Công ty chứng khoán chuyên doanh Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập vàchuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không đ
Trang 1Chương 1: Lý thuyết chung về Công ty chứng khoán
2 Mô hình tổ chức kinh doanh
Hoạt động của công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanhnghiệp sản xuất và thương mại thông thường vì CTCK là một định chế tài chính đặc biệt.Tuy nhiên, có thế khái quát mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán của CTCK theo 2nhóm sau:
a Công ty chứng khoán chuyên doanh
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập vàchuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được thamgia kinh doanh chứng khoán Ưu điểm của mô hình này:
- Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng
- Thúc đẩy TTCK phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn
Mô hình này được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, TháiLan…
b Công ty chứng khoán đa năng
Theo mô hình này, CTCK được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chínhtổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính Do
đó, mà các NHTM có thể vừa kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm vừa kinh doanh tiền tệ
Mô hình này được biểu hiện dưới 2 hình thức:
- Đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán và bảo hiểmphải thành lập công ty con hạch toán và hoạt động độc lập với kinh doanh tiền tệ
- Đa năng toàn phần: Các ngân hàng được trực tiếp kinh doanh chứng khoán, bảohiểm , tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh vực kinhdoanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khả năng chịu đựng cácbiến động của TTCK là cao Mặt khác, ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn để kinh
Trang 2doanh chứng khoán; khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu nămcủa ngân hàng.
Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị trường
cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn
là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Mặt khác, theo mô hình này, nếu có biến độngtrên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫnđến các cuộc khủng hoảng tài chính
Do những hạn chế trên mà trước đây Mỹ và nhiều nước khác đã áp dụng mô hình này,nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đã chuyển sang mô hình chuyêndoanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đến ngày nay
Tại Việt Nam, do quy mô các ngân hàng thương mại nói chung là rất nhỏ bé, và đặcbiệt vốn dài hạn rất thấp, hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu tronglĩnh vực tính dụng thương mại ngắn hạn, trong hoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốndài hạn Khả năng khắc phục những điểm yếu này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài
Do đó, để bảo vệ an toàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCKquy định các Ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phầnvốn tự có của mình thành lập một Công ty chứng khoán chuyên doanh trực thuộc, hạchtoán độc lập với ngân hàng
3 Phân loại Công ty Chứng khoán
- Công ty môi giới chứng khoán: là CTCK chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng
- Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: là CTCK có lĩnh vực hoạt động chủ yếu
là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá
- Công ty kinh doanh chứng khoán: là CTCK chủ yếu thục hiện nghiệp vụ tự doanh
(tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh)
- Công ty trái phiếu: là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu.
- Công ty chứng khoán không tập trung: là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị
trường OTC và đóng vai trò là các nhà tạo thị trường
4 Cơ cấu tổ chức của CTCK
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuốc vào loại hình nghiệp vụ chứng khoán mà công
ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó Tuy nhiên,chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được chia thành 2nhóm khối khác nhau là khối nghiệp vụ và khối phụ trợ
a Khối nghiệp vụ ( Front office):
Trang 3Là khối thực hiện các giao dịch kinh doanh và dịch vụ chứng khoán, đem lại thu nhậpcho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợpvới các nhu cầu đó Tương ứng với các nghiệp vụ sẽ có các bộ phận, phòng, ban như sau:
- Phòng môi giới
- Phòng tự doanh
- Phòng bảo lãnh phát hành
- Phòng quản lý danh mục đầu tư và quỹ đầu tư
- Phòng tư vấn tài chình và đầu tư
- Phòng kỹ quỹ
b Khối phụ trợ ( Back office):
Là khối không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh mà thực hiện các hoạtđộng trợ giúp cho khối nghiệp vụ, bao gồn các bộ phận sau:
- Phòng nghiên cứu và phát triển
- Phòng phân tích và thông tin thị trường
- Phòng kế hoạch công ty
- Phòng công nghệ tin học
- Phòng pháp chế
- Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
- Phòng ngân quỹ, ký quỹ
- Phòng tổng hợp hành chính nhân sự
5 Vai trò, chức năng của CTCK
a Chức năng
- Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa những người có tiền nhàn rỗi đến người
sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch ( thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớplệnh)
- Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán
- Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vaitrò nhà tạo lập thị trường)
b Vai trò
- Đối với tổ chức phát hành: Thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh pháthành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành
Trang 4- Đối với các nhà đẩu tư: Với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp, thôngqua các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư và quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai tròlàm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.
- Đối với TTCK: CTCK thể hiện 2 vai trò chính là góp phần tạo lập giá cả, điều tiếtthị trường và góp phần tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính
- Đối với cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCKcho các cơ quan quản lý thị trường để họ có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thaotúng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
Trang 5Chương 2: Thực trạng các Công ty chứng khoán tại Việt Nam
1 Các quy phạm pháp luật liên quan đến CTCK:
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời vào năm 1998 sau Nghị định số 48/CPban hành về chứng khoán và TTCK ngày 11/7/1998, sau 2 năm chuẩn bị (thành lập ỦyBan chứng khoán Việt Nam với Nghị định 75/CP ngày 28/11/1996) Tuy nhiên phải đếntận năm 2006, Luật Chứng khoán Việt Nam mới chính thức được Quốc hội nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/06/2006 và được sửađổi nhiều lần cho phù hợp với diến biến của thị trường chứng khoán non trẻ Việt Nam Cóthể tóm lược một số các văn bản quy phạm pháp luật liên quan như sau:
Luật chứng khoán năm 2006 ngày 29/06/2006
Trang 6chứng chỉ quỹ của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng dạng đóng ngày 02/10/2009
Luật sửa đổi bổ sung Luật Chứng khoán năm 2010 ngày 24/11/2010
Trong những văn bản quy phạm pháp luật về thị trường chứng khoán, bài viết chỉ nêu
ra một số điểm trọng tâm khi nghiên cứu về công ty chứng khoán tại Việt Nam, cụ thể nhưsau:
a Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứngkhoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanhchứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán
b Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động
- Có trụ sở đảm bảo các yêu cầu sau: (theo 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007)+ Quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu một năm, trong đó diện tích làm sàn giaodịch phục vụ nhà đầu tư tối thiểu 150 m2;
+ Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm: sàn giaodịch phục vụ khách hàng; thiết bị văn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thựchiện hoạt động giao dịch chứng khoán; trang thông tin điện tử, bảng tin để công bố thôngtin cho khách hàng; hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền mặt, tài sản có giá trịkhác và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp vụ môigiới chứng khoán, tự doanh chứng khoán;
+ Hệ thống phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
+ Có hệ thống an ninh, bảo vệ an toàn trụ sở làm việc
- Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, công tychứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tạiViệt Nam là: (theo văn bản 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007)
+ Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
+ Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
+ Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
Trang 7+ Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam.
- Giám đốc, Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc phải đáp ứng đủ một số quy định tạiđiều 22 của quy chế 27/2007/QĐ-BTC, có tối thiểu ba người hành nghề chứng khoán chomỗi nghiệp vụ kinh doanh (Các tiêu chuẩn của TGĐ: 1-Không phải là người đã từng hoặcđang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tù hoặc bị tòa án tước quyền hành nghề theoquy định của pháp luật; 2-Chưa từng là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bịphá sản, trừ trường hợp phá sản vì lý do bất khả kháng; 3-Trình độ học vấn và kinh nghiệmlàm việc: có bằng đại học hoặc trên đại học; có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tàichính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất ba (03) năm và có kinh nghiệm quản lý điều hànhtối thiểu ba (03) năm; 4-Tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanhchứng khoán; 5-Có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán; 6-Chưa từng bị Uỷ ban Chứngkhoán Nhà nước xử phạt theo pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán trongvòng hai (02) năm gần nhất Phó TGD, GD chi nhánh, Phó GD chi nhánh phải có tiêuchuẩn 1, 2, 3, 4, 5 của TGD và đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ học vấn và kinh nghiệm làmviệc: có bằng đại học hoặc trên đại học; có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tàichính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất hai (02) năm và có kinh nghiệm quản lý điều hànhtối thiểu hai (02) năm)
- Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% vốn điều
lệ thực góp ban đầu của CTCK Phần vốn góp ban đầu của cổ đông sáng lập, thành viênsáng lập không được chuyển nhượng trong vòng ba (03) năm kể từ ngày được cấp Giấyphép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập, thànhviên sáng lập khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và phù hợp với Điều lệ công ty
c Các quy định khác liên quan:
- Chi nhánh công ty chứng khoán được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh theo phâncấp, uỷ quyền của công ty chứng khoán
- Phạm vi hoạt động của Phòng giao dịch bao gồm: môi giới chứng khoán, tư vấn đầu
tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, đại lý phân phối chứng khoán
- Đại lý nhận lệnh giao dịch chứng khoán được thực hiện các hoạt động dưới đây:Nhận lệnh và truyền lệnh về trụ sở chính hoặc chi nhánh công ty chứng khoán; Công bốthông tin theo uỷ quyền của công ty chứng khoán
- Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của công ty chứng khoán; văn phòng đạidiện không được thực hiện hoạt động kinh doanh
Trang 8- Giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu từ 10% trở lên vốn điều lệ của công ty chứngkhoán, trừ trường hợp cổ phiếu của công ty chứng khoán được niêm yết, phải được Uỷ banChứng khoán Nhà nước chấp thuận.
- Công ty chứng khoán bị đình chỉ hoạt động trong các trường hợp sau:
1 Hồ sơ đề nghị cấp, bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ýlàm sai sự thật;
2 Sau khi hết thời hạn cảnh báo quy định tại Điều 74 của Luật Chứng khoán (Công
ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ bị cảnh báo trong trường hợp vốn khả dụng giảmxuống dưới một trăm hai mươi phần trăm mức quy định Công ty chứng khoán, công tyquản lý quỹ phải khắc phục tình trạng cảnh báo trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày bịcảnh báo), công ty chứng khoán vẫn không khắc phục được tình trạng cảnh báo và có lỗgộp đạt mức 50% vốn điều lệ hoặc không còn đáp ứng đủ điều kiện về vốn hoạt động kinhdoanh chứng khoán;
3 Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong Giấy phépthành lập và hoạt động;
4 Không duy trì các điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động
- Công ty chứng khoán bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động trong các trườnghợp sau:
+ Không tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán trong thời hạn 12 tháng, kể từngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động;
+ Không khắc phục tình trạng khoản 2 ở trên trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày bịđình chỉ hoạt động;
+ Không khắc phục được các vi phạm quy định 1, 3, 4 ở trên trong thời hạn 60 ngày,
kể từ ngày bị đình chỉ hoạt động;
+ Giải thể, phá sản;
+ Công ty bị chia, công ty bị sáp nhập, công ty bị hợp nhất
- Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần được mua lạikhông quá 10% số cổ phần phổ thông đã bán làm cổ phiếu quỹ Khoảng cách giữa lần mua
và lần bán cổ phiếu quỹ gần nhất không dưới sáu (06) tháng, trừ trường hợp phân phối chongười lao động trong công ty hoặc dùng làm cổ phiếu thưởng Trường hợp dùng làm cổphiếu thưởng cho người lao động phải đảm bảo có nguồn thanh toán từ quỹ phúc lợi, khenthưởng Công ty chứng khoán không được phép mua cổ phiếu quỹ trong các trường hợpsau: Đang kinh doanh thua lỗ hoặc đang có nợ quá hạn; Đang trong quá trình chào bán cổ
Trang 9phiếu để huy động thêm vốn; Đang thực hiện tách gộp cổ phiếu; Cổ phiếu của công tyđang là đối tượng chào mua công khai.
- Vốn khả dụng (vốn bằng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt trongvòng ba mươi (30) ngày): Công ty chứng khoán phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng trên tổngvốn nợ điều chỉnh tối thiểu bằng 5% Trong trường hợp công ty chứng khoán có tỷ lệ vốnkhả dụng trên tổng nợ điều chỉnh giảm dưới mức 6%, công ty chứng khoán phải báo cáo
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong vòng bốn mươi tám (48) giờ và áp dụng các biệnpháp cần thiết trong thời hạn ba mươi (30) ngày để đảm bảo mức vốn khả dụng không tiếptục giảm Trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng nợ điều chỉnh giảm dưới mức 5%, công
ty chứng khoán phải báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong vòng hai mươi tư (24)giờ Trong trường hợp này, công ty chứng khoán không được triển khai hoạt động kinhdoanh mới, không được lập chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đại lý nhậnlệnh Trong trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng nợ điều chỉnh giảm dưới mức 5%trong thời gian sáu (06) tháng liên tục, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước áp dụng biện phápđình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động của công ty chứng khoán
- Hạn mức vay của công ty chứng khoán: Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu của công
ty chứng khoán không được vượt quá sáu (06) lần Nợ ngắn hạn tối đa bằng tài sản ngắnhạn
- Hạn chế đầu tư của CTCK: công ty chứng khoán không được:
+ Đầu tư vào cổ phiếu hoặc phần vốn góp của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệcủa công ty chứng khoán;
+ Cùng với người có liên quan đầu tư từ 5% trở lên vốn điều lệ của công ty chứngkhoán khác;
+ Đầu tư từ 20% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết;+ Đầu tư từ 15% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêmyết;
+ Đầu tư hoặc góp vốn từ 15% trở lên tổng số vốn góp của một công ty trách nhiệmhữu hạn
+ Sử dụng quá 20% tổng tài sản để đầu tư, mua cổ phần hoặc tham gia góp vốn vàomột tổ chức khác
2 Tổng quan về hoạt động của các CTCK hiện nay tại Việt Nam:
Thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ mới vừa hình thành và đang trong quá trìnhhoàn thiện Chính vì thế hệ thống CTCK Việt Nam hiện nay vẫn còn khá non trẻ Bài viết
Trang 10xin thống kê một số đặc trưng cơ bản dễ nhận thấy nhất khi nghiên cứu về các CTCK ViệtNam trong thời gian qua:
Với sự suy giảm mạnh của thị trường trong năm 2011, các công ty chứng khoán lại cóthêm một năm “ác mộng” như đã từng xảy ra trong năm 2008
Hiện tại, có 27 công ty chứng khoán đang niêm yết, chiếm ¼ tổng lượng công tychứng khoán Kết quả kinh doanh của các công ty này cũng phần nào thể hiện bức tranhchung của toàn ngành
Tính đến thời điểm tháng 2/2012, chỉ duy nhất Chứng khoán SME chưa công bố kếtquả kinh doanh Q4 và cả năm Các số liệu dưới đây chỉ gồm kết quả của 26 công ty cònlại
Tổng doanh thu của 26 CTCK niêm yết trong năm vừa qua đạt 6.259 tỷ đồng, giảm2.300 tỷ so với năm 2010
Lợi nhuận trước thuế cũng giảm 3.200 tỷ từ 1.758 tỷ xuống -1.408 tỷ đồng
Mặc dù mang cái tên rất chung chung là “Doanh thu khác” nhưng đây đang là nguồnthu quan trọng nhất của hầu hết các công ty chứng khoán Nó bao gồm các khoản thu nhậpnhư lãi tiền gửi, cung cấp các dịch vụ cho nhà đầu tư (đòn bẩy…)…
Doanh thu từ cung cấp các dịch vụ liên quan chặt chẽ với hoạt động môi giới đều dựatrên hoạt động giao dịch của khách hàng
Qua biểu đồ trên có thể thấy Doanh thu khác chiếm ½, Doanh thu tự doanh chiếm1/3, Doanh thu môi giới chiếm 1/10 tổng doanh thu của các CTCK
Doanh thu môi giới của SSI dẫn đầu với 96 tỷ đồng, đứng thứ 2 là HSC với 91 tỷđồng và BVS đứng thứ 3 với 65 tỷ đồng
Do thời gian phát triển còn quá ít nên bản thân hệ thống các CTCK Việt Nam nộitại còn rất nhiều vấn đề Với những diễn biến phức tạp và thiếu tích cực của thị trườngchứng khoán từ 2008 – 2011 vừa qua (đặc biệt là năm 2011, thanh khoản của thị trường sụtgiảm nghiêm trọng, giá trị giao dịch bình quân trong năm 2011 chỉ bằng khoảng 40% mứcbình quân của thị trường năm 2010; giá trị giao dịch mỗi phiên chỉ đạt từ 500 tỷ đồng đến
600 tỷ đồng, trong khi ở thời kỳ đỉnh điểm, giá trị giao dịch mỗi phiên có thể lên đến trên5.000 tỷ đồng Sự sụt giảm này đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của khối CTCK,những căn bệnh của các CTCK), những căn bệnh tiềm ẩn đã có cơ hội bung vỡ và nở rộ.+ Chất lượng hoạt động kém, bộ máy hoạt động chưa hoàn chỉnh: Theo danh sáchcông bố trên hai Sở GDCK, chỉ có 102/105 CTCK là thành viên Có 3 CTCK hiện khôngcung ứng dịch vụ môi giới chứng khoán là TC Capital Việt Nam, CTCK Hamico và CTCKCIMB-Vinashin CTCK Hamico thực chất là CTCK Gia Anh (GASC), được đổi tên từ
Trang 11ngày 10/3/2011 Đầu năm 2009, GASC là CTCK đầu tiên rút nghiệp vụ môi giới chứngkhoán, chỉ giữ lại nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán Tài khoản của khách hàng mở tạiGASC sau đó được chuyển sang CTCK An Phát Công ty TNHH Tư vấn đầu tư chứngkhoán TC Capital Việt Nam nằm trong danh sách 105 CTCK được UBCK cấp phép thànhlập ngày 29/4/2008, chỉ với hoạt động duy nhất là tư vấn đầu tư Một trường hợp khác kháđặc biệt, được cấp phép thành lập ngày 12/08/2008 với vốn điều lệ 333,34 tỷ đồng, Công
ty TNHH Chứng khoán CIMB-VINASHIN được phép thực hiện tất cả các nghiệp vụ củaCTCK Tuy nhiên, đến nay Công ty vẫn chưa thực hiện kết nối với 2 Sở GDCK
+ Căn bệnh thành tích đua giành giật khách hàng để tăng thị phần, nuông chiều nhàđầu tư VIP một cách thái quá khiến nhiều CTCK bỏ qua mọi quy tắc quản trị rủi ro Hậuquả là những vụ nổ tín dụng trên TTCK, những nhà đầu tư khiếu kiện CTCK lạm dụng tiền
và tài khoản, những số lỗ hàng tỷ đồng trong BCTC cuối năm: Vụ bà Huỳnh Thị HuyềnNhư, nguyên là Thành viên HĐQT CTCK Phương Đông (ORS) với cú lừa đảo lên đếnhàng nghìn tỷ đồng trên thị trường OTC mở màn cho những bê bối
+ Nỗi lo về thanh khoản gia tăng: CTCK SME, từng là một CTCK sở hữu hệ thốngcông nghệ hiện đại vào bậc nhất Việt Nam, với một lượng khách hàng tương đối lớn, thìnăm qua cũng rơi vào cảnh "khốn đốn" SME nhiều lần bị nhà đầu tư khiếu nại vì tài khoảntiền gửi của họ tại Công ty "có vấn đề", không thể rút được tiền bình thường Trong vòngchỉ hơn 1 tháng từ ngày 1/11 đến ngày 5/12, CTCK SME đã 2 lần lâm vào tình trạng thiếuhụt tiền trong thanh toán bù trừ với quy mô giao dịch bị hủy lần 1 vào khoảng 1,6 tỷ đồng
và lần 2 với hơn 3 tỷ đồng Hiện nay cổ phiếu SME trên sàn giao dịch chứng khoán đã bịđưa vào diện cảnh báo và chỉ cho giao dịch trong ngày thứ 6 hàng tuần CTCK Tràng An(TAS) cũng bị Trung tâm Lưu ký cảnh cáo vì mất khả năng thanh toán cho các giao dịchchứng khoán và TAS đã phải nhờ đến Quỹ Hỗ trợ thanh toán của VSD để không phải hủycác giao dịch của nhà đầu tư Theo giải thích từ phía TAS thì công ty này mất khả năngthanh toán vì không quản lý chặt khâu chuyển tiền của nhà đầu tư
+ Hàng loạt CTCK vi phạm các quy định pháp luật: Trong năm 2011 có 11 trườnghợp CTCK, công ty quản lý quỹ bị xử phạt do vi phạm quy định của pháp luật về chứngkhoán, các vụ xử phạt liên quan nhiều đến dịch vụ tài chính, mở dịch vụ mới, đáp ứng chỉtiêu an toàn tài chính Nhưng đây chỉ là bề nổi
+ Kết quả kinh doanh thua lỗ: Một con số do chính các DN công bố gần đây chothấy, kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2011 của các CTCK niêm yết trên HOSE có tới
2 phần 3 trong số này thua lỗ, trong đó 18 công ty có số lỗ trên 1.350 tỷ đồng Một khảosát mang tính thử nghiệm để áp dụng chuẩn an toàn tài chính mới cho thấy, tính đến đầu
Trang 12tháng 10/2011, 12 CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng dưới 180% Trong số đó có năm CTCK có
tỷ lệ này ở dưới mức dưới 120% - mức có thể bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt
+ Khoảng trống thông tin trên thuyết minh BCTC của các CTCK: Việc minh bạchthông tin của CTCK không chỉ giảm thiểu rủi ro cho cổ đông của các DN này, mà còn gópphần quan trọng tạo dựng niềm tin cho các chủ thể tham gia thị trường, giúp thị trườngphát triển lành mạnh Tuy nhiên, trong báo cáo tài chính (BCTC) bán niên năm 2011 đượckiểm toán soát xét của một số CTCK đã xuất hiện những con số mập mờ, tiềm ẩn rủi ro vớicông chúng đầu tư Trên BCTC bán niên năm 2011 đã được soát xét hoặc được kiểm toáncủa một số CTCK niêm yết lại cho thấy số liệu "Khoản phải thu khác" rất lớn và khôngđược thuyết minh một cách chi tiết Ví dụ như tại BCTC bán niên năm 2011, CTCKPhương Đông (ORS) có khoản phải thu khác hơn 1.400 tỷ đồng, chiếm 85% tổng tài sản;SME có Khoản phải thu khác là 577 tỷ đồng, chiếm gần 70% tổng tài sản; CTCK Châu Á -Thái Bình Dương (APS) có giá trị phải thu khác hơn 349 tỷ đồng, chiếm 48% tổng tài sản
Đứng trước tình hình khó khăn hiện nay, các CTCK đã có những biện pháp giảm chi phí kinh doanh, tăng cường dịch vụ để thu hút NĐT:
+ Thu hẹp sàn, đóng cửa chi nhánh: Theo thống kê của UBCK, năm 2011 có 16 chinhánh, 23 phòng giao dịch đóng cửa, nhưng có thêm 15 chi nhánh, 16 phòng giao dịchđược thành lập mới Như vậy, về cơ bản các CTCK chỉ thu hẹp ccs phòng giao dịch, hầunhư không rút chi nhánh Tính đến cuối năm, tổng số chi nhánh của các CTCK là 150 và
83 phòng giao dịch Tổng quy mô vốn điều lệ của nhóm này là 35,5 nghìn tỷ đồng Vềnhân sự, năm 2011 có thêm 588 chứng chỉ hành nghề được cấp mới, trong đó có 329chứng chỉ môi giới và 259 chứng chỉ phân tích Tổng số nhân viên của các CTCK cóchứng chỉ hành nghề lên tới 2.850 người Dẫn đầu làn sóng này là CTCK Thăng Long(TLS) khi đóng cửa tới 6 PGD và chuyển trụ sở chính, tiếp theo là WSS với việc đóng cửa
5 chi nhánh, PGD Theo điều 3, Quy chế tổ chức và hoạt động CTCK ban hành kèm theoQuyết định 27/2007/QĐ-BTC, CTCK phải có quyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu trongvòng 1 năm, trong đó diện tích sàn giao dịch phục vụ NĐT tối thiểu là 150 m2 Theo Điều
17 quy chế này, CTCK sẽ bị đình chỉ hoạt động nếu không duy trì các điều kiện trên Tuynhiên, có một thực tế là diện tích sàn giao dịch tại nhiều CTCK đang ngày càng hẹp lại Tạinhiều sàn chứng khoán, diện tích dành cho NĐT được quây lại sao vừa đủ chiều rộng của 2màn máy chiếu bảng điện tử, chiều dài đủ khoảng 4 - 5 hàng ghế, diện tích còn lại để tậndụng cho các hoạt động dịch vụ khác Đơn cử như CTCK VNS có trụ sở tại phố Đào DuyAnh, trước kia bảng điện tử treo kín diện tích sàn tầng 1 của Tòa nhà VCCI, nay thì phầnlớn được dùng để hợp tác với một số đối tác ngân hàng, cung cấp các dịch vụ tài chính