Có thể nói sự mất giá nhanh với quy mô chưa từng có của những đồng tiền Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia và Hàn Quốc là biểu hiện bên ngoài để nhận thấy sự bùng nổ khủng hoảng
Trang 1Phần I TỔNG QUAN VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐÔNG Á NĂM 1997
I Hình ảnh của cuộc khủng hoảng tài chính ở một nước Đông Á năm 1997.
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á nổ ra năm 1997 trước hết xuất phát
từ Thái Lan Ngày 2.7.1997, Ngân hàng trung ương Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, chấm dứt một thời kỳ dài duy trì chế độ tỷ giá hối đoái gần như cố định so với đồng USD Tỷ giá hối đoái Baht/USD: năm 1991 là 25.28, năm 1992: 25.32, năm 1993: 25.54, năm 1994: 25.09, năm 1995: 25,19, năm 1996: 25.61
Ngay khi đồng Baht bị tuyên bố thả nổi, nó đã mất giá 20% Tháng 1.1998
tỷ giá hối đoái đạt mức 53 Baht/USD Ngày 11.7.1997, Philippines tuyên bố thả nổi đồng Peso Ngày 11.8.1997, Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trường hối đoái (thực chất là thả nổi đồng Ringgit) Ngày 14.8.1997, Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won của Hàn Quốc là 844,2 Won/USD thì ngày 30.9.1997 là 914,8 Won/ USD, ngày 14.12.1997 đồng Won thả nổi Ngày 23.12.1997 đạt kỷ lục 200 Won/USD
Có thể nói sự mất giá nhanh với quy mô chưa từng có của những đồng tiền Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia và Hàn Quốc là biểu hiện bên ngoài để nhận thấy sự bùng nổ khủng hoảng tài chính ở các nước này
Bảng1: Tỷ giá hối đoái bình quân năm 1996 và 1997
Trang 2Biểu hiện bên ngoài thứ 2 của tình trạng khủng hoảng kinh tế - tài chính là
sự thua lỗ và phá sản với tốc độ và quy mô bất thường của hệ thống ngân hàng, tài chính quốc gia
Bảng 2: Tình trạng thua lỗ và phá sản của hệ thống ngân hàng, tài chính
Sự phá sản của hàng loạt ngân hàng, doanh nghiệp sẽ dẫn đến hậu quả trực
tiếp là số người thất nghiệp tăng mạnh và tăng trưởng kinh tế quốc gia giảm sút
Bảng 3: Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp khi khủng hoảng tài
chính
Nước Năm tài
chính
1.4.1996
Năm tài chính từ 1.4.1997 đến 31.3.1998
Số ngân hàng
bị đình chỉ hoạt động
Số ngân hàng bị quốc hữu hóa/
chính phủ giám sát
Số ngân hàng bị sát nhập
Số ngân hàng bị bán cho công ty nước ngoài
Tổng số ngân hàng
có “ vấn đề”
Hàn
Quốc
Trang 3II Nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 trên phương diện quản lý nhà nước.
1 Chính phủ can thiệp trong phân bổ tín dụng gây ra tâm lý ỷ lại.
Từ đầu thập niên 1990, tự do hóa tài chính được tiến hành với nhịp độ từ
từ ở hầu hết các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á Mặc dù vậy chính phủ can thiệp trong phân bổ tín dụng vẫn còn tồn tại ở nhiều nước như Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Loan Khi tín dụng được chỉ định thì cơ chế giám sát và các quy định về hoạt động thận trọng thường được coi nhẹ Hơn thế nữa, khi các ngân hàng cho vay theo chỉ đạo của chính phủ thì luôn tồn tại một giả định ngầm rằng chính phủ sẽ bảo lãnh và cứu giúp nếu khoản vay đó không đòi được Thậm chí ngay cả ở một số nền kinh tế như Thái Lan, nơi chính phủ ít can thiệp hơn vào phân bổ tín dụng thì điều đó vẫn làm cho những người cấp vốn cho các công ty tài chính tin rằng mình sẽ được bảo đảm khi tính tới những mối quan hệ chính trị mà chủ sở hữu của các tổ chức tài chính này có được
Chính vì vậy, mặc dù không hề có sự bảo lãnh chính thức của chính phủ, nhưng các tổ chức tài chính ở Đông Á, đặc biệt là các ngân hàng nhà nước
hay ngân hàng lớn, luôn coi mình là “ quá lớn nên không thể thất bại” Krugman (1998) đưa ra quan điểm cho rằng cuộc khủng hoảng Đông Á bắt nguồn từ chính tâm lý ỷ lại trong hệ thống tài chính: các tổ chức tài chính được bảo lãnh ngầm “ có động cơ không chỉ thực hiện các hoạt động đầu tư
Nước Tăng trưởng kinh tế (%) Tỷ lệ thất nghiệp
Trang 4rủi ro, mà còn theo đuổi tất cả các dự án có suất sinh lời kỳ vọng thấp nếu các
dự án này được lợi lớn trong trường hợp thành công”
Giả sử, một công ty tài chính huy động được khoản vốn và sau một năm
sẽ phải trả D Công ty để đầu tư vào một dự án cho doanh thu ròng sau một năm là R Nếu R>=D thì công ty tài chính sẽ hoàn trả được khoản vốn huy động và còn lại giá trị lãi là V=R-D Còn nếu R<L thì công ty sẽ vỡ nợ và chỉ trả khoản tiền R còn phần thiếu hụt sẽ được chính phủ bù đắp (được chủ sở hữu của công ty tài chính có được mối quan hệ chính trị tốt)
Hình 1: Đầu tư được bảo lãnh ngầm
V = R - D 1 1
V
450
Với mọi giá trị R<D, thì công ty tài chính không nhận được gì, còn khi
R >D, thì giá trị lãi mà công ty nhận được là R-D theo đường 450 trên đồ thị Nói cách khác, V= max[0;R-D]
Ta thấy trường hợp này giống như việc công ty tài chính có được một quyền chọn mua Sau một năm, nếu doanh nghiệp thu ròng lớn hơn khoản nợ phải trả, thì công ty tài chính trả nợ Ta nói rằng công ty tài chính thực hiện quyền chọn mua và hướng giá trị chênh lệch là R- D Còn nếu doanh thu ròng nhỏ hơn khoản nợ phải trả, thì công ty tài chính sẽ không thực hiện quyền và nhận được giá trị bằng không
Điều đó cho ta thấy rằng độ dao động giá (tức là rủi ro) của tài sản cở
sở càng cao thì giá trị quyền chọn càng lớn vì khi đó thì xác suất quyền chọn
có lợi vào lúc đáo hạn càng cao Như vậy, rủi ro của dự án đầu tư càng cao thì giá trị lãi mà công ty nhận được khi đáo hạn càng cao Đó chính là lý do tại sao, khi có bảo lãnh thì công ty tài chính là tập trung đầu tư và các rủi ro cao Hơn thế nữa, công ty tài chính đặc biệt thích đầu tư vào các dự án có khả
Trang 5năng cho doanh thu ròng rất cao nếu thành công cho dù xác suất xảy ra là thấp
2 Chính phủ tự do hóa tài khoản theo hướng khuyến khích dòng vốn nước ngoài ngắn hạn.
Từ năm 1990 đến 1997, lượng vốn tư nhân chảy vào các nước đang phát triển tăng 5 lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷ USD, trong khi Đông Á chiếm 60% trong nửa đầu thập niên 90 (Theo NHTG 1998) Sự thần kỳ trong tăng trưởng của Đông Á là những động lực thúc đẩy dòng vốn dịch chuyển từ Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU tới các nền kinh tế Đông Á Chính sách của chính phủ trong giai đoạn này là luôn duy trì chênh lệch lãi suất giữa các nền kinh tế Đông Á và các trung tâm tiền tệ quốc tế ở mức dương Thêm vào đó chính sách của chính phủ của các quốc gia Đông Á, cụ thể là Hàn Quốc là hạn chế đầu tư nước ngoài dài hạn dưới dạng FDI hay đầu tư chứng khoán, trong khi đó chỉ cho phép các ngân hàng được vay ngắn hạn nước ngoài Tỷ giá hối đoái cố định
mà nhiều chính phủ Đông Á duy trì cũng là yếu tố khuyến khích dòng vốn nước ngoài do rủi ro được loại bỏ Lãi suất nước ngoài thấp hơn lãi suất nội địa trong khi tỷ giá được cố định rõ ràng là một khuyến khích cho các tổ chức kinh doanh và tài chính nội địa đi vay vốn nước ngoài Từ những chính sách
đó của chính phủ các nước Đông Á, khi kinh tế tăng trưởng khá, lượng vốn ngoài chảy vào nhiều thì không ai nghĩ rằng lại có thể không đảo được nợ hay vay mới khi các khoản vay trước đây đến kỳ đáo hạn Dòng vốn chảy vào đã tạo nên sự bùng nổ tín dụng trong khu vực Trong thập niên 1990, tín dụng ngân hàng cấp cho khu vực tư nhân tăng lên nhanh chóng Tới cuối năm
1996, tổng giá trị tài sản nợ tài chính của khu vực tư nhân trên GDP lên tới 140% ở Hàn Quốc, Thái Lan Mức cung tiền ở Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Malaysia và Indonesia tăng gần 20%/năm trong năm 1996 và 1997
Bảng 4
Trang 61991 1992 1993 1994 1995 1996
Hàn Quốc 103.1 110.7 121.3 128.8 133.5 140.9
Thái Lan 88,6 98,4 10,8 128.1 142.0 141.9
Nguồn: Radelet và Sachs (1998)
Một điểm đáng lưu ý nữa là hàng loạt các khoản vay nước ngoài ngắn hạn được đầu tư dài hạn trong khi đó dự trữ ngoại tệ lại thấp hơn so với các khoản vay đó Điều đó có nghĩa là trong thời gian ngắn hạn nền kinh tế sẽ không có khả năng chi trả
Bảng 5
Nợ ngắn hạn nước ngoài Dự trữ ngoại tệ Tỷ lệ
nợ ngắn hạn so
(tỷ USD) (tỷ USD) với dự trữ
Hàn Quốc 70.18 34.07 2.06
Thái Lan 45.57 31.36 1.45
Indonesia 34.66 20,34 1,70
Malaysia 16.27 26.59 0,61
Philippines 8,29 9,78 0,85
Nguồn: ADB, 1999
3 Chính phủ dồn nén tỷ giá hối đoái một cách khiên cưỡng.
Nếu vấn đề nêu trên là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì các chính sách “neo giá” của chính phủ giữa các đồng tiền khu vực với
Trang 7đồng USD, tạo nên một hệ thống tỷ giá khiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khu vực Mặc dù khởi phát từ việc thả nổi đồng baht Thái Lan dấn đến hiệu ứng lan tỏa sang các đồng Peso, Ringgit và Rupiah, nhưng trong thực tế trong chừng mực nào đó,các đồng nội
tệ này đã bị giảm giá trước xu hướng ngày càng tăng của đồng USD
Xét về phương diện lý thuyết, chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo hệ thống Bretton Woods, có ý nghĩa tích cực trong việc ổn định hóa đòng tiền nội tệ và hỗ trợ cho quá trình tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nếu lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trong điều kiện đồng nội tệ trên thực tế bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như cơ cấu kinh tế mất cân đối lớn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng Đáng nhẽ ngay từ năm 1996, khi những triệu chứng thâm hụt tài khoản vãng lai xuất hiện, Chính phủ Thái Lan và các nước Đông Á khác phải thực hiện chính sách thả nổi đồng nội tệ, trả lại giá đích thực của nó, kết hợp với chính sách thắt chặt tài chính, chác chắn nguy cơ khủng hoảng bị dập tắp Thay vì chính chính sách kìm giữ một cách giả tạo đồng nội tệ để thu hút vốn nước ngoài nhằm bù đắp lỗ hỏng của tài khoản vãng lai và kiềm chế lạm phát
Chính phủ Thái Lan và một số nước Đông Á đã cố gắng thực hiện cái
mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo
vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách
vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn
Trang 8Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Chính phủ Hàn Quốc lại theo đuổi một chế
độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro
4 Chính phủ chỉ quan tâm đến tăng trưởng nóng mà không chú ý kiện toàn hệ thống tài chính.
Hệ quả tất yếu của chính sách đó là ngân sách nhà nước bị thâm hụt, lạm phát tăng, nền kinh tế sớm muộn gì củng lâm vào khủng hoảng Hệ thống ngân hàng tài chính là một lĩnh vực hết sức nhậy cảm và chứa đựng nhiều rủi
ro, chỉ cần một tổn thương cũng gây nên những xáo trộn lớn trong quá trình điều tiết kinh tế Việc duy trì quá lâu tỷ giá hối đoái cố định đã tạo nên kẻ hở trong hệ thống ngân hàng của các nước này Hệ thống ngân hàng hoạt động yếu kém dấn đến kẻ hở cho nhà đấu cơ tiền tệ vay vốn để mua ngoại tệ kiếm lời Sự tăng giá của đồng Yên Nhật so với USD khiến cho các ngân hàng đổ
xô mua nhau mua sau đó bán lại để mua USD hưởng chênh lệch giá
Hiện tượng thất thoát vốn do đầu cơ tiền tệ ngày càng trở nên nghiêm trọng Để duy trì tốc độ tăng trưởng và tỷ giá hối đoái cố định ngân hàng tiếp tục vay nóng ngân hàng nước ngoài dẫn đến giới hạn nguy hiểm khi tỷ lệ nợ vượt xa dự trữ ngoại tệ trong nước Nguy hiểm hơn khi nhà đầu tư nước ngoài khẩn trương rút vốn khi thấy có sự bất ổn
Do thất thoát và khê đọng vốn ở thị trường bất động sản dấn đến hàng loạt ngân hàng trong khu vực tuyên bố vỡ nợ Điển hình như ở Thái Lan, 10 ngân hàng lớn nhất đứng trước nguy cơ phá sản Các Nhà đầu tư trong và ngoài nước bắt đầu có hội chứng mất dần niềm tin, hàng loạt khách hàng rút vốn ra khỏi ngân hàng-tài chính đã làm suy giảm thị trường chứng khoán ở các nước này
Trang 95 Chính phủ chưa mạnh tay trong việc xử lý những bê bối trong nội
bộ của mình.
Chính mối quan hệ chặt chẽ của các tổ chức tài chính với chính phủ làm cho các tổ chức này ngày càng lũng đoạn Mà chính phủ lại không thể mạnh trong việc xử lý những vấn đề này, điều đó gây nên tình trạng tham nhũng nặng nề ở các nước Đông Á Chính phủ cũng chưa đưa ra được hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới, hệ thống giáo dục kém phát triển, thiếu trầm trọng các lao động lành nghề, mức lương thực tế tăng nhanh trong lúc Trung Quốc và Ấn Độ tham gia vào thị trường xuất khẩu với chi phí thấp giá thành
hạ làm các nước Đông Á mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế… Do mối quan hệ ràng buộc giữa Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác trong khu vực Đông Á, nên khi cuộc khủng hoảng nổ ra ở một nước nó lập tức lan truyền sang các nước khác và gây ra ảnh hưởng nặng nề cho các nước đó Vì vậy, nước này không thể đổ lỗi hoàn toàn những hậu quả của cuộc khủng hoảng là do nước kia
Trang 10Phần II HẬU QUẢ CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐÔNG Á NĂM 1997
VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
I Hậu quả của cuộc khủng hoảng
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước Đông Á Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998 Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan
Cuộc khủng hoảng đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin, rút vốn ra khỏi đất nước, làm xấu đi môi trường đầu tư Năm 1995,1996 mỗi năm có khoảng 20 tỷ USD vốn được rót vào Thái Lan, nhưng năm 1997, 15.8
tỷ USD vốn được rút ra khỏi quốc gia, năm 1998 thêm 9.5 tỷ USD vốn chạy
ra nước ngoài
Khủng hoảng còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền
Tệ Quốc Tế Các phong trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.000 USD xuống 10.400 USD
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil Một số
Trang 11nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI giảm
II Bài học đối với Việt Nam
Trên cơ sở phân tích khủng hoảng tài chính ở một số nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc… ta có thể rút ra 3 bài học cho Việt Nam
Bài học 1: Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp và hiệu quả kinh
tế quốc gia là cơ sở quan trọng nhất đảm bảo cho phát triển bề vững và phải trở thành một mục tiêu và chỉ tiêu của quản lý kinh tế đất nước, quản lý ngành và mỗi doanh nghiệp
Để khắc phục sự thiếu chú ý đúng mức đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
và phát triển, cần đưa vào hệ thống chỉ tiêu kinh tế phải báo cáo hàng năm của mỗi địa phương, mỗi ngành và cả nước các chỉ tiêu như tỉ suất lợi nhuận và tỉ suất giá trị gia tăng trên vốn riêng của doanh nghiệp theo các ngành, theo thành phần kinh tế và theo các địa phương trong cả nước, đồng thời theo dõi chặt chẽ sự biến động của các chỉ só ICOR với mỗi địa phương và cả nước
Bài học 2: Để các doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển bền vững thì lãi
suất vốn vay để đầu tư phải tương đương với hoặc nhỏ hơn khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Như vậy, để phát triển bền vững, lãi suất tín dụng chủ yếu phải hình thành qua quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, chứ không phải dựa vào ý chí Nhà nước Nếu lãi suất tín dụng nhỏ hơn khả năng sinh lời của doanh nghiệp
và sản phẩm của doanh nghiệp có tính cạnh tranh cao, thì doanh nghiệp có thể
sẽ càng phát triển nhanh và hiệu quả kinh doanh cao, nếu càng vay nhiều vốn Tức là vay vốn mà lại phát triển bền vững So sánh tốc độ tăng trưởng GDP
và lãi suất tiền gửi ở một số nước cho ta minh họa khá thú vị
Thái Lan
Hàn Quốc
Indonesia Malaysia Mỹ Sigapore
Tăng trưởng
GDP bình quân