Bảo đảm an toàn hàng hải: Là các doanh nghiệp hoạt động theo môhình Công ty TNHH một thành viên trực thuộc Bộ GTVT, có chức năng,nhiệm vụ Quản lý vận hành hệ thống đèn biển; Quản lý vận
Trang 1-MỤC LỤC
- -PHẦN MỞ ĐẦU 4
Chương I 8
GIỚI THIỆU ĐỀ ÁN VÀ CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ 8
I.1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI THUỘC CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM: 8
I.2 GIỚI THIỆU ĐỀ ÁN: 14
I.3 CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ: 15
Chương II 18
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 18
II.1 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI: 18
II.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của công tác bảo đảm an toàn hàng hải: 18 II.1.2 Hiện trạng công tác tổ chức quản lý bảo đảm an toàn hàng hải: 20
II.1.3 Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo đảm an toàn hàng hải: 24
II.1.4 Tình hình tai nạn hàng hải và công tác tìm kiếm cứu nạn trong những năm qua: 31
II.1.5 Hiện trạng đầu tư cho Bảo đảm an toàn hàng hải trong thời gian qua: 32 II.2 KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA NGÀNH BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI: 33 II.3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN: 34
II.3.1 Cơ sở nghiên cứu: 34
II.3.2 Kết quả dự báo các lĩnh vực chính: 35
II.4 CÁC TIÊU CHUẨN, QUY ĐỊNH CỦA VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI: 38
II.5 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI CỦA THẾ GIỚI VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆT NAM: 41
II.5.1 Cơ sở hạ tầng Bảo đảm hàng hải một số nước trong khu vực và trên thế giới: 41 II.5.2 Xu hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật Bảo đảm an toàn hàng hải trên thế giới: 43 II.5.3 Yêu cầu đặt ra đối với bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam giai đoạn 2020, định hướng đến 2030: 43
II.6 KẾT LUẬN VỀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN: 45
Chương III 48
Trang 2-NỘI DUNG ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI
ĐẾN NĂM 2020 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 48
III.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển: 48
III.1.1 Vai trò vị trí: 48
III.1.2 Mục tiêu phát triển: 48
III.2 Hệ thống đèn biển, đăng tiêu độc lập, luồng hàng hải và báo hiệu hàng hải trên luồng: 49
III.2.1 Đèn biển và đăng tiêu độc lập: 49
III.2.2 Hệ thống luồng hàng hải và báo hiệu hàng hải trên luồng: 52
III.3 Hệ thống báo hiệu hàng hải vô tuyến và các công cụ hỗ trợ hàng hải: 56
III.3.1 Báo hiệu hàng hải vô tuyến: 56
III.3.2 Hệ thống định vị DGPS (Differential GPS): 61
III.3.3 Hệ thống dịch vụ giao thông hàng hải VTS (Vessel Traffic Services): 63 III.3.4 Bình đồ luồng hàng hải điện tử ENC: 64
III.4 Hệ thống giám sát và điều khiển từ xa: 66
III.4.1 Chức năng của hệ thống: 66
III.4.2 Dự kiến đầu tư: 67
III.5 Duy trì chuẩn tắc luồng hàng hải: 67
III.5.1 Khái niệm về chuẩn tắc luồng: 67
III.5.2 Giải pháp duy trì chuẩn tắc luồng: 67
III.6 Xây dựng các trạm quan trắc và cung cấp thông tin thủy hải văn tự động: 70
III.7 Công tác khảo sát thông báo hàng hải: 71
III.7.1 Công tác khảo sát thủy đạc: 71
III.7.2 Hệ thống thông tin công bố thông báo hàng hải: 71
III.8 Phát triển xây dựng cơ sở sản xuất phụ trợ: 72
III.8.1 Yêu cầu đối với các cơ sở sản xuất phụ trợ: 72
III.8.2 Phương án phát triển cơ sở sản xuất phụ trợ: 72
III.9 Công trình điều hành sản xuất và công trình phục vụ khác: 72
III.9.1 Nâng cấp các trụ sở điều hành: 72
III.9.2 Xây dựng mới trụ sở điều hành: 73
III.9.3 Xây dựng mới công trình phục vụ khác: 73
III.10 Đầu tư bổ sung phương tiện thiết bị phục vụ: 74
III.11 Quỹ đất để cho các công trình xây dựng mới 74
III.12 HỘI NHẬP QUỐC TẾ: 75
III.12.1 Các yêu cầu cơ bản của công ước quốc tế: 75
III.12.2 Hiện trạng hội nhập quốc tế: 75
III.12.3 Hội nhập quốc tế: 76
Trang 3-III.13 TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC: 76
III.13.1 Đánh giá hiện trạng nguồn nhân lực: 76
III.13.2 Dự kiến nhu cầu sử dụng lao động Bảo đảm an toàn hàng hải: 77
III.13.3 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực: 78
III.13.4 Tuyển dụng nguồn nhân lực: 78
III.13.5 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực: 79
III.13.6 Tổ chức thực hiện: 80
III.14 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO ĐẢM HÀNG HẢI: 80
III.14.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành: 80
III.14.2 Hoàn thiện các quy trình quy phạm về công tác bảo đảm hàng hải: 82 III.15 CƠ CHẾ QUẢN LÝ BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI: 83
III.15.1 Hiện trạng quản lý bảo đảm an toàn hàng hải: 83
III.15.2 Phát triển cơ chế quản lý: 83
III.16 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2030: 85
III.17 TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA ĐỀ ÁN: 86
Chương IV 87
DỰ KIẾN KINH PHÍ THỰC HIỆN VÀ DANH MỤC ĐẦU TƯ 87
IV.1 ƯỚC TÍNH KINH PHÍ ĐẦU TƯ VÀ KINH PHÍ VẬN HÀNH ĐỀ ÁN: 87
IV.1.1 Khối lượng để tính chi phí: 87
IV.1.2 Đơn giá áp dụng: 87
IV.1.3 Ước tính giá trị kinh phí đầu tư cho toàn bộ đề án: 87
IV.1.4 Phân kỳ đầu tư: 87
IV.1.5 Nguồn vốn thực hiện: 88
IV.2 DANH MỤC DỰ ÁN ĐẦU TƯ: 89
IV.3 HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN: 90
Chương V 91
GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN DỰ ÁN 91
V.1 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN: 91
V.2 TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 92
V.2.1 Tổ chức thực hiện: 92
V.2.2 Thời gian thực hiện đề án: Từ năm 2010 đến năm 2020 94
V.3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
Trang 4-ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI VIỆT NAM
ĐẾN NĂM 2020 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đấtliền; có bờ biển dài 3.260 km Từ bao đời nay, vùng biển, ven biển và hảiđảo, đất nước đã gắn bó chặt chẽ với mọi hoạt động sản xuất và đời sống củanhân dân
Trong những năm 90 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ta đã cómột số nghị quyết, chính sách về biển, các lĩnh vực liên quan đến biển Có ýnghĩa quan trọng nhất đối với các hoạt động kinh tế biển phải kể đến Nghịquyết 03-NQ/TW ngày 6/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ pháttriển kinh tế biển trong những năm trước mắt, trong đó khẳng định rằng, phảiđẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủquyền và lợi ích quốc gia Song song với nhiệm vụ đó là bảo vệ tài nguyên
và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về biển vàonăm 2020
Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số: 20-CT/TW vềviệc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Từ những quan điểm cơ bản của Nghị quyết này, cùng với việc tiếp tụcnhấn mạnh chủ trương lớn xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh vềbiển, phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết vớiyêu cầu bảo vệ đất nước, có thể thấy rõ hơn chủ trương rất quan trọng là: cầnđặt kinh tế biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác vớicác vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
Lợi ích kinh tế biển không chỉ xuất phát từ một địa phương, mộtngành mà cần được liên kết một cách khoa học sự phát triển của các ngànhtrên toàn vùng, trên từng địa bàn cụ thể thành một chương trình phát triển
Trang 5Trong nhiệm vụ chung thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 và mục tiêu phát triển kinh tế biển, ngành Hàng hải được xem là mộtngành kinh tế đặc thù, có vai trò và tiềm năng rất lớn, mang tính quốc tế hóacao nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay Trong những trọngtâm của ngành hang hải, Công tác bảo đảm an toàn hang hải đóng vai trò hếtsức quan trọng Công tác bảo đảm an toàn hàng hải có nhiệm vụ cung cấphướng dẫn an toàn trên vùng biển và luồng hàng hải tạo điều kiện an toàncho hoạt động của các ngành kinh tế biển phát triển đặc biệt là ngành hànghải
Việc thực hiện công tác Bảo đảm an toàn hàng hải trên vùng biển ViệtNam là nhiệm vụ rất quan trọng cần phải có sự tổ chức, phối kết hợp chặtchẽ của nhiều Bộ, Ngành, địa phương: Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Quốcphòng, Bộ Thông tin Truyền thông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển NôngThôn,Bộ Công nghiệp, tỉnh, thành phố có biển, UBQG Tìm kiếm Cứu nạn…Trong đó, Bộ Giao thông Vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam đóng vai trò quantrọng trong công tác bảo đảm an toàn hàng hải
Bộ GTVT thông qua cơ quan quản lý chuyên ngành là Cục Hàng hảiViệt Nam có trách nhiệm bảo đảm an toàn hàng hải trên vùng biển tráchnhiệm, trên luồng tàu ra vào các cảng biển, thiết lập môi trường an toàn hàng
Trang 6-hải trên vùng biển Việt Nam, đảm bảo kiểm soát thông tin liên lạc thông suốtcác phương tiện hoạt động trên biển, tổ chức lưc lượng để tìm kiếm cứu nạntrên vùng biển Việt Nam
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực Hàng hải, BộGTVT đã thành lập các cơ quan, đơn vị: Cảng vụ Hàng hải, Trung tâm phốihợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải, giao cho Cục Hàng hải Việt Nam quản lý
và các Công ty Bảo đảm an toàn hànghải ,Thông tin Điện tử Hằng hải, Hoatiêu hàng hải hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên
Cảng vụ Hàng hải là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước
về hàng hải tại cảng biển và khu vực hàng hải trách nhiệm
Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải: Trung tâm phối hợp tìm kiếm và cứunạn Hàng hải Việt nam là tổ chức chuyên trách về Phối hợp TKCN Hàng hải trựcthuộc Cục Hàng hải Việt Nam, chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Uỷ ban quốc giaTKCN.v à c ủa c ục H ăng h ải Vi ệt Nam
Công ty Thông tin điện tử hàng hải (Vishipel): hoạt động trong lĩnhvực viễn thông hàng hải, đảm bảo kiểm soát thông tin liên lạc thông suốt chocác phương tiện hoạt động trên biển
Hoa tiêu hàng hải là các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình Công
ty TNHH một thành viên, có chức năng, nhiệm vụ: cung cấp và đáp ứng đầy
đủ nhu cầu cung cấp dịch vụ hoa tiêu hàng hải trong vùng hoa tiêu bắt buộchoặc tuyến dẫn tàu được giao
Bảo đảm an toàn hàng hải: Là các doanh nghiệp hoạt động theo môhình Công ty TNHH một thành viên trực thuộc Bộ GTVT, có chức năng,nhiệm vụ Quản lý vận hành hệ thống đèn biển; Quản lý vận hành hệ thốngbáo hiệu trên luồng tàu biển; Khảo sát, thông báo hàng hải và thực hiệnthanh thải chướng ngại vật trên các luồng hàng hải; Nạo vét duy tu luồng tàuvào các cảng biển
Các đơn vị có liên quan đến công tác bảo đảm an toàn hàng hải nêutrên có mối quan hệ phối hợp chặt chẽ dưới sự chỉ đạo của Cục Hàng hảiViệt Nam để đáp ứng yêu cầu nhiệm chung của kinh tế biển trong đó có lĩnhvực bảo đảm an toàn hàng hải
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của công tác bảo đảm an toànhàng hải trong việc thực hiện chiến lược biển và hội nhập quốc tế nhằm đưa
Trang 7-Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam ngang bằng với các nước tiên tiến trongkhu vực và trên thế giới Bộ Giao thông Vận tải đã có Quyết định số:658/QĐ-BGTVT ngày 19/3/2009 cho phép lập đề án phát triển bảo đảm antoàn hàng hải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Đây là một Đề ánmang tính chiến lược, lâu dài với các nội dung chính: Xác định nhiệm vụ củaBảo đảm an toàn hàng hải trong quá trình thực hiện chiến lược biển ViệtNam và trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; Đánh giá hiện trạng hệthống đảm bảo an toàn hàng hải như hiện trạng công tác tổ chức, quản lý, cơ
sở vật chất, nguồn nhân lực phục vụ công tác đảm bảo an toàn hàng hải đểđánh giá khả năng đáp ứng của bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam tronghiện tại cũng như tương lai; Xem xét các tiêu chuẩn, quy định của Việt Nam
và quốc tế về hệ thống đảm bảo an toàn hàng hải và xu hướng phát triển hạtầng kĩ thuật đảm bảo an toàn hàng hải của thế giới và khu vực làm cơ sởhoàn thiện các tiêu chuẩn quy định của Việt Nam phù hợp với các thông lệquốc tế ; Xem xét và đề xuất các ý kiến xây dựng hoàn thiện hệ thống vănbản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải; đầu tưphát triển hệ thống báo hiệu hàng hải; quản lý báo hiệu hàng hải; đầu tư pháttriển công tác khảo sát, thông báo hàng hải và hệ thống thông tin hỗ trợ hànghải; đầu tư phát triển, duy trì chuẩn tắc hệ thống luồng hàng hải; đầu tư pháttriển công tác chế tạo, thiết bị báo hiệu hàng hải; đầu tư xây dựng các cơ sởsản xuất phụ trợ; kết hợp bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyềncủa tổ quốc và tìm kiếm cứu nạn; chương trình, kế hoạch hội nhập quan hệquốc tế trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hải; đào tạo và phát triển nguồnnhân lực cho công tác bảo đảm an toàn hàng hải
Trang 8-GIỚI THIỆU ĐỀ ÁN VÀ CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ
Để công tác bảo đảm an toàn hàng hải phục vụ tốt sự nghiệp phát triểncủa các ngành kinh tế biển góp phần thực hiện Chiến lược biển Việt Nam vàhội nhập kinh tế quốc tế, Bộ Giao thông Vận tải đã cho phép lập đề án pháttriển bảo đảm an toàn hàng hải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.Mục tiêu chính của Đề án bao gồm:
- Hoàn thiện hệ thống báo hiệu truyền thống, Hiện đại hóa hệ thốngbáo hiệu hàng hải theo hướng tự động hóa; nâng cao năng lực quản lý vậnhành hệ thống báo hiệu hàng hải, sản xuất thiết bị báo hiệu hàng hải;
- Đầu tư đồng bộ các phương tiện phục vụ như phương tiện thủy, bộ,máy móc, thiết bị…;
- Nâng cao năng lực công tác khảo sát, xây dựng và sửa chữa, đóngmới phương tiện của bảo đảm an toàn hàng hải và phối hợp tìm kiếm cứunạn trên biển, bảo vệ môi trường biển
I.1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI THUỘC CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM:
Bảo đảm an toàn hàng hải là một bộ phận quan trọng của ngành kinh tếbiển với mục đích thiết lập và duy trì môi trường an toàn hành hải, tạo điềukiện cho phát triển thương mại, kinh tế biển và các mục tiêu nhân đạo, khẳngđịnh chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần thực hiệnquyền và nghĩa vụ của quốc gia có biển đối với các điều ước quốc tế mà nước
ta đã ký kết hoặc gia nhập Do đó, việc thực hiện công tác Bảo đảm an toànhàng hải trên vùng biển Việt Nam là nhiệm vụ rất quan trọng cần phải có sự tổchức, phối kết hợp chặt chẽ của nhiều Bộ, Ngành, địa phương Trong đó, BộGiao thông Vận tải, Cục Hàng hải Việt Nam đóng vai trò quan trọng
Bộ GTVT thông qua cơ quan quản lý chuyên ngành là Cục Hàng hảiViệt Nam có trách nhiệm bảo đảm an toàn hàng hải trên vùng biển tráchnhiệm, kiểm soát thông tin liên lạc thông suốt các phương tiện hoạt động trênbiển, thực hiện công tác tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển Việt Nam
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực Hàng hải, BộGTVT đã thành lập các cơ quan, đơn vị: Cảng vụ Hàng hải, Trung tâm phối
Trang 9-hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải, giao cho Cục Hàng hải Việt Nam quản lý vàcác Công ty Thông tin Điện tử Hàng hải, Bảo đảm an toàn hàng hải, Hoa tiêuhàng hải hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên
(1) Cảng vụ Hàng hải: Hiện nay có 24 Cảng vụ Hàng hải đóng tại các
tỉnh ven biển có cảng, đây là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước
về hàng hải tại cảng biển và khu vực quản lý Cảng vụ Hàng hải có nhiệm vụ,quyền hạn: Tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cảng biển trongkhu vực quản lý; Tổ chức thực hiện quy định về quản lý hoạt động hàng hảitại cảng biển và khu vực quản lý; kiểm tra, giám sát luồng cảng biển, hệ thốngbáo hiệu hàng hải; kiểm tra hoạt động hàng hải của tổ chức, cá nhân tại cảngbiển và khu vực quản lý; Cấp phép, giám sát tàu biển ra, vào và hoạt động tạicảng biển; Tổ chức tìm kiếm, cứu người gặp nạn trong vùng nước cảng biển
(2) Hoa tiêu hàng hải: Là các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình
Công ty TNHH một thành viên, hiện nay có 09 Công ty hoa tiêu gồm: Công
ty Hoa tiêu khu vực I (Thành phố Hồ Chí Minh); Công ty Hoa tiêu khu vực II(Thành phố Hải Phòng); Công ty Hoa tiêu khu vực III (Quảng Ninh); Công tyHoa tiêu khu vực IV (Thành phố Đà Nẵng); Công ty Hoa tiêu khu vực V(Thành phố Cần Thơ); Công ty Hoa tiêu khu vực VI (Nghệ An); Công ty Hoatiêu khu vực VII (Thành phố Quy Nhơn); Công ty Hoa tiêu khu vực VIII( Thành phố Nha Trang); Công ty Hoa tiêu khu vực IX (Thành phố VũngTàu,) và 03 Công ty hoa tiêu thuộc các doanh nghiệp: Công ty Tân cảng SàiGòn, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, Sở GTVT Vũng Tàu Các công
ty hoa tiêu có chức năng, nhiệm vụ: Tổ chức cung cấp và đáp ứng đầy đủ nhucầu dịch vụ hoa tiêu hàng hải trong vùng hoa tiêu bắt buộc hoặc tuyến dẫn tàuđược giao, bảo đảm chất lượng dịch vụ, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải vàphòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật; Phối hợp với tổchức bảo đảm an toàn hàng hải, doanh nghiệp cảng, đại lý của chủ tàu và các
cơ quan, tổ chức liên quan tại khu vực để tổ chức cung cấp dịch vụ hoa tiêu
(3) Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải: Trung tâm phối hợp tìm
kiếm và cứu nạn Hàng hải Việt nam là một tổ chức chuyên trách về Phối hợpTKCN Hàng hải trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam, chịu sự chỉ đạo vềnghiệp vụ của Uỷ ban quốc gia TKCN Trung tâm phối hợp tìm kiếm và cứunạn Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ huy và điều hành cáclực lượng, đơn vị thuộc ngành Hàng hải Việt Nam phối hợp tìm kiếm cứu nạn
Trang 10-Đồng thời, tham gia, phối hợp với các lực lượng liên quan trong và ngoàingành để tiến hành tìm kiếm và cứu nạn trên biển dưới sự điều hành củauỷban quốc gia tìm kiếm cứu nạn
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ về lĩnh vực TKCN, Bộ GTVT đãthành lập 3 trung tâm phối hợp TKCN và trạm TKCN Trường Sa trực thuộcTrung tâm Phối hợp tìm kiếm - cứu nạn Hàng hải Việt Nam tại gồm:
- Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực I đặt tại Hải Phòngchịu trách nhiệm về các hoạt động tìm kiếm cứu nạn từ vùng biển Quảng Ninhđến ranh giới phía Nam vùng biển Hà Tĩnh Hiện nay, trung tâm được trang bị
01 tàu SAR 27m và 01 tàu SAR 41m, 05 ca nô cao tốc, thiết bị thông tin liênlạc và cơ sở hạ tầng đã đuợc đầu tư hoàn thành gồm hệ thống cầu cảng nhàđiều hành, sân bãi tập luyện…
- Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực II đặt tại Đà Nẵng chịutrách nhiệm về các hoạt động tìm kiếm cứu nạn từ ranh giới phía Nam vùngbiển Hà Tĩnh đến ranh giới phía Nam vùng biển Ninh Thuận Hiện nay, trungtâm được trang bị 02 tàu SAR 27m và 01 tàu SAR 41m, 03 ca nô cao tốc,thiết bị thông tin liên lạc và cơ sở hạ tầng đã đuợc đầu tư hoàn thành gồm hệthống cầu cảng nhà điều hành, sân bãi tập luyện…
- Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực III đặt tại Vũng Tàu,chịu trách nhiệm về các hoạt động tìm kiếm cứu nạn từ ranh giới phía Namvùng biển Ninh Thuận đến hết vùng biển tỉnh Kiên Giang Hiện nay, trungtâm được trang bị 01 tàu SAR 27m và 01 tàu SAR 41m, 03 ca nô cao tốc,thiết bị thông tin liên lạc và cơ sở hạ tầng đã đuợc đầu tư hoàn thành gồm hệthống cầu cảng nhà điều hành, sân bãi tập luyện…
- Trạm tìm kiếm cứu nạn Trường Sa có văn phòng đại diện đặt tạithành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hoà, có cơ sở hậu cần đặt tại đảo Trường Salớn, có chưc năng, tổ chức phối hợp với các lực lượng liên quan tiến hành cáchoạt động tìm kiếm cứu nạn người và phương tiện bị nạn tại vùng biển quầnđảo Trường Sa và khu vực lân cận
Với trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho công tác TKCN như hiệnnay chỉ đủ để bố trí tại các vùng biển nhạy cảm có nhiều nguy cơ xẩy ra tainạn trong khi đó diện tích vùng biển trách nhiệm TKCN rất lớn, các tàuTKCN hiện có chưa đủ để kiểm soát toàn bộ vùng biển trách nhiệm nhất làvùng biển xa bờ từ 150 hải lý trở lên Phương án phối hợp TKCN chủ yêu dựa
Trang 11-trên các lực lượng hỗ trợ của nganh hàng hải lực lượng phối hợp của các địaphương, bộ đội biên phòng, hải quân …nên chưa tạo được thế chủ động trongcác hoạt động tìm kiếm cứu nạn
Để nâng cao năng lực và hiệu quả công tác TKCN cần triển khai nhưngnội dung sau:
- Thành lập các đội cứu nạn trực thuộc các trung tâm TKCN khu vực:
để chuyên nghiệp hoá công tác TKCN và quản lý các phương tiện cứu nạnchuyên dụng thường trưc tại các khu vực nhậy cảm để sẵn sàng làm nhiệmvụ;
- Đầu tư bổ sung tàu TKCN trong đó có loại tàu dài trên 41m để mởrộng tầm hoạt động TKCN ra toàn bộ vùng lãnh hải Việt nam và những vùngbiển xa hơn 150 hải lý
- Đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu và xử lý thông tin TKCN nhằmlưu trữ và cung cấp các thông tin về khí tượng thuỷ văn các dữ liệu về tàuthuyền hoạt động trên biển và các dữ liệu khác liên quan đến hoạt độngTKCN, cung cấp các kênh thông tin, nối mạng thông tin quốc tế…
- Thành lâp các trạm TKCN (thuộc các trung tâm TKCN khu vực):thành lập thêm 08 tạm TKCN ở các đảo xa bờ như Cô tô (Quảng ninh ), Cồn
cỏ (Quảng trị), Lý sơn (Quảng ngãi), Phú Quí (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa– Vũng Tàu), Thổ Chu, Phú Quốc (Kiên giang);
- Thành lập trường đào tạo nghiệp vụ TKCN nhằm đào tạo huấn luyệnnghiêp vụ, cấp chứng chỉ TKCN nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho lĩnh vựcTKCN
- Thành lập trung tâm phòng chống thảm hoạ hàng hải, có nhiệm vụhướng dẫn điều hành chỉ huy các hoạt động phòng ngừa ứng phó sự cố tràndầu, phối hợp với các nghành liên quan trong việc ứng phó sự cố tràn dầu,phòng chống hoả hoạn trên biển phòng chống ô nhiễm môi trường biển
(4) Thông tin điện tử hàng hải: Công ty Thông tin điện tử hàng hải
(Vishipel) hoạt động trong lĩnh vực viễn thông hàng hải, trực là doanh nghiêphoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên Công ty Thông tinĐiện tử Hàng hải Việt nam có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Quản lý, khai thác hệ thống 32 Đài Thông tin Duyên hải Việt Nam(gồm 02 đài loại I, 03 đài loại II, 8 đài loại III, 16 đài loại IV, 01 đài Thông tin
Vệ tinh Mặt đất Inmarsat tại Hải Phòng, 01 đài Thông tin Vệ tinh Mặt đất
Trang 12-Cospas- Sarsat (LUT/MCC) tại Hải Phòng và 01 Trung tâm xử lý thông tinHàng hải tại Hà Nội) nhằm đảm bảo, duy trì thông tin liên lạc thông suốt đốivới các phương tiện hoạt động trên biển, thông tin cấp cứu, an toàn, tìm kiếmcứu nạn hàng hải, trực canh 24/24;
- Cung cấp các dịch vụ thông tin vô tuyến điện, thông tin vệ tinhInmarsat giữa tàu với bờ và giữa các thiết bị thông tin với nhau
- Cung cấp các dịch vụ thông tin vệ tinh Inmarsat giữa người sử dụngthiết bị đầu cuối Inmarsat với nhau và với các thuê bao thuộc các mạng viễnthông công cộng
- Đào tạo thông tin chuyên ngành hàng hải (đào tạo các chứng chỉ khaithác vô tuyến điện hàng hải như: GOC, ROC,…)
Với chức năng nhiệm vụ nêu trên, mục tiêu chính của mạng thông tinduyên hải là cung cấp dịch vụ phục vụ cho mục đích cấp cứu, an toàn và tìmkiếm cứu nạn hàng hải (theo các tiêu chuẩn của Hệ thống Thông tin Cấp cứu và
An toàn Hàng hải Toàn cầu GMDSS – Global Maritime Distress and SafetySystem), phục vụ thông tin liên lạc cho hoạt động hàng hải và các hoạt độngkhác trên biển, thông tin phục vụ khai thác, điều hành, kiểm soát và quản lý cácphương tiện hoạt động trên biển, phối hợp với các đơn vị chức năng khác thựchiện công tác tìm kiếm cứu nạn hàng hải, hàng không trên biển và góp phầntrong việc cảnh báo và giữ gìn an ninh quốc gia trên biển
Trong công tác phòng chống thiên tai, cứu nạn, VISHIPEL chịu tráchnhiệm đảm bảo thông tin liên lạc giữa các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ phòngchống lụt bão, các đơn vị phối hợp, tìm kiếm cứu nạn; phát các bản tin dự báothời tiết, cảnh báo khí tượng, thông báo bão và các thông tin tìm kiếm cứu nạn.Bên cạnh đó Hệ thống Đài thông tin Duyên hải Việt Nam còn phục vụ thông tinphòng chống ô nhiễm môi trường, phục vụ cho công tác an ninh, quốc phòngtrên biển Đồng thời, cung cấp dịch vụ thông tin liên lạc phục vụ cho các hoạtđộng trên biển, bao gồm: thông tin quản lý, điều hành và khai thác phương tiệnvận tải; thông tin phục vụ cho hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi, đánh bắthải sản,… góp phần phục vụ phát triển đất nước
Hiện nay các đài Thông tin Duyên hải Việt Nam đã cơ bản đầy đủ về hệthống thông tin, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ nhà nước giao về đảm bảo thôngtin liên lạc thông suốt giữa tàu với bờ, phục vụ an toàn cấp cứu hàng hải vàphòng chống giảm nhẹ thiên tai lụt bão cũng như thông tin tìm kiếm cứu nạn
Tuy nhiên, để nâng cao khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về trangthiết bị theo quy định của các Công ước quốc tế và các tổ chức quốc tế có liên
Trang 13-quan trong lĩnh vực hàng hải, nâng cao nghiệp vụ TKCN hiệu quả và của cáchoạt động tìm kiếm cứu nạn hàng hải trên các vùng biển quốc gia và quốc tế,tăng cường an ninh quốc gia trên biển, bảo vệ môi trường biển việc thiết lập các
hệ thống thông tin mới, hiện đại cần được tiếp tục đầu tư, tận dụng tối đa cơ sở
hạ tầng của hệ thống sẵn có
Cùng với nhu cầu thông tin ngày càng cao của khách hàng kết hợp với
xu thế phát triển công nghệ trong lĩnh vực viễn thông hiện nay, Hệ thống ĐàiThông tin Duyên hải Việt Nam cần được tiếp tục nâng cấp, phát triển với cácmục tiêu: nâng cao chất lượng dịch vụ, vùng phủ sóng, trên cơ sở củng cố các
hệ thống thông tin hiện có và phát triển các hệ thống băng rộng công nghệ mới,hình thành một mạng thông tin thống nhất, hiện đại với đa dạng dịch vụ
Với mục tiêu nâng cấp và đầu tư mới hệ thống thông tin chuyên ngànhphục vụ phát triển kinh tế biển và mạng lưới thông tin duyên hải đáp ứng nhucầu thông tin đa dạng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, an ninh quốcphòng, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, Cục Hàng hải Việt Nam đã cóvăn bản số 2793/CHHVN-KHTC ngày 28/12/2009 và 1972/CHHVN-KHTCtháng 9/2009 trình Bộ GTVT xin phép chuẩn bị đầu tư lập Đề án quy hoạchmạng thông tin duyên hải và viễn thông hàng hải đến năm 2015, định hướngđến năm 2020 Đồng thời Công ty Thông tin điện tử Hàng hải được BộGTVT, Cục hàng hải Việt Nam giao àm đại diện chủ đầu tư lập Dự án thiếtlập hệ thống nhận dạng và truy theo tầm xa LRIT
(5) Bảo đảm an toàn hàng hải: Là các doanh nghiệp hoạt động theo
mô hình Công ty TNHH một thành viên do Bộ GTVT sở hữu vốn, có chứcnăng, nhiệm vụ Quản lý vận hành hệ thống đèn biển; Quản lý vận hành hệthống báo hiệu trên luồng tàu biển; Khảo sát, thông báo hàng hải và thực hiệnthanh thải chướng ngại vật trên các luồng hàng hải; Nạo vét duy tu luồng tàuvào các cảng biển nhằm tạo ra môi trường an toàn hàng hải trên vùng nướccảng biển, luồng tàu biển và vùng lãnh hải của Việt Nam
Trang 14-SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác bảo đảm an toàn hànhhải, cần có một nghiên cứu tổng thể mô hình bảo đảm an toàn hàng hải trong
đó có sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị liên quan trong ngành hàng hải vàcác Bộ, Ngành, Địa phương liên quan, đây là một đề án lớn, liên quan đếnnhiều lĩnh vực, cần phải nghiên cứu trong thời gian dài, trong khi lĩnh vực bảođảm an toàn hàng hải phải nhanh chóng đầu tư hiện đại hoá cơ sở hạ tầng,trang thiết bị để đáp ứng yêu cầu của IMO, khuyến cáo của IALA và đủ tầmquan hệ đối ngoại Nên trong đề án này, chỉ giới hạn nghiên cứu lĩnh vực bảođảm an toàn hành hải gồm: Hệ thống báo hiệu hàng hải, luồng hàng hải, cơ sở
hạ tầng, thiết bị bảo đảm an toàn hàng hải
I.2 GIỚI THIỆU ĐỀ ÁN:
1 Tên đề án: Phát triển bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam đến năm
2020 định hướng đến năm 2030
2 Chủ đầu tư: Cục hàng hải Việt Nam
Trang 155 Quy mô đề án: Đề án phát triển bảo đảm an toàn hàng hải đến năm
2020, định hướng đến năm 2030 có quy mô nâng cấp phát triển đồng bộ hệthống báo hiệu hàng hải, cơ sở sản xuất phụ trợ, hệ thống thiết bị phục vụ,đào tạo nâng cao năng lực, trình độ quản lý, vận hành hệ thống báo hiệuhàng hải để tạo ra và cung cấp sản phẩm công ích bảo đảm an toàn hàng hảicho tàu biển Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài và tàu, thuyền đánh cá củangư dân hoạt động trên vùng biển Việt Nam ra vào cảng biển, các cơ sở thuỷsản
I.3 CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ:
- Luật Xây dựng số: 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tưxây dựng cơ bản số: 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009;
- Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
- Luật Hàng hải số 40/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
- Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ về “Banhành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về chiến lược biển Việt Namđến năm 2020”;
- Các hiệp định, công ước quốc tế Việt Nam tham gia kí kết trong quátrình hội nhập nền kinh tế Việt Nam với thế giới; Các điều luật hàng hải sửađổi, luật cạnh tranh, luật đầu tư,
- Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 của Chính phủ về quản
lý cảng biển và luồng hàng hải;
- Quyết định số: 206/2004/QĐ-TTg ngày 10/12/2004 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt chiến lược phát triển Giao thông vận tải đến năm 2020
- Quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 15/12/2009 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030
Trang 16- Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 11/11/2002 của Thủ tướng Chínhphủ phê quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp tàu thuỷ đến năm 2010 vàđịnh hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số 288/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt điều chỉnh khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đếnnăm 2010 tầm nhìn đến năm 2020
- Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15/3/2010 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt hệ thống cảng cá bến cá đến năm 2010 và định hướng đến năm2020
- Quyết định số 1041/QĐ-TTg ngày 22/7/2009 của Thủ tướng Chínhphủ về việc Phê duyệt Đề án đảm bảo mạng lưới thông tin biển, đảo;
- Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướngChính phủ về phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng,chống thiên tai trên biển;
- Thông tư số 02/2011/TT-BGTVT ngày 14/02/2011 của Bộ Giaothông vận tải về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong lĩnh vực dịch
vụ công ích bảo đảm an toàn hàng hải
- Thông tư số 17/2010/TT-BGTVT ngày 05/7/2010 của Bộ giao thôngvận tải về việc Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu hàng hải
- Quyết định số 2269/QĐ-BGTVT ngày 04/7/2005 của Bộ trưởng BộGTVT về việc chia Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam thành Công ty Bảođảm an toàn hàng hải I và công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II
Trang 17Quyết định số 658/QĐ BGTVT ngày 19/03/2009 của Bộ GTVT chophép lập đề án phát triển Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam đến năm 2020định hướng đến năm 2030
- Quyết định số 310/QĐ-CHHVN ngày 13/4/2009 của Cục HHVN giaonhiệm vụ đại diện Chủ đầu tư đề án phát triển bảo đảm an toàn hàng hải đếnnăm 2020 và định hướng đến năm 2030;
- Tờ trình số 1171/CHHVN-KHKC ngày 12/6/2009 của Cục HHVN tờtrình xin phê duyệt đề cương dự toán chi phí, tư vấn khảo sát lập đề án pháttriển Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đếnnăm 2030
- Quyết định số 2068/QĐ-BGTVT ngày 16/7/2009 của Bộ GTVT phêduyệt đề cương dự toán khảo sát lập đề án phát triển bảo đảm an toàn hànghải Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 kèm báo cáo thẩmđịnh của Vụ Kế hoạch và Đầu tư Bộ GTVT;
- Văn bản số 250/TB-BGTVT ngày 10/6/2010 của Bộ GTVT về việcthông báo kết luận của Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường tại cuộc họp báo
có đầu kỳ Đề án Phát triển bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam đến năm
2020, định hướng đến năm 2030;
- Văn bản số 569/TB-BGTVT ngày 29/12/2010 của Bộ GTVT về việcthông báo kết luận của Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường tại cuộc họp báo
Đề án Phát triển bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam
- Quyết định số 1456/QĐ-BGTVT ngày 28/5/2010 của Bộ trưởng BộGTVT về việc chuyển Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải I thành Công tyTNHH một thành viên Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Bắc
- Quyết định số 1457/QĐ-BGTVT ngày 28/5/2010 của Bộ trưởng BộGTVT về việc chuyển Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II thành Công tyTNHH một thành viên Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Nam
- Thông tư số 119/2010/TT-BTC ngày 10/8/2010 của Bộ Tài chính vềviệc Hướng dẫn về thu, quản lý, sử dụng nguồn thu phí bảo đảm hàng hải và
cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công ích bảo đảm an toànhàng hải
Trang 18Quyết định số 1166/QĐ TTg ngày 14/7/2011 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt đề án phát triển bảo đảm an toàn hàng hải Việt Namđến năm 2020, định hướng đến năm 2030
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Việt Nam là một quốc gia có biển với chiều dài bờ biển trên 3.260km
và một vùng lãnh hải rộng lớn nằm gần kề các tuyến hành hải quốc tế quantrọng nối liền với các trung tâm kinh tế sôi động nhất hiện nay, đó là khu vựcChâu Á-Thái Bình Dương Với vị thế chiến lược và là cửa ngõ giao lưu quốc
tế vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chỉ đạo các ngành kinh tế biểntận dụng tối đa và phát huy mọi lợi thế sẵn có từ biển để phát triển toàn diệncác ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú và hiện đại tạo ra tốc độ pháttriển nhanh, bền vững, hiệu quả cao Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa X đã có Nghị quyết về chiến lược biển Việt Namđến năm 2020, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh vềbiển và làm giàu từ biển, đảm bảo vững chắc chủ quyền và quyền chủ quyềnquốc gia về biển, đảo; góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
I.4 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI: I.4.1 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của công tác bảo đảm an toàn hàng hải:
Bảo đảm an toàn hàng hải là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạtđộng của ngành hàng hải với mục đích thiết lập và duy trì môi trường antoàn hành hải, tạo điều kiện cho phát triển thương mại, kinh tế biển và cácmục tiêu nhân đạo, góp phần thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia cóbiển đối với các điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập, khẳngđịnh chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo
Trang 19-Sản phẩm chính của công tác bảo đảm an toàn hàng hải là cung cấpcác dịch vụ hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu hành hải an toàn và hiệu quả chủ yếucho các phương tiện vận tải đường biển ngoài ra còn có phương tiện thủy nộiđịa, phương tiện đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản, các tàu du lịch và một sốhoạt động hàng hải chuyên ngành khác như: tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ môitrường biển, khai thác dầu khí, an ninh quốc phòng
Bảo đảm an toàn hàng hải của Việt Nam được thành lập từ năm 1955với việc tiếp nhận quản lý và vận hành hai ngọn đèn biển Long Châu và HònDấu từ chế độ thực dân Pháp Trải qua 55 năm xây dựng và phát triển, đếnnay mô hình quản lý của bảo đảm an toàn hàng hải gồm có 02 công ty:
Công ty bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc có nhiệm vụ quản lý bảođảm an toàn hàng hải từ cây đèn Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) trở ra đến hết địaphận tỉnh Quảng Ninh bao gồm đất liền, bờ biển và hải đảo
Công ty bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam có nhiệm vụ quản lý bảođảm an toàn hàng hải từ phía nam cây đèn Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) trở vàođến hết địa phận tỉnh Kiên Giang bao gồm đất liền, bờ biển và hải đảo
Các Công ty bảo đảm an toàn hàng hải có nhiệm vụ:
- Quản lý vận hành hệ thống đèn biển;
- Quản lý vận hành hệ thống báo hiệu trên luồng tàu biển;
- Khảo sát, thông báo hàng hải và thực hiện thanh thải chướng ngạivật trên các luồng hàng hải;
- Nạo vét duy tu luồng tàu vào các cảng biển;
- Khảo sát thiết kế các công trình hàng hải;
- Xây dựng các công trình hàng hải, sửa chữa, xây dựng các côngtrình dân dụng và công nghiệp phục vụ kinh tế biển;
- Thiết kế chế tạo sản xuất lắp đặt mới các báo hiệu hàng hải;
- Sửa chữa các phương tiện thiết bị bảo đảm an toàn hàng hải và côngnghiệp;
- Điều tiết bảo đảm an toàn giao thông đối với các công trình thi côngtrên phạm vi thuộc khu vực hàng hải do đơn vị quản lý;
- Vận tải biển; Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại các cảng do công ty quảnlý;
- Đóng mới các phương tiện thuỷ;
Trang 20Kinh doanh dịch vụ khách sạn, du lịch;
- Tham gia phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển;
- Phối hợp với các ngành thực hiện công tác bảo đảm an toàn hàng hảibảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng;
- Thực hiện nhiệm vụ khác do Cục hàng hải Việt Nam giao
I.4.2 Hiện trạng công tác tổ chức quản lý bảo đảm an toàn hàng hải: I.4.2.1 Cơ cấu tổ chức Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc:
Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Bắc có trụ sở tại thành phốHải Phòng, được hình thành trên cơ sở bộ máy quản lý của Bảo đảm an toànhàng hải Việt Nam và các đơn vị kinh tế trực thuộc đóng trên địa bàn từ câyđèn Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) trở ra đến hết địa phận tỉnh Quảng Ninh Bộmáy tổ chức của Công ty ngoài các phòng ban chức năng tham mưu nhưPhòng Kỹ thuật Công trình Hàng hải, Phòng Kinh tế Kế hoạch, Phòng Tàichính Kế toán Công ty còn có các đơn vị trực thuộc:
- Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Đông Bắc Bộ trực tiếp quản lývận hành các đèn biển, hệ thống báo trên luồng hàng hải vào các cảng biển,quản lý các công trình chỉnh trị luồng tàu, phát hiện và phối hợp với Cảng vụHàng hải tổ chức thanh thải các chướng ngại vật mới phát sinh trên luồng tàuthuộc phạm vi trách nhiệm hàng hải được phân công từ vùng biển tỉnhQuảng Ninh đến hết vùng biển tỉnh Thái Bình
- Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Bắc Trung Bộ: Trực tiếp quản
lý vận hành các đèn biển, hệ thống báo hiệu trên luồng hàng hải vào cáccảng biển, quản lý các công trình chỉnh trị, hệ thống kè bảo vệ mái dốc luồngtàu, phát hiện và phối hợp với Cảng vụ Hàng hải tổ chức thanh thải cácchướng ngại vật mới phát sinh trên luồng tàu thuộc phạm vi trách nhiệmhàng hải được phân công từ vùng biển tỉnh Nam Định đến hết vùng biển tỉnhQuảng Trị
- Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Trung Bộ: Trực tiếp quản lývận hành các đèn biển, hệ thống báo hiệu luồng tàu biển, luồng hàng hải vàocác cảng biển, quản lý các công trình chỉnh trị luồng tàu, phát hiện và phốihợp với Cảng vụ Hàng hải tổ chức thanh thải các chướng ngại vật mới phátsinh trên luồng tàu thuộc phạm vi trách nhiệm hàng hải được phân công từvùng biển Thừa Thiên Huế đến hết vùng biển tỉnh Quảng Ngãi
Trang 21Xí nghiệp khảo sát Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc: Tổ chứcthực hiện việc khảo sát, đo sâu các luồng hàng hải phục vụ công tác thôngbáo hàng hải và công tác bảo đảm hàng hải, tổ chức thiết lập hải đồ luồnghàng hải, Tổ chức việc thực hiện khảo sát, thăm dò, phát hiện và tham giathanh thải các chướng ngại vật trên các luồng hàng hải và các nhiệm vụ khácđược giao
- Xí nghiệp cơ khí hàng hải miền Bắc: Tổ chức thực hiện sửa chữa,gia công phao báo hiệu, gia công cơ khí, hoán cải, phục hồi các phương tiện,thiết bị phục vụ công tác bảo đảm hàng hải và công nghiệp khác, Đóng mớicác phương tiện thủy, thực hiện việc bảo dưỡng sửa chữa định kỳ bảo đảmcác tiêu chuẩn kỹ thuật và đầu tư các trang thiết bị Có phương án đổi mới kỹthuật và đầu tư các trang thiết bị phù hợp với công nghệ mới đáp ứng yêucầu nhiệm vụ và các nhiệm vụ khác được giao
- Xí nghiệp thiết bị báo hiệu hàng hải miền Bắc: Tổ chức sản xuất, giacông, lắp ráp, sửa chữa các máy móc trang thiết bị báo hiệu hàng hải, tổ chứcsửa chữa, gia công theo sự chuyển giao công nghệ các thiết bị điện tử, cácnguồn năng lượng của báo hiệu hàng hải, Thiết kế, chế tạo sản xuất, lắp đặtmới các báo hiệu hàng hải và các nhiệm vụ khác được giao
- Xí nghiệp xây dựng công trình hàng hải miền Bắc: Xây dựng cáccông trình hàng hải; sửa chữa, xây dựng các công trình dân dụng và côngnghiệp phục vụ kinh tế biển và các nhiệm vụ khác được giao
I.4.2.2 Cơ cấu tổ chức Công ty bảo đảm an toàn hàng hải Miền Nam:
Công ty bảo đảm an toàn hàng hải Miền Nam có trụ sở đặt tại thànhphố Vũng Tàu, được hình thành trên cơ sở bộ máy quản lý của Bảo đảm antoàn hàng hải Khu vực IV và các đơn vị kinh tế trực thuộc đóng trên địa bàn
từ phía nam cây đèn Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) trở vào đến hết địa phận tỉnhKiên Giang Bộ máy tổ chức của Công ty ngoài các phòng ban chức năngtham mưu như Phòng Kỹ thuật Công trình, Phòng Kinh tế Kế hoạch, PhòngTài chính Kế toán Công ty còn có các đơn vị trực thuộc:
- Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Nam Trung Bộ trực tiếp quản
lý vận hành các đèn biển, hệ thống báo hiệu luồng tàu biển vào các cảngbiển, quản lý các công trình chỉnh trị luồng tàu, phát hiện và phối hợp vớiCảng vụ Hàng hải tổ chức thanh thải các chướng ngại vật mới phát sinh trên
Trang 22-luồng tàu thuộc phạm vi trách nhiệm hàng hải được phân công từ phía namcây đèn Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) đến hết vùng biển tỉnh Bình Thuận
- Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Đông Nam Bộ: Trực tiếp quản
lý vận hành các đèn biển, hệ thống báo hiệu luồng tàu biển, luồng hàng hảivào các cảng biển, quản lý các công trình chỉnh trị luồng tàu, phát hiện vàphối hợp với Cảng vụ hàng hải tổ chức thanh thải các chướng ngại vật mớiphát sinh trên luồng tàu thuộc phạm vi trách nhiệm hàng hải được phân công
từ địa phận tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến tỉnh Trà Vinh
- Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Tây Nam Bộ: Trực tiếp quản lývận hành các đèn biển, hệ thống báo hiệu luồng hàng hải vào các cảng biển,quản lý các công trình chỉnh trị luồng tàu, hệ thống kè bảo vệ mái dốc luồngtàu, phát hiện và phối hợp với Cảng vụ Hàng hải tổ chức thanh thải cácchướng ngại vật mới phát sinh trên luồng tàu thuộc phạm vi trách nhiệmhàng hải được phân công từ vùng biển Trà Vinh đến hết vùng biển tỉnh KiênGiang và vịnh Thái Lan
- Xí nghiệp Biển đông Hải đảo: Trực tiếp quản lý vận hành các đènbiển thuộc quần đảo Trường Sa, các đảo xa bờ và các nhiệm vụ khác docông ty giao
- Xí nghiệp khảo sát Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam: Tổ chứcthực hiện việc khảo sát, đo sâu các luồng hàng hải phục vụ công tác thôngbáo hàng hải và công tác bảo đảm hàng hải, thực hiện thiết lập hải đồ luồnghàng hải, Tổ chức việc thực hiện khảo sát, thăm dò, phát hiện và phối hợpvới Cảng vụ hàng hải tổ chức thanh thải các chướng ngại vật trên các luồnghàng hải và các nhiệm vụ khác được giao
- Xí nghiệp Cơ khí hàng hải miền Nam: Tổ chức thực hiện sửa chữa,gia công, hoán cải, phục hồi các phương tiện, thiết bị phục vụ công tác bảođảm hàng hải và công nghiệp khác, Đóng mới phao báo hiệu và các phươngtiện thủy, Tổ chức việc bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ các phương tiện thuỷbảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật và đầu tư các trang thiết bị Có phương ánđổi mới kỹ thuật và đầu tư các trang thiết bị phù hợp với công nghệ mới đápứng yêu cầu nhiệm vụ và các nhiệm vụ khác được giao
Trang 23Xí nghiệp Xây dựng công trình hàng hải miền Nam: Xây dựng cáccông trình hàng hải; sửa chữa, xây dựng các công trình dân dụng và côngnghiệp phục vụ kinh tế biển và các nhiệm vụ khác được giao
I.4.2.3 Đánh giá mô hình tổ chức của Bảo đảm an toàn hàng hải:
Đối với Việt Nam, từ khi Bảo đảm an toàn hàng hải được thành lập đềutrực thuộc Cục Đường biển Việt Nam nay là Cục Hàng hải Việt Nam, quản
Công ty bảo đảm an toàn hàng hải Miền Bắc có nhiệm vụ quản lý bảođảm an toàn hàng hải từ cây đèn Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) trở ra đến hết địaphận tỉnh Quảng Ninh; Công ty bảo đảm an toàn hàng hải Miền Nam cónhiệm vụ quản lý bảo đảm an toàn hàng hải từ phía nam cây đèn Sa Huỳnh(Quảng Ngãi) trở vào đến hết địa phận tỉnh Kiên Giang
Do việc phân chia phạm vi, trách nhiệm của hai công ty phù hợp vớiđiều kiện địa lý hành chính nên đã giúp cho công tác tổ chức chỉ đạo, thựchiện công tác bảo đảm an toàn hàng hải được chủ động, nhanh chóng, kịpthời Nên qua hơn 5 năm thực hiện, hai công ty đã thực hiện tốt chức năngnhiệm vụ của mình, đáp ứng cơ bản các yêu cầu về bảo đảm an toàn hànghải, điều đó chứng tỏ, mô hình tổ chức của hai công ty là phù hợp
Ngày 28/5/2010, Bộ Giao thông vận tải ra Quyết định số BGTVT và Quyết định số 1457/QĐ-BGTVT chuyển 02 Công ty Bảo đảm antoàn hàng hải I&II thành Công ty TNHH một thành viên BĐATHH miềnBắc và Công ty TNHH một thành viên BĐATHH miền Nam từ ngày01/7/2010, cơ cấu tổ chức mới của 02 Công ty theo mô hình mới gồm có:Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Kiểm soát viên, các Phòng, Ban trựcthuộc và các Đơn vị thành viên Đây là mô hình phù hợp Luật Doanh nghiệp
1456/QĐ-và quy định hiện hành của Nhà nước Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triểncông tác bảo đảm an toàn hàng hải theo kịp các nước tiên tiến và trở thành
Trang 24- Đèn biển cấp II: Hiện tại có 30 đèn Vị trí xây dựng gần tuyến hànhhải ven biển, cách tuyến hành hải ven biển không quá 20 hải lý, tại những vịtrí dễ quan sát, có độ cao đủ lớn để không bị che khuất từ phía biển vào.
- Đèn biển cấp III: Hiện tại có 33 đèn Vị trí xây dựng tại các cửa sông,cửa biển, gần lối vào các tuyến luồng hàng hải, hoặc tại các chướng ngại vậthoặc các khu vực đặc biệt (neo đậu tránh bão, khu vực chuyển tải, ngư trường,khu vực nghiên cứu khoa học )
- Đăng tiêu độc lập: Hiện tại có 07 đăng tiêu độc lập Vị trí xây dựng ởcác cồn cạn bãi ngầm, nơi có chướng ngại vật khác nhằm thông báo nguyhiểm cho các phương tiện thuỷ hoạt động trong khu vực kịp thời phòng tránh,tại đây không bố trí công nhân quản lý trực tiếp mà giao cho trạm quản lý đènhoặc trạm quản lý luồng để quản lý, vận hành
Đèn biển ở Việt Nam có những đèn đã được xây dựng cách đây nhiềunăm, hiện đã xuống cấp, hư hỏng; một số đèn biển khác có kích thước thápđèn chưa đảm bảo tầm hiệu lực ban ngày, hạn chế hiệu lực ánh sáng ban đêmcần phải được cải tạo nâng cấp
Công trình đèn biển thường được xây dựng ở hải đảo, núi cao, những vịtrí có điều kiện khó khăn, hạn chế về kinh phí nên cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn,cần phải nâng cấp mở rộng
Thiết bị báo hiệu lắp đặt trên đèn biển và đăng tiêu độc lập hiện nay chủyếu là thiết bị báo hiệu truyền thống, sử dụng điện năng từ máy phát điện hoặcnăng lượng mặt trời gồm nhiều chủng loại đèn được nhập khẩu từ các nước Anh,Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ, Nhật, các nước ASEAN và một số đèn Việt Nam tự
Trang 25-chế tạo Do nhiều chủng loại đèn nên gặp nhiều khó khăn trong khâu quản lý, sửachữa, phụ tùng thay thế và là những đèn đã được chế tạo theo công nghệ cũ nêntầm hiệu lực ánh sáng yếu, điện năng tiêu thụ lớn, cần thiết phải thống nhất một
số chủng loại thiết bị đèn biển có tính năng kỹ thuật, quản lý khai thác tốt hơncho từng cấp đèn (cấp I, cấp II, cấp III và đăng tiêu độc lập)
Đối tượng phục vụ của Bảo đảm an toàn hàng hải là toàn bộ tàu thuyềntrên biển, trong đó các tàu biển vận tải có trọng tải lớn được trang bị hiện đại còn
có một số lượng rất lớn các tàu vận tải nhỏ, tàu cá không được trang bị các báohiệu vô tuyến mà chủ yếu vẫn dựa vào các báo hiệu nhận biết bằng thị giác đểhành hải
Với hệ thống đèn biển trên vẫn còn một số vùng biển cần thiết phảixây dựng bổ sung đèn biển Mặt khác, do nhiều năm hoạt động chịu tácđộng của khí hậu khắc nghiệt, các công trình đèn cũng đã bị xuống cấp cầnphải có biện pháp phục hồi, cải tạo, sửa chữa
Toàn bộ các đèn biển hiện nay đều đang bố trí công nhân quản lý vậnhành, bảo dưỡng, bảo trì thường xuyên nên người lao động chịu nhiều khókhăn, vất vả, nặng nhọc
Vì vậy, ngoài việc hiện đại hoá hệ thống báo hiệu phù hợp với quy định,của IMO và khuyến cáo của IALA vẫn rất cần xây dựng các đèn biển có tầmhiệu lực ngắn (cấp III) tại các cửa sông, cửa biển để phục vụ các đối tượng này
I.4.3.2 Hệ thống luồng hàng hải:
Trên dọc chiều dài 3.260 km bờ biển để tàu ra vào 39 cảng biển với
73 khu bến có 38 tuyến luồng với tổng số chiều dài 799,15 km
- Tuyến luồng dài nhất 120 km: luồng Định An - Cần Thơ
- Tuyến luồng ngắn nhất 0,65 km: luồng vào cảng Sa Đéc (ĐồngTháp)
Trong đó:
- 07 tuyến luồng 2 chiều chạy cả ban ngày và ban đêm với tổng chiềudài 197,5 km: Dung Quất (Quảng Ngãi); Sài Gòn - Vũng Tàu, Soài Rạp -Hiệp Phước (tp Hồ Chí Minh); Đồng Nai, Vũng Rô (Phú Yên); Nha Trang,
Ba Ngòi (Khánh Hoà)
- 23 tuyến luồng 1 chiều chạy cả ban ngày và ban đêm với tổng chiềudài 485,15 km: Vạn Gia, Hòn Gai Cái Lân (Quảng Ninh); Phà Rừng (Hải
Trang 26-Phòng); Hải Phòng, Diêm Điền (Thái Bình); Nghi Sơn (Thanh Hoá); Cửa Lò(Nghệ An); Vũng Áng (Hà Tĩnh); Hòn La (Quảng Bình); Thuận An, ChânMây (Thừa Thiên Huế); Đà Nẵng, Kỳ Hà (Quảng Nam); Thị Vải (Bà Rịa -Vũng Tàu); Sông Dừa (tp Hồ Chí Minh); Sa Đéc - Đồng Tháp, Sông Tiền(Tiền Giang); Định An - Cần Thơ, Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu); Hà Tiên(Kiên Giang); Quy Nhơn (Bình Định); Đầm Môn (Khánh Hoà); Sông Dinh(Bà Rịa - Vũng Tàu)
- 08 tuyến luồng 1 chiều chạy ban ngày với tổng chiều dài 116,5 km:Hải Thịnh (Nam Định), Lệ Môn (Thanh Hoá), Cửa Hội (Nghệ An), CửaGianh, Nhật Lệ (Quảng Bình), Cửa Việt (Quảng Trị), Sa Kỳ (Quảng Ngãi),Năm Căn (Cà Mau)
Hiện tại có một số luồng tàu còn tồn tại những đoạn cong có bán kínhnhỏ gây khó khăn cho việc hành hải: luồng Sài Gòn – Vũng Tàu và luồngQuy Nhơn có bán kính cong nhỏ nhất là 500m
Để đảm bảo chuẩn tắc luồng đã thiết kế dự kiến hàng năm phải nạovét khoảng trên 6,5 triệu m3 bùn cát sa bồi nhưng do hạn chế kinh phí nênhàng năm mới thực hiện được khoảng 30% khối lượng trên
Các tuyến luồng chủ yếu là luồng 1 chiều, chỉ có tuyến luồng DungQuất (Quảng Ngãi); Sài Gòn - Vũng Tàu, Soài Rạp - Hiệp Phước (TP HồChí Minh); Đồng Nai, Vũng Rô (Phú Yên); Nha Trang, Ba Ngòi (KhánhHoà) cho phép hành thuỷ 2 chiều trong điều kiện hạn chế Nhu cầu nạo vétduy tu để duy trì chuẩn tắc của các tuyến luồng này hàng năm khoảng 6,5triệu m3 nhưng do hạn chế về kinh phí và phương tiện nạo vét nên chưa đápứng được nhu cầu
Hiện tai, có nhiều tuyến luồng chỉ là luồng một chiều, một số tuyếnluồng còn lại tồn tại những đoạn cong chưa được cải tạo, một số tuyến luồngchưa được lắp thiết bị báo hiệu để chạy tàu ban đêm; đặc biệt trong nhữngnăm gần đây có nhiều luồng không được nạo vét duy tu đủ theo chuẩn tắcthiết kế làm hạn chế điều kiện khai thác của các cảng biển Hệ thống báohiệu hàng hải dẫn luồng hiện đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên cũng còn một sốbất cập như quá nhiều chủng loại gây khó khăn cho quản lý vận hành cũngnhư bảo dưỡng sửa chữa; thiết bị báo hiệu còn lạc hậu, chưa được lắp đặt cácthiết bị giám sát từ xa và các thiết bị báo hiệu vô tuyến khác
Trang 27-Theo quy hoạch các nhóm cảng biển hiện còn một số luồng chưa đápứng quy mô của các cảng biển Còn một số chướng ngại vật trong vùng nướchàng hải ảnh hưởng đến hoạt động của tàu thuyền
Trên 38 tuyến luồng được bố trí 816 quả phao các loại, 107 tiêu cốđịnh và 56 chập tiêu (112 tiêu) Phao, tiêu gồm nhiều chủng loại: phao đượcchế tạo bằng thép với các đường kính khác nhau; tiêu được xây dựng bằngnhiều loại vật liệu: bê tông, thép, composite Kích thước của báo hiệu cònhạn chế việc lắp đặt bổ sung báo hiệu vô tuyến
Trên toàn bộ 38 tuyến luồng với chiều dài 799,15 km, có tổng số 54trạm quản lý luồng, trong đó:
- 35 trạm đã có cơ sở: Vạn Gia, Hòn Gai, Cổ Ngựa (Quảng Ninh); PhàRừng, Bạch Đằng, Đình Vũ, Vật cách, Nam Triệu (Hải Phòng); Lệ Môn,Nghi Sơn (Thanh Hoá); Cửa Lò, Cửa Hội (Nghệ An); Vũng Áng (Hà Tĩnh);
Đà Nẵng Quy Nhơn (Bình Định); Nha Trang, Đầm Môn (Khánh Hoà); HộiBài, Sao Mai (Vũng Tàu); Thiềng Liềng, Sông Dừa, Tam Thôn Hiệp, MũiĐèn Đỏ (tp Hồ Chí Minh); Mỹ Tho, Cửa Tiểu (Tiền Giang); Vĩnh Hựu(Tiền Giang); Cầu Quan, Định An (Trà Vinh); Cần Thơ, An Lạc Thôn (CầnThơ); Năm Căn (Cà Mau); Hà Tiên (Kiên Giang)
- 08 trạm chưa có cơ sở đang phải đi thuê: Dung Quất (Quảng Ngãi);Lạch Huyện, Kênh Hà Nam (Hải Phòng); Hòn La (Quảng Bình); Long Hoà,Trạm Lý Thôn, Trạm Hiệp Phước (tp Hồ Chí Minh); Trạm Sa Đéc (ĐồngTháp)
- 11 trạm kết hợp với trạm quản lý đèn biển: Diêm Điền (Thái Bình),Hải Thịnh (Nam Định), Cửa Gianh, Nhật Lệ (Quảng Bình), Cửa Việt(Quảng Trị), Thuận An, Chân Mây (Thừa Thiên Huế), Sa Kỳ (Quảng Ngãi),
Bồ Đề (Cà Mau), Cửa Tiểu (Tiền Giang), Aval Cần Giờ (tp Hồ Chí Minh)
I.4.3.3 Hệ thống hỗ trợ hành hải:
Chưa lập hệ thống cung cấp thông số hiệu chỉnh định vị DGPS Hệthống nhận dang tự động AIS còn đang trong quá trình nghiên cứu thửnghiệm Hệ thống giám sát và kiểm soát từ xa báo hiệu hàng hải đã lắp đặtthử nghiệm nhưng chưa hoạt động hiệu quả, tính tương thích và khả năng
mở rộng kém Hệ thống thông tin quản lý báo hiệu hàng hải chưa thiết lập
Trang 28-Hệ thống bình đồ luồng hàng hải điện tử hiện đang trong giai đoạn thiết lậpthử nghiệm cho một vài tuyến luồng trọng điểm
I.4.3.4 Khảo sát thông báo hàng hải:
Hệ thống phương tiện và thiết bị phục vụ đo đạc rà quét: toàn bộ vẫnđang dùng máy đo sâu công nghệ đơn chùm tia (single beam), chưa có thiết
bị đo sâu đa chùm tia (multi beam) Các thiết bị định vị, phần mềm thủy đạcđược trang bị qua nhiều giai đoạn nên có rất nhiều loại, nhiều nguồn gốcxuất xứ khác nhau gây khó khăn cho vận hành, quản lý, bảo dưỡng
Hệ thống các trạm quan trắc và cung cấp số liệu thuỷ hải văn tự độngchưa được xây dựng Hiện tại Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Namđang hợp tác với Ủy ban sông Mê Kông để lắp đặt tại Định An và Cửa Tiểu
Hệ thống thông tin công bố thông báo hàng hải: hiện tại chủ yếu vẫngửi cho các bên bằng văn bản và qua đài thông tin duyên hải của Công tyTNHH một thành viên thông tin điện tử hàng hải mà chưa xây dựng Website để cung cấp thông báo hàng trên mạng Internet
I.4.3.5 Hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác điều hành quản lý và sản xuất:
Hiện nay ở phía Bắc có 3 khu vực sản xuất phụ trợ do gồm:
- Cơ sở cầu tàu Hải Đăng tại Hải Phòng phục vụ cho công tác neo đậuphương tiện thủy, sửa chữa phao báo hiệu hàng hải, tiếp tế, kiểm tra, kho bãiphục vụ
- Cơ sở 22B Ngô Quyền - Hải Phòng: đóng mới, sửa chữa phao, đóngmới, sửa chữa và neo đậu phương tiện thủy, gia công chế tạo mới, sửa chữathiết bị báo hiệu hàng hải và các sản phẩm khác
- Cơ sở Cửa Hội - Nghệ An: sửa chữa phao, sửa chữa và neo đậuphương tiện thủy, sửa chữa thiết bị báo hiệu hàng hải và các sản phẩm khác
Ở khu vực phía Nam có 02 khu vực sản xuất phụ trợ quản lý gồm:
- Cơ sở hậu cứ Rạch Bà - Vũng Tàu: là hậu cứ tổng hợp phục vụ côngtác tiếp tế kiểm tra các đảo xa bờ, sửa chữa đóng mới phao, sửa chữa nhỏ cácphương tiện thuỷ, chế tạo, sửa chữa các thiết bị báo hiệu hàng hải, kho bãicầu cảng
Nhìn chung, các cơ sở sản xuất phụ trợ của đều đã xuống cấp, chậthẹp, thiết bị lạc hậu, cần thiết phải được cải tạo nâng cấp
Trang 29-Trụ sở điều hành của các đơn vị hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu, một số
cơ sở điều hành đã xuống cấp, các đơn vị thành viên đã thành lập từ các nămtrước đây nhưng chưa có trụ sở
Các công trình phục vụ khác như: Trung tâm y tế, trung tâm đào tạo
và huấn luyện nghiệp vụ… hiện chưa được đầu tư xây dựng, Trung tâm hànghải tại đèn biển Vũng Tàu; Nhà nghỉ thay ca tại Hải Phòng, Nghệ An, ĐàNẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Nhà nghỉ - thay ca tại Vũng Tàu: Sử dụng để tậpkết đưa công nhân ra các đèn đảo thay ca, đón công nhân từ các đèn đảo trở
về nghỉ ca; đặc biệt phục vụ cho công nhân quản lý vận hành các đèn biển ởkhu vực Trường Sa và các đảo xa bờ
Nhà điều hành của của Công ty đang trong giai đoạn thi công xâydựng để phù hợp nhu cầu làm việc mới và yêu cầu quy hoạch của địaphương, một số đơn vị thành viên vẫn chưa có nhà điều hành mà phải đithuê
Nhà xưởng và phương tiện, trang thiết bị phục vụ sản xuất hiện tạicòn thiếu thốn, chật hẹp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Còn thiếucác phòng thí nghiệm, kiểm định thiết bị, trung tâm đào tạo nghiệp vụ, trungtâm y tế
I.4.3.6 Hiện trạng nguồn nhân lực của bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam:
Nguồn nhân lực của bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam đã có bề dàyphát triển 55 năm, trải qua các giai đoạn lịch sử đấu tranh, xây dựng thốngnhất đất nước, phát triển theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập kinh tế quốc tế Các thế hệ cũ, mới đan xen nhau tạo nên môitrường văn hoá doanh nghiệp đa dạng
Tổng số lao động của Bảo đảm an toàn hàng hải hiện nay là 2.290người Trong đó:
- Trình độ trên đại học là 12 người
- Đại học cao đẳng là 456 người
- Công nhân quản lý vận hàng báo hiệu và luồng là 1.043 người
- Công nhân khảo sát 58 người, công nhân cơ khí thiết bị 156 người
- Công nhân xây dựng công trình 142 người
- Thuyền viên 198 người
Trang 30- Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế.
- Thiếu công nhân có tay nghề cao trong lĩnh vực cơ khí, xây dựng,khảo sát
- Công nhân quản lý vận hành đèn biển, luồng tàu biển về cơ bản đãđược đào tạo từ các trường nghiệp vụ hàng hải, công nhân kỹ thuật điện,máy và được Công ty đào tạo căn bản về bảo đảm an toàn hàng hải chuyênngành, tuy nhiên vẫn còn lạc hậu so với thế giới
- Tỷ lệ lao động sống trong các hoạt động quản lý vận hành đèn biển,luồng tàu biển, các khối phục vụ còn rất cao ảnh hưởng về mặt xã hội nếuđầu tư công nghệ và tự động hoá các lĩnh vực này Về lâu dài Công ty phảiđào tạo chuyển mục đích sử dụng lao động theo các lĩnh vực ngành nghềkinh doanh của Công ty
I.4.3.7 Kết luận khái quát về hiện trạng công tác bảo đảm an toàn hàng hải
- Nhìn chung công tác bảo đảm an toàn hàng hải ở nước ta đã đáp ứngđược nhịp độ phát triển chung của kinh tế biển và nhu cầu bảo đảm an toàncho các hoạt động hàng hải cũng như các hoạt động khác trên vùng nướchàng hải của nước nhà Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn vốn đầu tư cũng nhưtrình độ kỹ thuật và quản lý nên công tác bảo đảm an toàn hàng hải vẫn còn
ở trình độ thấp, chưa theo kịp được các nước tiên tiến trong khu vực cũngnhư trên thế giới, còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế trong quá trình hội nhập kinh
tế hàng hải quốc tế
- Về cơ bản chúng ta hiện tại vẫn chủ yếu dừng ở mức báo hiệu hànghải truyền thống (thị giác, âm thanh), mức độ ứng dụng báo hiệu vô tuyến(Racon, AIS ) và các công cụ hỗ trợ hàng hải điện tử (VTS, DGPS, ENC )mới chỉ ở bước thử nghiệm; công tác sản xuất và quản lý còn nặng về thủcông, thô sơ mà ít ứng dụng các công nghệ tự động, hay công cụ quản lýhiện đại Hạn chế này dẫn đến tình trạng có nhiều phương tiện hàng hảiquốc tế được trang bị các công cụ, hệ thống hỗ trợ hàng hải hiện đại khi hành
Trang 31-hải vào vùng biển Việt Nam không sử dụng được hoặc không phát huy đượchết tác dụng, nói cách khác ở đây chúng ta chưa hoàn thành nghĩa vụ củamột quốc gia có biển về việc cung cấp đầy đủ các hạ tầng hỗ trợ hàng hảitheo yêu cầu của các hiệp hội, điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết, gianhập
I.4.4 Tình hình tai nạn hàng hải và công tác tìm kiếm cứu nạn trong những năm qua:
Trong những năm qua, cùng với việc phát triển của ngành kinh tếbiển, thì lưu lượng phương tiện thuỷ hoạt động trên vùng biển, luồng hànghải cũng tăng, từ đó dẫn đến nguy cơ tăng các tai nạn hàng hải Theo thống
kê của Cục Hàng hải Việt Nam, số lượng, mức độ nghiêm trọng của các vụtai nạn hàng hải và công tác tìm kiếm cứu nạn qua các năm như sau:
- Năm 2002: Xảy ra 92 vụ nai nạn hàng hải, trong đó có 15 vụ đặcbiệt nghiêm trọng, 23 vụ nghiêm trọng, 54 vụ ít nghiêm trọng, làm chết 18người, mất tích 2 người
- Năm 2003: Xảy ra 84 vụ nai nạn hàng hải, trong đó có 13 vụ đặcbiệt nghiêm trọng, 30 vụ nghiêm trọng, 41 vụ ít nghiêm trọng, làm chết 11người, bị thương 10 người
- Năm 2004: Xảy ra 70 vụ nai nạn hàng hải, trong đó có 7 vụ đặc biệtnghiêm trọng, 20 vụ nghiêm trọng, 43 vụ ít nghiêm trọng, làm chết 23 người,
bị thương 13 người
- Năm 2005: Xảy ra 68 vụ nai nạn hàng hải, trong đó có 11 vụ đặcbiệt nghiêm trọng, 28 vụ nghiêm trọng, 29 vụ ít nghiêm trọng, làm chết 27người
- Năm 2006: Xảy ra 59 vụ nai nạn hàng hải, trong đó có 8 vụ đặc biệtnghiêm trọng, 29 vụ nghiêm trọng, 22 vụ ít nghiêm trọng, làm chết 38 người,
Trang 32Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, các vụ tai nạn hàng hảixảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng tập trung chủ yếu là do ý thức, trình độcủa người điều khiển phương tiện, nguyên nhân nữa là phương tiện cũ, môitrường hành hải chưa được đầu tư hệ thống hỗ trợ hành hải hiện đại, đồng
bộ Do vậy, cơ quan quản lý chưa đưa ra được các cảnh báo sớm nhằm hạnchế các vụ tai nạn hàng hải
I.4.5 Hiện trạng đầu tư cho Bảo đảm an toàn hàng hải trong thời gian qua:
Hạ tầng, thiết bị bảo đảm an toàn hàng hải đang quản lý hiện nayđược đầu tư qua nhiều thời kỳ bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, ODA
và phí bảo đảm an toàn hàng hải để lại
- Năm 1996, Nhà nước đã bố trí và cho phép sử dụng nguồn vốn ODAcủa Tây Ban Nha để nâng cấp thiết bị chiếu sáng truyền thống 16 đèn biển
và xây dựng mới 16 đèn biển, trang bị thiết bị điều khiển từ xa cho 12 trạmđèn và 01 trạm trung tâm Tuy nhiên, các thiết bị điều khiển từ xa được trang
bị sử dụng công nghệ vệ tinh truyền sóng trên băng tần C là công nghệ cũ cóchi phí vận hành cao, không còn phù hợp với mặt bằng và trình độ côngnghệ hiện nay Dự án này được hoàn thành năm 2006 với tổng mức đầu tư là75,4 tỷ đồng
- Năm 2005 đến nay nhà nước đầu tư thêm 2 đèn biển cấp II tại đảoTrường Sa lớn và đảo Sơn Ca bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tổngmức đầu tư khoảng 37 tỉ đồng và cho phép đầu tư thêm 02 đèn Nam Yết,Sinh Tồn
- Ngoài ra trong điều kiện nguồn thu từ phí đảm bảo hàng hải thấp,nhưng các công ty Bảo đảm an toàn hàng hải đã cố gắng, khắc phục khókhăn, tiết kiệm các chi phí để vận hành hệ thống báo hiệu hàng hải, nạo vétduy tu một số tuyến luồng, đầu tư xây dựng mới, nâng cấp một số đèn biển,
Trang 33I.5 KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA NGÀNH BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI:
Qua 55 năm xây dựng và phát triển, bảo đảm an toàn hàng hải đã khắcphục khó khăn về cơ sở hạ tầng hiện có và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ Nhànước giao; đảm bảo an toàn cho tàu biển và các phương tiện thuỷ của ViệtNam và của các nước trên thế giới hành hải trên vùng biển Việt Nam gồmvùng nội thuỷ, vùng đặc quyền kinh tế và ra vào các cảng biển
Công tác Bảo đảm an toàn hàng hải đã coi trọng việc tiếp cận các tiến
bộ khoa học công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, vận hành hệ thốngbáo hiệu hàng hải của các nước trong khu vực và trên thế giới
Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của bảo đảm an toàn hàng hải hiện naycòn một số hạn chế như sau:
- Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế biển quốc tế nói chung vàViệt Nam nói riêng dẫn tới gia tăng nhanh chóng lưu lượng tàu biển thôngqua cảng biển và luồng hàng hải Trong khi đó việc quy hoạch và xây dựngcác cảng biển, luồng vào cảng, hệ thống báo hiệu hàng hải… còn chưa đượcđầu tư đồng bộ
- Hệ thống đèn biển còn chưa đầy đủ, toàn bộ các đèn biển vẫn còn sửdụng nhân công để quản lý vận hành Một số công trình đèn biển sau nhiềunăm hoạt động do tác động của khí hậu khắc nghiệt đã bị xuống cấp
- Một số tuyến luồng tàu biển chưa đáp ứng được quy mô của cáccảng biển theo quy hoạch Do điều kiện hạn hẹp về kinh phí trong nhữngnăm gần đây có nhiều luồng chưa được nạo vét duy tu theo đúng chuẩn tắcthiết kế
- Thiết bị lắp trên đèn biển và báo hiệu dẫn luồng còn thiếu và lạc hậu,chưa được lắp đặt các thiết bị kiểm soát từ xa, cá biệt có một số tuyến luồng
Trang 34I.6 DỰ BÁO TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN:
I.6.1 Cơ sở nghiên cứu:
Nghị quyết lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khoá 10 vềchiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 nêu rõ: Thế kỉ 21 được xem là thế
kỷ của đại dương, các quốc gia có biển đều rất quan tâm đến biển và coitrọng xây dựng chiến lược biển Khu vực biển Đông trong đó có vùng biểnViệt Nam có vị trí kinh tế và chính trị rất quan trọng với nguồn tài nguyênphong phú và đa dạng ngày nay biển càng có vai trò to lớn đối với sự nghiệpphát triển đất nước
Chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2020 gồm các lĩnh vực:Khai thác chế biến dầu khí; Kinh tế hàng hải (bao gồm khai thác cảng, vậntải biển, đóng mới sửa chữa tàu biển dịch vụ hàng hải); Du lịch và kinh tếbiển đảo; Khai thác và chế biến hải sản; Xây dựng các khu kinh tế, các khucông nghiệp tập trung, các khu chế xuất ven biển gắn liến với các đô thị venbiển
Thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và mục tiêu pháttriển kinh tế biển của Ban chấp hành trung ương Đảng Các ngành kinh tếbiển đã xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngành giai đoạn đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030 trình thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Công tác bảo đảm an toàn hàng hải là một nhiệm vụ quan trọng của kinh tếbiển Việt Nam nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế biển pháttriển thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị của mình theo chiến lược biểncủa Ban chấp hành trung ương Vì vậy, việc xây dựng đề án phát triển bảođảm an toàn hàng hải phải dựa trên cơ sở mục tiêu và kế hoạch phát triển củacác ngành kinh tế biển đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Do đó, trong đề án này, các chương trình đầu tư phát triển của bảođảm an toàn hàng hải dựa trên tổng hợp các kết quả dự báo của các ngànhkinh tế biển đã được Thủ tướng Chính phê duyệt gồm:
Trang 35- Quy hoạch các cảng cá, các khu neo đậu tránh bão cho tàu cá.
I.6.2 Kết quả dự báo các lĩnh vực chính:
I.6.2.1 Kinh tế khai thác cảng biển:
Tại quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 Thủ Tướng ChínhPhủ đã phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giaiđoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 với mục tiêu phát triển hệthống cảng biển theo một quy hoạch tổng thể và thống nhất trên quy mô cảnước Tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để nhanh chóng đưa nước ta hội nhập và
đủ sức cạnh tranh trong hoạt động cảng biển với các nước trong khu vực vàcác nước trên thế giới, khẳng định vị trí ưu thế về kinh tế biển của đất nướcđồng thời góp phần bảo vệ an ninh quốc gia của đất nước
Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020 gồm 39 cảngvới 73 khu bến được chia làm 6 nhóm:
- Nhóm 1: Từ Quảng Ninh đến Ninh Bình có 6 cảng với 16 khu cảng
- Nhóm 2: Từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh có 3 cảng với 12 khu cảng
- Nhóm 3: Từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi có 6 cảng với 12 khu bến
- Nhóm 4: Từ Quy Nhơn đến Bình Thuận có 7 cảng với 15 khu bến
- Nhóm 5: Miền Đông Nam Bộ có 3 cảng với 13 khu bến
- Nhóm 6: Đồng bằng Sông Cửu Long có 14 cảng với 21 khu bến.Tuy tại quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 không phêduyệt, song vẫn tồn tại khai thác một hệ thống cảng nổi gồm Vạn Gia(Quảng Ninh), Bến Gót (Hải Phòng), Lan Hạ (Quảng Ninh), Hòn Nét(Quảng Ninh), Hòn Ngư (Nghệ An), Hòn La (Quảng Bình) các bến nổi dọctheo sông Sài Gòn, Thiềng Liềng, Gò Gia, Soài Rạp (thành phố Hồ ChíMinh), Sông Hậu (Cần Thơ)
Sản lượng thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn: Năm
2015 dự kiến 500 đến 600 triệu tấn/năm; Năm 2020 dự kiến 900 đến 1.100
Trang 36-triệu tấn/năm, tăng gần 10 lần so với sản lượng dự kiến thông qua năm 2010;Năm 2030 dự kiến 1600 đến 2100 triệu tấn/năm
I.6.2.2 Kinh tế vận tải biển:
Tại Quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 15/10/2009 phê duyệt pháttriển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 ThủTướng Chính Phủ đã phê duyệt:
- Phát triển vận tải biển theo hướng hiện đại hoá với chất lượng ngàycàng cao, chi phí hợp lý, an toàn, hạn chế ô nhiễm môi trường, tiết kiệmnăng lượng, tăng sức cạnh tranh của vận tải biển để chủ động hội nhập và
mở rộng thị trường vận tải biển trong khu vực và trên thế giới
- Đến năm 2020 phải thoả mãn đầy đủ các nhu cầu vận tải đường biểncủa nền kinh tế quốc dân với mức tăng trưởng cao, bảo đảm chất lượng caogiá thành hợp lý hạn chế ô nhiễm môi trường cụ thể : Nâng cao chất lượngdịch vụ vận tải biển đáp ứng nhu cầu vận tải biển nội địa, nâng cao thị phầnvận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu đạt 27 ÷ 30% kết hợp chở thuê hàngnước ngoài trên các tuyến vận tải biển xa Khối lượng do đội tàu Việt Namđảm nhận : Vào năm 2015 đạt 110 đến 126 triệu tấn, Vào năm 2020 đạt 215đến 260 triệu tấn, vào năm 2030 tăng 1,5 ÷ 2 lần so với năm 2020 (khoảng
400 - 500 triệu tấn)
- Để đảm bảo vận chuyển hết khối lượng hàng hoá phải chú trọng pháttriển đội tàu biển theo hướng hiện đại hoá, chú trọng phát triển các loại tàuchuyên dụng (tàu container, tàu hàng rời, tàu chở dầu ) và tàu có trọng tảilớn Dự kiến đến năm 2015 Tổng trọng tải tàu biển đạt 8,5 ÷ 9,5 triệu DWT,đến năm 2020 đạt 11,5 ÷ 13,5 triệu DWT và từng bước trẻ hoá đội tàu biểnđến năm 2020 độ tuổi bình quân là 12 năm trong đó: Tàu bách hoá tổng hợpđạt 3,84 ÷ 4,45 triệu DWT, Tàu hàng rời đạt 2,7 ÷ 3,11 triệu DWT, tàucontainer đạt 1,49 ÷ 1,71 triệu DWT, Tàu chở dầu thô đạt 1,92 ÷ 2,21 triệuDWT, Tàu chở sản phẩm dầu đạt 1,69 ÷ 1,77 triệu DWT
- Nhu cầu bổ sung đội tàu vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 là 3,8
÷ 4,9 triệu DWT Nhu cầu bổ sung thêm sức chở đội tàu khách du lịch tàukhách ven biển ra đảo là 14.000 ghế vào năm 2020 nếu tính bình quân chotàu 20.000 DWT thì tổng số chiếc tàu khoảng 675 chiếc tàu
Trang 37-I.6.2.3 Phát triển công nghiệp tàu thuỷ:
Quy hoạch đến năm 2020 phát triển ngành công nghiệp tàu thuỷ nước
ta đạt mức tiên tiến trong khu vực :
- Đóng mới tàu hàng có trọng tải đến 300.000 DWT, tàu khách, tàudịch vụ dầu khí, tàu cứu hộ cứu nạn, tàu bảo đảm hàng hải tàu công trình đápứng 65÷70% nhu cầu bổ sung đội tàu trong nước giai đoạn đến năm 2020,đồng thời sửa chữa vỏ, máy, điện, điện tử cho các tàu biển có trọng tải đến400.000DWT đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tăng cường xuấtkhẩu ra nước ngoài
- Phát triển cân đối đóng và sửa chữa tàu nhanh chóng tiếp cận côngnghệ hiện đại chú trọng đầu tư chiều sâu 38 cơ sở đóng sửa chữa tàu và 13khu công nghiệp phụ trợ hiện có
I.6.2.4 Kinh tế khai thác chế biến hải sản:
Với 3.260 km bờ biển và một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn ngànhnuôi trồng đánh bắt hải sản có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốcdân Thủ Tướng Chính Phủ có quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày11/01/2006 và quyết định số 288/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 phê duyệtquy hoạch tổng thể phát triển ngành hải sản đến năm 2020 và quy hoạch khuneo đậu trú bão cho tàu cá theo đó định hướng phát triển nghề cá:
- Đồng thời với phát triển khai thác đánh bắt xa bờ hợp lý và ổn địnhkhai thác vùng ven bờ phát triển mạnh mẽ nuôi trồng thuỷ sản đa dạng hìnhthức nuôi và cơ cấu giống nuôi, nhất là nuôi trên biển nhằm khai thác tiềmnăng biển, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ven biển có thu nhập
ổn định góp phần quan trọng bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản bảo vệ sinh thái môitrường ven biển
- Mục tiêu phát triển: Xây dựng ngành hải sản thành một ngành sảnxuất hàng hoá có sức cạnh tranh cao có kim nghạch xuất khẩu lớn có khảnăng tự đầu tư phát triển góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhất
là các vùng ven biển hải đảo
- Quy hoạch cảng cá: theo quy hoạch đến năm 2020 dọc theo chiềudài bờ biển và các cửa sông, các hải đảo quy hoạch 221 cảng cá trong đó:Theo tuyến bờ có 178 cảng, tuyến hải đảo có 33 cảng, sản lượng dự tính2.359.955 tấn cá/năm
Trang 38Về tàu đánh cá: Đến năm 2010 cả nước có khoảng 50.000 chiếc cócông suất từ 20CV đến 75CV và lớn hơn 75CV có 6.000 chiếc Với mứctăng trưởng 3% năm dự kiến năm 2020 có khoảng 72.000 tàu đánh cá
- Số lao động nghề cá năm 2010 có khoảng 4,7 triệu người trong đólao động công tác trên tàu cá khoảng 0,5 triệu người Dự kiến năm 2020 sốlao động nghề cá có thể đạt tới 6,1 triệu lao động
- Cơ sở trú bão của tàu cá: Do thời tiết biển khắc nghiệt thường xuyên
có bão áp thấp mưa lũ, để đảm bảo an toàn cho tàu cá Bộ thuỷ sản đã lập quyhoạch khu trú bão đã được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt tại quyết định
số 288/2005/QĐ-TTg theo đó giai đoạn đến năm 2020 toàn quốc có 98 khuneo đậu trú bão trong đó có 13 khu neo đậu bão cấp vùng và 85 khu neo đậubão cấp tỉnh được bố trí dọc theo bờ biển, cửa sông của 28 tỉnh, thành phố cóbiển
Với 73 điểm cảng sản lượng thông qua (năm 2020) khoảng 1.100 triệutấn/năm, tăng gần 10 lần so với sản lượng dự kiến thông qua năm 2010, vớiđội tàu vận tải khoảng 1000 chiếc sản lượng vận tải khoảng 260 triệu tấnnăm, 38 cơ sở đóng và sửa chữa tàu biển, với 221 cảng cá, 98 khu neo đậutrú bão tàu cá khoảng 72.000 chiếc tàu cá và hàng trăm tàu khác (tàu côngtrình, tàu bảo đảm hàng hải, tàu tìm kiếm cứu nạn, tàu dịch vụ dầu khí, tàucác nước khác chở hàng đến Việt Nam ) Vào giai đoạn đến năm 2020 hoạtđộng hàng hải trên vùng biển Việt Nam sẽ rất sôi động, có thể gấp 5 lần hoạtđộng hàng hải trên vùng biển Việt Nam hiện nay Do vậy, đòi hỏi Bảo đảm
an toàn hàng hải Việt Nam phải có những chuyển biến mạnh mẽ, đột biến về
số lượng, chất lượng báo hiệu hàng hải, về tổ chức bộ máy quản lý trình độ
và chất lượng lao động để quản lý vận hành hệ thống báo hiệu hàng hải phục
vụ các hoạt động của các ngành kinh tế trên biển
I.7 CÁC TIÊU CHUẨN, QUY ĐỊNH CỦA VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ
VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN HÀNG HẢI:
1 Bộ luật Hàng hải Việt Nam số 40/2005/QH11 ngày 14/6/2005
2 Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 của Chính Phủ vềquản lý cảng biển và luồng hàng hải
Trang 39-3 Thông tư số 17/2010/TT-BGTVT ngày 05/7/2010 của Bộ Giaothông vận tải về việc Ban hµnh Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệuhàng hải
4 Thông tư số 02/2011/TT-BGTVT ngày 14/02/2011 của Bộ Giaothông vận tải về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong lĩnh vực dịch
vụ công ích bảo đảm an toàn hàng hải
5 Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biểnSOLAS (International Convention for the Safety of Life at Sea)
Chương V của SOLAS yêu cầu tàu biển quốc tế phải được trang bị hệthống thông tin hiển thị bình đồ luồng hàng hải điện tử ECDIS, các tàu biểnhoạt động trên tuyến quốc tế phải trang bị hệ thống nhận dạng tự động AIS.Theo đó các thành viên quốc gia phải cung cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật phù hợp
để phát huy hết hiệu quả của các trang bị nêu trên
6 Các quy định và khuyến cáo của Hiệp hội các cơ quan quản lý báohiệu hàng hải và hải đăng quốc tế IALA (International Association ofMarine Aids to Navigation and Lighthouse Authorities):
- Quy định về hệ thống phao báo hiệu hàng hải IALA MaritimeBuoyage System
- Khuyến cáo số R-101 tháng 12/2004 về tiêu vô tuyến hàng hải(RACON)
- Khuyến cáo số E-108 tháng 5/2004 về màu sắc ban ngày của báohiệu hàng hải
- Khuyến cáo số E-110 tháng 05/1998 về đặc tính ánh sáng của báohiệu hàng hải
- Khuyến cáo số E-112 tháng 05/1998 về chập tiêu
- Khuyến cáo số O-113 tháng 05/1998 về báo hiệu hàng hải báo hiệucầu
- Khuyến cáo số O-114 tháng 05/1998 về báo hiệu hàng hải báo hiệucông trình ngoài khơi
- Khuyến cáo số V-119 tháng 12/2000 về thiết lập hệ thống dịch vụgiao thông hàng hải VTS
- Khuyến cáo số A-123 tháng 12/2003 về cung cấp hệ thống nhậndạng tự động (AIS) trên bờ
Trang 40- Hướng dẫn của IALA về VTS (phiên bản thứ 4, năm 2008).
- Hướng dẫn của IALA về báo hiệu hàng hải (phiên bản thứ 5, năm2006)
- Hướng dẫn của IALA về bảo tồn đèn biển (năm 2006)
- Tiêu chuẩn S-4 của IHO về Hải đồ (phiên bản 3.007, năm 2009)
- Tiêu chuẩn S-44 của IHO về khảo sát thủy đạc (phiên bản thứ 5,năm 2008)
- Tiêu chuẩn S-57 của IHO về ENC (phiên bản 3.1, năm 2000)
IALA khuyến cáo các quốc gia thành viên cần hoàn thiện hệ thốngbáo hiệu truyền thống theo xu hướng điều khiển, giám sát từ xa và bổ sung,tăng cường cung cấp các công cụ hỗ trợ hành hải cho người đi biển nhưRacon, AIS, DGPS, VTS, ENC tiến tới thiết lập môi trường hành hải điện
tử e-Navigation
Hội nghị lần thứ 17 IALA được tổ chức tại Trung tâm hội nghị quốc
tế Thành phố Cape Town, Nam Phi ngày 21-27/3/2010 với chủ đề “Hỗ trợhành hải – Phương thức tiếp cận toàn cầu cho tất cả các vùng nước, tất cảnhững rủi ro và tất cả những giải pháp”
Chủ đề tham luận tập trung chủ yếu vào các vấn đề phát triển côngnghệ bảo đảm hàng hải, sản xuất các sản phẩm thiết bị bảo đảm an toàn hànghải mới và khuyến nghị sử dụng các kết quả công nghệ đó trong việc quản
lý, điều hành không những đối với việc nâng cao hiệu quả an toàn giao thônghàng hải, mà còn góp phần nâng cao các biện pháp an ninh hàng hải và bảo
vệ môi trường biển
Hội nghị đã thống nhất đưa ra các đề nghị sau đối với IALA và cácthành viên: