1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội

86 233 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 475 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà quản lý doanh nghiệp cần có tầm nhìn chiến lược, biếtphản ứng linh hoạt với sự thay đổi của thị trường, có đầu óc năng động, sángtạo và có thể đưa ra các quyết định quản lý chính

Trang 1

Lời mở đầu

Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã làm cho nền kinh tếnước ta có những chuyển biến to lớn Từ một nền kinh tế tập trung quan liêubao cấp, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vậnđộng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xãhội chủ nghĩa Cơ chế kinh tế thị trường như một luồng gió mới thổi vào từngdoanh nghiệp, mang lại cho doanh nghiệp nhiều thuận lợi, giúp doanh nghiệp

tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy cao độ những tiềm năngcủa doanh nghiệp mình Bên cạnh đó không phải không có những khó khăn.Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn chịu sự tác động của nhữngqui luật khắc nghiệt vốn có của nền kinh tế đó Do vậy, nếu không nhận thứcđược các qui luật kinh tế, không có kiến thức cơ bản về quản lý doanh nghiệp

sẽ thất bại Các nhà quản lý doanh nghiệp cần có tầm nhìn chiến lược, biếtphản ứng linh hoạt với sự thay đổi của thị trường, có đầu óc năng động, sángtạo và có thể đưa ra các quyết định quản lý chính xác, kịp thời nhằm đem lạihiệu quả cao trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đem lại nguồn lợinhuận cao nhất Vậy làm thế nào để tăng được lợi nhuận cho mỗi doanhnghiệp? Đây quả là một vấn đề cần thiết mà mỗi một doanh nghiệp phải quantâm trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Như vậy, lợi nhuận là động lực là mục tiêu hàng đầu, là đích cuối cùng

mà mỗi doanh nghiệp phải vươn tới nhằm đảm bảo sự sinh tồn, phát triển vàthịnh vượng

Mặt khác, lợi nhuận được tạo ra là kết quả của tổng hợp các hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là kết quả của việc kết hợp hài hòa cácyếu tố sản xuất, là sản phẩm của sự tìm tòi, sáng tạo và mạo hiểm Nó đòi hỏimỗi nhà doanh nghiệp phải có sự phát triển toàn diện, khả năng tư duy, nhạybén và sự năng động Vì vậy, nghiên cứu về lợi nhuận giúp cho chúng ta - đặcbiệt là các nhà tài chính doanh nghiệp có một cái nhìn toàn diện hơn về cáchoạt động của doanh nghiệp, về quản trị kinh doanh và đặc biệt là quản trị tàichính sao cho đồng vốn đem lại nhiều lợi nhuận nhất

Trang 2

Hoạt động sao cho có lợi nhuận và tìm mọi biện pháp làm tăng lợinhuận luôn là vấn đề bức bách của các Doanh nghiệp, là nỗi trăn trở, là tâmhuyết của các Doanh gia.

Xuất phát từ những nhận thức trên và sự giúp đỡ của thầy cô giáo,trong thời gian thực tập tại Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì Hà nội

em đã chọn đề tài " Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì Hà nội" làm chuyên đề tốt nghiệp.

Ngoài lời mở đầu và phần kết luận chuyên đề gồm 3 chương

Chương I : Những lý luận chung về lợi nhuận của Doanh nghiệp

trong nền kinh tế thị trường.

Chương II : Thực trạng lợi nhuận của Công ty xuất nhập khẩu và

kỹ thuật bao bì trong những năm qua.

Chương III : Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận của

Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì Hà nội.

Trang 3

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH

NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I LỢI NHUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1 Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hóa, vớicác đặc trưng cơ bản sau :

- Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao Các chủ thể kinh tế tự bù đắpnhững chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh củamình Các chủ thể kinh tế tự do liên kết, liên doanh, tự do tổ chức quá trìnhsản xuất theo luật định Nhà nước chỉ định ở tầm vĩ mô, quản lý bằng hànhlang pháp lý Đây là dặc trưng quan trọng nhất

- Trên thị trường hàng hóa rất phong phú Quan hệ giữa người mua vàngười bán là bình đẳng và họ gặp nhau ở giá cả thị trường Sự đa dạng vềchủng loại và số lượng hành hóa trên thị trường một mặt phản ánh trình độcao của năng suất lao động xã hội, mặt khác nói lên mức độ phát triển củaquan hệ trao đổi, trình độ phân công lao động xã hội và sự phát triển của thịtrường

- Giá cả là kết quả của sự thương lượng và thoả thuận giữa người mua

và người bán và được hình thành ngay trên thị trường Trong quá trình traođổi mua bán hàng hóa, người bán muốn bán hàng hóa với giá cao nhất có thể

và người mua muốn mua hàng hóa với giá thấp nhất có thể Đối với ngườimua giá cả được quyết định bởi khả năng thanh toán Đối với người bán, giá

cả phải bù đắp được chi phí và có lợi nhuận

- Cạnh tranh là tất yếu của kinh tế thị trường Đó là sự ganh đua củacác chủ thể kinh tế nhằm giành phần sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có lợi chomình để thu lợi nhuận cao Cạnh tranh là môi trường của hoạt động kinh

Trang 4

doanh, nó đòi hỏi mỗi chủ thể kinh tế phải chuẩn bị cho mình khả năng cạnhtranh thắng lợi trên thị trường.

Nền kinh tế thị trường là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóaphát triển và luôn luôn khuyến khích, thu hút mọi thành phần kinh tế, mọitầng lớp tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra của cải

và lợi ích cho xã hội Và là một trong những thành phần đóng vai trò quantrọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường đó là các Doanh nghiệp

1.1 Doanh nghiệp : Doanh nghiệp hiểu theo nghĩa chung nhất là một đơn vị

kinh doanh, là một tế bào kinh tế có nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh hànghóa, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt được lợi nhuận tối đa,đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

Trong nền kinh tế thị trường tồn tại rất nhiều loại hình doanh nghiệpnhư : Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty

cổ phần, công ty liên doanh và hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tếquốc dân, từ hoạt động sản xuất cho tới hoạt động kinh doanh thương mại

* Doanh nghiệp Nhà nước : là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,

thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao

* Doanh nghiệp tư nhân : là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp

hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ số tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

* Công ty ( công ty TNHH và công ty cổ phần) : là doanh nghiệp trong đó

các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng vớiphần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trongphạm vi phần vốn góp

Trang 5

1.2 Hoạt động của doanh nghiệp :

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp làsản xuất và kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng có nhu cầutrong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có nhằm thu được lợi nhuận nhiềunhất, nâng cao thu nhập người lao động, góp phần tăng thu nhập quốc dân,nâng cao tích lũy nhằm đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng doanhnghiệp Doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ từ các yếu tố sản xuấtđược xã hội cung cấp, người tiêu dùng mua hàng hóa và dịch vụ này Nhưvậy, doanh nghiệp đã góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội vàđược đo lường bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân( GNP) Đồng thời, đểsản xuất ra hàng hóa và dịch vụ, doanh nghiệp phải mua nguyên liệu, các bộphận, linh kiện rời hay các bán thành phẩm từ các nhà sản xuất khác, do đótạo ra nhu cầu đối với sản lượng của các doanh nghiệp khác Như vậy daonhnghiệp cùng tồn tại và có mối quan hệ tương hỗ với các thành viên khác trongnền kinh tế

Muốn phát triển, mọi doanh nghiệp đều phải giải quyết được ba vấn đềkinh tế cơ bản : quyết định sản xuất cái gì, quyết định sản xuất như thế nào vàquyết định sản xuất cho ai

Quyết định sản xuất cái gì

Nhu cầu thị trường về hàng hóa và dịch vụ rất phong phú, đa dạng vàngày một tăng cả về số lượng lẫn chất lượng Nhưng trên thực tế nhu cầu cókhả năng thanh toán lại thấp hơn, cho nên muốn thoả mãn nhu cầu lớn trongkhi khả năng thanh toán có hạn, xã hội và con người phải lựa chọn từng loạinhu cầu có lợi nhất cho mình Tổng các nhu cầu có khả năng thanh toán của

xã hội, của người tiêu dùng cho ta biết được nhu cầu có khả năng thanh toáncủa thị trường Nhu cầu này là căn cứ, là xuất phát điểm để định hướng cho

Trang 6

các chính phủ và các doanh nghiệp quyết định việc sản xuất và cung ứng củamình Trên cơ sở nhu cầu thị trường, chính phủ và các doanh nghiệp tính toánkhả năng sản xuất của nền kinh tế, của các doanh nghiệp và các chi phí sảnxuất của nền kinh tế, của doanh nghiệp và các chi phí sản xuất tương ứng đểlựa chọn và quyết định sản xuất cung ứng cái mà thị trường cần để có thể đạtđược thu nhập quốc dân và lợi nhuận tối đa Việc lựa chọn để quyết định sảnxuất cái gì là quyết định sản xuất những loại hàng hóa, dịch vụ nào, với sốlượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào, khi nào cần sản xuất và cung ứng.Cung, cầu, cạnh tranh trên thị trường tác động qua lại với nhau, có ảnh hưởngtrực tiếp đến việc xác định giá cả thị trường và số lượng hàng hóa cần cungcấp trên thị trường Giá cả thị trường là thông tin có ý nghĩa quyết định đốivới việc lựa chọn sản xuất và cung ứng những hàng hóa, dịch vụ nào có lợinhất cho cả cung và cầu trên thị trường Giá cả thị trường là bàn tay vô hình

để điều chỉnh quan hệ cung cầu và giúp chúng ta lựa chọn và quyết định sảnxuất

Quyết định sản xuất như thế nào

Sau khi đã lựa chọn cần sản xuất cái gì, chính phủ, các nhà kinh doanhphải xem xét và lựa chọn việc sản xuất những hàng hóa và dịch vụ đó như thếnào để sản xuất nhanh, nhiều với chi phí thấp nhất, đem lại lợi nhuận caonhất Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm, lựachọn đầu vào với chi phí thấp nhất, lựa chọn các phương pháp tổ chức sảnxuất có hiệu quả nhất Nói một cách cụ thể là phải lựa chọn và quyết định sảnxuất hàng hóa dịch vụ này bằng nguyên vật liệu gì, thiết bị dụng cụ nào, côngnghệ sản xuất ra sao để đạt lợi nhuận cao nhất Để đứng vững và cạnh tranhthắng lợi trên thị trường, các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới kỹ thuật vàcông nghệ, nâng cao trình độ công nhân và lao động quản lý nhằm tăng hàmlượng chất xám trong hàng hóa và dịch vụ là vấn đề có ý nghĩa quyết định sựsống còn trong cạnh tranh và chiếm lĩnh trên thị trường

Quyết định sản xuất cho ai

Trang 7

Thị trường quyết định giá cả các yếu tố sản xuất đầu vào, do đó thịtrường cũng quyết định giá cả hàng hóa, dịch vụ bán ra Vấn đề mấu chốt lànhững hàng hóa dịch vụ sản xuất phân phối cho ai để vừa có thể kích thíchmạnh mẽ sự phát triển kinh tế có hiệu quả, vừa đảm bảo công bằng xã hội.Nói một cách cụ thể là thu nhập quốc dân, thu nhập thuần túy của doanhnghiệp sẽ được phân phối cho xã hội, cho tập thể và cho cá nhân như thế nào

để tạo động lực kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội, thỏa mãn được nhucầu công cộng và các nhu cầu xã hội khác

Theo ngôn ngữ kinh tế học thì ba vấn đề kinh tế cơ bản nói trên đượcgiải quyết trong mọi xã hội, dù một công xã, một bộ tộc, một nghành, mộtdoanh nghiệp Việc tăng thu nhập quốc dân, lợi nhuận và tích lũy của mỗinước mỗi nghành, mỗi doanh nghiệp tùy thuộc vào chính quá trình lựa chọn

để quyết định tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản nói trên Đối với doanh nghiệpviệc lựa chọn đúng ba vấn đề kinh tế cơ nói trên có ý nghĩa quyết định đếnviệc tạo ra khả năng lợi nhuận, vì mục tiêu của sự lựa chọn kinh tế tối ưutrong doanh nghiệp là tăng hiệu quả kinh tế, tăng lợi nhuận

2 Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế

2.1 Những quan điểm và nguồn gốc về lợi nhuận

2.1.1 Khái niệm về lợi nhuận

Trước khi xem xét nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận chúng ta phảihiểu lợi nhuận là gì?

Để thực hiện quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, nhà sản xuấtphải ứng trước một lượng tiền để mua tư liệu sản xuất và trả lương cho côngnhân Hàng hóa được sản xuất ra mang hai thuộc tính : Giá trị và giá trị sửdụng

Giá trị của hàng hóa sản xuất ra được biểu hiện bằng công thức :

Gt = C + V + M

Trong đó :

Gt : Là giá trị hàng hóa

Trang 8

C : Chi phí nhà sản xuất bỏ ra để mua TLSX

V : Chi phí thuê nhân công

M : Giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động dongười công nhân làm thuê sáng tạo ra Như vậy trong quá trình sản xuất, sứclao động đã sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn phần giá trị sức lao động và phầndôi ra là giá trị thặng dư

Các nhà kinh tế học cổ điển trước C Mac cho rằng " Cái phần trội lênnằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận "

Theo C Mac thì " Giá trị thặng dư hay phần trội lên trong toàn bộ giátrị của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trảcông của công nhân đã được vật hóa thì tôi gọi là lợi nhuận "

Các nhà kinh tế học hiện đại như P.A Samuelson và W D Nordhauscho rằng : " Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu về trừ

đi tổng số chi hay cụ thể hơn Lợi nhuận được định nghĩa là sự chênh lệchgiữa tổng thu nhập của một doanh nghiệp và tổng chi phí " Theo David Begg,Stanley Fisher và Busch thì " Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so vớichi phí "

Nhìn tổng quát những quan niệm trên ta nhận thấy rằng tất cả các địnhnghĩa đều thống nhất: Lợi nhuận là số thu dôi ra so với số chi phí bỏ ra

Như vậy, Lợi nhuận của một doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữatổng doanh thu bán sản phẩm hàng hóa dịch vụ trừ đi tổng chi phí bỏ ra tươngứng để tạo ra được hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ bao gồm cả phần nộp thuếcho Nhà nước

2.1.2 Nguồn gốc của lợi nhuận

Trên cơ sở kế thừa những gì tinh túy nhất do các nhà kinh tế học tư sản

Trang 9

Mac đã kết luận một cách đúng đắn rằng " Giá trị thặng dư là con đẻ của toàn

bộ tư bản ứng ra như vậy mang hình thái biến tướng là lợi nhuận"

Dựa vào lý luận về lợi nhuận của C Mac, kinh tế học hiện đại đã phântích khá sâu sắc về nguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp Thật vậy, khi tiếnhành sản xuất kinh doanh ai cũng muốn thu được lợi nhuận cao Để thu đượclợi nhuận cao một doanh nghiệp phải nhìn thấy được những cơ hội mà ngườikhác bỏ qua, phải phát hiện ra sản phẩn mới, tìm ra phương pháp sản xuấtmới tốt hơn để có chi phí sản xuất thấp, hoặc phải liều lĩnh, mạo hiểm hơnmức bình thường Nhưng nói chung để tiến hành tốt các hoạt động sản xuất,kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất thì chi phí thấp nhất là nguồn gốc đểtạo ra và tăng lợi nhuận trong mỗi doanh nghiệp

Nhưng trên thực tế còn được xem xét như phần thưởng đối với doanhnghiệp có khả năng tiến hành các hoạt động sáng tạo, đổi mới và mạo hiểm để

tổ chức sản xuất kinh doanh những mặt hàng mà xã hội mong muốn Ngoài ranhững doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao nhờ kiểm soát được thị trường,độc quyền kinh doanh về một loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ nhất định Nóitóm lại, lợi nhuận của một doanh nghiệp được bắt nguồn từ hai yếu tố :

 Thu từ các nguồn lực chi phí mà doanh nghiệp đã đầu tư cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình

 Phần thưởng cho sự mạo hiểm, sáng tạo, đổi mới trong hoạt độngsản xuất kinh doanh và sự độc quyền trong cung ứng sản xuất sảnphẩm hàng hóa dịch vụ

Đối với nước ta đang trên con đường thực hiện công cuộc đổi mới, nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì mục tiêu là phải nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhằm buộc cácdoanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, coi lợi nhuận tối đa là mục tiêu kinh tếquan trọng nhất Nguồn gốc của lợi nhuận trong các doanh nghiệp được tạo rabằng cách sử dụng hợp lý các nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 10

và tận dụng có hiệu quả các điều kiện của môi trường kinh doanh Rõ ràng,lợi nhuận là mục tiêu chung cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp không phân biệt các thành phần kinh tế hay đang tồn tại dưới bất kỳmột chế độ xã hội nào.

2.2 Vai trò của lợi nhuận

Trong nền kinh tế bao cấp, vai trò của lợi nhuận không được chú ý đến,các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của Nhà nước.Nhà nước bao cấp về giá vật tư hàng hóa, về lãi tín dụng, về vốn kinhdoanh kết quả hoạt động cuối cùng lỗ hay lãi không ảnh hưởng trực tiếp hayquyết định đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp Nhưng trong nền kinh

tế thị trường, các doanh nghiệp phải thực hiện hạch toán kinh doanh thì lợinhuận là mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp, lợi nhuận có vai tròhết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng

và đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung

2.2.1 Đối với doanh nghiệp

* Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với

mục tiêu kinh tế là để kiếm lợi nhuận Trong nền kinh tế thi trường, lợi

nhuận là mục tiêu của kinh doanh, là thước đo hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng sử dụng hợp

lý, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao năng suất, hiệu quả và chất lượng củaquá trình sản xuất kinh doanh Thật vậy, để cung cấp hàng hóa và dịch vụ chonhu cầu của thị trường, nhu cầu người tiêu dùng, các nhà doanh nghiệp phải

bỏ ra các chi phí nhất định Họ phải thuê đất đai, lao động, tiền vốn trong quátrình sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ Họ mong muốn hàng hóa dịch vụcủa họ được mua với giá ít nhất là để bù đắp lại những chi phí bỏ ra, ngoài ra

họ còn muốn phần thừa để mở rộng và phát triển sản xuất, trả cổ tức, thưởngcho các nhà quản lý, cho công nhân viên và cho các chủ cổ phiếu - tức là họmuốn có lợi nhuận Nếu các doanh nghiệp không thể tạo ta được lợi nhuận thì

họ cũng không muốn sẵn sàng cung cấp cho nhu cầu của xã hội về các hàng

Trang 11

hóa dịch vụ đó Do đó, động cơ lợi nhuận là một bộ phận hợp thành quyếtđịnh sáng tạo ra sự hoạt động thắng lợi của thị trường hàng hóa dịch vụ

* Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kể từ lúc

bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị sản xuất kinh doanh, tổ chứcquá trình sản xuất kinh doanh, tổ chức cung ứng hàng hóa dịch vụ ra thịtrường Nó phản ánh về cả mặt lượng và mặt chất của quá trình sản xuất kinhdoanh Kinh doanh tốt sẽ cho lợi nhuận nhiều và khi lợi nhuận nhiều sẽ tạokhả năng để đầu tư, tái sản xuất mở rộng, tiếp tục quá trình sản xuất kinhdoanh có hiệu quả hơn Ngược lại, làm ăn kém hiệu quả sẽ dẫn đến thua lỗ vàphá sản là tất yếu Vì vậy có thể nói rằng lợi nhuận tói đa là mục tiêu hàngđầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp cạnh tranhtrong cơ chế thị trường

* Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng kích thích người lao động

đẩy mạnh sản xuất nâng cao năng suất lao động Vai trò đòn bẩy kinh tế

được thông qua quá trình hình thành, phân phối và sử dụng lợi nhuận Quaquá trình đó góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba mặt lợi ích : lợi ích Nhànước, lợi ích tập thể và lợi ích của người lao động nhằm nâng cao đời sốngvật chất cho người lao động, thúc đẩy mọi người quan tâm đến hoạt động sảnxuất kinh doanh

2.2.2 Đối với kinh tế xã hội

* Lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ là bộ phận quan trọng của

thu nhập thuần túy của doanh nghiệp mà đồng thời là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước và là cơ sở để tăng thu nhập quốc dân mỗi nước.Ở đây, ta lại thấy được vai trò của lợi nhuận không những quan trọng

đối với bản thân mỗi doanh nghiệp mà cả xã hội Bởi lẽ, mỗi doanh nghiệpkhông chỉ hoạt động kinh doanh riêng lẻ, tách rời, mà nó là một mắt xíchtrong chuỗi xích liên hệ giữa các doanh nghiệp , giữa các con người.Mặt kháclợi nhuận còn góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc

Trang 12

doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra, lợi nhuận còn gópphần nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp nóiriêng trong mỗi gia đình nói chung thông qua việc thành lập các quỹ từ lợinhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ sở đó khuyến khích mỗi ngườilao động không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuấtkinh doanh trong doanh nghiệp.

* Lợi nhuận của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết

với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác như chỉ tiêu về đầu tư sản xuất, sử

dụng các yếu tố đầu vào, chỉ tiêu chi phí và giá thành, các chỉ tiêu đầu ra vàcác chính sách tài chính quốc gia

Trang 13

II. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LỢI NHUẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN

1 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp

Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp đềuphải xây dựng cho riêng mình một phương hướng đúng đắn để tận dụng tối đatiềm lực tài chính và những mối quan hệ kinh tế, chính trị sẵn có của mìnhnhằm vào mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận Do vậy tùy theo từngnghành nghề từng lĩnh vực kinh doanh, mỗi doanh nghiệp lựa chọn một vàilĩnh vực đặc thù riêng cho mình để tận dụng tối đa khả năng sẵn có Nhưngtựu chung lại thì xu hướng đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, đaphương hóa trong các mối quan hệ trên thương trường đã trở thành xu hướngtất yếu Điều đó có nghĩa là hoạt động của các doanh nghiệp rất phong phú và

đa dạng Các doanh nghiệp không chỉ tiến hành sản xuất kinh doanh các hànghóa dịch vụ theo đúng nghành nghề kinh doanh mà còn tiến hành nhiều hoạtđộng khác mang tính chất khong thường xuyên, không chủ yếu Đó là cáchoạt động tài chính và các hoạt động bất thường Căn cứ trên mỗi mảng hoạtđộng, doanh nghiệp xác định các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi nhuậntương ứng Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ là tổng đại số của các lợinhuận bộ phận trong từng mảng hoạt động Như vậy cấu thành lợi nhuận củadoanh nghiệp bao gồm ba bộ phận :

 Lợi nhuận thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính vàphụ

 Lợi nhuận thu từ hoạt động tài chính

 Lợi nhuận thu từ các hoạt động bất thường

Tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận của doanhnghiệp có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanhkhác nhau và thuộc các môi trường kinh tế khác nhau Điều này được thể hiệnnhư sau

Thứ nhất : Cơ cấu lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh thông

thường khác với các doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tín

Trang 14

dụng, ngân hàng Với các doanh nghiệp thông thường, hoạt động sản xuấtkinh doanh tách biệt với hoạt động tài chính.Vì vậy, trong cơ cấu lợi nhuậncủa doanh nghiệp thì lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng lớntrong toàn bộ lợi nhuận Khác với doanh nghiệp thông thường, cơ cấu lợinhuận của các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tài chính, tín dụng, ngânhàng chỉ gồm hai bộ phận là lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từhoạt động bất thường Ở các doanh nghiệp này thì hoạt động tài chính là hoạtđộng kinh doanh chủ yếu, bởi lẽ lĩnh vực kinh doanh của họ không giống nhưcác doanh nghiệp thông thường- kinh doanh tiền tệ.

Thứ hai : Trong các môi trường kinh tế khác nhau, các doanh nghiệp

cùng loại có sự khác biệt về tỷ trọng các bộ phận lợi nhuận trong tổng lợinhuận của doanh nghiệp mình Chẳng hạn, cũng chính là doanh nghiệp hoạtđộng trên lĩnh vực thông thường cơ cấu lợi nhuận bao gồm ba bộ phận, nhưngtrong nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao, các hoạt động tài chínhnăng động, hiệu quả thì mảng hoạt động tài chính của doanh nghiệp sẽ pháttriển với các hoạt động đa dạng về đầu tư tài chính Ở đây bộ phận tài chính

sẽ chiếm một tỷ trọng đáng kể không kém gì hoạt động sản xuất kinh doanh.Ngược lại, trong một nền kinh tế thị trường ở trình độ thấp, hoạt động của thịtrrường tài chính, chứng khoán, chưa hoàn thiện, phổ biến trong doanh nghiệp

là sự thiếu hụt vốn, mảng hoạt động tài chính trong doanh nghiệp còn rất hạnchế Doanh nghiệp không có cơ hội đầu tư tài chính thậm chí không có khảnăng về vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính đó Trong trường hợpnày, lợi nhuận hoạt động kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợinhuận doanh nghiệp Và nó lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có ýnghĩa quyết định đến hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp

Tóm lại, cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp thông thường bao gồm ba

bộ phận: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tàichính,và lợi nhuận hoạt động bất thường Nhìn chung, lợi nhuận từ hoạt độngsản xuất kinh doanh ( đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng là lợi nhuận từ hoạt

Trang 15

số lợi nhuận doanh nghiệp Đặc điểm này cho ta một định hướng rõ nét khiphân tích lợi nhuận doanh nghiệp.

Về nguyên tắc khi phân tích lợi nhuận doanh nghiệp, chúng ta phảiphân tích cả mọi bộ phận cấu thành lợi nhuận Nhưng trong những điều kiệnđặc thù đôi khi nguyên tắc đó có thể bị phá vỡ, điều kiện đó là việc phân tíchlợi nhuận thực hiện với một doanh nghiệp kinh doanh thông thường trongmột nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp Lúc này hoạt động tài chính củadoanh nghiệp là rất hạn chế, còn lợi nhuận hoạt động bất thường thì rất ítquan trọng giống như bản chất của nó Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạtđộng chủ đạo và lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận cơbản của doanh nghiệp Trong điều kiện đó sẽ thiết thực khi ta tiến hành phântích lợi nhuận doanh nghiệp chủ yếu dựa trên bộ phận lợi nhuận kinh doanh

để tìm ra giải pháp tăng lợi nhuận doanh nghiệp

Lợi nhuận doanh nghiệp = Lợi nhuận hoạt động kinh doanh + Lợinhuận hoạt động tài chính + Lợi nhuận hoạt động bất thường

1.1 Xác định lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh : là lợi nhuận thu được do tiêu thụsản phẩm hàng hoá, dịch vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp

Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định là chênhlệch giữa doanh thu bán hàng thuần và tổng chi phí tương ứng với số sảnphẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ đó và được thể hiện qua công thức:

n

LN =  Qi Pi - ( Qi Zi + Qi Cpi + QiTi )

i =1

LN : Là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh

Qi : Là khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ

Trang 16

Pi : Giá bán đơn vị.

Zi : Giá thành hay giá vốn hàng bán

Cpi : Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Ti : Thuế GTGT hoặc thuế TTĐB của sản phẩm thứ i

Lợi nhuận Tổng doanh thu chiết khấu giảm giá doanh thu hàngHĐSXKD bán hàng bán hàng hàng bán bán bị trả lại thuế GTGT (TTĐB) giá vốn chi phí chi phí quảnlý

phải nộp hàng bán bán hàng doanh nghiệp

Doanh thu giá vốn chi phí chi phí quản lý

= thuần hàng bán bán hàng doanh nghiệp

Lãi gộp chi phí chi phí quản lý

bán hàng doanh nghiệp

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh : là toàn bộ tiền bán sản phẩm,

hàng hoá, cung ứng dịch vụ được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhậnthanh toán sau khi trừ các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán,doanh thu hàng bán bị trả lại

* Xác định doanh thu thuần

Doanh thu thuần = Tổng doanh thu - Các khoản giảm trừ

- Doanh thu thuần là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với cáckhoản giảm trừ

- Tổng doanh thu( doanh thu bán hàng ) : Là tổng giá trị được thực hiện

do việc bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ được khách hàng thanhtoán hoặc chấp nhận thanh toán

Trang 17

-+ Chiết khấu bán hàng : Là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả chokhách hàng gồm chiết khấu thanh toán và chiết khấu thương mại.

+ Giảm giá hàng bán : Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoáđơn hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàngkém phẩm chất, không đúng quy cách

+ Doanh thu hàng bán bị trả lại: Là phần doanh thu bị khách hàng trảlại do việc cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ không đúng như hợp đồng đã kýkết

+ Các khoản thuế phải nộp như : Thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XK

* Xác định tổng chi phí :

Tổng chi phí tương ứng với lượng hàng hoá, sản phẩm, lao vụ, dịch vụtrong kỳ được xác định:

Tổng chi phí Trị giá vốn + Chi phí bán hàng + Chi phí QLDN

hàng tiêu thụ phân bổ cho lượng phân bổ cholượng

hàng tiêu thụ hàng tiêu thụ + Trị giá vốn hàng tiêu thụ :

Doanh nghiệp là đơn vị thương mại

Giá vốn hàng = giá mua lượng + chi phí trực tiếp thu mua tiêu thụ hàng tiêu thụ bảo quản sơ chế

Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất :

Giá vốn hàng = Giá thành sản xuất x S ố lượng đơn vị tiêu thụ hàng tiêu thụ sản phẩm đã tiêu thụ

Trong đó , giá thành sản xuất đơn vị được xác định thông qua quá trìnhhạch toán giá thành sản xuất, gồm ba yếu tố:

Trang 18

- Chi phí NVL trực tiếp : là chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, sử

dụng trực tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ phí

- Chi nhân công trực tiếp bao gồm: Tiền lương, tiền công, các khoản

trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của công nhân trực tiếp tạo ra sảnphẩm và dịch vụ

- Chi phí sản xuất chung: là chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản

xuất, chế biến của phân xưởng ( bộ phận kinh doanh) trực tiếp tạo ra sảnphẩm và dịch vụ như : chi phí vật liệu, công cụ lao động nhỏ, khấu hao TSCĐthuộc phân xưởng ( bộ phận kinh doanh ), tiền lương, các khoản trích bảohiểm xã hội, bảo hiểm công ty tế của nhân viên phân xưởng ( bộ phận kinhdoanh ) theo quy định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền phátsinh ở phân xưởng ( bộ phận kinh doanh )

+ Chi phí bán hàng : là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ

sản phẩm, dịch vụ, bao gồm cả chi phí bảo hành sản phẩm

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp : là các chi phí cho bộ máy quản lý và

điều hành doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp như : chi phí công cụ lao động nhỏ, khấu hao TSCĐ phục

vụ cho bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp : tiền lương, khoản tríchnộp kinh phí quản lý tổng Công ty; chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khácbằng tiền như tiếp tân, khánh tiết, giao dịch, khoản trợ cấp thôi việc cho ngườilao động theo quy định, các khoản trích dự phòng, các chi phí nghiên cứukhoa học, nghiên cứu đổi mới công nghệ, chi sáng kiến, cải tiến, chi phí đàotạo, giáo dục, chi y tế cho người lao động của doanh nghiệp , chi phí bảo vệmôi trường, chi phí lao động nữ

1.2 Xác định lợi nhuận từ hoạt động tài chính

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: là lợi nhuận thu được từ các hoạtđộng như tham gia góp vốn liên doanh; hoạt động đầu tư, mua, bán chứngkhoán ngắn hạn, dài hạn; cho thuê tài sản; các hoạt động đầu tư khác; do

Trang 19

chênh lệch lãi tiền gửi ngân hàng và lãi tiền vay ngân hàng; cho vay vốn; bánngoại tệ; hoàn nhập khoản dự phòng giảm giá chứng khoán

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định bằng chênh lệchgiữa thu nhập hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính

Lợi nhuận hoạt Thu nhập hoạt Chi phí hoạt

động tài chính = động tài chính _ động tài chính

- Thu nhập hoạt động tài chính là những khoản thu do hoạt động đầu tư tài

chính hoặc kinh doanh về vốn đưa lại bao gồm các khoản thu kể trên

- Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí cho các hoạt động đầu tư tài

chính và các chi phí liên quan đến các hoạt động về vốn gồm : chi phí về vốngóp liên doanh không tính vào giá trị vốn góp; lỗ liên doanh; lỗ do bánchữứng khoán; chi phí do đầu tư tài chính, chi phí liên quan tới cho vay vốn

1.3 Xác định lợi nhuận từ hoạt động bất thường

Lợi nhuận từ hoạt động bất thường là những khoản thu mà các doanhnghiệp không dự tính trước hoặc những khoản thu bất thường không xảy ramột cách đều đặn và thường xuyên các khoản thu của doanh nghiệp có thể dochủ quan của doanh nghiệp hay khách quan đưa tới gồm :

+ Thu về thanh lý, nhượng bán TSCĐ

+ Thu tiền được phạt do vi phạm hợp đồng

+ Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ

+ Thu khoản thu nhập kinh doanh của năm trước bị bỏ sót hay lãngquên chưa ghi sổ năm nay mới phát hiện ra

+ Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và phải thu khó đòi

- Chi phí bất thường là những khoản lỗ do các nghiệp vụ riêng biệt vớinhững hoạt động thông thường của doanh nghiệp Những khoản chi phí bất

Trang 20

thường có thể do nguyên nhân khách quan hoặc nguyên nhân chủ quan đưatới gồm :

+ Giá trị còn lại của TSCĐ khi thanh lý, nhượng bán

+ Chi phí thanh lý, nhượng bánTSCĐ

+ Tiền phạt do vi phạm hợp đồng

+ Bị phạt thuế truy nộp thuế

+ Các khoản chi phí kế toán ghi nhầm hay bỏ sót khi vào sổ

+ Chênh lệch phải thu khó đòi và dự phòng phải thu khó đòi(không đủ )hoặc khoản thu khó đòi mất ngay chắc chắn chưa lập dự phòng

Lợi nhuận hoạt = Thu nhập hoạt _ Chi phí hoạtđộng bất thường động bất thường động bất thường

Nhìn chung, việc xác định thu nhập và chi phí của hoạt động tài chính vàhoạt động bất thường tương đối dễ dàng hơn so với hoạt động sản xuất kinhdoanh Đó chỉ là các dòng tiền tệ không thường xuyên Mội phát sinh thunhập và chi phí của các hoạt động này được hạch toán gọn trong một kỳ kinhdoanh

Như vậy, việc xác định lợi nhuận doanh nghiệp trong một kỳ kinhdoanh phải xuất phát từ việc xác định lợi nhuận bộ phận của doanh nghiệp.Nhưng doanh nghiệp là một bộ phận độc lập với môi trường và thống nhấttrong nội bộ Bởi vậy, việc phân bổ chi phí chung cũng như việc phân địnhchi phí riêng cho từng bộ phận hoạt động thực sự là công việc khó khăn nhấttrong việc xác định lợi nhuận Việc này nếu không làm tốt sẽ dẫn tới sự phảnánh không trung thực chi phí sản xuất kinh doanh ( trùng lặp hoặc bỏ sót) làmsai lệch chỉ tiêu lợi nhuận

1.4 Tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt độngsản xuất kinh doanh nhưng không vì thế mà nó là chỉ tiêu duy nhất để đánh

Trang 21

để so sánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệpkhác nhau bởi vì :

- Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng củanhiều nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan có những nhân tố kháchquan và có sự bù trừ lẫn nhau

- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trườngtiêu thụ, thời điểm tiêu thụ khác nhau thường làm cho lợi nhuận doanh nghiệpcũng không giống nhau

- Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợinhuận thu được cũng khác nhau ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác quản

lý kém, nhưng số lợi nhuân thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệpquy mô nhỏ nhưng công tác quản lý tốt hơn

Vì vậy, để đánh giá so sánh chất lượng hoạt động của các doanhnghiệp, ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, còn phải dùng chỉ tiêu lợi nhuậntương đối là tỷ suất lợi nhuận ( hoặc doanh lợi )

Tỷ suất lợi nhuận cao cho ta thấy hiệu quả kinh tế cao và ngược lại.Hơn nữa tỷ suất lợi nhuận còn cho ta thấy hai mặt : Một là tổng lợi nhuận tạo

ra do các tác đọng của toàn bộ chi phí đã chi ra tốt hay xấu, hai là số lợinhuận tạo ra trên mộ tuyển dụng đơn vị chi phí cao hay thấp Do yêu cầunghiên cứu phân tích và đánh giá khác nhau của từng doanh nghiệp mà cónhiều phương pháp tính tỷ suất lợi nhuận khác nhau, dưới đây là một số chỉtiêu phổ biến nhất trong số các chỉ tiêu

1.4.1 Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận doanh thubán hàng được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho doanh thu tiêuthụ Nó phản ánh lợi nhuận sau thuế có trong một trăm đồng doanh thu

Công thức tính :

Trang 22

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = x 100

1.4.2 Tỷ suất lợi nhuận giá thành

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế chia chogiá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa tiêu thụ Chỉ tiêu này phản ánh hiệuquả của chi phí bỏ vào sản xuất Cụ thể 100 đồng chi phí sẽ mang lại baonhiêu đồng lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận giá thành = x 100

Hiển nhiên có thể thấy rằng, tỷ suất lợi nhuận giá thành càng cao càngtốt Bởi lẽ mục tiêu của doanh nghiệp là tăng lợi nhuận và tiết kiệm chi phí,lợi nhuận và chi phí luôn có quan hệ ngược chiều với nhau

1.4.3 Doanh lợi vốn tự có

Chỉ tiêu doanh lợi vốn tự có được xác định bằng cách chia lợi nhuậnsau thuế cho vốn tự có :

Doanh lợi vốn tự có = x 100

Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn tự có và được các nhà đầu tưđặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp

1.4.4 Doanh lợi vốn

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợicủa một đồng vốn đầu tư Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệpđược phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn lợi nhuận trước thuế

để so sánh với tổng tài sản có

Trang 23

- Với doanh nghiệp sử dụng nợ trong kinh doanh, người ta thườngdùng chỉ tiêu doanh lợi vốn xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế vàlãi cho tổng tài sản

2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP

Để tối đa hóa lợi nhuận thì một điều kiện tiên quyết là các doanhnghiệp phải luôn luôn xem xét và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới lợinhuận để từ đó đưa ra các biện pháp nhằm kích thích hoặc hạn chế nhữngnhân tố có ảnh hưởng tới lợi nhuận

Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của tất cả các mặt, cáckhâu trong quá trình sản xuất kinh doanh như tìm hiểu nhu cầu thị trường đểquyết định sản xuất hàng hóa và tiêu thụ trên thị trường của tất cả các yếu tố

và điều kiện tham gia vào quá trình kinh doanh Nhưng trước hết, lợi nhuậnchịu sự tác động trực tiếp của cung - cầu và giá cả thị trường Nói một cách cụthể hơn là : lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của đầu vào,đầu ra và giá cả thị trường Nhưng các yếu tố này lại chịu tác động trực tiếpcủa tất cả các khâu trong quá trình kinh doanh Điều đó chứng tỏ lợi nhuậnchịu sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, tổ chức và xãhội, thị trường thế giới, thị trường trong nước, tình hình kinh tế xã hội của đất

Trang 24

nước, của nghành điạ phương và từng đơn vị doanh nghiệp Sau đây là một sốnhân tố chủ yếu liên quan chặt chẽ đến quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.

Nhân tố 1 : Quan hệ cung - cầu hàng hóa trên thị trường.

Cung cầu là những phạm trù không thể không đề cập tới khi nói đến bất

kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào

Cầu là lượng một mặt hàng mà người mua muốn mua ở một mức giánhất định, trong một thời gian nhất định với giả thiết là các nhân tố kháckhông thay đổi

Cung là lượng một mặt hàng mà người bán muốn bán ở một mức giánhất định, trong một thời gian nhất định với giả thiết là các nhân tố kháckhông thay đổi

Nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ của thị trường sẽ quyết định vấn đề cungcủa doanh nghiệp trên cơ sở xác định qui mô sản xuất tối ưu.Nếu nhu cầu cókhả năng thanh toán đối với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp càng lớn sẽtạo khả năng tăng qui mô sản xuất kinh doanh, bán được nhiều hàng hóa, dịch

vụ với gái cao thì lợi nhuận sẽ tăng và ngược lại nhu cầu về hàng hóa dịch vụthấp sẽ dẫn đến tổng mức lợi nhuận thấp Như vậy chúng ta có thể thấy mốiquan hệ cung - cầu có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp.Điều đáng lưu ý ở đây là nhà kinh doanh luôn luôn muốn bán được khốilượng hàng hóa lớn và do đó họ sẽ định ra giá cả sản phẩm hợp lý mà tại mứcgiá đó cả người mua và người bán đều chấp nhận được Có thể nói rằng, quan

hệ cung cầu hàng hóa, dịch vụ là nhân tố quyết định qui mô sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp mà việc quyết định tối ưu về qui mô sản xuất cũngchính là quyết định tối ưu về lợi nhuận của doanh nghiệp

Nhân tố 2 : Việc tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

Trang 25

Tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm hàng hóa là quá trình thực hiện sựkết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố lao động, vật tư, kỹ thuật để chế tạo ra sảnphẩm hàng hóa Quá trình này tiến hành tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng rất lớn đếnviệc tạo ra số lượng sản phẩm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm và chi phí sửdụng các yếu tố để sản xuất ra hàng hóa đó Vấn đề được dặt ra ở đây là saukhi đã lựa chọn tối ưu được qui mô sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệpcần tiếp tục lựa chọn vấn đề kinh tế cơ bản không kém phần quan trọng là sảnxuất nó như thế nào để có các chi phí đầu vào và chi phí đầu ra thấp nhất, đảmbảo chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao Việc quyết định sản xuấtnhư thế nào đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn đầu vào : lao động, vật tư,thiết bị, công nghệ có chất lượng và với giá mua thấp Các đầu vào được lựachọ tối ưu sẽ tạo khả năng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sảnphẩm, chi phí sản xuất và giá thành giảm từ đó có cơ sở tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp Vấn đề thứ hai mà các doanh nghiệp phải lựa chọn phươngpháp thích hợp để kết hợp tối ưu các đầu vào trong quá trình sản xuất ra sảnphẩm Như vậy nhân tố có liên quan chặt chẽ tới quá trình sản xuất kinh

doanh hàng hóa dịch vụ và có ảnh hưởng tới lợi nhuận là giá vốn hàng bán.

Giá vốn hàng bán là một trong những nhân tố quan trọng chủ yếu ảnh

hưởng tới lợi nhuận vì nhân tố này có quan hệ tác động ngược chiều đén lợinhuận Nếu giá vốn hàng bán giảm sẽ làm lợi nhuận tiêu thụ tăng lên vàngược lại Nhân tố giá vốn hàng bán thực chất phản ánh kết quả quản lý cácyếu tố chi phí trực tiếp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp và chi phí sản xuất chung ta dễ dàng nhận thấy rằng ảnh hưởngcủa nhân tố này phần nhiều mang tính chủ quan Vì vậy để khai thác thế mạnh

ở nhân tố này những nhà quản lý doanh nghiệp một mặt phải chú ý đến nhữngbiện pháp mang tính tình huống để tăng sản lượng và giá bán, mặt khác phảichú ý đầu tư chiều sâu để giảm chi phí sản xuất mà trước hết là các chi phítrực tiếp

Nhân tố 3 : Việc tổ chức tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trên thị trường

Sau khi hàng hóa, dịch vụ đã được sản xuất ra theo những quyết địnhtối ưu về sản xuất thì vấn đề tiếp theo của quá trình kinh doanh là phải tổ chức

Trang 26

bán hết, bán nhanh , bán với giá cao những hàng hóa dịch vụ đó để có thể táisản xuất mở rộng Lợi nhuận chỉ có thể thu được sau quá trình tiêu thụ và thuđược tiền về Việc tổ chức tốt công tác tiêu thụ sẽ làm cho thu nhập tiêu thụtăng, chi phí tiêu thụ giảm và do đó lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng Để tổchức tốt công tác tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, các doanh nghiệp cần tiếnhành tốt các hoạt động về quảng cáo, tổ chức tốt công tác marketing, phươngtiện vận chuyển và phương thức thanh toán

Mục tiêu của việc thực hiện công tác tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trên thị

trường là nhằm tăng tổng doanh thu tiêu thụ Vì doanh thu tiêu thụ là nhân tố

có ảnh hưởng rất lớn tới sự tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Trong điềukiện các nhân tố khác không đổi, doanh thu tiêu thụ có quan hệ cùng chiềuvới lợi nhuận doanh thu tăng thì lợi nhuận sẽ tăng và ngược lại Sự biến độngcủa doanh thu chịu sự tác động của các nhân tố sau :

* Khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Sản lượng sản phẩm tiêu thụ có quan hệ tác động tỷ lệ thuận với lợinhuận, sản lượng tiêu thụ tăng bao nhiêu lần sẽ làm lợi nhuận tiêu thụ tăngbấy nhiêu lần và ngược lại

Ảnh hưởng của nhân tố này đến lợi nhuận mang tính chủ quan vì sảnlượng tiêu thụ tăng hay giảm có thể do rất nhiều các nguyên nhân khác nhauảnh hưởng đến như số lượng, chất lượng, mẫu mã, thời hạn sản xuất sảnphẩm, giá bán, địa điểm bán hàng cũng như các biện pháp yểm trợ hàng bánnhư quảng cáo, dịch vụ vận chuyển lắp đặt bảo hành, chiết khấu, giảmgiá nhưng vì mục tiêu lợi nhuận doanh nghiệp cần phải tăng sản lượng tiêuthụ và nó có thể tác động điều chỉnh ở tất cả các khâu trên

* Kết cấu mặt hàng tiêu thụ

Ở đây kết cấu tiêu thụ được nhìn nhận ở góc độ doanh thu Kết cấu mặthàng tiêu thụ là quan hệ về tỷ trọng doanh thu của tất cả các mặt hàng tiêu thutrong kỳ

Trang 27

Mỗi mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao, thấp khác nhau,nếu kết cấu mặt hàng tiêu thụ thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ trọng củanhững mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao, giảm tỷ trọng củanhững mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thấp thì sẽ làm tăng lợinhuận tiêu thụ và ngược lại.

Ảnh hưởng của nhân tố này vừa mang tính khách quan vừa mang tínhchủ quan Kết cấu mặt hàng tiêu thụ có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhữngngười làm công tác quản lý bên trong doanh nghiệp, đặt biệt là những ngườilàm công tác chiến lược sản phẩm và điều hành sản xuất Một mặt giúp họtránh được sự nóng vội chủ quan áp đặt duy ý chí trong việc thay đổi cơ cấumặt hàng để cơ cấu đó không có sức cạnh tranh Mặt khác, đối với những mặthàng có khả năng tiêu thụ như nhau thì doanh nghiệp nên ưu tiên tập trungcác nguồn lực sản xuất sẵn có cho việc sản xuất và tiêu thụ những mặt hàng

có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao Bằng sự ưu tiên để chuyển dịch cơcấu mặt hàng này không cần tăng chi phí nhưng cũng đem lại nguồn lợi nhuậnnhiều hơn cho doanh nghiệp

* Giá bán sản phẩm

Theo cách xác định của chỉ tiêu lợi nhuận thì giá bán có quan hệ tácđộng cùng chiều với lợi nhuận Nhưng đó chỉ là sự biểu hiện bên ngoài đơnthuần về toán học Về bản chất vận động kinh tế bên trong, giá bán và sảnlượng tiêu thụ thường không song hành cùng hướng nếu như không có sựthay đổi lớn về nhu cầu và khả năng tiêu thụ Do vậy, khi giá tăng ( haygiảm ) một mặt trực tiếp tác động làm tăng ( hay giảm ) lợi nhuận thông quanchênh lệch giá, mặt khác lại gián tiếp làm giảm ( hay tăng ) lợi nhuận thôngqua sự tác động của giá làm sản lượng giảm ( hay tăng)

Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp hoặc đốivới những mặt hàng do nhà nước thống nhất quản lý giá thì sự thay đổi giádối với doanh nghiệp có thể được xem là yếu tố khách quan Doanh nghiệpkhông cần có một quyết định nào về giá Nhưng trong điều kiện nền kinh tếthị trường, với đặc trưng nổi bật nhất là sự cạnh tranh mãnh liệt giữa các

Trang 28

doanh nghiệp, các sản phẩm thì yếu tố giá càng trở nên phức tạp Nó vừa làyếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan Lợidụng tính phức tạp của yếu tố giá mà các doanh nghiệp sở dụng giá không chỉ

là yếu tố góp phần làm tăng lợi nhuận mà còn là vũ khí rất lợi hại trong cạnhtranh Với vai trò là vũ khí lợi hại trong điều kiện cạnh tranh, yếu tố giá được

sử dụng linh hoạt nhưng phải luôn bám vào và chịu sự chi phối bởi nhữngmục tiêu chiến lược cũng như những mục tiêu sách lược cụ thể của doanhnghiệp đối với từng loại sản phẩm trong từng thời kỳ

Nhân tố 4 : Tổ chức quản lý quá trình kinh doanh của doanh

nghiệp

Tổ chức quản lý quá trình kinh doanh là rất quan trọng có ảnh hưởngđến lợi nhuận của doanh nghiệp Quảtình quản lý bao gồm các khâu cơ bảnnhư : định hướng chiến lược phát triển doanh nghiệp, xây dựng chiến lượckinh doanh, xây dựng các phương án kinh doanh, tổ chức các hoạt động kinhdoanh, kiểm tra đánh giá và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh Các khâucủa quá trình quản lý hoạt động kinh doanh làm tốt sẽ làm tăng sản lượng,nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm nhờ giảm được chi phí quản lý

và chi phí bán hàng Đó là điều kiện quan trọng để tăng lợi nhuận của doanhnghiệp

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp : là các chi phí liên

quan tới việc tiêu thụ hàng hóa và quản lý doanh nghiệp Các chi phí này phátsinh sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và chúng có quan hệ ngượcchiều với lợi nhuận Khi chi phí tăng thì lợi nhuận giảm và ngược lại Đây làcác khoản chi phí có ảnh hưởng tương đối lớn đến lợi nhuận của các doanhnghiệp ( đặc biệt là các doanh nghiệp thương mại ) Vì vật vấn đề đặt ra là cácdoanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp làm giảm hai loại chi phí này bằng việcgiám sát quản lý chặt chẽ, căn cứ vào tình hình nhu cầu thực tế và mục tiêulợi nhuận, xây dựng nên các định mức cho từng khoản mục chi phí cụ thể Cólàm được như vậy doanh nghiệp mới có khả năng đảm bảo thu được lợi nhuậncao

Trang 29

Nhân tố 5 : Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Doanh nghiệp là một tế bào của hệ thống kinh tế quốc dân, hoạt độngcủa nó không chỉ chịu tác động của các quy luật kinh tế thị trường mà cònchịu sự chi phối của Nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như :chính sách thuế, tín dụng, tiền tệ, các văn bản, quy chế quản lý tài chính Tất

cả các điều đó đều gây ảnh hương trực tiếp hoặc gián tiếp đến khă năng thulợi nhuận của doanh nghiệp và một trong những nhân tố có ảnh hưởng khôngnhỏ tới lợi nhuận của doanh nghiệp đó chính là chính sách thuế

* Chính sách thuế

Thuế là hình thức nộp bắt buộc theo luật định và không hoàn trae trựctiếp đối với mọi tổ chức kinh tế và mọi công dân cho Nhà nước

Thuế phải nộp = Thuế suất x Giá trị cơ sở của thuế

Tùy theo tính chất, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệpkhi tiến hành sản xuất kinh doanh phải nộp nhiều loại thuế khác nhau : thuếmôn bài, thuế nhà đất, thuế tài nguyên Các loại thuế này được tính vào chiphí sản xuất kinh doanh Ngoài ra còn có một số loại thuế gián thu doanhnghiệp thu hộ Nhà nước như VAT, thuế TTĐB, thuế này được tính trong giábán và đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng Ngoài các khoản thuế doanhnghiệp còn phải nộp một số khoản phí và lệ phí

Đây là nhân tố khách quan do Nhà nước qui định tùy thuộc vào doanhthu tính thuế và thuế suất từng mặt hàng Bởi vậy đòi hỏi doanh nghiệp phảitính theo dõi, giám sát sao cho đúng vì khi có những thay đổi về thuế phí và lệphí thì các khoản mục hạch toán của doanh nghiệp cũng thay đổi và do đó kéotheo sự thay đổi của lợi nhuận

* Chính sách lãi suất

Thông thường để thực hiện việc sản xuất kinh doanh ngoài vốn tự códoanh nghiệp phải vay thêm vốn Doanh nghiệp có thể vay thêm vốn bằngcách phát hành trái phiếu, vay Ngân hàng, các doanh nghiệp hoặc tổ chức cánhân khác và doanh nghiệp phải trả cho người cho vay một khoản tiền gọi làlãi vay cho từng thời kỳ nhất định

Trang 30

Tiền lãi được tính dựa trên cơ sở lãi suất, số tiền gốc và thời gian vay.Lãi suất cho vay bị giới hạn bởi lãi suất trần do NHNN qui định Khi NHNNthay đổi lãi suất trần sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp Bởi lẽ,lãi suất vay ngân hàng được xem là chi phí hợp lý hợp lệ khi tính thuế thunhập doanh nghiệp Mặt khác, nếu doanh nghiệp vay của các đơn vị khôngphải là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng thì lãi suất tối đa được coi là chi phíhợp lý hợp lệ không quá tỷ lệ lãi suất trần do NHNN Việt Nam qui định chocác tổ chức tín dụng.

* Kiểm soát giá

Trong nền kinh tế thị trường, giá cả không do Nhà nước kiểm soát mà

nó được hình thành trên thị trường do sự tác động giữa cung và cầu Tuynhiên trong mọt số trường hợp Nhà nước phải kiểm soát giá một số mặt hàng

để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh thị trường ví dụ như : Xăng dầu, sắtthép, điện nước Việc Nhà nước kiểm soát giá đối với một số mặt hàng có thểgây ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp khi kinh doanh hàng hóa đó

Trong tất cả các nhân tố cơ bản đã được trình bày ở trên, mỗi nhân tố

có vị trí quan trọng khác nhau và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau trong vấn đề tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Mỗi nhân tố trên đều baogồm các mặt kinh tế xã hội, tổ chức, kỹ thuật nhất định mà chúng ta cần nhậnbiết để phân tích, đánh giá một cách đầy đủ sự tác động của nó đến lợi nhuận

và tìm biện pháp thích hợp nhằm tạo ra môi trường cho sự tác động đồngphương của chúng đối với việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

Trang 31

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY XUẤT

NHẬP KHẨU VÀ KỸ THUẬT BAO BÌ HÀ NỘI.

I MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY

1.1 Sự hình thành và phát triển công ty

Công ty Xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì là một doanh nghiệp nhànước trực thuộc Bộ Thương Mại, được thành lập năm 1976.Tiền thân củacông ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì là: Công ty bao bì xuất khẩu thuộc

Bộ Ngoại Thương trước đây Công ty bao bì xuất khẩu được thành lập theoquyết định số 652/ Bộ Ngoại Thương-TCCB ngày 13/7/1982 của Bộ NgoạiThương với chức năng kinh doanh vật tư nguyên vật liệu cho sản xuất bao và

tổ chức sản suất cung ứng bao bì cho hàng xuất nhập khẩu trên phạm vi toànquốc Công ty quản lý trược tiếp 3 xí nghiệp (Xuất nhập khẩu bao bì I , Xuấtnhập khẩu bao bì II , xuất nhập khẩu bao bì Hải Hưng và có chi nhánh tại HảiPhòng , Đà Nẵng và TP - Hồ Chí Minh)

Cuối năm 1989 sau khi thực hiện một số chủ trương đổi mới của nhànước, chi nhánh của công ty tại TP- Hồ Chí Minh, xuất nhập khẩu bao bì I vàxuất nhập khẩu bao bì II xin tách khỏi công ty trở thành những đơn vị trựcthuộc Bộ và đã được Bộ và công ty chấp nhận

Từ đó đến nay công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì ra đời trên cơ

sở quyết định 812/ KTĐN- TCCB ngày 13/12/1989 của Bộ Kinh Tế ĐốiNgoại( đổi tên công ty thành công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì ) Do

đó có thể thay đổi về tổ chức nêu trên nên quy mô và phạm vi hoạt động củacông ty có phần thu hẹp lại Công ty không còn cơ sở trực thuộc nhưng cóđược quyền xuất nhập khẩu trực tiếp mà tức đó công ty chỉ nhận hàng nhậpkhẩu từ các đơn vị khác thuộc Bộ theo kế hoạch hàng năm

Năm 1993 công ty được thành lập lại theo nghị định 388 (thành lập lạidoanh nghiệp Nhà nước ) theo thông báo số 163 / TB ngày 24/05/1993 côngvăn số 2999/ KTN ngày 19/06/1993 của văn phòng chính phủ và quyết địnhthành lập lại doanh nghiệp Nhà nước số 738 / TM - TCCB ngày 28/06/1993

Trang 32

của Bộ trưởng bộ Thương Mại Đến thời điểm thành lập lại doanh nghiệp Nhànước công ty cố các phòng chức năng, 2 chi nhánh như cũ và có thêm trungtâm nghiên cứu phát triển và ứng dụng kỹ thuật bao bì tại 139 Lò Đúc, xínghiệp bao bì carton (địa điểm thuê ở 251 Minh Khai Hà Nội sau đó chuyển

về km số 8 quốc lộ 1A Pháp Vân Thanh Trì Hà Nội) Từ năm 1993 đến 1996thành lập thêm 3 cơ sở sản xuất :

- Xí nghiệp bao bì Hải Phòng : tại km số 7 quốc lộ 5 Hà Nội - HảiPhòng nay thuộc phường Hùng Vương quận Hông Bàng thành phố HảiPhòng

- Xí nghiệp bao bì Đà Nẵng : tại 245 đương Ngô quyền quận Sơn tràthành phố Đà nẵng

- Tách xưởng in thực hiện từ trung tâm nghiên cứu phát triển và ứngdụng kỹ thuật bao bì thành xươngr in và sản xuất bao bì tại 139 Lò Đúc saukhi nhập thêm máy dập hộp và một số thiết bị khác cùng máy in của dự ánVIE 84/ 009

Đến quý II /1997 đầu tư thêm 1 phân xưởng sản xuất túi từ hạt nhựagiao cho chi nhánh Hải Phòng quản lý điều hành, có địa điểm tại tổng khoHùng Vương phường Hùng vương thành phố Hải Phòng

Qua quá trình thay đổi, các chức năng cơ bản của công ty vẫn được ổnđịnh nhưng có một số thay đổi nhỏ theo xu hướng phù hợp với sự phát triển

và yêu cầu của nền kinh tế, chủ yếu là theo hướng chú trọng hơn đến hoạtđộng kinh doanh xuất nhập khẩu

Mục đích hoạt động của công ty bao bì là thông qua các hoạt động sảnxuất kinh doanh của công ty nhằm khai thác một cách có hiêụ quả nguồn vật

tư, nhân lực và tài nguyên đất nước đồng thời tiến hành nghiên cứu ứng dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất để không ngừng cải tiến, nângcao chất lượng bao bì hàng hóa để đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng xuất khẩu

Trang 33

Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì là đơn vị chủ yếu trong hoạtđộng kinh doanh vật tư nguyên liệu cung ứng cho sản xuất bao bì ở phía bắc.

Năm 1976 - 1989 : Công ty cung cấp bao bì xuất khẩu duy nhất của BộNgoại thương trên toàn quốc

Năm 1990 - nay : Là một trong những doanh nghiệp hàng đầu về bao bìtrong toàn quốc

PACKEXPORT là doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Thương Mại thựchiện việc sản xuất kinh doanh và nghiên cứu phát triển bao bì Công ty hoạtđộng theo chế độ hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân, có tài khoản tạingân hàng và có con dấu riêng, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên

cơ sở tuân thủ các chính sách, luật pháp của Nhà nước và điều lệ tổ chức hoạtđộng công ty

Tên giao dịch quốc tế " The Viet Nam National Pcckaging Technology andImport - Export Corp " viết tắt là PACKEXPORT

1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty

1.2.1 Chức năng của công ty

- Trực tiếp xuất khẩu các sản phẩm bao bì và các sản phẩm do công tysản xuất hoặc do liên doanh đầu tư sản xuất tạo ra

- Trực tiếp nhập khẩu vật tư, nguyên liệu máy móc và trang thiết bịphục vụ cho sản xuất kinh doanh bao bì của công ty Được nhập khẩu một sốhàng tiêu dùng thiết yếu để phục vụ sản xuất kinh doanh của công ty khi được

Bộ Thương Mại cho phép

- Tổ chức sản xuất gia công, liên doanh liên kết sản xuất các loại bao

bì, hàng hóa khác cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước theo qui định hiệnhành của Nhà nước và Bộ thương mại

- Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu và thực hiện các dịch vụ bao bì theo yêucầu của khách hàng trong và ngoài nước

Trang 34

- Nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về bao bì nhằm nâng caochất lượng bao bì.

- Được in nhãn hiệu, in bao bì và các ấn phẩm khác theo qui định hiệnhành của Nhà nước, Bộ Thương mại và bọ quản lý nghành cho phép (điểm bổsung trong quyết định số 891/ TM - TCCB ngày 06/08/1993 so với qui định188b/ KTĐN - TCCB về chức năng công ty PACKEXPORT)

- Tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật vềbao bì

- Hợp tác trao đổi khoa học kỹ thuật về bao bì với các tỏ chức hữu quantrọng trong và ngoài nước

1.2.2 Nhiệm vụ của công ty

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh sản xuất củacông ty theo quy chế hiện hành

- Nghiên cứu khả năng sản xuất nhu cầu thị trường trong nước và quốc

tế, thực hiện có hiệu quả các biện pháp để không ngừng nâng cao chất lượngcác sản phẩm bao bì, thay đổi mẫu mã đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng nângcao sức mạnh cạnh tranh và góp phần đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ hànghóa

- Tuân thủ các chính sách chế độ luật pháp của Nhà nước và thực hiệnnghiêm chỉnh các hợp đồng và văn bản pháp lý có liên quan mà công ty đãtham gia ký kết

- Quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tự chủ về tài chính

- Quản lý chỉ đạo các đơn vị thuộc công ty theo qui định hiện hành củaNhà nước và Bộ Thương mại

2 Cơ cấu và tổ chức quản lý của công ty

2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty

Sau quá trình nghiên cứu và cải tạo bộ máy quản lý, đến nay công ty tổchức quản lý bộ máy quản lý theo hệ trực tiếp bao gồm các phòng ban, cácchi nhánh và xí nghiệp

Trang 35

Cơ cấu bộ máy quản lý công ty gồm : đứng đầu là giám đốc phụ tráchchung kiêm phụ trách kinh tế, dưới có phó giám đốc giúp việc cho giám đốc.Ngoài ra tại các chi nhánh cũng có các giám đốc và phó giám đốc Giữa cácphòng ban mặc dù chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng có mối quan hệ vớinhau, mối quan hệ của bộ máy được thể hiện qua sơ đồ sau :

Trang 36

3 Chức năng và nhiệm vụ của bộ máy quản lý

Mặt khác phòng tổ chức hành chính còn đảm bảo các công việc thuộclĩnh vực hành chính quản trị, chăm lo đời sống sức khoẻ cán bộ công nhânviên chức tại văn phòng công ty

- Giúp giám đốc công ty quản lý tốt số cán bộ hiện có, tuyển dụng số cònthiếu khi có nhu cầu

- Quản lý tốt hồ sơ cán bộ, bổ xung kịp thời những thay đổi cán bộ vào hồ

Trang 37

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch lao động tiền lương hàng năm qúy,tháng, gửi kế hoạch này đến phòng kế hoạch tổng hợp lập thành kế hoạchchung của công ty và gửi đến phòng tài chính kế toán để thực hiện

- Phổ biến thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chế độ chính sách quyđịnh của Nhà nước ban hành đối với cơ quan và các cán bộ công nhân viên

- Giúp giám đốc trong công tác thanh tra của chính quyền, tham gia vàoban thanh tra nhân dân hoạt động dưới sự chỉ đạo của thanh tra cấp trên

- Xây dựng quy chế thi đua khen thưởng, kỷ luật, nội quy cơ quan, đôn đốc

và theo dõi việc thực hiện các quy định này

- Thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự cho thanh niên trong cơ quantheo luật định, là đầu mối chuyên trách nhân dân tự vệ quân sự, nhân dân tự

vệ của cơ quan

- Thực hiện các công việc hành chính như tiếp khách văn thư quản trị sửachữa nhỏ, bảo vệ an toàn cơ quan kể cả nội bộ, bảo vệ về tài sản, giữ gìn bímật

- Theo dõi chương trình công tác tuần, tháng của các phòng ban và công

ty, là đầu mối, xây dựng lịch sinh hoạt tuần của công ty

- Quản lý phân phối diện tích sử dụng làm việc của công ty tại khi vực HàNội, thực hiện công việc trang trí, mua sắm cấp phát các vật tư thiết bị hỏngbảo hộ lao động, khám chữa bệnh, tổ chức tiếp khách, thường trực cơ quan

3.2 Phòng kế hoạch tổng hợp

 Chức năng

Phòng kế hoạch tổng hợp có chức năng xây dựng và tổng hợp các kếhoạch hàng năm và nhiều năm, về sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết,xuất nhập khẩu, nghiên cứu kế hoạch kế toán, tài chính, lao động, tiền lương,xây dựng cơ bản

Ngoài ra phòng kế hoạch tổng hợp còn giúp giám đốc theo dõi kiểm trakiểm tra đôn đốc việc thực hiện các công tác kế hoạch này

 Nhiệm vụ

Trang 38

- Phổ biến kịp thời kế hoạch được giao, nêu ra các yêu cầu xây dựng kếhoạch cho các chi nhánh, các phòng ban, trên cơ sở các kế hoạch này cácphòng các chi nhánh xây dựng kế hoạch cho từng lĩnh vực hoạt động củacông ty, báo cáo các cơ quan quản lý về các kế hoạch này theo qui định, theodõi các việc tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện các kế hoạch của các chinhánh , kịp thời phát hiện các mất cân đối không được đảm bảo để kiến nghịcác biện pháp thực hiện kế hoạch được giao hoặc điều chỉnh các kế hoạch đó.

- Kết quả kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch, tập hợp kiểm tra đểbáo cáo giám đốc để từ đó ra các quyết định ở các mức độ hoàn thành kếhoạch của các phòng, các chi nhánh trực thuộc và báo cáo kết quả hoàn thành

kế hoạch của công ty theo quy định

3.3 Phòng tài chính kế toán

 Chức năng

Phòng tài chính kế toán là công cụ quan trọng để điều hành quản lý cáchoạt động sản xuất kinh doanh, tính toán kinh tế, kiểm tra việc việc bảo vệ, sửdụng tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuấtkinh doanh và chủ động tài chính của công ty

 Nhiệm vụ

- Lập kế hoạch tài chính ngắn hạn dài hạn định kỳ và các đề xuất phù hợpvới các chỉ tiêu kinh tế và triển khai thực hiện kế hoạch đó khi được phêduyệt

- Mở sổ sách theo dõi các số liệu về hoạt động mua bán, lỗ lãi, các khoảnthu chi, nộp ngân sách

- Đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh xuấtnhập khẩu của công ty ( kể cả ngoại tệ khi cần thiết )

- Quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách tài chính,việc sử dụng hiệu quả đồng tiền nguồn vốn, các tài khoản của công ty và chinhánh Phát hiện kịp thời các sai sót thất thoát tiền vốn, vật tư, tài sản, đề xuấtcác biện pháp ngăn ngừa và xử lý sai phạm

Trang 39

- Hướng dẫn kịp thời các chi nhánh, các phòng ban về những vấn đề liênquan đến nghiệp vụ kế toán.

- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trên cơ sở các hợp đồng mua bán vànhiệm vụ được giao theo quy định

- Sắp xếp lại hệ thống các tài liệu về chế độ chính sách tài chính của Nhànước, các chứng từ sổ sách theo quy định

- Thực hiện việc kiểm tra đối chiếu sổ sách, chứng từ mua bán, thu chi vớicác phòng nghiệp vụ liên quan để thanh toán gọn, dứt điểm từng chuyến hàngmua bán

để lập thành kế hoạch chung của công ty

- Nghiên cứu, thông báo trong phạm vi toàn công ty tình hình thị trườngthế giới bao gồm luật pháp, tập quán quốc tế, thương nhân , mặt hàng, giá cảbảo hiểm khi cần thiết cho hoạt động của công ty

- Dự kiến và đăng ký danh mục mặt hàng và số lượng mặt hàng xuất nhậpkhẩu của công ty, làm thủ tục theo quy chế hiện hành của Bộ và Nhà nước

- Lên phương án đàm phán, ký kết hợp đồng, tính toán hiệu quả của từngchuyến lô hàng xuất nhập khẩu dự kiến giao dịch

- Thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, phục vụ nhiệm vụ sản xuất củaphòng cũng như sản xuất kinh doanh của công ty bao gồm cả xuất nhập khẩu

uỷ thác, tái xuất, xuất nhập khẩu tại chỗ Sau mỗi chuyến xuất nhập khẩu kếtthúc cần quyết toán lỗ lãi, thanh lý hợp đồng

Trang 40

- Thực hiện các nghiệp vụ về đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng vậntải, bảo hiểm pháp chế những hợp đồng do phòng ký kết hoặc được giaothực hiện.

3.5 Phòng xuất nhập khẩu II

 Chức năng

Phòng xuất nhập khẩu II thực hiện chức năng mua bán, liên doanh liênkết sản xuất các loại vật tư nguyên liệu, thiết bị, sản phẩm bao bì và hàng hóavới các hàng hóa khác trong nước trong phạm vi cho phép

 Nhiệm vụ

- Giao dịch, ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa, vật tư,gia công, liên doanh liên kết; các hợp đồng vận chuyển hàng hóa phát sinh

- Mở sổ sách theo dõi việc mua bán hàng hóa, vật tư sản phẩm bao bì

- Làm đầy đủ các thủ tục xuất nhập vật tư hàng hóa trong phạm vi tráchnhiệm của phòng

- Xây dựng kế hoạch kinh doanh của phòng, triển khai thực hiện khi đượcphê duyệt, gửi kế hoạch này để phòng kế hoạch tổng hợp lập thành kế hoạchchung của công ty

- Nêu nhu cầu mặt hàng cần nhập khẩu, tính hiệu quả của các lô hàng nàysau đó lên đơn hàng gửi phòng xuất nhập khẩu I của công ty hoặc uỷ thác chođơn vị khác nếu thấy nhanh và có hiệu quả hơn

- Có trách nhiệm đóng góp vào việc khai thác nguồn hàng xuất khẩu Khitìm được nguồn hàng có thể phối hợp cùng phòng xuất nhập khẩu I hoặc giaocho phòng xuất nhập khẩu I thực hiện, có thể uỷ thác xuất khẩu qua đơn vịkhác nếu thấy đạt hiệu quả cao hơn

- Định kỳ hạch toán lỗ lãi hoạt động kinh doanh của phòng, tổng kết nhữnghàng hóa mua vào bán ra phù hợp với chế độ hạch toán kinh tế

- Nghiên cứu và thông báo cho các chi nhánh, các phòng ban của công tytình hình thị trường trong nước; xây dựng điều chỉnh và thông báo kịp thờimức giá mua bán vật tư, sản phẩm hàng hóa của công ty cho các chi nhánh và

Ngày đăng: 14/01/2016, 13:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 : Báo cáo kết quả kinh doanh. - Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội
Bảng 2 Báo cáo kết quả kinh doanh (Trang 46)
Bảng 3 : Thuế và các khoản nộp Ngân sách Nhà  nước - Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội
Bảng 3 Thuế và các khoản nộp Ngân sách Nhà nước (Trang 47)
Bảng 5 : Khả năng thanh toán của công ty - Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội
Bảng 5 Khả năng thanh toán của công ty (Trang 50)
Bảng 6 : Bảng chi tiết báo cáo kết quả kinh doanh - Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội
Bảng 6 Bảng chi tiết báo cáo kết quả kinh doanh (Trang 52)
Bảng 7 :Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh chính. - Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội
Bảng 7 Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh chính (Trang 56)
Bảng phân tích dưới đây xem xét tình hình thực hiện lợi nhuận của hoạt  động sản xuất kinh doanh chính và mức độ biến động của các chỉ tiêu so với  doanh thu thuần ( doanh thu thuần được coi là gốc) - Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội
Bảng ph ân tích dưới đây xem xét tình hình thực hiện lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh chính và mức độ biến động của các chỉ tiêu so với doanh thu thuần ( doanh thu thuần được coi là gốc) (Trang 56)
Bảng 9 : Chi tiết về chi phí trực tiếp - Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì hà nội
Bảng 9 Chi tiết về chi phí trực tiếp (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w