1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐỀN CỜN Làng Biển Phương Cần, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An

71 1,2K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 15,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu giá trị văn hóa đền Cờn làng biển Phương Cần là muốn giới thiệu mộtnét văn hóa đặc sắc của làng Quỳnh tới tất cả những người quan tâm về di tích lịch sử cũng như bước đầu nhận d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT KHOA NGỮ VĂN VÀ VĂN HÓA HỌC

NGÀNH VĂN HÓA HỌC 

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐỀN CỜN

Làng Biển Phương Cần, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC K33

GVHD: PGS.TS PHAN THỊ HỒNG SVTH: PHẠM VĂN KHÁNH

Đà Lạt, tháng 5 năm 2013

Trang 2

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Thị Hồng trưởng khoa Ngữ Văn Và Văn Hóa Học đã nhiệt tình hướng dẫn giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp.

Xin cảm ơn chú Phan Văn Nuôi phòng văn hóa - xã hội ủy ban nhân dân xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, các ông bà trong ban quản lý di tích đền Cờn đã nhiệt tình cung cấp thông tin cần thiết giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học.

Đà lạt, tháng 5 năm 2013 Tác giả khóa luận

Trang 3

Lời Cam Đoan

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả nêu trong khóa luận chưa được công bố Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu

của người khác tôi đều có chú thích rõ ràng.

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa là sức sống của mỗi dân tộc, đó là sự kết tinh từ ngàn đời của từngquốc gia Việt Nam 54 dân tộc anh em đã đứng vững trong hàng ngàn năm lịch sử,chống chọi với hàng ngàn kẻ thù để đi lên độc lập, xây dựng đất nước gấm hoa,phồn vinh

Di tích lịch sử văn hóa đã có từ ngàn xưa, gắn chặt với làng xóm, với nền kinh

tế tiểu nông lúa nước Việt Nam Di tích lịch sử văn hóa là nơi lưu giữ và phản ánhmột phần lịch sử của từng địa phương, đất nước thông qua giá trị vượt thời giancủa từng công trình Đó cũng là niềm tự hào của từng dân tộc, từng thời đại ĐềnCờn làng biển Phương Cần, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An như một minhchứng sát thực của giá trị vượt thời gian đó Đền Cờn là tất cả các giá trị của lịch

sử, ý nghĩa hiện thực cho cuộc sống của con người, của những người dân vùngbiển Đó là sự kết tinh, sự đúc kết của huyền thoại của mãnh đất và con người nơi

di tích này sinh ra và tồn tại

Do những thông tin có được từ hệ thống di tích và kho tàng di vật chứa đựngtrong đó, ngày nay chúng ta có thể coi mỗi một di tích như một trang sử, cả hệthống di tích là một phần lịch sử viết bằng đường nét hình khối, đó là những trang

sử sống động được viết bằng hiện vật Giáo Sư Trần Văn Giàu chủ tịch danh dự

hội sử học Việt Nam đã nói rằng:“theo quy luật của thời gian, quá khứ sẽ chắt lọc

và kết tinh thành những giá trị lịch sử vĩnh viễn, những giá trị lịch sử hiện hữu đó

sẽ được kiểm chứng, chắt lọc và trở thành huyền thoại tương lai”.

[Dương Văn Sáu, Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Và Danh Lam Thắng Cảnh Việt Nam,

Hà Nội 2007, tr 67]

Không chỉ vậy, một phần tạo nên được sự vĩnh hằng của di tích văn hóa chính

là nó đã mang trong mình một cội nguồn linh thiêng, một nét văn hóa tâm linh củacon người thông qua lễ hội truyền thống Tất cả những điều này sẽ được kết tinh

Trang 6

trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa Vì thế những di tích lịch sử văn hóa như làkho tàng cổ tích và huyền thoại.

Di tích đền thờ là nơi in dấu của lịch sử của thời gian, phản ánh lịch sử huyềnthoại liên quan Công trình là nơi cộng hưởng của quá khứ và hiện tại Đó là nơigiao tiếp giữa con người và thế giới tâm linh, đưa con người về qua khứ về với cộinguồn hào hùng

Đền thờ đã trở thành nơi nhằm hướng con người về với thế giới huyền ảo, đếnvới cái tĩnh lặng trong con người chúng ta Đền Cờn là khu di tích lịch sử văn hóalâu đời đã lưu giữ và tôn vinh các giá trị văn hóa Các giá trị này như còn tính hiệnhữu vừa mang tính biểu tượng, dù thời gian có phai nhạt đến đâu nhưng vẫn còn

đó dáng dấp của sự oai nghiêm, linh thiêng nơi đất Quỳnh Đó chính là niềm mongmuốn từ ngàn xưa trong tâm thức của người làng Phương Cần nói riêng và ngườiViệt Nam nói chung

Hôm nay đây chúng ta lại được trở về với cội nguồn, quay trở về với mảnh đất

xứ Nghệ yêu thương, một mảnh đất địa linh nhân kiệt, mảnh đất có truyền thốnghiếu học và mảnh đất anh hùng trong kháng chiến, với những người con đã hi sinhcho độc lập gấm hoa của tổ quốc; một mảnh đất giàu lòng nhân hậu, với nhữngngôi đền linh thiêng hiện mình trong làng quê Đất Quỳnh giãi nắng dầm sươngnhưng chưa hết được tình thương, vẫn còn đọng lại ngôi đền cổ kính ngàn đờivọng mãi

Trong bài thơ Thành Tâm của PGS.TS Phan Xuân Vận một người con củamảnh đất Quỳnh đã có một đoạn viết:

“Trời cao biền cả đền Cờn đó

Tứ vị thánh nương giúp mọi người Tín chủ thành tâm về quê mẹ

Từ thân lập nghiệp nhớ Quỳnh Phương”

(Đền Cờn năm Bính Tuất 2006) Bao người đã lớn lên trên mảnh đất Quỳnh Phương này, Quỳnh Phương đất

mẹ anh hùng, vẫn còn đó tiếng chuông vọng về bên cửa biển, vẫn đón tiếp nồng

Trang 7

nhiệt những người con đất Quỳnh Đó là tất cả sự trang nghiêm, linh thiêng ngànđời mãi là nơi đến hấp dẫn cho tất cả người Việt Nam.

Từ những ý nghĩa trên chúng tôi chọn đề tài“tìm hiểu giá trị văn hóa đền Cờn,

làng biển Phương Cần, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” để thực hiện khóa luận

tốt nghiệp đại học với mục đích tìm hiểu những giá trị văn hóa của một địa danhnổi tiếng của xứ Nghệ

2 Mục đích và ý nghĩa đề tài

Là một cử nhân văn hóa học tương lai, là một người con của làng Quỳnh, tôikhông bao giờ nguôi với một tâm nguyện là được cống hiến sức mình cho sựnghiệp của huyện nhà

Tìm hiểu giá trị văn hóa đền Cờn làng biển Phương Cần là muốn giới thiệu mộtnét văn hóa đặc sắc của làng Quỳnh tới tất cả những người quan tâm về di tích lịch

sử cũng như bước đầu nhận diện đầy đủ những giá trị văn hóa đặc biệt của đềnCờn một di tích văn hóa của huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Bên cạnh đó khẳng định những giá trị và tôn vinh giá trị văn hóa vật chất vàtinh thần thiêng liêng của một vùng quê xứ Nghệ, một mảnh đất thân thương củanước Việt ta

3 Lịch sử nghiên cứu

Nói đến văn hóa là nói đến bản sắc của một đất nước của một dân tộc, văn hóalàng là tế bào của văn hóa dân tộc, đó là cơ sở để hình thành nên những di sản,những hạt ngọc thô nhưng sáng óng bền vững của bản sắc dân tộc

Đó là sự kết tinh trong hàng ngàn năm lịch sử Trang sử đó không hề mất đi màngày càng được tô đậm, khi được con người hướng đến Đền Cờn tọa lạc bên dòngMai Giang với dãy núi hùng vỹ, bờ biển xanh ngát với tiếng sóng rì rào Việcnghiên cứu văn hóa đền Cờn đã có nhiều tác giả trong đó đáng chú ý một số tác

phẩm như:“Đền Cờn Tục Thờ Thần Tứ Vị Thánh Nương Và Quần Thể Di Tích

Văn Hóa Xã Quỳnh Phương” của tác giả Ninh Viết Giao, nhà xuất bản Nghệ An

Trang 8

năm 2009; tác phẩm“Đền Cờn Với Địa Danh Lịch Sử Văn Hóa Trong Tâm Thức

Dân Gian” của tác giả Hồ Đức Thọ, nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội năm

2001; tác phẩm“Đền Miếu Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Khánh, nhà xuất bản

Thanh Niên, Hà Nội năm 2001

Các tác phẩm này cũng mới dừng lại ở phần khái quát sơ lược nên chưa giớithiệu rộng rãi đến bạn đọc trong và ngoài nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này đối tượng nghiên cứu cơ bản mà tôi hướng đến là đền Cờn,làng biển Phương Cần, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Bên cạnh đó tìm hiểu giá trị văn hóa của đền Cờn trên hai phương diện văn hóavật chất (kết cấu kiến trúc, nghệ thuật xây cất, khắc chạm…), tinh thần (lễ hội, thờcúng, sinh hoạt văn hóa dân gian…)

Với những nét văn hóa đó đền Cờn như góp vào kho tàng di sản văn hóa đểtạo nên sự độc đáo cho bản sắc văn hóa Việt Nam, từ đó góp phần đi sâu hơn nữatrên con đường hội nhập văn hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chính trong khóa luận được tôi sử dụng: phươngpháp nghiên cứu điền dã; phương pháp tìm hiểu tài liệu và sưu tầm tài liệu;phương pháp hệ thống mô tả, phân tích, để làm nổi bật nét văn hóa, giá trị nổi bậtcủa khu di tích đền Cờn

6 Đóng góp của khóa luận

Đã không ít tác giả đã tìm hiểu về đền Cờn và con người nơi đây Mỗi nghiêncứu có một đóng góp riêng, nhưng không phải nghiên cứu nào cũng toàn vẹn vềmọi mặt Trong đề tài này tôi chọn đền Cờn là đối tượng nghiên cứu nhằm để thấyđền miếu Việt Nam quan trọng như thế nào trong tiềm thức trong tâm linh củangười dân làng Phương Cần nói riêng và người dân Việt Nam nói chung Từ đó có

Trang 9

thể đưa ra các giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa và nét vănhóa cổ truyền của đền miếu Việt Nam Bên cạnh đó bước đầu nghiên cứu và nhậndạng những giá trị văn hóa của đền Cờn.

Chương 2: Những Giá Trị Văn Hóa Đền Cờn

Chương 3: Vấn Đề Giữ Gìn Và Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Đền Cờn

Trang 10

CHƯƠNG 1:

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐỀN CỜN

1.1 Lịch sử hình thành làng biển Phương Cần

“Riêng xã Phương Cần, người ở đây không có nghề gì khác, tranh nhau

kiếm lời về cá Vẫn có tục lập đàn kỳ đảo để thuyền mành vượt biển được thần giúp sức, sóng gió không ngăn trở khi đi buôn bán Tập quán ở đây xa hoa Thể chế ngày đêm không thể bó buộc, bốn mùa đều là mùa xuân, vì sống phong lưu”.

[Quỳnh Lưu Phong Thổ Ký, Hà Tất Tố]

Làng Phương Cần hay còn gọi là Kẻ Cờn nay là xã Quỳnh Phương, huyệnQuỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Cách thủ đô Hà Nội 220km về phía bắc, cách thànhphố Vinh 75km về phía nam, theo quốc lộ 1A Làng Phương Cần có tên gọi khácnhư: Hương Cần, Nhang Cần, Văn Phương, đều chỉ mảnh đất có bề dày lịch sửhàng trăm năm

Theo sử sách, xã Quỳnh Phương Thời Hán là đất quận Cửu Chân, thời Tấn

là đất Cửu Đức, thời Tùy là đất quận Nhật Nam, thời Đường thuộc Diễn Châu,thời Đinh thời Lê thuộc đất Nghệ An Thời Trần thuộc đất Vọng Giang, thời Hồthuộc phủ Linh Nguyên, thời thuộc Minh nằm trong đất Nghệ An

Cuối thế kỷ VIII (thuộc thời nhà Đường) ban đầu gọi là xóm Cờn sau đổithành Càn Hải (tức kẻ càn) Đến thời Trần đổi thành Càn Hải, sau đó đổi thànhPhương Cần Thời Lê, Phương Cần có bảy làng, đó là làng Phương Cần, NgọcHuy, Hữu Lập, Đông Thời, Hải Lệ và Đông Lý, thuộc tổng Hoàng Mai Trải quanhững thăng trầm và biến động của lịch sử nên tên xã được đổi tên cho phù hợpvới yêu cầu của cách mạng lúc bấy giờ Năm 1946-1947 làng mang tên là làngPhương Cần, từ năm 1948-1953 làng đổi thành xã Văn Phương Sau năm 1954miền bắc hoàn toàn giải phóng đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, tên xã QuỳnhPhương được bắt đầu từ đó

Trang 11

Xưa kia, dân cư làng biển Phương Cần ngoài nghề biển còn sống bằng nghềnông, dấu vết còn lại là tục thờ thần nông và thờ vỏ trấu lúa…, trước cách mạngtháng 8 năm 1945 ngoài đền Cờn còn có chùa, đình làng và thờ cá ngư ông Donhiều nguyên nhân như chiến tranh, thiên tai …, nên nhiều di tích đã bị phá hủygiờ chỉ còn lại một phần của di tích đền Cờn.

Cho đến nay chưa xác định được ai là người đầu tiên mở đất lập làng ở đây.Công việc điều tra điền dã và tư liệu chưa thành văn chưa khẳng định được điều

đó Có thể nhận thấy, cư dân ở đây có nguồn gốc từ Thanh Hóa, từ Trung Quốc vàmột số từ Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ra đây lập nghiệp Theogia phả dòng họ Nguyễn, một dòng họ còn có gia phả và có truyền thống lâu đời

và cũng là dòng họ còn có nhà thờ họ cho biết thì dòng họ này bắt nguồn từ ThanhHóa cách đây khoảng 300 năm

Hiện nay toàn xã có 18 dòng họ với hơn 100 chi họ, sau dòng họ Nguyễn làcác dòng họ như Lê, Bùi, Hồ, Trần…, cư dân Phương Cần chủ yếu là người kinhtheo tín ngưỡng dân gian, chỉ có một số gia đình ở xóm Quyết Tiến là theo đạothiên chúa giáo Về truyền thống học hành, khoa bảng ở Phương Cần trước đây chỉ

có hai người đỗ hương cống thuộc giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX ởtriều Nguyễn, cả hai người đều thuộc họ Nguyễn Đó là Nguyễn Quý Sỹ (tức cốngSỹ) và Nguyễn Thanh Liêm (tức cống Liêm) hai ông đỗ cách nhau năm năm Ôngcống Sỹ đã từng làm thủ chỉ ở đền Cờn ba năm do bất đồng trong làng nên ông đã

bỏ làng ra đi Các cụ cao niên trong dòng họ Nguyễn kể lại rằng khi ông sống ởđất khách quê người ông giấu quê của ông nhưng trong tâm khảm của ông vẫn cònhình ảnh thân thương như vẫn còn đó ngày nào, khi được hỏi đến quê hương ông,ông đã nói rằng: quê ông là làng Dừa có 4 ngai, 4 kiệu, 8 tàn vàng rước trong ngàyhội làng Giấu cội nguồn quê hương nhưng lại rất ngợi ca và tự hào về làng quê có

lễ hội nổi tiếng quy mô và hoành tráng của đám rước thần Theo thống kê thì hiệnnay xã Quỳnh Phương đã có hàng trăm người đỗ cử nhân, học vị tiến sĩ, thạc sĩcũng đã tới hàng chục

Trang 12

Xã Quỳnh Phương có diện tích là 3450km vuông, dân số khoảng 16.000người bao gồm 3238 hộ dân Thời xa xưa, làng Phương Cần có bốn giáp: GiápNhất, Giáp Nhị, Giáp Tam, Giáp Tứ Ngày nay toàn xã có 11 thôn: Tân Phong,Hồng Phong, Quang Trung, Thôn Ái Quốc, Thôn Ái, Quyết Tiến, Tân Tiến, TânHải, Phương Hồng, Hồng Thái, Hồng Hải Nghề sinh sống chính của người dân làđánh bắt cá biển, chế biến hải sải và buôn bán, trao đổi hải sản Hiện nay làng đã

có trên hàng trăm chiếc tàu lớn để đánh bắt xa bờ, trên hai trăm chiếc thuyền vừa

và nhỏ để đánh bắt gần bờ Thu nhập bình quân đầu người đã thay đổi hơn xưa vàtrong đó cuộc sống của người dân đã thay đổi nhiều, phương tiện sinh hoạt giađình giờ đã đầy đủ không còn thiếu thốn, các con đường ngõ xóm cũng đã được bêtông hóa, không còn những ngôi nhà tạm bợ mà thay vào đó bằng những ngôi nhàkhang trang tiện nghi Bờ biển Quỳnh không còn như trước hệ thống rác xử lý rácthải đã có, các công trình vệ sinh cũng được hoàn thiện đời sống được nâng cao.Cho dù trải qua hàng trăm năm tuổi nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đâyvẫn còn một làng Dừa xào xạc trong gió, vẫn còn những cái tên dân giã mộc mạcchân quê, rất đổi yêu thương vẫn mãi trường tồn, còn đọng lại trong những vần thơcủa Hồ Ngọc Bảo:

“Tên làng xưa tích gọi Hương Cần

Cứ biến động về sau lại khác Tên dân dã thời gian không thể mất Nghe xanh tươi mộc mạc làng Dừa”

(Làng Dừa1)

Với sự hình thành làng Cờn gắn liền với truyền thuyết ông khổng lồ gánhhai quả núi, không may bị đứt gánh, núi Quy Sơn- Thằn Lằn ở đầu làng là nhữngvết tích còn lại

Trải qua hơn năm mươi năm trong sự phát triển kể từ những năm 1960 tớinay xã Quỳnh Phương đã từng lập nên nhiều kỳ tích Biết bao nhiêu người con

1 Làng Dừa là tên gọi trước đây của làng Phương Cần, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Trang 13

làng Phương Cần đã hy sinh xương máu, ngã xuống để bảo vệ độc lập cho quêhương, cho đất nước.

Trên địa hình bằng phẳng nổi lên dãy núi Hùng Vương (Thằn Lằn) án ngự

ra biển phía đông bắc Núi cao hơn 50m, dài 1km che chắn một phần gió bão cholàng và tạo nên cảnh non xanh biếc, sơn thủy hữu tình, tô thắm thêm cảnh đẹp quêhương Lạch Cờn, dòng Mai Giang chảy vòng quanh phía đông bắc tới phía tâynam của làng Cửa lạch khi thủy triều lên rộng chừng 1km, độ sâu chừng 5-7km.Lạch Cờn, dòng Mai Giang có giá trị nhiều về mặt quân sự, kinh tế, giao thông vàtiềm năng du lịch

Phương Cần là một làng biển tuyệt đẹp, nhân dân ở đây đã ca ngợi vẻ đẹpđược thiên nhiên ban tặng:

“Mênh mông nước biếc mây trời Dòng sông soi bóng đền đài nguy nga”

(Ca dao)

Tự hào với vẻ đẹp của quê hương, văn phú của làng còn ghi lại:

“ Núi chầu qua, dù dương lớp lớp, nghìn non trở lại tiền đường

Sóng kéo đến, khúc uốn quanh co, muôn nước thu về một nẻo.

Bến giang kia, cánh phượng bãi đe, chàm nhuộm màu xanh eo éo

Đò dọc ngang máy chiếc vẫy chèo loan đưa rước người tiên”

(văn phú làng Phương Cần)Trước biển sau sông có đền Cờn cổ kính, có khu du lịch sinh thái biển Cầu ĐềnCờn huyết mạch giao thông quan trọng nối liền Quỳnh Phương với các xã với tỉnh

lộ 537B, đặc biệt khu công nghiệp Hoàng Mai

Khu du lịch sinh thái biển với chiều dài 2km, chia làm hai khu vực, có khách sạnPhương Trang ba tầng, đường đi thuận tiện kết hợp với quốc lộ 1A tạo điều kiệnthuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng

Trang 14

Với lợi thế trên Quỳnh Phương đang mở rộng các ngành nghề thủ công nhưđan lát, nghề mộc mỹ nghệ, kết hợp với kinh tế biển hứa hẹn sẽ là một điểm đếnhấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước.

1.2 Lịch sử hình thành đền Cờn

Đền Cờn xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, ngôi đền cổkính nằm cuối dòng Mai Giang bên cửa Lạch Càn, người địa phương còn gọi làđền Càn Cửa lạch này là ranh giới thiên nhiên giữa hai vùng đất: phía bắc là núinon hiểm trở, phía nam là đồi cát nhô cao, thỉnh thoảng xen vào một ngọn núi thấptrải dài đến lạch Quèn Từ Lộc Thủy thuộc xã Quỳnh Bảng về hướng bắc khoảng

7 km đến tận cùng bãi ngang sẽ gặp lạch Càn

Qua cửa Càn về phía bắc là làng Chắp nép mình dưới chân núi Xước bêncạnh núi Voi Đó là một dãy núi đôi kéo dài từ Trường Sơn ra tận biển, nướcnguồn tập trung từ dãy Trường Sơn về vùng núi Văn Lâm rồi chảy qua bến Nghé

xã Quỳnh Thắng, xuôi dòng xuống Hoàng Mai, đi qua làng Chắp và đổ vào lạchCàn, nơi đó cùng với nước sông Mơ Lưu chuyển từ lạch Quèn tới để cùng nhauxuôi dòng ra biển Từ cửa Càn nhìn ra biển, ta có thể thấy hòn Mê ở phía bắc vàhòn Ói ở phía nam nhô lên giữa biển, cách đất liền không xa Hòn Mê lớn hơn hòn

Ói “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chú” của Phan Huy Chú viết: “cửa Cờn là một

trong năm cửa biển vùng phủ Diễn Châu” (nay là Quỳnh Lưu) Trong năm cửa

biển này cửa Cờn được sử sách nhắc nhiều người biết đến Tại cửa biển không

những có ngôi đền thờ “Bà Chúa” rất danh tiếng, mà còn nhiều biến cố lịch sử.

Thế kỷ thứ XIII thời nhà Trần, thượng tướng thái sư Trần Quang Khải đãđánh nhau tại đây với quân Toa Đô Cuối thời nhà Trần (thế kỷ XV) tướngNguyễn Cảnh Di và Đặng Tất, lập căn cứ quân sự ở vùng rừng núi Hoàng Mai đểchống trả quân nhà Minh xâm lược Quân Minh thất bại nặng nề, một số tướng tá

bị Phạm Đình Trọng bắt sống Trong lịch sử nhiều trận đánh đã diễn ra dưới chân

núi Xước hoặc trên dòng Mai Giang, nên dân gian mới có câu hò: “Quỳnh Lưu

chiến địa Mai Giang huyết hồng” cửa Cờn cũng là nơi dừng chân của các vua

Trang 15

quan nhà Trần, Lê Ở nơi đây đã có nhiều biến cố của lịch sử, đó là một bằngchứng cho sự hùng hồn của dân tộc Việt Nam, của một mảnh đất linh thiêng ngànđời

Thuở ấy, ở xã Hương Cần thuộc Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, có một ngôichùa dựng trên một hòn đảo nhỏ ở cửa Cờn Tiếng là chùa nhưng kiến trúc cònđơn sơ, chỉ là một ngôi nhà lá ba gian ở khuất hướng gió biển và bên trong dựngvài pho tượng phật Trụ trì trong chùa là một vị sư khoảng chừng bốn mươi tuổi vàmột chú tiểu nhỏ giúp việc Hai thầy trò tình nguyện ra đây, vừa tu hành nhưngđồng thời cũng để giúp đỡ những người đi biển

Nhà sư vốn xuất thân là một nho sinh, đã từng lều chõng tới trường thi,nhưng do không đỗ lại gia cảnh sa sút nên cũng đành xếp bút nghiêng, để gửimình vào cửa phật Ở nơi đảo hoang vắng, quanh năm chỉ nghe tiếng sóng vỗ bờ,lương thực chủ yếu do dân chài ghé qua cung cấp, tưởng cũng là nơi tốt nhất đểdứt bỏ bụi trần một cách hiệu nghiệm Vừa tu luyện vừa lo cứu người giúp người,quả là một điều kiện lý tưởng cho một vị tu hành muốn mau đắc đạo Nào ngờ sựđời cũng thật lắm éo le, không thể lường trước được, khi nhà sư đang là một ngườikhang kiện, buổi thiếu thời xây dựng nhiều mộng ước đẹp cho tương lai, thì việc

có bị “nhuốm” lại bụi trần, âu cũng là điều tất thể, như ở phần sau này sẽ rõ.

Thời ấy Trung Hoa, nhà Kim sau khi diệt xong nhà Bắc Tống ở Nhai Sơn

do viên tướng là Trương Hồng Phạm, vào lúc đó quân Nam Tống đại bại QuânKim thừa cơ hội đang thắng ào ạt tới kinh đô, triều đình Nam Tống thấy nguyngập nhiều vị tướng đã tự sát trong tình thế ấy, viên tả thừa tướng là Lục Tú Phuvội vã hộ giá nhà vua vừa mới lên ngôi là Kế Bính xuống thuyền để đi lánh nạn, cảhoàng cung, các triều thần gia quyến của hoàng cung vội vã xuống thuyền Quânhồn vô lệnh, tất cả quân lính và tướng sĩ thấy thế cũng ùa theo Thuyền bè chưakịp chuẩn bị lại có nhiều người theo bám, nên ra đến ngoài khơi gặp phải cơn bãokhông phải lớn lắm mà tất cả thuyền bè đều bị chìm hết nhà vua, hoàng hậu, vàcác đại thần đều chung một số phận…, chỉ có ba mẹ con phu nhân, vốn là côngchúa con gái út của đời vua trước may mắn thoát nạn nhờ bám vào một cây cột

Trang 16

buồm lớn Vị phu nhân cũng khá lanh lợi đã kịp lấy dây buộc váo người, cho mình

và hai cô con gái, nên không bị sóng biển đánh bật đi Cả ba mẹ con và chiếc cộtbuồm theo luồng nước, trôi mãi về biển phương Nam dạt đến bên ngoài cửa Cờn,nơi có hòn đảo, ngôi chùa có vị sư trụ trì như đã nói ở phần trước

Buổi sáng hôm ấy, ở cửa Cờn, cơn bão như tan biến, nhà sư như thường lệsau khi sảy ra bão, thường đi ra phía đông hòn đảo để xem sự thể như thế nào thìthấy một vật gì đang trôi nổi ở phía xa đoán là có người bị bão nên nhà sư quay lạilấy mảng rồi vội vã chạy ra cứu người Chú tiểu lúc này vừa mới thức dậy, đangquét dọn trong chùa, vì nghĩ chú còn quá bé nên nhà sư không gọi đi theo

Khi mảng chèo tới nơi thì nhà sư phát hiện ba người phụ nữ, trong đó có haingười còn nhỏ và một thiếu phụ Chắc họ là ba mẹ con, nhà sư đoán như vậy,không nề hà, nhà sư vội vã kéo từng người lên mảng trở mũi vào bờ Lúc này cả

ba người hoàn toàn bất tỉnh, như ba cái xác không hồn mặt mũi chân tay tím tái,chỉ còn thoi thóp thở Qua quần áo và cách trang điểm đầu tóc, lại đeo đầy vàngbạc, nên nhà sư hiểu họ đều là những người quý tộc

Giữa thanh thiên bạch nhật, trong khi đưa chiếc mãng vào bờ, ba người phụ

nữ đang hiện ra trước mắt nhà sư, những cảm xúc bấy lâu trong lòng ông lại rộnràng, nhưng nhà sư cố kìm nén để đưa họ vào bờ

Vừa chèo mảng nhà sư vừa nhắm mắt để những hình ảnh của ba người phụ

nữ xinh đẹp đó không làm ông mất lý trí Với những sự việc ấy nhà sư đã bànghoàng cả người, cho rằng con mắt của ông đã phạm phải giới luật và trong cơ thể

có những đòi hỏi tội lỗi Vừa khua mảng nhưng nhà sư vừa tự lên án, xỉ vả bảnthân mình, nhưng mặc dù vậy những gì mà nhà sư nhìn thấy đang tồn tại trong đầucủa ông, mà không có cách gì tẩy xóa đi được

Hơn một tiếng đồng hồ sau chiếc mảng đã cập vào đảo, nhưng hơn mộttiếng đồng hồ ấy cũng đủ làm nhà sư bải hoải còn hơn cả chục năm khổ công tuluyện Tuy vậy, lý trí nhà sư vẫn hoàn toàn tỉnh táo, ông gọi gấp chú tiểu, hai thầytrò cùng nhau bế từng người vào trong điện Ba cơ thể vẫn hoàn toàn bất tỉnh lạnhngắt, hai mắt nhắm nghiền chỉ có hơi thở thoi thóp là dấu hiệu của sự sống, cần

Trang 17

phải sưởi ấm cho họ gấp, nhà sư cùng chú tiểu lấy củi nhóm lửa, khi ngọn lửabùng lên thì họ thấy không thể cứ để ba người như thế mà sưởi được Quần áo dàibằng lụa mỏng không thể đặt gần lửa như vậy sẽ khiến ba cơ thể bỏng rát, và cũngphải lau qua nước ngọt thì mới có thể sưởi ấm Không còn cách nào khác nhà sưđành phải quyết định cởi bỏ quần áo của ba người phụ nữ và đồ trang sức cũngphải đành gỡ ra, dùng khăn tẩm nước ngọt lau qua và lấy tạm mấy bộ quần áo củamình và chú tiểu mặc tạm cho ba người phụ nữ đó Một lần nữa thân thể của bangười phụ nữ lại hiện trước mắt của hai thầy trò nhà sư Những gì đã chứng kiến

đã gây ra một cú sốc tâm lý cho nhà sư Những điều ông thấy ông cảm nhận đượcchắc rằng sẽ còn lưu mãi trong tâm khảm và đến cả con đường tu hành của ông

Kể từ đó hình ảnh ấy luôn hiện hữu trong ông và khiến ông không còn giống nhưtrước nữa Tuy vậy đó là những điều xảy ra vào sau này Còn lúc ấy, hai thầy tròcòn đang chú ý vào việc vần từng người quanh đống lửa để sưởi ấm cho họ Gầnmột tiếng đồng hồ thì ba người đã tỉnh lại, mắt đã hé mở, nhịp thở cũng mạnh dầnlên, họ đã bắt đầu trở lại bình thường

Lúc bấy giờ nhà sư bảo chú tiểu đi nấu một niêu cháo còn mình đi tìmthuốc, để cho họ ăn và uống Ba người phụ nữ tỉnh lại họ nhìn thấy chủ tiểu và nhà

sư và họ đã hiểu rằng đây là nơi tu hành

Sau khi ba người phụ nữ tỉnh lại nhà sư đã để họ ăn nghỉ tại chùa Hai thầytrò nhà sư nhường cho họ nghỉ tại phòng của mình Còn thầy trò thì ra nghỉ tại nhàphật Mấy hôm sau nhà sư phải dùng mãng vào bờ để mua lương thực Tuy vậy,nhưng tin tức của ba người phụ nữ chưa bao giờ ông tiết lộ với ai Ông chần chừchưa quyết định bởi vì trong lòng ông còn nhiều bộn bề, rối như tơ vò Vả lại nếuông mà quyết định sớm thì cũng chưa được bởi cơ thể của ba người phụ nữ cònquá yếu

Sau khi lại sức và nhận rõ được hoàn cảnh hiện tại, người thiếu phụ tuybuồn bã nhưng vẫn luôn tỏ ra là một người phụ nữ đảm đang, yêu kiều, duyêndáng Ba mẹ con nàng cùng với chú tiểu lo việc bếp núc, lúc rảnh rỗi họ ngồi nói

Trang 18

chuyên bằng ngôn ngữ riêng của họ Tuy lạ lùng nhưng có sức hấp dẫn riêng củanó.

Nếu trước kia trong chùa chỉ có hai thầy trò thì giờ đây không khí trongchùa như vui tươi đầm ấm hơn do sự xuất hiện của ba mẹ con nhà Tống Nhất lànhững lúc tất cả ngồi xung quanh mâm cơm thì bầu không khí trong gia đình cànghiện rõ Nhà sư nhìn mọi người bằng ánh mắt trìu mến, trong lòng ông lại hiện lênbao nhiêu suy nghĩ Đó là cảm xúc của một đấng nam nhi đã trải qua gần nữa đời

tu hành Trong thâm tâm ông hoàn toàn thương cảm cho số phận của ba mẹ conthiếu phụ Cõi lòng của họ đã thực tan nát mà chỉ có những ai thực sự cảm thôngcho họ thì mới có thể cứu vãn họ và mang lại cho họ một chút niềm tin Ông nhậnthấy tình cảm của ông đã giành hết cho ba mẹ con nhà nàng Ông muốn được chia

sẽ tình cảm và số phận cùng với họ

Trong tâm thức, ông thấy mình đã “nhuốm” nặng bụi trần nên không còn

cách nào khác là bỏ kiếp tu hành Đã nhiều đêm ông ngồi trước phật điện, miệngthì tụng kinh nhưng trong tâm trí hình ảnh ba người phụ nữ vẫn hiện về Lý trí củaông đã bị khuất phục trước những hình ảnh đó Ông nghĩ không còn đủ tâm trí để

tu hành và ông muốn quay lại cuộc sống bụi trần

Khoảng chừng nữa tháng sau, khi ấy sức khỏe của ba người phụ nữ đã bìnhphục hẳn Không khí trong đảo cũng thật yên vui, đầm ấm như một gia đình, cũng

là lúc nhà sư đối đầu với một vấn đề đưa hay không đưa ba mẹ con nhà Tống vàođất liền, để trình báo với quan sở tại Nhà sư hình dung ra mọi việc sẽ diễn ra nhưthế nào Ông nghĩ nếu trình báo lên quan thì dù lớn hay bé cũng bị làm tỳ thiếpcho vua quan Nếu như thế thì ba mẹ con họ sẽ không còn cơ hội về nước, ý nghĩ

ấy làm ông hối tiếc cho họ Chính vì những suy nghĩ đó nhà sư nghĩ ông phải làngười chở che cho ba mẹ con nhà Tống

Nhà sư thấy số phận của mình đã gắn liền với số phận của ba người phụ nữ,

mà không có cách nào, không có lực nào chia cách nổi Ông sẽ hoàn tục, sẽ mang

ba mẹ con họ vào đất liền, đi đến một nơi nào đó để làm ăn sinh sống Hai bàn tay

Trang 19

săn chắc của ông và tài sông nước ông tin sẽ có một gia đình hạnh phúc và đầmấm.

Một buổi tối, sau khi tụng kinh, niệm phật xong lần cuối, mọi người đã đingủ, ông ngồi viết một lá thư kể hết những nông nổi nguồn cơn và các hoàn cảnh

mà mẹ con người thiếu phụ sẽ lâm phải Cuối thơ, ông ngõ lời muốn nàng làm vợrồi cùng nhau đi khỏi nơi này Lời trong thơ của ông thật chân thành, cảm động,ông không thể và không muốn dấu nàng một chuyện gì nữa Không thể trực tiếpnói bằng lời vì ngôn ngữ bất đồng nên ông chỉ có cách đó để biểu lộ tình cảm, thấpthỏm chờ mong thư phúc đáp của nàng Sáng hôm sau chỉ có hai người, ông đưa láthư cho người thiếu phụ và lên mãng đi vào bờ mua lương thực

Trong lúc ông đi vắng nàng mở thư ra xem, sắc mặt của người thiếu phụđột nhiên đổi sắc, sự việc trong thư quá đột ngột với nàng Là một người quyềnquý cao sang nên nàng không thể chấp nhận cho dù ở hoàn cảnh nào Phải chinàng xuất thân trong một tầng lớp khác thì sự việc đã đi một hướng khác Trongsâu thẳm cõi lòng, nàng vẫn còn le lói chút hy vọng được về cố quốc Nếu khôngđược hưởng cuộc đời phú quý thì chút ít cũng sống thanh bạch cho đến hết tuổigià Vì vậy việc nhận lấy nhà sư sau khi đã hoàn tục là một điều không thể

Dẫu trong lòng nàng có thực sự mang ơn cứu mạng của nhà sư và nhậnthấy các cử chỉ, hành vi của nhà sư không có điều gì khuất tất, thì nàng cũngkhông thể chấp nhận một cuộc hôn nhân với nhà sư Lòng biết ơn và sự thành kínhnàng vẫn giữ trong lòng, trước khi đi khỏi nơi này thì nàng sẽ để lại một số đồtrang sức quý giá để tỏ lòng biết ơn, còn việc kết hôn thì dù thế nào đi nữa cũngkhông thể xảy ra Nàng vẫn nhớ về cố quốc, hơn nữa, nàng còn nhớ mình là mộtcông chúa, một mệnh phụ

Sau suy nghĩ đó, người thiếu phụ xin chú tiểu một mảnh giấy và mực đểviết lại một lá thư cho nhà sư, nàng trình bày rõ mọi thứ về hoàn cảnh của mình

Nàng cũng bày tỏ lòng biết ơn đến nhà sư, và gọi nhà sư bằng “ân nhân” và xin

ân nhân không nên nghĩ đến chuyện này để khỏi sao nhãng con đường tu hành củanhà sư

Trang 20

Sau khi đọc xong lá thư của người thiếu phụ, nhà sư hoàn toàn thất vọng.

Có một cái gì đó đang sụp xuống trong tâm hồn ông bao nhiêu hy vọng bây giờchỉ là như mây khói Nhà sư cảm thấy mình thật là tội nghiệp, cô đơn trên cõi đờinày Không thể tiếp tục sống và cuộc đời tu hành vì đã phạm giới luật, mà cũngkhông thể hoàn tục vì như thế sẽ sống trong cô đơn, thương nhớ cho đến lúc mãnđời Đó cũng là điều khủng khiếp nhất của một người từng yêu

Suốt một đêm đọc lá thư ông ngồi trước phật điện niệm phật, trong lúc nàymọi người đã đi ngủ chỉ còn một mình ông còn lại như hóa đá Ông xin đức phậttha thứ cho những lỗi lầm của ông, ông cũng xin đức phật cho ông được chết đểchuộc lại mọi lỗi lầm

Gần sáng, ông uống trọn một liều thạch tím mà ông đã chuẩn bị từ lúc ôngngồi niệm phật Một lúc sau thuốc ngấm ông giẫy nhẹ và bắt đầu từ từ khép đôimắt lại, lúc này ba người phụ nữ và chú tiểu đang ngủ say nên không biết gì cả

Sáng hôm sau khi trời sáng, mọi người đều thức dậy thấy nhà sư đã chết.Trong tâm thức người thiếu phụ như biết rõ vì sao nhà sư chết nhưng không nói ra.Sau khi mai táng cho nhà sư xong thì người phụ nữ âm thầm lặng lẽ như một cáixác không hồn Nàng tự trách mình là nguyên nhân đã gây ra cái chết cho nhà sư,nàng ân hận vì những lời nói của mình Nếu như nàng hiểu thấu được những lờinhà sư nói thì chắc rằng nhà sư sẽ không chết như vậy

Nghĩ đến đây người thiếu phụ mới biết là con đường chông gai phía trướcmình không dễ bước qua Sau cái chết của nhà sư, nàng nghĩ mọi khó khăn sẽ đếnvới mình và ai sẽ là người giúp nàng nữa đây, trước mắt nàng như một ngõ cụt màkhông có lối thoát Nàng nghĩ thà chẳng để mình rơi vào cảnh ô nhục còn hơn.Hoàn toàn thất vọng người phụ nữ không còn muốn sống nữa, nàng không ănkhông uống mấy ngày liền

Một buổi tối khi hai con gái và chú tiểu đã ngủ say, thì nàng thức dậy bước

ra khỏi phòng, nàng đi ra phía biển rồi cứ thế nàng lội mãi ra vùng nước sâu

Trang 21

Sáng hôm sau hai người con gái thức dậy không thấy mẹ liền vội vã đi tìm.Một lúc sau thấy xác mẹ nổi dập dềnh ở trên mặt nước Trong nỗi thương đau haingười con gái cũng trầm mình vào trong làn nước biếc.

Đến lượt chú tiểu, trong lúc chú đang sợ hãi không biết phải làm gì thì tình

cờ chú thấy thuyền chài, những người dân chài đã nghe chú kể lại và ai cũng xótthương cho họ, những cư chài đã vớt xác ba mẹ con nhà Tống chôn cạnh mộ nhà

sư, chú tiểu lúc này cũng không còn can đảm để ở lại nơi đây, chú theo thuyềnchài vào bờ và không còn đi tu nữa

Chùa bây giờ không còn trụ trì nữa cảnh vắng lặng, thỉnh thoảng dân chàicũng ghé qua nhang khói tránh bão Họ lấy làm tiếc vì không còn sự giúp đỡnhiệt tình của nhà sư như xưa nữa

Mấy tháng sau dân chài đã cùng nhau góp sức xây dựng ngôi đền, thờ bài

vị của nhà sư Đền được xây dựng trên nền gạch cũ thường xuyên hương khói vàđền Cờn từ đó ra đời

Đền Cờn được xây dựng vào năm 1235 đời nhà Trần để Thờ Đức ThánhMẫu và Tứ Vị Thánh Nương Đền Cờn đứng đầu trong bốn ngôi đền trong đất

Hoan Diễn “Nhất Cờn, Nhì Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng”

Trong đó đền Cờn thờ Tứ Vị Thánh Nương Quốc Gia Nam Hải Đại CànThánh Nương của ba mẹ con công chúa nước Nam Tống là Từ Hi Thái HậuDương Nguyệt Quả, hai công chúa là Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu NguyệtHương và bà Nhũ Mẫu mất vào ngày mồng bảy tháng giêng năm kỷ mão (1279).Đền Cờn được xem là di tích lịch sử văn hóa và trung tâm văn hóa khôngchỉ đối với làng Phương Cần mà còn cả xứ Nghệ

“Phủ tía tán vàng Cửa đền chín bậc khắp Nghệ An đâu tày”

(dân ca)

Trang 22

Nhà thơ Nguyễn Du một nhà thơ lớn của dân tộc một lần qua làng biển này,cảm xúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh trời mây sông nước đã cất tiếng ngợica:

“Mặt nước mênh mông bể lẫn trời Ngôi đền thấp thoáng bãi ngoài khơi Bến phủ chiều tới cây man mác, Cửa bể thu dần khói tả tơi.

Khanh tướng uổng bao lòng tiết nghĩa, Quỳnh Nhai vùi khói thịt mồ côi Nực cười cho ả Minh phi nhé Rượu chuốc đàn ngâm nịnh chúa trời”.

(Bản dịch của Phạm Khắc Hoan và Lê Thước tại Đền Cờn, xã QuỳnhPhương)

Đền Cờn còn ghi lại nhiều chứng tích của nhiều nhà vua Thơ ngự chế đểlại đền Cờn của vua Lê Thánh Tông như sau:

“ Mịch nô mặc thạch phiến chu quy Càn Hải sơn đầu tưởng đáo thì.

Nhất thủy tự toàn Thiên Tam hiển Quản phong thủy quái thạch bình nguyên.

Phong đào cửu trích Trân Anh Mộng Hương hỏa đó lưu Thánh Mẫu từ.

Nhiếp Hải Bình Nam kim thịnh hội Trường dư khởi đại Lạc Long Quy…”

Trong đó các triều đại phong về sau cho Đền Cờn:

Vua Vĩnh Thịnh phong: Hưng Tường Hoằng Thạch

Vua Cảnh Hưng phong: Hiển Đức Phong Công

Vua Chiêu Thống phong: Thúy Lễ Thư Điền

Vua Quang Trung phong: Hàm Hoẳng Quảng Đại

Vua Cảnh Thịnh phong: Hàm Chương Liệt Triết

Trang 23

Vua Gia Long phong: Trang Nhân Đoan Chính Khổn Thiện

Vua Minh Mạng phong: Hàm Hoằng Phong Tế

Vua Thiệu Trị phong: Phổ Bác Hiển Hóa

Vua Tự Đức phong: Trang Huy

Vua Đồng Khánh phong: Đức Bảo Trung Hưng

Vua Duy Tân phong: Phổ Bác Hiển Hóa

Trang cuối của ngọc phả “ Đại Càn Thánh Mẫu” có ghi:

“Đến nay đạo của thần đã rõ rệt, các nơi lập đàn làm sự răn dạy Nay vâng mệnh thần ở nơi minh thiên đường giáng cho sách dưỡng tích, in khắc, kính tuân theo tóm tắt, tu sửa Ngọc Phả, tham khảo Bắc Sử , Nam Sử vách 11 Minh Lục viết thành, đã khính cho bút đào xem xét Vậy giám khắc vào gỗ lê, gỗ táo để truyền lại lâu dài”.

Sau ngày rằm tháng 3 năm Tân Hợi niên hiệu Duy Tân thứ 5 (1911) nướcĐại Việt kính viết nên

(Đại Càn Thánh Mẫu2)

2 Đại Càn Thánh Mẫu là Ngọc Phả viết về Đền Cờn tại xã quỳnh Phương, Huyện Quỳnh Lưu, Tình Nghệ An.

Trang 24

CHƯƠNG 2:

NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐỀN CỜN

2.1 Những giá trị văn hóa vật chất

2.1.1 Kết cấu kiến trúc đền Cờn

con người và kiến trúc có mối quan hệ mật thiết với nhau Trí tuệ và tàinăng sáng tạo của con người đã tạo nên các công trình kiến trúc nghệ thuật Mặtkhác, sản phẩm kiến trúc phản ánh bộ mặt văn hóa, quan niệm về nhân sinh, vũ trụ

và phản ứng trước những thách đố của thiên nhiên, của con người Có thể nói, kiếntrúc ghi nhận cuộc sống tinh thần, tình cảm của con người một cách trung thựcnhất

kiến trúc cổ Việt Nam còn lại không nhiều, còn lại một phần trong các ngôiđền miếu Tuy là không thanh cao nhưng bề sâu ở đó vẫn còn lại sự tinh hoa sắcsảo của những đôi tay khéo léo của người thợ mà trong đó nghệ thuật kiến trúc củađền Cờn như một minh chứng

Đền Cờn được chia làm hai phần: đền Cờn Trong và đền Cờn Ngoài ĐềnCờn Trong tọa lạc trên dãy núi Thằn Lằn hay còn gọi là dãy núi Hùng Vương mà

sơ truyền sư thầy đã cứu giúp ba mẹ con nhà Tống và một bà nhũ mẫu

Đền Cờn Trong minh chứng cho cuộc sống mưu sinh của những con ngườilàng biển phương cần Bên bờ biển dãy núi hùng vỹ đã tạo ra sác thái riêng biệtcho đền Tuy ngôi đền nhỏ nhưng cũng có thể hiện diện được sự ấp áp giữa sóngnước

Ngôi đền được kiến thiết có chiều dài là 17,4m, rộng 9,4m, ba gian bốn vìlợp ngói, cửa vào thượng song ba bản Đền lúc trước chỉ có một tòa gọi là thượngđiện, trong đó đặt bài vị các thánh Năm Hồng Đức thứ 2 (1471) vua Lê ThánhTông truyền xây thêm nhà trung và hạ điện của đền Cờn Trong tức là ngôi đềnchính trên dãy núi Thằn Lằn Tòa trung điện nằm ngang có ba gian bốn vì cột, tòa

hạ điện nằm ngang có ba gian bốn hàng cột, hai bên được thưng ván tốt, hai tòa

Trang 25

này gắn liền với tòa thượng điện phía trước làm hình chữ công Dưới triều vuaCảnh Trị các tòa thượng, trung và hạ điện được trùng tu sửa chữa lại và thêm tòa

ca vũ là nơi để tế và tụng kinh Sau đó tòa ca vũ lại được trùng tu và hoàn chỉnhdưới thời vua Cảnh Hưng thứ ba mươi tức là vua Lê Hiển Tông (1769) vua truyềnphải sửa lại tòa ca vũ theo lối kiến trúc tứ trụ, tứ linh Trong lòng nhà dài 15,15m,rộng 7,5m có 6 vì và mỗi vì có 4 cột bằng gỗ lim, tường xây bằng gạch, lợp ngóimũi dài, các lớp rui được đóng chồng nhau Bốn khóa ngang được chạm trỗ longchầu nguyệt, cửu long tranh châu, long ly quy phượng và hổ phù với hình rồngchôm ngọc Nhiều bộ phận khác cũng được chạm trỗ một cách tinh vi, mỹ thuật,đầu các cột chính ở ba gian giữa đều chạm hình lưỡng long chầu nguyệt, phượngmúa rồng chầu, cá chép hóa rồng Các đuôi xà kèo ngoài hiên được chạm các hìnhtinh vi như long mã phù đồ, phượng hàm thư đang múa, rồng vốn thủy, cá chépđang ngoi lên, long ly và lưỡng long đang cười đuổi nhau trông rất ngoạn mục

Đời vua Gia Long thứ 6 (1807) vua ban chiếu chỉ dựng tòa nghi môn vàtrùng tu lại các bộ phận của đền Vua Tự Đức (1848-1883) cho xây thêm đềnngoài và canh tân sức lại đền Cờn chính

Đền Cờn chính đang nói ở trên mang dáng dấp cổ truyền Ngoài ra trướcđền còn được đặt một đôi voi phục trước cửa tam môn, một lư hương bằng đá, kếtcấu kiến trúc không cao sang rườm rà, mà đơn giản, chi tiết trang trí mái, góc,không rườm rà nhưng bên trong lại rất tinh vi, gần gũi với con người và thiênnhiên

Đền Cờn ngoài được xây dựng năm Tự Đức (1848-1883) do quan niệm nhogiáo và phật giáo bất đồng nên vua đã lệnh cho xây dựng đền Cờn Ngoài nhằm đểthờ vua Kế Bính, Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt và vị sư đã cứu ba mẹ con nhàTống

Đền Cờn ngoài xây dựng bên dòng Mai Giang nơi chiếc cầu dài 200m nốiliền giữa xã Quỳnh Phương và xã Quỳnh Dị đi khu công nghiệp Hoàng Mai

Trang 26

Đền Cờn ngoài được xây mới nên kiến trúc lúc xưa đã không còn nhiều mà thayvào đó bằng các công trình cách tân, tuy thế nhưng dấu ấn vẫn còn lại trên cácđường nét hoa văn trong chạm khắc.

Trước đền được dựng hai cột bằng vữa với chiều cao khoảng chừng 7m trênđỉnh cột là hai con nghê đang chầu hương quay ra dòng Mai Giang Cột được đắpthành hình vuông mỗi cạnh khoảng chừng 50cm Dưới chân cột là đôi long chầuhướng ra dòng Mai Giang được khắc bằng đá, tiếp đến là một cặp sư tử chầu vớiđường nét tinh tế đôi tượng sư tử như có sức mạnh để trông đền với các đường nét

vô cùng sắc sảo, trước tòa tam môn được đặt một chiếc lư hương được chạm khắcbằng đá trên lư hương đó có nhiều hình nét khắc nhau nhưng chủ yếu vẫn là longchầu nguyện hay long tranh châu, trên các góc thì được khắc những đầu rồng chầu

ra bốn hướng thể hiện sức mạnh trong tâm linh văn hóa rồng của người Việt Nam

Bước tới chín bậc đá là tòa tam môn Tòa tam môn được thiết kế hai tầngtheo kiểu hình xếp diêm Kiến trúc độc đáo các mái của tòa đều như hình máithuyền, các mái đều uốn cong, được trang trí bằng các họa tiết hoa văn sắc sảo,trên được trang trí bằng ngói mũi dài, mọi khung đều được thiết kế bằng gỗ không

có một thanh kim loại nào Lớp dưới là một khung gỗ được thiết kế bằng vì kèocột sau đó lớp phía trên cũng được làm như thế nhưng nhỏ gọn hơn để tạo được sựchắc chắn cho hai tầng đó, các người thợ đã sử dụng các mộng cá để thắt chặt cácchi tiết lại với nhau Trên các chi tiết đó hoa văn chạm khắc cũng rất tinh vi cácgóc mũi được uốn cong, trên các mũi cong đó được chạm khắc các hình con vậtnhư ngê, long, phượng, mà chủ yếu là các hình con vật kỳ lạ trong tín ngưỡng dângian Việt Nam

Phía dưới tam môn hai tầng là một hệ thống tam môn (ba khung cửa) gồm hai cửa phụ và một cửa chính, chiều cao của cửa tính từ ngạch cửa lên xà trêncao độ 3m, cửa chính gồm có bốn cánh, hai cửa phụ hai cánh Cửa được làm theo kiểu thượng chạm tiện gối thông phong tức là phía trên được lắp các contiện tròn, phía dưới thì được chạm khắc rất tinh vi như các loại hoa như mai, sen, trúc, cúc …,

Trang 27

nghạch cửa của tam môn có chiều cao chừng 30cm, phía trên bệ đá là một xà gỗphía dưới được kết cấu bằng đá nên vì thế tạo nên sự chắc chắn của tam môn.

Bước qua ngạch của chúng ta tiến vào trong của ngôi đền, ngôi đền đượcthiết kế theo ba tòa đó là hạ điện, trung điện và thượng điện Tính từ ngoài cửa đivào cho tới phía trong cùng trước là hạ điện Hạ điện được thiết kế gắn liền giữatrung điện và thượng điện bằng các hàng cột và vì kèo Các hàng cột được thiết kếtheo kiểu truyền thống nên vì thế trong một gian nhà thường có bốn vì cột haihàng cột chính gồm bốn trụ chính và hai hàng cột phụ ở hai bên Bốn cột trụ chính

có kích thước lớn nhằm tạo nên sự chắc chắn cho ngôi nhà nên vì thế mỗi cột códiện đường kính độ 50cm, cao gần 4m và được lắp ráp bằng vì kèo thông qua haihàng cột phụ nên tạo ra sự rộng rãi cũng như sự chắc chắn của ngôi đền Trungđiện và thượng điện cũng được kết cấu như hạ điện nhưng càng đi vào trung điện

và thượng điện thì diện tích của ngôi đền càng hẹp hơn Sau mỗi phần hạ điện đếntrung điện, thượng điện thì được ngăn cách bằng một tấm bình phong lớn Các gócthì dùng các đòn bẩy để gác vào các bức tường xung quanh tạo nên sự chắc chắncho ngôi đền Tuy như vậy nhưng trong đền luôn rộng rãi và luôn tạo ra mộtkhông gian thoải mái cho du khách vào làm lễ, và cũng tạo ra cho du khách sựthanh thản khi bước vào đền Trên các đầu xà, các vì kèo được chạm các loại chỉđôi chỉ ba hoặc các loại chỉ hình ống tạo nên bề nổi, trên các đường chỉ ấy cáchình hoa lá chim sóc và đặc biệt các hình rồng uốn mình trong lá đi trên các đườngchỉ viền tạo ra sự sinh động cho các bức chạm, đó là nghệ thuật cho thấy sự hàihòa giữa thiên nhiên và kiến trúc trong sự khéo léo của người thợ chạm khắc

Chạm khắc hình rồng hình long, ly, quy, phượng nối nhau tạo nên sự gắn kết cao, hơn nữa các hình như long chầu nguyệt, rồng cuộn lá rất đẹp, tinh xảo cao Trên các xà lớn còn chạm khắc các hình thanh xà và bạch xà thể hiện trong tín ngưỡng thờ đa thần của người Việt, mang một sắc thái cổ truyền trong nghệ thuật chạm khắc cũng như trong sự điều hòa cảnh tiết tạo nên sự hấp dẫn cao cho người xem Mái nhà được lợp bằng ngói mũi dài Kếtcấu của đền ngoài tương

Trang 28

xứng và tương ứng với đền trong Trên các nóc, mũi góc thì được trang trí bằnghình các con vật trong truyền thuyết dân gian như phù điêu, hổ phù, rồng, ly, quy,phượng Các góc mái cong vút tất cả được chạm khắc và uốn từ những thang gỗcho thấy sự sáng tạo của những người thợ làng Phương Cần Đó cũng là nhữngđặc điểm lớn trong văn hóa kiến trúc nghệ thuật của Việt Nam.

Ngoài sự chạm khắc trên các xà nhà còn có các hoành phi câu đối đượcchạm khắc kỹ lưỡng và được sơn son thếp vàng trong sự hài hòa màu sắc của đồthờ tự và kết cấu kiến trúc trong đền Đó là các họa tiết mang nặng về các tíchchuyện xưa, đó là các cảnh vật như tứ linh bát tiên, hoa hồng, hoa cúc, các hìnhngũ phúc, các hình như chim sóc…, thể hiện sự tinh vi trong từng cảnh vật hiệnlên trên nền gỗ óng ánh Các hoành phi, câu đối được gắn vào các hàng cột, nghệthuật ở đây gắn liền giữa màu sắc và tang trí vì thế tạo cho chúng ta một khônggian cổ kính

Hệ thống bảy, kẻ ở đây ngoài việc tạo uốn lượn như các kiến trúc thân rồng,chạm nhấn tạo khuôn theo hình, chạm nổi lá lật cách điệu, các ô nhấn chữ thọ…,đều hết sức tinh vi

Kết cấu kiến trúc đền Cờn tuy đơn giản nhưng tinh tế sang trọng, thể hiện

Việc sắp xếp bài trí đồ thờ tự được gắn liền với từng điện (hạ điện, trungđiện, thượng điện)

Trang 29

Trong di tích thờ tại đền Cờn, gồm có đủ các loại như khám thờ, ngai thờ, nhang

án, hương án, chuông đồng, lư hương đồng, đèn sắt, hoành phi câu đối, đại tự vàmột số đồ thờ khác như: đỉnh hương, hạc đồng…

Ban đầu trong đền chỉ thờ tấm gỗ thơm mà theo truyền thuyết đã trôi vềlàng, tấm gỗ ấy được đặt trong một tấm vải lụa quý Tấm vải lụa này hằng nămđược thay bằng một tấm vải lụa mới và đặt nơi thượng điện để thờ, dân kínhviếng, tấm vải lụa quý thường được bọc gỗ thần mà đã thay ra thì được chia nhỏcho các thiện nam, tín nữ xem như làm bùa hộ mệnh Khi đền đã được xây dựngthành ba điện là hạ điện, trung điện và thượng điện thì tấm gỗ quý ấy được tạctượng để thờ trong thượng điện

Nơi đó không được ai vào chỉ có thượng sư trong chức vụ cúng tế mới đượcvào Theo như những cụ lớn tuổi trong làng cho biết thì vị sư phụ trách việc cúng

tế được vào thượng điện là vị trưởng thượng có uy tín, đức độ và được mọi ngườikính trọng Ngoài lộc phật ra, cụ còn được dân làng cấp bổng, vị sư trưởng thượngnày có trách nhiệm chu toàn việc tế tự, một cách xứng đáng

Tháng 9 năm 1966 máy bay Mỹ ném bom pha hủy hoàn toàn ba tòa chính

và nhiều đồ thờ tự cũng bị mất và hư hại Chỉ còn lại một số đờ thờ tự và một sốcác đồ thờ tự khác được các bô lão trong làng tìm từ các nơi khác về Chính vì vậy

mà hiện giờ các đồ thờ tự còn có giá trị cao và đẹp mắt

Các hiện vật đồ thờ tự được trang trí và sắp xếp từ ngoài hạ điện cho tớithượng điện

Ở hạ điện là nơi rộng nhất để cho du khách có thể làm lễ tại đây nên vì thế việc bài trí đồ thờ tự tại đây cũng được trang hoàng Ở giữa hạ điện (gian giữa) được đặt một khám thờ lớn có chiều dài gần 2m và rộng hơn 1m, khám được làm bằng gỗ quý, được sơn son thếp vàng lộng lẫy Đặc biệt là khám được thiết kế ba tầng với sự chạm khắc tinh tế với tất cả các hình như hình rồng trên các đố ngang xà dọc, trước mặt khám thờ hay là ở phía trước thì cáchình chạm nổi như hình hổ phù, các hình long, ly, quy, phượng được đi kèm theo trong các chi tiết chạm khắc

Phía dưới cùng hay tầng thấp nhất của khám thờ được đặt như hoa trầu rượu cácvật lễ cúng của du khách Cấp thứ hai hay tầng thứ hai được đặt một cái bàn rộng

Trang 30

chừng 60cm được thiết kế lớn hơn và rộng hơn nhằm để lư hương bằng đồng lưhương lớn có đường kính chừng 50cm và có chiều cao chừng 50cm Trên tầng hainày được đặt một đôi hạc lớn cao chừng 150cm và đôi hạc này được đặt đứng trênmai rùa làm bệ đứng Trên bàn đầy đủ các loại đồ thờ tế lễ.

Cấp ba là một mặt bàn tương đối rộng trên mặt bàn này được đặt mộthương án Hương án rộng 80cm cao 70cm chiều sâu chừng 60cm Trên nóc hương

án được trang trí bốn góc bằng hình đầu rồng Hương án được làm bằng gỗ có bốnmái, hình mái nhà, các góc được uốn cong trong rất đẹp tạo nên sự uy nghiêm khiđặt các tượng thờ vào trong đó Các họa tiết hoa văn chủ yếu là hình rồng các mặt

nạ hình hổ phù hay các họa tiết chủ yếu là các con vật trong truyền thuyết Nhưngphía trước mặt tiền là hình tượng một mặt nạ hổ phù trong tín ngưỡng dân gian màchúng ta thường gặp, bên cạnh đó các cặp đôi long chầu cho chúng ta thấy sựmạnh mẽ trang nghiêm trong chạm khắc cổ truyền Việt Nam

Trên hương án đó được đạt các tượng như tam tòa thánh mẫu, là nơi thờ các

vị thần thiên nhiên như mây mưa, thần sông, thần núi…, hạ điện thường xuyên cónhiều khách vào đây làm lễ bởi có diện tích rộng hơn hẳn so với trung điện vàthượng điện

ở bên hai phía gian phụ của hạ điện hay còn gọi là hai chái phụ có đặt cácbàn thờ phụ Bên trái của hạ điện được đặt một bàn thờ cũng được làm bằng gỗ có

ba cấp dài độ 1m, rộng 80cm, được bài trí gọn gàng, phía trên được làm giống nhưhình một chiếc tủ dài được chia làm ba ô Ô giữa được thờ một hình cá ngư ônghai bên được đặt hai chiếc lư hương đồng Trên bàn khám thờ được chạm khắc ráttinh tế Chủ yếu là hình rồng, sơn màu nâu bóng, phía dưới là một chiếc bàn cóchạm hình mặt nạ hổ phù trông rất oai vệ Trên mặt bàn được trang trí như vòhương bằng đồng, đỉnh hương bằng đồng, các đồ tế lễ như đèn, hương hoa, vàngmã…

Bên phải của hạ điện được thờ tượng bà quan âm, bức tượng được đặt trên mộtchiếc khám lớn và chiếc khám thờ này cũng làm theo dạng tam cấp được chạmkhắc tinh vi, sơn son thếp vàng, chủ yếu vẫn là hình rồng uốn lượn, các đố ngang,

Trang 31

dọc được đi các loại chỉ viền kép, chỉ tròn tạo cho chúng ta một cảm giác không bịrối và có phần hài hòa hơn Trên khám thờ này cũng được thiết kế theo ba tầng.Trên cùng là một hương án có chạm trỗ hoa văn hình rồng uốn lượn, phía trướchương án được chạm khắc hình hổ phù Phía trong hương án là đặt tượng Quan

Âm, hai bên tả hữu được đặt một đôi hạc bằng đồng đứng chầu, ngoài ra trênkhám thờ còn có lư hương đồng, đỉnh hương đồng các loại đồ thờ như rượu hoatrà, quả, vàng mã…

Trên các khám thờ đều có các bức hoành phi những bức đại tự, các đôi câuđối rất lớn của các nhà hảo tâm kính lễ Các bức hoành phi câu đối này đều đượcsơn son thếp vàng và hầu hết là được khảm ốc trai có giá trị cao và có độ bền, thểhiện sự sang trọng của đền Cờn

Trung điện được bài trí đơn giản hơn, giữa điện được trang với khám thờđược chia thành hai cấp, phía dưới là để lễ thờ như hương, hoa, trà, rượu, khámthờ được thiết kế dài 1,50m và chiều rộng là 1m, hai bên tả hữu được đạt một đôilộc bình bằng sứ cao 1,20m bên cạnh là đôi hạc bằng đồng lớn Trên khám thờthiết kế hình ngai vàng chạm khắc hình rồng là chính Trong khám thờ được thờtượng vua Kế Bính, Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt và vị sư xưa Trên các xà ngangcủa các khung nhà sát với các khám thờ được treo các yếm bằng gỗ được chạmkhắc hoa văn và có hình dáng đẹp mắt Chủ yếu được sơn son thếp vàng tạo ra sựsang trọng cho các đồ thờ tự trong đền Các bức tượng thờ hầu hết được đúc bằngđồng, có lư hương đồng, đỉnh hương đồng, cặp đèn bằng đồng Trên khám thờluôn đầy đủ các loại đồ thờ như nhang vàng, hoa, trà, rượu…

Ở bên tay trái trong trung điện là một khám thờ lớn, thờ tượng Bà Quan Âmnghìn mắt nghìn tay, tượng được đặt trên một chiếc bàn lớn, có chạm trỗ tinh vi,phía trên là ba pho tượng phật, không lớn lắm trong tư thế chắp tay niệm phật Cácchi tiết khám thờ chủ yếu là hình long chầu, mặt nạ hổ phù trên các thanh ngang

đố dọc cộng thêm các đường chỉ viền nổi tạo nên các chi tiết đơn giản nhưng nhìnrất lạ mắt Trên bàn gồm có lư hương, đôi đèn bằng đồng…

Trang 32

Bên phải trung điện là một khám thờ lớn được đặt lên đó là một vật bằng đáquý trong đó đã có lịch sử lâu đời Hương án thờ không lớn cao chừng 50cm rộngchừng 50cm có hai cấp, phía dưới là để thừ hương hoa trà rượu phía trên là thờ vật

đá Các chi tiết họa tiết hoa văn luôn là các đường chạm trỗ hình rồng và cácđường nét chỉ đơn giản là chỉ tròn và chỉ đôi Ngoài ra còn có các vật thờ khác như

lư hương bằng đồng, đỉnh hương bằng đồng, cặp đèn …

Phía sau cùng là thượng điện Thượng điện nhỏ và hẹp hơn rất nhiều so với

hạ điện và trung điện Chính vì thế đây là nơi sang trọng thiêng liêng nhất của đềnCờn, được đặt trong một nơi cao nhất và kín đáo nhất, với khám thờ hoàn toànđược làm bằng gỗ quý, khám thờ được làm bằng hai tầng trên cùng là ngai thờđược đặt tượng của Tứ Vị Thánh Nương, ngai thờ được làm như ngai vàng củavua tôn vinh sự cao quý của tứ vị thánh nương Các chi tiết chạm trỗ sang trọnghình rồng và đầy đủ các họa tiết hoa văn Hai bên tả hữu được đặt một đôi hạcbằng đồng lớn, có thêm một đôi lộc bình lớn bằng sứ để bên cạnh tạo nên sự tranghoàng cho thượng điện Trên khám thờ đầy đủ các loại đồ thờ như hoa, trà, quả, có

lư hương, có đỉnh hương đều có chi tiết sắc sảo Tượng của Tứ Vị Thánh Nươngđược tạc bằng gỗ hương, trên các xà ngang dọc trên khám thờ đều có các bứchoành phi câu đối và các yếm gỗ có hình cong lá nĩa mang tính nghệ thuật cao Tất

cả đều được sơn son thếp vàng và luôn có sự hòa hợp với nhau

Ngoài các vật đó ra thì ngay trong hạ điện có một chiếc lư hương đồng lớntrên lư hương chạm tinh tế các hình rồng chầu nguyệt, được làm hai tầng, phíadưới là đế, đế của lư hương dày chừng 10cm có chạm hoa văn sắc sảo Phía trên lưhương có đường kính là 70cm, cao 70cm các chi tiết khá công phu cho thấy lưhương này đã có lâu đời Các chi tiết đó cho ta thấy mang dấu vết của văn hóa thời

Lý – Trần

Ngoài ra đền Cờn có một chuông đồng được đúc vào thời nhà Trần và tất cả nhưđược gìn giữ đến bây giờ Đó là niềm tự hào lớn của làng Phương Cần và cho cảngười dân xứ Nghệ

Trang 33

Trãi qua nhiều thăng trầm trong lịch sử nhưng càng ngày dòng thời gian đãtạo nên cho đền Cờn một nét cổ kính nguy nga, tráng lệ bên bờ biển Đó là sức hấpdẫn mà không nơi nào có được.

Hải Thượng Lãn Ông đã đến đây và có câu thơ còn lưu lại tại đền Cờn:

“Đại Tống cơ đồ thiên cổ hận Nam thiên vũ trụ tứ thời xuân”

Dịch nghĩa:

“Cơ đồ nước Tống muôn đời hận

Bờ cõi trời Nam bốn tiết xuân”

2.2 Những giá trị văn hóa tinh thần và những sinh hoạt tín ngưỡng dân gian khác

2.2.1 Lễ hội văn hóa truyền thống

Nằm ở ven biển xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đềnCờn là một khu di tích trong lịch sử linh thiêng của Nghệ An Theo xếp hạng củanhân dân thì đền Cờn đứng đầu trong tất cả mọi mặt từ nghệ thuật cho tới tínngưỡng Nơi đây thờ Tứ Vị Thánh Nương, là các nữ thần bảo vệ dân chài, vốn làmột tín ngưỡng dân gian khá phổ biến cho các cư dân ven biển từ Thanh Hóa vàoNghệ An cho tới Hà Tĩnh và một số vùng khác giáp biển Cùng với di tích, từ lâu

lễ hội đền Cờn đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng trong vùng và một số vùngkhác Trãi qua những thăng trầm và sự biến thiên của lịch sử, di tích và lễ hội đềnCờn ngày nay đã được phục hồi và trở thành điểm du lịch văn hóa tín ngưỡng tiêubiểu của tỉnh Nghệ An Diện mạo của lễ hội đền Cờn từ truyền thống đến hiện đại

để qua đó tìm hiểu sự vận động và biến đổi của lễ hội này trong đời sống của cưdân làng biển Phương Cần ngày nay

Tín ngưỡng thần nước thường gắn liền với thần đá và thần cây Tục thờ thần câythiêng cây thơm không xa rời với việc thờ thần đá, thần nước Trong quan niệmsiêu hình việc thờ đá, cây và nước đều có hồn Đá, cây, nước là một tập hợp đanxen gắn bó với nhau Cây mọc trên đất, trên núi có nước mới sống được Các nhà

Trang 34

folklore thường cho rằng tục thờ cây thờ đá và thờ nước gắn liền với tín ngưỡngphồn thực của cư dân nông nghiệp Cho nên trong huyền thoại cây gỗ thơm, gỗtrầm hay gỗ hương mới có hiện tượng gỗ trôi, gỗ dạt, gỗ luẩn quẩn nơi nọ nơi kia,

gỗ cũng biết tức giận, tha thứ và cuối cùng gỗ về đúng nơi mà hình như đã cóthiên định Nếu núi và nước là nơi điều hòa âm dương để sinh ra ngũ hành thì mộc

là một trong những ngũ hành đó

Có thiêng, có kinh, có sợ và có tin thì mới có lễ hội Tứ Vị Thánh Nươngchết rồi mà dường như vẫn còn sống dạt vào Vụng Ngâm ở Phương Cần Cây gỗdạt vào làng Phương Cần cũng có thiên hương Làng Phương Cần thờ cúng hailinh dị trên, nên đền Cờn mới hấp dẫn mới thu hút sự ngưỡng mộ, sự sùng kính sựtin tưởng của nhân dân trong làng, trong vùng và những bậc hoàng đế như LêThánh Tông, Trần Anh Tông đến đây để cầu nguyện

Việc thờ mẫu ở đền Cờn là một sự hỗn dung tín ngưỡng, sự sùng bái củacác lực lượng tự nhiên được trưng bằng thần Hổ và thần Rắn Thần mẫu như Tứ

Vị Thánh Nương mới được tăng cường vào thời nhà Lý, nhà Trần song mẫu Tứ Vịmang ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa Đến thế kỷ XV mới có việc thờ thầnmẫu Hạnh, mẫu Liễu Hạnh mới là văn hóa nội sinh của nền văn hóa Việt Nam.Mẫu Tứ Vị mang ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai nhưng đã được dân tộc hóa,dân gian hóa Bởi thế trong điện thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Quỳnh Phương có thờ

cả tam tòa tứ phủ Đi theo mẫu có thập nhị tôn ông và thập nhị chầu bà, là gắn liềnvới thiên can và mười hai địa chi

Việc thờ mẫu đã mang đến cho đền Cờn một lễ hội mang tính tổng hợp đó

là sự kết hợp giữa thờ thần nước, thần đá và thần cây Trong đó còn mang sắcthái của thờ mẫu, thờ cá nghinh ông hay các vị tướng của nhà Tống đã tạo nên một sự

kết hợp độc đáo giữa văn hóa ngoại lai và văn hóa nội sinh Chính vì thế nên trong

lễ hội sẽ có nhiều nét mới

Trong phần lễ thì có lễ yết cáo được tiến hành một cách uy nghi, trangtrọng, có nhiều nét văn hóa được truyền từ lâu đời cho đến nay

Trang 35

Trong phần lễ, thực hiện lễ là do các bô lão trong làng trong khăn áo dài,

mũ xếp, được thực hiện trong nhiều nghi lễ Đầu tiên trong ngày 20 tháng giêng

âm lịch việc lễ hội bắt đầu khai mạc, nhưng trong vòng những ngày gần đó việcchuẩn bị đã tiến hành đồng loạt từ tất cả các khâu Lúc 7 giờ sáng ngày 20 thánggiêng sẽ là lễ Khai Quang Tẩy Uế Lễ này được các cụ cao niên trong làng ăn mặcchỉnh tề và làm lễ tại ngay trước cổng đền

Sau lễ Khai Quang Tẩy Uế thì đến 14 giờ cùng ngày sẽ làm lễ Yết Cáo,trong các lễ Yết Cáo thì hầu hết là các cụ cao niên trong làng ăn mặc chỉnh tềtrong áo dài khăn xếp làm lễ Sau lễ Yết Cáo sẽ tổ chức một số trò chơi, sau ngày

20 đến ngày 21 sẽ là ngày đại lễ

Sau khi dàn đội hình rước trên bộ, diễu hành tàu dưới nước sẽ là lễ cầu ngư,

lễ cầu ngư sẽ được tổ chức long trọng và do các cụ làm lễ Sau lễ cầu ngư là lễHợp Tế tại đền ngoài ngôi đền bên dòng Mai Giang Sau lễ Hợp Tế tại đền CờnNgoài sẽ là lễ Yết Vị tại đền Cờn Trong, trong lễ này thì các đoàn đại biểu sẽ dânghoa và hương tại đền Cờn Trong Sau đó là lễ Đại Tế tại đền trong, tiếp theo sẽ là

lễ Tạ tại đền trong, các lễ này rất quan trọng đối với người dân nơi đây

Trong các lễ này việc thực hiện nghi lễ cúng bái là do các bô lão trong làng

đó chính là các cụ cao niên hiểu biết việc cúng tế cúng như muốn đem lại phúc lợicho làng Trong lúc cúng lễ thì việc dâng các sính lễ cũng như các vật phẩm tế lễ

đã chuẩn bị từ trước như: xôi, thịt gà, hoa quả trà rượu, nhang khói vàng mã…,các vật phẩm đều được đặt trong mâm và ở mỗi bàn thờ trong đền đều được bàybiện giống nhau, lễ cầu ngư thì được bày biện sính lễ tại bờ biển, mọi chu trìnhđược thực hiện một cách đúng quy trình trang trọng và hấp dẫn

Không chỉ trong lịch sử, vị trí trung tâm của nó còn được thể hiện trong khônggian văn hóa được tạo nên bởi một tín ngưỡng có sức lan tỏa suốt dọc bờ biển từQuảng Ninh cho tới Quảng Bình Đến ngày nay rất đáng mừng là các giá trị vănhóa mang tiềm năng du lịch đó đã được tỉnh Nghệ An chú ý đầu tư, khai thác

Đó là việc khôi phục lại lễ hội đền Cờn Hàng năm có hàng vạn người đỗ

về đền Cờn, đặc biệt trong hai ngày 20 và 21 tháng giêng âm lịch Những ngày đó

Ngày đăng: 14/01/2016, 13:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Gs. Phan Đại Doãn, Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử
Nhà XB: nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia
2. Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh, nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Nhà XB: nhà xuất bản Hà Nội
3. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới
Nhà XB: nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia
4. Ninh Viết Giao, Tục thờ thần tích và thần tích Nghệ An, Sở VHTT Nghệ An, Vinh 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần tích và thần tích Nghệ An
5. Ninh Viết Giao, Đền Cờn tục thờ thần Tứ Vị Thánh Nương và quần thể di tích văn hóa xã Quỳnh Phương, nhà xuất bản Nghệ An, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn tục thờ thần Tứ Vị Thánh Nương và quần thể di tích văn hóa xã Quỳnh Phương
Nhà XB: nhà xuất bản Nghệ An
6. Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
7. Mai Thanh Hải, Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
8. Chu Huy, Tâm thức người Việt qua lễ hội đền chùa, nhà xuất bản Phụ Nữ, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thức người Việt qua lễ hội đền chùa
Nhà XB: nhà xuất bản Phụ Nữ
9. Gs. Vũ Ngọc Khánh, Làng cổ truyền Việt Nam, nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Thanh Niên
10. Gs. Vũ Ngọc Khánh, Đền miếu Việt Nam, nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền miếu Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Thanh Niên
11. Gs. Vũ Ngọc Khánh, Lễ hội cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
12. Ts. Lã Duy Lan, Bản sắc văn hóa người Việt, nhà xuất bản Công An Nhân Dân, Hà Nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa người Việt
Nhà XB: nhà xuất bản Công An Nhân Dân
13. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1967, tr 101,102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
14. Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
15. Gs. Phạm Xuân Nam, Văn hóa và phát triển, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phát triển
Nhà XB: nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia
16. Ths. Phạm Thị Thanh Quy, Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay, Nhà Xuất Bản Lao Động, Hà Nội 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Lao Động
17. Dương Văn Sáu, Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Và Danh Lam Thắng Cảnh Việt Nam, nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Và Danh Lam Thắng Cảnh Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội
18. Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc
19. Nguyễn Minh San, Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, nhà xuất bản Phụ Nữ, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Phụ Nữ
20. Hồ Đức Thọ, Lệ làng Việt Nam, nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tóm tắt lịch sử Đền Cờn           Chương trình lễ hội Đền Cờn - TÌM HIỂU GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐỀN CỜN Làng Biển Phương Cần, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An
Bảng t óm tắt lịch sử Đền Cờn Chương trình lễ hội Đền Cờn (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w