến Nếu suy, tử thì mắc bệnh về thận và khí huyết, công danh trắc trở, bị trộm cướp hay trở thành trộm cướp

Số 2: Sao Nhị Hắc hay Cự Môn, có những tính chất sau:

Về Ngũ hành: thuộc Thổ

Về màu sắc: thuộc màu đen

Về cơ thể: là bụng và dạ dày

Về người: là mẹ hoặc vợ trong gia đình

Về tính chất: nếu vượng thì điền sản sung túc, phát về võ nghiệp, con cháu đông đúc Suy thì bệnh tật liên miên, trong nhà xuất hiện quả phụ

Số 3: Sao Tam Bích hay Lộc Tồn, có những tính chất sau:

Về Ngũ hành: thuộc Mộc

Về màu sắc: thuộc màu xanh lá cây

Về cơ thể: mật, vai và 2 tay

Về người: là con trai trưởng trong gia đình

Về tính chất: nếu vượng thì con trưởng phát đạt, lợi cho kinh doanh, vợ cả tốt Nếu suy thì khắc vợ và hay bị kiện tụng, tranh chấp

Số 4: Sao Tứ Lục hoặc Văn Xương, có những tính chất sau:

Về Ngũ hành: thuộc Mộc

Về màu sắc: thuộc màu xanh dương (xanh nước biển)

Về cơ thể: gan, đùi và 2 chân

Về người: là con gái trưởng trong gia đình

Về tính chất: nếu vượng hoặc đi với sao Nhất Bạch thì văn chương nổi tiếng,

đỗ đạt cao, con gái xinh đẹp, lấy chồng giàu sang Nếu suy, tử thì trong nhà xuất hiện người dâm đãng, phiêu bạt đó đây, bệnh về thần kinh

Số 5: Sao Ngũ Hoàng, có những tính chất sau:

Về Ngũ Hành: thuộc Thổ

Về màu sắc: thuộc màu vàng

Trang 24

Về cơ thể và con người: không

Về tính chất: nếu vượng thì tài lộc, nhân đinh đều phát, phú quý song toàn Nếu suy thì chủ nhiều hung họa, bệnh tật, tai nạn, chết chóc

Số 6: Sao Lục Bạch hoặc Vũ Khúc: có những tính chất sau:

Về Ngũ hành: thuộc Kim

Về màu sắc: thuộc màu trắng, bạc

Về cơ thể: đầu, mũi, cổ, xương, ruột già

Về người: là chồng hoặc cha trong gia đình

Về tính chất: nếu vượng hoặc đi với sao Nhất Bạch thì công danh hiển hách, văn

võ song toàn Nếu suy thì khắc vợ, mất con, lại hay bị quan tụng, xương cốt dễ gãy

Số 7: Sao Thất Xích hoặc Phá Quân: có những tính chất sau:

Về Ngũ hành: thuộc Kim

Về màu sắc: thuộc màu đỏ

Về cơ thể: phổi, miệng, lưỡi

Về người: là con gái út trong gia đình

Về tính chất: nếu vượng thì hoạnh phát về võ nghiệp hoặc kinh doanh Nếu suy thì bị trộm cướp hay tiểu nhân làm hại, đễ mắc tai họa về hỏa tai hay thị phi, hình ngục

Số 8: Sao Bát Bạch hoặc Tả Phù: có những tính chất sau:

Về Ngũ hành: thuộc Thổ

Về màu sắc: thuộc màu trắng

Về cơ thể: lưng, ngực và lá lách

Về người: là con trai út trong gia đình

Về tính chất: nếu vượng thì nhiều ruộng đất, nhà cửa, con cái hiếu thảo, tài đinh đều phát Nếu suy thì tổn thương con nhỏ, dễ bị ôn dịch

Số 9: Sao Cửu Tử hay Hữu Bật, có những tính chất sau:

Về Ngũ hành: thuộc Hỏa

Về màu sắc: màu đỏ tía

Về cơ thể: mắt, tim, ấn đường

Về người: con gái thứ trong gia đình

Trang 25

Về tính chất: nếu vượng thì nhiều văn tài, quý hiển sống lâu Nếu suy thì bị hỏa tai, hoặc tai họa chốn quan trường, bị thổ huyết, điên loạn, đau mắt, sinh đẻ khó khăn

Thuật Huyền không phi tinh lấy sự phối hợp của cửu tinh (9 sao) trong Lạc thư làm chủ Sự di chuyển của cửu tinh trong lạc thư theo thuận chiều hay nghịch chiều

là cơ sở cho việc xác định hướng tốt hay xấu trong 24 sơn và 8 hướng

Hình 2.3: Phương vị gốc của Cửu tinh trong Hậu thiên bát quáivà Tam nguyên long

Khi có những thay đổi về không gian và thời gian thì Cửu tinh cũng sẽ thay đổi hoặc di động theo 1 qũy đạo nhất định Quỹ đạo đó được gọi là vòng Lượng thiên Xích Lượng thiên Xích còn được gọi là "Cửu tinh đãng quái” là thứ tự di chuyển của Cửu tinh trong Lạc thư hay Hậu thiên Bát quái Gọi là lượng thiên xích

vì đây được coi như là 1 công cụ (Xích: cây thước; lượng: để đo lường; thiên: thiên

Trang 26

vận) Nói một cách khác, "Lượng thiên Xích” chính là phương pháp tính toán để tìm thấy những giai đoạn cát, hung, họa phước cho dương trạch và âm trạch

Sự di chuyển của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên xích là dựa theo thứ tự số trong Lạc thư (hay Hậu thiên Bát quái) mà đi, bắt đầu từ chính giữa (tức trung cung) (Hình 2.5) Cho nên nếu nhìn vào thứ tự các con số trong Hậu thiên bát quái thì chúng ta sẽ thấy số 5 nằm chính giữa, nên bắt đầu từ đó đi xuống lên số 6 ở phía Tây Bắc, xong lên số 7 nơi phía Tây Rồi vòng xuống số 8 nơi phía Đông Bắc, sau

đó lại lên số 9 nơi phía Nam Từ 9 lại đi ngược xuống số 1 nơi phía Bắc, sau đó lên

số 2 nơi phía Tây Nam, rồi quay ngược qua số 3 nơi phía Đông, sau đó đi thẳng xuống lên nơi số 4 ở phía Đông Nam, rồi trở về trung cung là hết 1 vòng Cho nên quỹ đạo của vòng Lượng thiên xích như sau:

(1) Từ trung cung xuống Tây Bắc

(2) Từ Tây Bắc lên Tây

(3) Từ Tây xuống Đông Bắc

(4) Từ Đông Bắc lên Nam

(5) Từ Nam xuống Bắc

(6) Từ Bắc lên Tây Nam

(7) Từ Tây Nam sang Đông

(8) Từ Đông lên Đông Nam

(9) Từ Đông Nam trở về trung cung

1) Di chuyển thuận: Theo thứ tự từ số nhỏ lên số lớn, chẳng hạn như từ 5 ở trung

cung xuống 6 ở Tây Bắc, rồi lên 7 ở phía Tây, xuống 8 phía Đông Bắc

Trang 27

2) Di chuyển nghịch: Theo thứ tự từ số lớn xuống số nhỏ, chẳng hạn như từ 5 ở

trung cung xuống 4 ở Tây Bắc, lên 3 ở phía Tây, xuống 2 ở phía Đông Bắc

Sự di chuyển thuận, nghịch của Cửu tinh là hoàn toàn dựa vào nguyên tắc phân định âm - dương của Tam nguyên long Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên long, Thiên nguyên long, và Nhân nguyên long Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:

- ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

+ 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH

+ 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI

- THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

+ 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN

+ 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU

- NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:

+ 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI

+ 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng Lượng thiên Xích

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mỗi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: Địa, Thiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ Thí dụ như hướng Bắc được chia thành 3 sơn là Nhâm – Tý - Qúy, với Nhâm thuộc Địa nguyên long, Tý thuộc Thiên nguyên long, và Quý thuộc Nhân nguyên long Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử Trong 3 nguyên Địa – Thiên - Nhân thì Thiên và Nhân là

có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử) Còn Địa nguyên long

Trang 28

là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố) Nếu Địa kiêm Nhân thì

sẽ bị xuất quái

Chính hướng và Kiêm hướng:

Khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính hướng Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm hướng Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem

là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mỗi sơn làm trung tâm

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm

ít, và vẫn còn giữ được thuần khí của hướng Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như

bị nhận nhiều tạp khí

Tam nguyên, Cửu vận:

Khác với những trường phái Phong thủy được lưu hành từ trước tới nay như Loan đầu, Mật tông, Bát trạch Huyền không chẳng những dựa vào địa thế và hình cục trong, ngoài, mà còn dựa vào cả yếu tố thời gian để đoán định sự vượng, suy, được, mất của âm - dương trạch

Một căn nhà có thể được xây dựng trên một mảnh đất có địa thế tốt (hoặc xấu), nhưng không phải vì thế mà nó sẽ tốt (hay xấu) vĩnh viễn, mà tùy theo biến đổi của thời gian sẽ đang từ vượng chuyển sang suy, hay đang từ suy chuyển thành vượng Đó là lý do giải thích tại sao có nhiều gia đình khi mới vào ở một căn nhà thì làm ăn rất khá, nhưng 5, 10 năm sau lại bắt đầu suy thoái dần Hay có những gia đình sau bao nhiêu năm sống trong một căn nhà nghèo khổ, bỗng tới lúc con cái ăn học thành tài, gia đình đột nhiên phát hẳn lên Cho nên đối với Phong thủy Huyền không thì không những chỉ là quan sát địa hình, địa vật bên ngoài, cấu trúc, thiết kế bên trong căn nhà, mà còn phải nắm vững từng mấu chốt của thời gian để đoán định từng giai đoạn lên, xuống của một trạch vận (nhà ở hay phần mộ) Nhưng thời gian

Trang 29

là một chuyển biến vô hình, chỉ có đi, không bao giờ trở lại, thế thì lấy gì làm căn mốc để xác định thời gian? Để giải quyết vấn đề này, người xưa đã dùng cách chia thời gian ra thành từng Nguyên, Vận Nguyên là một giai đoạn dài khoảng 60 năm hay một Lục thập Hoa giáp Mỗi Nguyên lại được chia thành 3 vận, mỗi vận kéo dài khoảng 20 năm Mặt khác, cổ nhân còn định ra Tam Nguyên là:

- Thượng Nguyên: bao gồm 3 vận 1, 2, 3

- Trung Nguyên: bao gồm 3 vận 4, 5, 6

- Hạ Nguyên: bao gồm 3 vận 7, 8, 9

Như vậy, Tam nguyên Cửu vận tức là 3 Nguyên: Thượng, Trung, Hạ, trong

đó bao gồm 9 Vận, từ Vận 1 tới Vận 9 Tổng cộng là chu kỳ 180 năm, cứ từ Vận 1 (bắt đầu vào năm Giáp Tý) đi hết 3 Nguyên (tức 9 Vận) rồi lại trở về Vận 1 Thượng Nguyên lúc ban đầu Cứ như thế xoay chuyển không ngừng Còn sở dĩ người xưa lại dùng chu kỳ 180 năm (tức Tam Nguyên Cửu Vận) làm mốc xoay chuyển của thời gian là vì các hành tinh trong Thái Dương hệ cứ sau 180 năm lại trở về cùng nằm trên 1 đường thẳng Đó chính là năm khởi đầu cho Vận 1 của Thượng Nguyên Dùng đó làm mốc để tính thời gian, người ta có thể suy ra Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất là:

Trang 30

* Vận 9: từ năm 2024 - 2043

Như vậy, năm 2043 là năm cuối cùng của vận 9 - Hạ nguyên Cho nên vào năm 2044 (tức năm GIÁP TÝ) thì lại trở về vận 1 của Thượng nguyên, cứ như thế xoay chuyển mãi không ngừng Điều quan trọng cho những ai mới học Huyền không phi tinh là phải biết rõ năm nào thuộc Vận và Nguyên nào

Bản chất của môn phong thủy là một ngành khoa học thực sự, là tổng hợp nhiều ngành nghiên cứu khác nhau như: lịch sử học, tâm lý học, địa lý học, kiến trúc học, xã hội học… mặc dù nội dung của nó còn những bí ẩn cần khám phá

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Thuật phong thủy trên thế giới

Thuật phong thủy được phát hiện ở Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước, tuy nhiên cho đến nay nó không còn là của riêng người Trung Quốc nữa mà đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Phong thủy cổ Hy Lạp: Từ rất sớm nơi đây đã nuôi dưỡng nên tri thức địa lý học khiến con người mở rộng tầm nhìn mới mẻ, trong đó có cả luận thuật về phương diện phong thủy

Tiêu biểu có nhà y học bậc thầy cổ Hy Lạp và y học phương Tây người đảo

Cô Sơ là Hippôcơrat (khoảng 460 - 377 Trước Công Nguyên) đã thu thập một trước tác của một thầy thuốc vô danh viết “Bàn về phong thủy và hoàn cảnh” Tác giả ở đây đưa hoàn cảnh lên thành một thể hệ quan hệ lẫn nhau để chế ước sự tồn tại của

xã hội, trong đó có quan hệ giữa con người và hoàn cảnh Tác giả cho rằng các loại bệnh tật của cư dân thành thị thường xảy ra theo vị trí ăn ở của cư dân, có liên quan tới sự thịnh hành của gió Đông, Nam, Tây, Bắc Các thành thị chịu sự ảnh hưởng của gió Đông thì cư dân ít bệnh tật còn các thành thị chịu gió Tây thì sức khỏe của

cư dân là kém nhất Tác giả còn phân tích cả thủy, cho rằng chất nước quyết định sự khỏe mạnh Tác giả còn cho hoàn cảnh có ảnh hưởng tới phương thức sinh hoạt của con người Dân sống nơi khí tù, ở đồng bằng thấp, khí hậu ít thay đổi lớn, không khí

ẩm thấp, người dân ở đó không thích tiêu phí thể lực Cư dân sống trên cao nguyên

Trang 31

lộng gió thì thân thể cao lớn Sống ở nơi nghèo nàn, khí hậu bất thường thì cư dân thân thể gầy yếu, tính cách ngoan cố

Nhà học giả Pôlypia (208 - 126 Trước Công Nguyên) lại rất coi trọng địa chí học, đưa thủy văn và núi làm thành nhân tố chủ đạo tạo nên địa khu, căn cứ vào độ màu mỡ, bạc màu của đất đai mà đánh giá tính cánh của cư dân nơi đó hòa bình, bạo lực…

Bước vào trung thế kỷ, địa lý học cổ Hy Lạp bị rời rạc, thậm chí còn đứt giữa chừng Khi lịch sử phát triển cho tới cận đại, địa lý học cổ Hy Lạp đã cung cấp tiền

đề khoa học cho thời Phục Hưng của phương Tây

Phong thủy cổ Ai Cập: người Ai Cập cổ đại khi xây dựng Kim tự tháp cũng

có bài bản, đặc biệt về thuật tướng đất Mỗi tòa Kim tự tháp đều theo hướng chính Nam, chính Bắc, chạy đúng tuyến với đường từ lực của trái đất Bên trong Kim tự tháp là đá hoa cương xây nên có tính năng tích điện như một ắc quy, có thể hấp thu các loại sóng vũ trụ để tồn trữ lại Mặt ngoài được làm bằng đá tảng và vữa đá xây nên, đá xây đá có thể phòng ngừa sóng vũ trụ ở trong khỏi khuếch tán đi Do vậy nên có thể bảo tồn lâu dài các tranh ghép bên trong Kim tự tháp Nhiều nghiên cứu cho thấy rau tươi để trong tháp sau nửa tháng vẫn tươi nguyên Ngoài ra kim tự tháp còn có đường thông gió tiện cho khí lưu thông, và các Pharaon có thể để linh hồn tự

do ra vào

Nước Mỹ: người Mỹ rất quan tâm tới phong thủy, rất nhiều công trình xây dựng, vật trang trí có áp dụng phong thủy khi bố trí Điển hình có tòa nhà Quốc hội (Nhà Trắng) xây dựng theo nguyên tắc “tọa sơn hướng thủy”, bố cục có đầy đủ Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Chu Tước Cách đây không lâu, khách sạn MGM nổi tiếng tại Las Vegas theo thuật phong thủy đã cho xây dựng hai con sư tử bằng đá khổng lồ để tránh kinh doanh thua lỗ

Phong thủy ở Châu Á: phong thủy Trung Quốc ảnh hưởng sâu sắc tới các nước Châu Á, đặc biệt là các nước lân cận như: Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Mianma…

Trang 32

Nhật Bản rất thịnh hành Phong thủy, họ cũng lấy Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ làm thần của bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, rồi cũng xem thủy thổ, cây cối ở trước và sau nhà để suy đoán cát hung Người Nhật trước khi xây dựng nhà mới cũng mời người về xem phong thủy, làm lễ “Địa trấn” trước khi động thổ, sau đó rước thần chủ trừ tà, đọc văn tế rồi chôn xuống bốn góc hình nhân sắt, dao, kiếm… để yểm trừ hung Khi nhà mới sắp sửa xong phải làm lễ “dựng xà”, dựng quạt trên xà nhà để mời thần giáng xuống, lại dựng cả cung tên để bắn ác quỷ

Người Nhật rất coi trọng ngày lành tháng tốt Rất nhiều quyển lịch Nhật từ ngày thứ hai cho đến thứ bẩy, chủ nhật, thường có in thêm vào tờ lịch hàng ngày chữ dự báo lành dữ hoặc ở phía dưới hoặc ở bên cạnh như: Đại an, Hữu dẫn, Tiên thắng, Xích khẩu… Người Nhật rất kiêng kỵ “Quỷ môn” (cửa quỷ) Phương Đông Bắc là quỷ môn có âm khí Khi làm nhà để trống một góc Đông Bắc trên chỗ trống khắc hình con vượn để trừ tà

Mianma: người dân tộc San không chấp nhận dùng cây đổ trôi trong sông để lợp nhà ở, cũng không lấy những gì ở phòng có người chết lợp lên nhà Khi chọn đất làm nhà, lấy thóc đổ thành một đống, ngày hôm sau đếm lại, số chẵn là tốt, số lẻ

là không tốt

2.2.2 Thuật phong thủy ở Trung Quốc

Thuật phong thủy ở Trung quốc bắt đầu rất sớm từ thời Tiên Tần (tức trước khi hoàng đế Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, tức là chỉ thời Xuân Thu Chiến Quốc: từ năm 221 Trước Công Nguyên trở về trước) kéo dài cho tới ngày nay

Đối với nơi ở, người Trung Quốc xưa đã yêu cầu: về địa thế phải chọn bờ dốc bậc thang, địa hình phải chọn ở ven sông, chất đất phải khô ráo, nền đất phải rắn chắc, nguồn nước dồi dào, chất nước phải trong sạch, giao thông phải thuận tiện, bốn bề phải có cây rừng, phong cảnh u nhã

Thời Thương, Chu các môn địa hình và thủy văn đã được phân biệt chính xác, đất liền thì được chia thành núi, đồi, gò, đống, mô, bãi…; về lòng sông thì có

Trang 33

bờ, bãi bồi, đảo, mép nước, bến…; về vùng nước thì có các loại hình khe, suối, sông nhỏ, ao, đầm, sông lớn…

Thời Tần đã có quan niệm về mạch đất, “vương khí” Các công trình “thổ mộc” khổng lồ được xây dựng Có dương trạch là cung A Phòng chiếm đất gần 300 dặm, ly cung biệt quán rải khắp thung lũng núi, lấy Nam Sơn làm cửa cung, lấy Phàn Xuyên làm ao nước, điện trước cung A Phòng có thể ngồi gần một vạn người Lại có âm trạch là lăng mộ Thủy Hoàng, huy động hơn 70 vạn dân phu đào rỗng cả núi Ly Sơn, đào xuyên cả đến ba tầng đất Tức Nhưỡng

Vua chúa, quan lại các thời sau đó cũng chọn đất, chọn hướng để xây cung điện, lăng mộ Như Đường Thái tôn Lý Thế Dân có Chiêu lăng ở núi Cửu Nghi so với mặt biển cao1888m, vô cùng hùng vĩ Chiêu lăng dựa lưng vào núi Cửu Nghi, trước có Hiến điện, sau có đàn tế bốn góc lăng núi đều có cổng: Nam Chu Tước, Bắc Huyền Vũ, Đông Thanh Long, Tây Bạch Hổ

Thuật phong thủy thời Nam Bắc triều (từ năm 420 đến năm 589 sau Công nguyên) và đời nhà Thanh là hưng thịnh hơn cả Thời Nam Bắc triều chọn Kiến Khang (Nam Kinh) làm quốc đô vì nơi đây có núi Thanh Lương như một con hổ ngồi xổm, phía Đông có núi Chung Sơn giống con rồng nằm cuộn khúc Nơi mà Gia Cát Lượng từng than rằng: “Chung Sơn rồng nằm, Thạch Đầu hổ ngồi, đây là nhà của bậc đế vương” Thời kỳ này xuất hiện nhiều thầy tướng số, phong thủy trong dân gian Người dân tin phong thủy, vua chúa lại càng tin phong thủy hơn Tống Minh Đế là một ông vua kiêng kỵ rất cẩn thận Khi trăm quan bàn việc nếu ai thốt ra các từ “họa”, “bại”, “hung”, “táng”…bất kể quan lớn đến đâu cũng bị tội chém Linh sàng Thái hậu từ Đông cung đi ra, Minh đế gặp phải cho là chẳng lành, liền bãi chức cả mười mấy viên quan Vua Vũ Đế nhà Nam Tề cũng tin phong thủy Thời đó, có người nhìn khí bảo: “Tân Lâm, Lâu Hồ, Thanh Khê đều có khí thiên tử,

có thể xây lầu gác, cung điện, vườn ngự ở đó” Vũ đế nghe theo mà làm

Qua bao nhiêu năm chìm nổi, đến nay thuật phong thủy lại thịnh hành trở lại

ở Trung Quốc Ở Bắc Kinh, cổng nhà hầu hết đều xây tại góc trái mặt chính ở trước sân gọi là “cửa Thanh Long”, vì theo phong thủy kết cấu “Khảm trạch, Tốn môn” là

Trang 34

may mắn nhất Nhà cửa nông thôn đa số chầu về Nam, Đông hoặc Đông Nam Không chỉ có người dân tin vào phong thủy mà nhiều cơ quan chính quyền tin vào phong thủy Ở Quảng Đông, tại Cục thuế vụ huyện Yết Dương có mời thầy phong thủy về xem địa lý, sau đó cục lấp ao phun nước, bít cổng lớn nhà xe, làm lại lầu cơ quan làm việc để hợp phong thủy

2.2.3 Thuật phong thủy tại Việt Nam

Theo các nhà nghiên cứu, thuật phong thủy đã được truyền vào nước ta và phát triển vào thế kỷ thứ 17 Khoa địa lý Việt do danh sư Tả Ao và Hòa Chính truyền đạt qua nhiều đời

Tả Ao là người thứ nhất học được khoa địa lý chính tông và là nhà địa lý giỏi nhất Việt Nam xưa kia Ông tên là Nguyễn Đức Huyên, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Nhà nghèo, sinh vào thời Lê-Trịnh, mồ côi cha từ nhỏ,

mẹ lòa, anh ruột cũng nghèo Ông là người có hiếu đã học làm thuốc chữa cho mẹ khỏi lòa và chữa cho một thầy địa lý khỏi đau mắt gần mù, rồi được thầy truyền cho khoa địa lý chính tông Tương truyền, ông không truyền nghề địa lý này cho ai nhưng ông có làm hai văn bản dạy địa lý được các đời sau in thành sách Một là tập Địa đạo diễn ca có 120 câu văn vần, hai là tập Dã đàm Tả Ao bằng văn xuôi Các thầy địa lý ở nước ta cho đây là hai tập sách rất tốt Nó xuất phát từ môn địa lý chính tông, đi từ căn bản chú trọng tìm cho thấy Long Châu huyệt đích, sau đến phần chi tiết nói thêm những điều phụ vào phần văn bản Người nước ta thời xưa rất thích hai tập sách này vì một lẽ, dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp thu và dễ thực hành hơn là những sách du nhập từ Trung Hoa sang, rất rắc rối, mông lung, khó hiểu

Hòa Chính là một thầy địa lý được Trịnh Sâm cho sang Trung Quốc học, thành tài Lúc về, ông có viết sách, chưa được in nên nay chỉ có những bản thảo sao chép lại, không chắc có đúng nguyên văn của ông không Sau khi Trịnh Sâm muốn cướp ngôi nhà Lê sai ông đặt hướng và xây lại thành Cổ Loa để thành một đế đô, ông không làm, bị chúa Trịnh đổ chì nóng, mù cả hai mắt và bị chết

Trang 35

* Phong thủy trong kiến trúc kinh thành Huế

Theo lẽ tự nhiên, kiến trúc kinh thành phải là một mẫu mực theo thuật phong thủy bởi lẽ việc lựa chọn địa điểm và xây dựng thành ấp của vua chúa là hết sức quan trọng, sao cho đó phải là nơi hội tụ của long mạch Chính vì vậy tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh bao la đất rộng và núi cao đẹp, minh đường lớn, và sông uốn khúc rộng Cụ thể tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân nằm giữa vùng đồng bằng Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ trong thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng vương quyền Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Kinh Dịch - Thiên tử phải quây mặt về hướng nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong nó được bố trí đối xứng qua trục Dũng đạo quay mặt hơi chếch về hướng Ðông - Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy Ðây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy

Mặt khác, phong thủy không chỉ xem hướng công trình mà nó cần ảnh hưởng sâu vào bố trí nội thất, vào các bộ phận và kết cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… ví dụ như các bộ phận của Ngọ Môn đều có những con số theo nguyên tắc của dịch học các con số 5, số 9, số 100 Năm lối đi vào Ngọ Môn tượng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành thổ, màu vàng Chính

bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử Một trăm cột là tổng của các con số Hà Ðồ (55) và lạc thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở tại sân Ðại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều được đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau, và trong nội thất cũng tương

tự Ðó là chưa kể đến các con số liên quan đến chiều cao các cửa mà khó có thể liệt kê hết ra ở đây

Trang 36

Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan Triều Nguyễn đã nhận xét, mà có thể nói, như một bản “Luận chứng kinh tế kỹ thuật”: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền nam miền bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chặn; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, Rồng cuốn Hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật

là thượng đô của nhà vua”

* Phong thủy trong kiến trúc Dinh Độc Lập

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng rất sùng bái khoa Phong thủy Ông đã từng thuê thầy địa lý đặt lại mộ cha Phan Rang để táng vào nơi được đại “cát” nhất Ông Thiệu muốn chức vị của mình trường tồn nên đã cho xây lại và yểm bùa dinh

“Tổng thống” tức là “Dinh Độc Lập”

Nguyên nơi này trước kia gọi là dinh Nô-rô-đôm Nó vốn là phủ toàn quyền

do thực dân Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ XIX Khi Pháp trao trả độc lập “giả hiệu” cho Bảo Đại thì dinh mới bắt đầu đổi tên thành Dinh Độc Lập

Thời kỳ ông Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống thì ngày 27/02/1962, hai phi công thuộc phái chống đối tới ném bom làm sập cánh trái của dinh, rồi ngày 01/11/1963, chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cho tới khi các ông Thiệu, ông Kỳ lên nắm chính quyền, dinh vẫn chưa được sửa xong Ông Thiệu đã đề ra chương trình xây dựng lại Dinh Độc Lập, các kiến trúc sư phải thiết kế sao cho dinh mới vững chãi để chống lại các cuộc tấn công của phe đảo chính

Theo sách vở cũ thì bộ phận chính của dinh mới được cấu trúc thành ba tầng lầu kéo ngang thành ba vệt dài và hệ thống cửa lớn ở chính giữa kéo thành một nét thẳng dọc từ trên xuống dưới, như một nét sổ kết hợp lại với nhau thành chữ vương (vua), chiếc kỳ đài trên nóc lầu lại tạo thành dấu chấm trên chữ vương và nó tạo thành chữ chủ nghĩa là chúa

Trên nóc mái bằng của dinh còn có một cái lầu nhỏ gọi là tứ phương vô sự lầu Cái lầu này là nơi yểm bùa làm cho dinh được bình yên vô sự, chống được mọi hiểm họa từ bốn phương ập tới Lầu nhỏ này xây theo hình vuông kiểu chữ khẩu,

Ngày đăng: 14/01/2016, 14:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Ngũ hành - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 2.1 Ngũ hành (Trang 16)
Hình 2.2 Phương vị - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 2.2 Phương vị (Trang 21)
Hình 2.3: Phương vị gốc của Cửu tinh trong Hậu thiên bát quáivà Tam nguyên long - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 2.3 Phương vị gốc của Cửu tinh trong Hậu thiên bát quáivà Tam nguyên long (Trang 25)
Hình 4.1 Khu di tích lịch sử đền Hùng chụp từ độ cao 500m - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.1 Khu di tích lịch sử đền Hùng chụp từ độ cao 500m (Trang 41)
Hình 4.2: Cổng chính Đền Hùng - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.2 Cổng chính Đền Hùng (Trang 58)
Hình 4.3: Đền Hạ - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.3 Đền Hạ (Trang 59)
Hình 4.4: Tinh bàn của đền Hạ sửa năm 2011  4.3.2.3. Nhận định vận khí của đền - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.4 Tinh bàn của đền Hạ sửa năm 2011 4.3.2.3. Nhận định vận khí của đền (Trang 61)
Hình 4.5: Đền Trung - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.5 Đền Trung (Trang 62)
Hình 4.6: Tinh bàn của đền Trung sửa năm 2009 - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.6 Tinh bàn của đền Trung sửa năm 2009 (Trang 63)
Hình 4.7: Đền Thượng - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.7 Đền Thượng (Trang 66)
Hình 4.8: Tinh bàn của đền Thượng sửa vào năm 2008 - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.8 Tinh bàn của đền Thượng sửa vào năm 2008 (Trang 67)
Hình 4.9: Đền Giếng - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.9 Đền Giếng (Trang 68)
Hình 4.10: Tinh bàn của đền Giếng sửa vào năm 2012 - Đánh giá các công trình di tích lịch sử đền hùng theo khía cạnh khoa học phong thủy
Hình 4.10 Tinh bàn của đền Giếng sửa vào năm 2012 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w