Một số nhận xét và vấn đề đặt ra cần có sự cải cách đối với tổ chức và hoạt động doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp Thương mại nhà nước: Trong giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được thành lập và hoạtđộng trong nhiều thập niên qua đã đóng vai trò chủ đạo trong việcxây dung và phát triển nền kinh tế đất nước Nhưng trong điều kiệnràng buộc của cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp, hoạt động của cácdoanh nghiệp bị hạn chế rất nhiều ngày càng bộc lộ những yếu kém
Để thích ứng với xu thế Phát triển kinh tế trong tình hình mớithực tế đòi hỏi phải có sự đổi mới Công cuộc đổi mới Đảng và Nhànước Việt Nam có chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế sắp xếp lại, khuvực doanh nghiệp nhà nước Trong đó chuyển hoá sở hữu thực hiện
cổ phần hoá, doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn và rấtquan trọng Nhà nước chỉ cần nắm những doanh nghiệp cần thiết đủsức chi phối điều tiết nền kinh tế quốc dân Còn lại một tiến hànhthực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp thương mại Nhà nước hầuhết đều lâm vào tình trạng chung nêu trên và từ đó đều thuộc đốitượng thực hiện cổ phần hoá
Với điều kiện thực tế cho phép, em xin đề cập nghiên cứu đề
tài “cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp thương mại nhà nước trực thuộc Bộ thương mại ở Việt Nam”
Mục tiêu: Nghiên cứu đề tài này nhằm:
- Làm rõ sự cần thiết phải thực hiện cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước
- Nêu những giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình cổphần hoá
Trang 2- Phần thứ ba: Những phương hướng và giải pháp nhằm đẩynhanh tiến trình cổ phần hoá Doanh nghiệp thương mại nhà nước
mà chủ yếu là doanh nghiệp thương mại nhà nước ở trung ương trựcthuộc Bộ thương mại hiện
Thực hiện đề tài này được sử dụng các phương pháp chính là:
- Phần tích tổng hợp qua tài liệu, tình hình thực tế thu nhậpđược ở đơn vị thực tập và một vài nơi có điều kiện tiếp cận
- Sử dụng phương pháp chuyên gia, để tiếp nhận sự góp ý trựctiếp hoặc gián tiếp để nghiên cứu bổ sung
- Tư duy độc lập cộng với sự hướng dẫn của giáo viên cán bộkhoa học chỉ dẫn thực tập
Do trình độ kiến thức và năng lực bản thân có hạn, thời gianthực tập không nhiều, hơn nữa đây là vấn đề phức tạp, nên đề tàinày không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mongnhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo
Trang 3Xin chân thành cảm ơn cô giáo: CN Trần Thuý Sửu và cácchú ở Viện nghiên cứu thương mại - Bộ thương mại (Ban nghiêncứu và phát triển thương mại) đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em
để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài này
Hà Nội, Ngày 25 tháng 5 năm 2001
Trang 41 Khái niệm về doanh nghiệp và doanh nghiệp nhà nước
a Khái niệm về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Như vậy, doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, đặc điểm này
phân biệt doanh nghiệp với cơ quan hành chính- sự nghiệp nhànước, đơn vị vũ trang và các tổ chức khác (như tổ chức chính trị, tổchức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp)
Hai là: Doanh nghiệp phải là một tổ chức xã hội có đủ các
điều kiện do pháp luật quy định (như: phải có tên doanh nghiệp cótài sản, có trụ sở ổn định, có đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhànước có thẩm quyền, )
Ba là: Mục đích của doanh nghiệp là thực hiện các hoạt động
kinh doanh có nghĩa là: thực hiện một, một số hoặc tất cả các côngđoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặccung ứng dịch vụ trên thị trường mhằm mục đích sinh lợi
b Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tưvốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạtđộng công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do nhànước giao
Trang 5Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền
và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinhdoanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước:
Theo khái nhiệm đã nêu trên cho thấy doanh nghiệp nhà nước
có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế được nhà
nước thành lập để thực hiện những mục tiêu do nhà nước giao
Hai là: Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư vốn cho
nên tài sản trong doanh nghiệp là thuộc sở hữu của nhà nước, doanhnghiệp quản lý và sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu làNhà nước
Balà: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp chịu trách
nhiệm hữu hạn, nghĩa là nó tự chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa
vụ taì sản khác trong phạm vi số tài sản được nhà nước giao dodoanh nghiệp quản lý
3 Một số nhận xét và vấn đề đặt ra cần có sự cải cách đối với tổ chức và hoạt động doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp Thương mại nhà nước:
Trong giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá Đảng và Nhànước ta cũng khẳng định vai trò quan trọng của các thành phần kinh
tế nhà nước mà doanh nghiệp nhà nước một bộ phận lớn, trong đókhu vực kinh tế nhà nước phải phát huy vai trò chủ đạo của mình
Trang 6khác phát triển Muốn vậy, thành phần kinh tế nhà nước phải đủmạnh để phát triển kinh tế đất nước
Trong thời gian qua số lượng doanh nghiệp nhà nước rất lớnkhoảng 12 nghìn doanh nghiệp (1989) dưới nhiều quy mô lớn, vừa
và nhỏ Nhưng thực tế hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nứơc đãbộc lộ ra những nhược điểm sau:
- Về tổ chức doanh nghiệp: Do cơ chế quan liêu bao cấp khôngphải lo cho nên hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động với bộ máyhành chính rất cổng kềnh, không hợp lý, tốn kém lãng phí, chi phítrong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh
- Trình độ sản xuất và quản lí đội ngũ lao động trong cácdoanh ngiệp hiện nay do lịch sử để lại ít được quan tâm đào tạo bồidưỡng bổ sung cho nên rất non yếu không đáp ứng nhu cầu xây dựngnền kinh tế thị trường
- Tình trạng lạc hậu của trang thiết bị kỹ thuật và trình độ ápdụng kỹ thuật công nghệ hiện đại vào sản xuất còn thấp so với cácnước trên thế giới, kể cả năng lực sản xuất cũng như chất lượngphục vụ
- Trình độ quản lí yếu, cơ chế sơ hở đã và đang là cơ hội cho
tệ nạn tham nhũng nảy nở trong từng ngóc ngách của doanh nghiệplàm cho tài sản của nhà nước bị thâm hụt mất mát thất thoát khánhiều
- Lâu nay doanh nghiệp nhà nước thường làm ăn kém hiệu quả,thua lỗ nhà nước phải có chính sách trợ cấp, bù lỗ cho những doanhnghiệp làm ăn kém hiệu quả, là việc bao cấp không đáng làm Còntài trợ là một sách lược cần thiết nhằm đảm bảo cho các doanh
Trang 7nghiệp nhà nước hoạt động theo chủ trương phát triển kinh tế củachính phủ Nhưng nếu sự đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chỉ dựachủ yếu vào vốn hạn hẹp của nhà nước trước sự biến đổi nhanhchóng vào khoa học kỹ thuật và công nghệ là không thể đáp ứngđược yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường
Chính vì vậy để các doanh nghiệp nhà nước phát huy được vaitrò chủ động của mình thì vấn đề tất yếu là cần phải cải cách kinh tếnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiện nay thựchiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tức là chuyển đổi doanhnghiệp một chủ sở hữu là nhà nước thành công ty cổ phần bao gồmnhiều chủ sở hữu (Nhà nước, tập thể, tư nhân), thay đổi cơ chếquản lý phù hợp với tình hình mới, được coi là một giải pháp lớncần thiết tạo ra điều kiện huy động vốn dài hạn và lâu dài cho cácdoanh nghiệp, để đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ và nângcao chất lượng sản phẩm cạnh tranh trên thị trường trong nước vàquốc tế
II CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SỰ CẦNTHIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀNƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM
1 Khái niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển quyền
sở hữu vốn và tài sản nhà nước cho nhiều cổ đồng khác nhau, trong
đó số lớn là người lao động trong và ngoài doanh nghiệp tạo thành
sở hữu đa chủ, việc chuyển giao này được thực hiện bằng cách bán
cổ phiếu cho các cổ động trong và ngoài doanh nghiệp Ngoài việc
Trang 8nghiệp nhà nước hiện có và bán cổ phiếu nhằm huy động thêm vốntrong nhân dân tham gia đầu tư với nhà nước
- Cổ phần hoá là một xu hướng tất yếu khách quan và là mộtgiải pháp cơ bản để cấu trúc lại khu vực doanh nghiệp nhà nước,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở đa dạng hoá sởhữu trong các doanh nghiệp nhà nưóc đây là một giải pháp quantrọng trong quá trình tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước ở nước tahiện nay
Cổ phần hoá đang là một xu hướng có tính phổ biến trong quátrình cải cách các doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới
2 Thực chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
-Về vấn đề cổ phần hoá, hiện nay có 3 ý kiến khác nhau
+ Thực chất của cổ phần hoá là tư nhân hoá chưa triệt đề
+ Cổ phần hoá nhằm xác định chủ sở hữu cụ thể đối với doanhnghiệp
+ Thực chất của cổ phần hoá là quá trình xã hội hoá doanhnghiệp nhà nước
- Tư nhân hoá và cổ phần hoá là hai quan niệm có khác nhau
về mức độ tư nhân hoá là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang sởhữu tư nhân hoàn toàn
Còn cổ phần hoá chỉ là một trong những cách để tư nhân hoámột phần tài sản của các Doanh nghiệp nhà nước thực hiện đa sởhữu trong doanh nghiệp thực hiện đa sở hữu trong một doanh
Trang 9nghiệp Vậy, khái niệm tư nhân hoá rộng hơn và quá trình thực hiệncũng khó khăn và phức tạp hơn cổ phần hoá
- Quá trình cổ phần hoá nhằm giải quyết được cả 4 vấn đề: + Về sở hữu: Nhằm đa dạng hoá quyền sở hữu và cụ thể hoáchủ sở hữu
+ Về hoạt động: Nhằm thương mại hoá mọi hoạt động củadoanh nghiệp (chứ không theo mệnh lệnh hành chính)
+ Về quản lý: Luật pháp hoá tổ chức quản lý
+ Về hiệu quả: Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp
Ba vấn đề đầu là tiền đề cho vấn đề thứ tư, là mục tiêu sốmột, mục tiêu cuối cùng của giải pháp, cổ phần hoá các doanhnghiệp nhà nước khi chuyển sang công ty cổ phần không phải baogiờ cũng thực hiện được cả vấn đề đó cùng một lúc
3 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Để thúc đẩy sự phát triển của giai đoạn đổi mới nền kinh
tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII ( tháng 7 năm 1996 ) củaĐảng Cộng Sản Việt Nam yêu cầu phải:
“ Đẩy mạnh cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ trong
đó triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước” tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Namxuất từ những yêu cầu và thực tế sau:
Trang 10a Yêu cầu đầy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ không thể thựchiện được nếu thiếu điều kiện về vốn Trên cơ sở vốn trong nước làquyết định, vốn bên ngoài là quan trọng và rất cần thiết, phải đầymạnh huy động vốn của thành phần kinh tế trong nước, trong dân
Cổ phần hoá doanh nghiệp là một hình thức huy động vốn có hiệuquả Để hình thành công ty cổ phần thì cổ phần hoá doanh nghiệpNhà nước được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu
b.
Sự đòi hỏi phát triển kinh tế thị trường
Tính quy luật của phát triển kinh tế thị trường là tính đa dạnghoá các hình thức tổ chức doanh nghiệp và hoàn thiện các loại thịtrường Các thành phần kinh tế có điều kiện Xâm nhập vào nhau,huy động vốn tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực củađất nước và đầu tư phát triển Để có điều đó cần thiết sớm cho rađời thị trường chứng khoán Đòi hỏi này cần phải có yếu tố “Vậtchất” quyết định là hàng hoá chứng khoán nên cần phát triển cáccông ty cổ phần
c Hiện trạng doanh nghiệp nhà nước ở nước ta phải có những giải pháp tích cực
Để có những giải pháp thích hợp thì doanh nghiệp nhà nướcđược chia ra làm 3 loại Sau đó áp dụng những giải pháp tích cựccho từng loại doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củatừng loại doanh nghiệp
Loại I: Các doanh nghiệp nhà nước nhất thiết phải giữ hình
thức quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực:
Trang 11- Phục vụ lợi ích, xã hội, hạ tầng cơ sở.
Giải pháp chung là không thay đổi quyền sở hữu nhà nước,không phải thay đổi cách thức quản lý
Loại II: Các doanh nghiệp không cần và không còn phù hợp
với hình thức quốc doanh Nên chuyển sang hình thức sở hữu khác,
xã hội hoá sở hữu cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, như thế
là một giải pháp hợp lý và hiệu quả
Loại III: Các doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, xử lý
bằng các giải pháp: Sát nhập, cho thuê, bán, khoán, giải thế
Trong 3 loại trên, các doanh nghiệp loại II chiếm số lượng,chủ yếu cho nên để tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nướctrong nền kinh tế nhiều thành phần; Nhà nước triển khai đổi mớitoàn diện về cơ cấu và cơ chế, đối với hệ thống doanh nghiệp nhànước: ổn định, nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp đang hoạt độngtốt; Khắc phục mạnh mẽ doanh nghiệp đang làm ăn kém, hoàn thiện
mô hình tổng công ty Cổ phần hoá đặt ra như một giải pháp cầnthiết để cải cách và đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước
4 Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước.
Trang 124.1 Mục tiêu chung khi cổ phần hoá ở các nước trên thế giới
a Mục tiêu kinh tế.
Muốn định hướng cho doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thịtrường thì phải tạo ra khuôn khổ, Luật pháp, ban hành Luật Công typhù hợp với điều kiện hiện có để doanh nghiệp có thể hoạt độngđược, tạo ra nhiều doanh nghiệp để chúng cạnh tranh với nhau Cóthể chia một doanh nghệp lớn thành một doanh nghiệp nhỏ để hoạtđộng có hiệu quả cao hơn
b Mục tiêu tài chính
Nếu doanh nghiệp đang thiếu vốn, nhà nước có thể bán một
số cổ phần cho tư nhân, tiền thu được để lại làm vốn cho doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp không thiếu vốn, sau khi chuyển hoạtđộng của doanh nghiệp sang hoạt động theo Luật Công ty, nhà nướcbán một số cổ phần, tiền thu được đưa vào ngân sách cũng có thểlập công ty mới tư nhân góp vốn, nhà nước chỉ góp đất đai, nhà cửa
c Mục tiêu phân phối phúc lợi
Để thực hiện mục tiêu này có thể bán cổ phần cho công nhânviên chức, bán cho tầng lớp dân cư khác, công ty cổ phần cũng cóthể chuyển cho chủ cũ những công ty đã quốc hữu hoá
d Mục tiêu chính trị
Muốn thay đổi vai trò của nhà nước từ chỗ tham gia kinhdoanh sang vai trò tạo môi trường và điều kiện cho các doanhnghiệp hoạt động cũng có thể coi là mục tiêu chính trị khi nhà nước
Trang 13cổ phần hoá doanh nghiệp nhằm hạn chế tham nhũng chống thấtthoát.
4.2 Mục tiêu khi cổ phần hoá doanh nghiệp hoá ở Việt Nam
Ở Việt Nam, xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước ta cổphần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm 3 mục tiêu chính là: Mụctiêu tài chính, mục tiêu kinh tế và mục tiêu phân phối phúc lợi côngcộng
a Mục tiêu 1: chuyển một phần sở hữu nhà nước thành sở
hữu cồ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cácdoanh nghiệp
- Chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần cũng
là chuyển doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nướcthành doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, là tạo ra cơchế thị trường
- Chỉ chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổphần chứ không phải là chỉ chuyển một bộ phần tài sản thuộc quyền
sở hữu nhà nước sang các cồ đông
- Thay đổi quyền sở hữu chỉ là biện pháp, là điều kiện để đạtmục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
b Mục tiêu 2: Phải huy động được một khối lượng vốn nhất
định ở trong và ngoài nước để củng cố, mở rộng và hiện đại hoá cácdoanh nghiệp nhà nước hiện có khắc phục mâu thuẫn ở nhiều doanhnghiệp nhà nước hiện nay đang có nhiều cơ hội đứng vững và pháttriển trong thị trường cạnh tranh nhưng đang thiếu vốn trầm trọng
Trang 14- Bán cổ phiếu cho các tổ chức và cá nhân nước ngoài là rất cólợi vì hiện nay ta đang thiếu vốn, khoa học kỹ thuật tiên tiến và cảtrình độ lẫn kinh nghiệm quản lý Bán cổ phiếu cho người nướcngoài là một hình htức thu hút vốn, thu hút khoa học kỹ thuật tiêntiến một cách nhanh chóng
- Ngoài việc tập trung nỗ lực thu hút vốn nước ngoài còn cóthể thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư còn rất phong phú dùthu nhập của công nhân viên chức, nông dân, thợ thủ công, mấynăm gần đây đã tiến lên nhanh, đời sống được cải thiện, thể hiện rõ
ở chỗ:
+ Số dư tiết kiệm còn khá lớn
+ Quy mô và tốc độ xây dựng, mua sắm đồ dùng đắt tiền tăngnhanh
+ Các đợt phát hành tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàngđược nhân dân hưởng ứng tích cực và thu được nhiều kết quả khảquan
+ Đầu tư cho sản xuất- kinh doanh trong khu vực tư nhânnhững năm gần đây tăng nhanh
c Mục tiêu 3: Tăng nguồn động lực do thu hút người lao
động trong doanh nghiệp và công chúng tham gia góp vốn đầu tư, từ
đó tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệplâu này chúng ta làm đưọc nhiều việc xung quanh việc tự do hoá,thượng mại hoá và luật pháp hoá hoạt động của doanh nghiệp, Tuynhiên vấn đề làm chủ của người lao động vấn chưa được giải quyết.Khi chuyển sang công ty cổ phần thì các cồ đông có quyền hạn vàtrách nhiệm rõ ràng theo luật định và theo điều lệ công ty Các
Trang 15quyền hạn và trách nhiệm đều gắn với một lượng tài sản của họ, họ
tự giác tiết kiệm, hăng suy làm việc đề có thu nhập cao và điều quantrọng là họ có toàn quyền lựa chọn những người thay mặt họ quản lýcông ty
Ngoài 3 mục tiêu chính ở trên, việc cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước ở nước ta cũng còn kết hợp với các mục tiêu phụnhư sau:
- Thu hồi vốn cho doanh nghiệp nhà nước để tái đầu tư cho cáclĩnh vực cần thiết
- Xoá bỏ triệt để bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp
- Tạo tiền đề để thành lập và phát triển thị trường chứng khoán
ở Việt Nam
5 Vai trò của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
a Cổ phần hoà giải quyết nguồn vốn trong doanh nghiệp nhà nước
Trong thời gian qua ngân sách nhà nước đã phải đầu tư một tỷtrọng vốn lớn cho các doanh nghiệp nhà nước, nhưng hiệu quả thulại rất thấp Trong khi ngân sách nhà nước có hạn và phải dàn trảicho nhiều khoản chi tiêu khác Để xử lý tình trạng thiếu vốn và tạo
cơ chế quản lý tài chính có hiệu lực, thực sự ràng buộc trách nhiệmtrong hoạt động của sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhànước thì giải pháp cần làm là phải thực hiện cổ phần hoá, một sốdoanh nghiệp nhà nước Cổ phần hoá cho phép tách quyền sở hữu vàquyền quản lý tài sản của doanh nghiệp nhằm đưa lại lợi nhuận tối
đa cho doanh nghiệp
Trang 16Nhờ cổ phần hoá sẽ huy động được các nguồn vốn nhàn rỗitrong xã hội một cách nhanh chóng để phát triển sản xuất kinhdoanh Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguồn vốn dồi dào trongdân cư sẽ đổ vào nơi có lợi nhuận cao Các doanh nghiệp khi đã cổphần hoá sẽ liên doanh được vốn các doanh nghiệp trong và ngoàinước từ đó sẽ thu hút được nhiều vốn hơn nữa.
Việc tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
là một hướng đi phù hợp trên con đường tiến tới nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết của nhà nước xu hướng phát triển của nềnkinh tế thị trường là các doanh nghiệp hoạt động trên thị trườngluôn có tính cạnh tranh lẫn nhau để mà tồn tại do đó các doanhnghiệp luôn luôn tìm cách để huy động thêm vốn nhằm thêm vốnsản xuất kinh doanh và đầu tư đổi mới trang thiết bị máy móc, nângcao chất lượng sản phẩm để có thể đứng vững và có khả năng cạnhtranh được trên thị trường các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nayhoạt động trong nền kinh tế thị trường và để có vốn hoạt động thìđòi hỏi các doanh nghiệp phải được cổ phần hoá để thu hút vốn đầu
tư ở trong và ngoài nước
b Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là nguồn cung cấp hàng hoá quan trọng cho thị trượng chứng khoán.
Sau bao nhiêu nỗ lực quyết tâm, cuối cùng Trung tâm giaodịch chứng khoán ở Việt Nam đã ra đời và chính thức khai trương,đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong công cuộc xâydưng kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường Tuy nhiên để duy trìđược hoạt đông của Trung tâm giao dịch chứng khoán thì một trongnhững yếu tố đặc biệt quan trọng là phải tạo được một nguồn hàng
Trang 17liên tục cho Trung tâm, tức là các chứng khoán niêm yết trên Trungtâm giao dịch chứng khoán trong đó cổ phiếu của các doanh nghiệp
cổ phần hoá và trái phiếu của cácdoanh nghiệp là hàng hoá chủ yếu.Tuy nhiên việc tạo hàng hoá cho trung tâm giao dịch chứng khoánmang lại vấn đề hết sức khó khăn trong thời điểm hiện nay Khi màphần lớn các công ty cổ phần thành lập ở nước ta có quy mô nhỏkhông đáp ứng được điều kiện niêm yết
Thêm vào một số công ty đã đủ tiêu chuẩn niêm yết nhưngchưa sẵn sàng tham gia niêm yết, và có tâm lý chờ đời Đồng thờiviệc phát hành trái phiếu công ty đang gặp nhiều khó khăn do lãisuất ngân hàng hiện nay rất thấp Trong bối cảnh như vậy, để tạođược nguồn hàng đầu tư cho Trung tâm giao dịch chứng khoán thì rõràng chúng ta phải có nhiều doanh nghiệp lớn, nhiều công ty cổphần làm ăn có hiệu quả đó sẽ là nguồn cung ứng có ý nghĩa rấtquan trọng đảm bảo hoạt động lâu dài cho Trung tâm giao dịchchứng khoán
Việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước là việc tất yếutrong nền kinh tế thị trường Nếu khắc phục được các hạn chế và tồntại, đề ra các giải pháp đúng đắn và cùng với sự ra đời của hoạtđộng của Trung tâm giao dịch chứng khoán thì quá trình cổ phầnhoá nhất định sẽ đạt được những kết quả tốt hơn, góp phần vào côngviệc đổi mới phát triển nền kinh tế
C Lợi ích của Cổ phần hoá đối với nền kinh tế
Chế độ cổ phần hoá là con đẻ của nền kinh tế hàng hoá Vì làkết quả gián tiếp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế thịtrường Việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện nay tại
Trang 18nước vì ưu điểm thế mạnh cũng như những lợi ích mà cổ phần hoáđem lại.
- Cổ phần hoá giải quyết được bễ tắc; khủng hoảng về vốn chocác doanh nghiệp cổ phần hoá để tạo điều kiện cho việc mở rộng sảnxuất kinh doanh Chức năng của chế độ cổ phần là thúc đẩy quátrình xã hội hoá tư bản, thu hút tập trung tư bản nhàn rỗi để phục vụsản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo nguyên lý kinh tế “Tiền
đẻ ra tiền ” theo công thức
(T-H-T) Việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có ưu điểmlàm nhẹ gánh cho nhà nước Nhà nước thu hồi vốn đầu tư ở cácdoanh nghiệp để chuyển vào các hoạt động ưu tiên hơn, tạo đòn bẩycho cả nền kinh tế; giải quyết các vấn đề phúc lợi toàn dân nh: đầu
tư phát triển giáo dục, cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi chotoàn xã hội
- Tạo động lực cho người lao động bằng việc đa dạng hoá sởhữu
- Dứt bỏ được chế độ bao cấp ngân sách nhà nước, gạt bỏ đượcnhững chỉ đạo nhiều khi phí kinh tế của các cấp, cơ quan chủ quảnbên trên mà chỉ hoạt động vì lợi ích, hiệu quả xí nghiệp mà tập thể
cổ đồng giao phó và hoạt động bình đẳng theo đúng pháp luật
- Ngoài thế mạnh hợp tác thu hút vốn tiết kiệm của dân nhânđầu tư vào sản xuất kinh doanh của công ty, còn tạo điều kiện cảitiễn, đổi mới lãnh đạo quản lí xí nghiệp tập trung vào sự đồng bộthống nhất thực sự vì lợi ích hài hoà chung và riêng thông qua bộmáy điều hành: Đại hội công đồng- hội đồng quản trị- giám đốc điềuhành
Trang 19- Tạo điều kiện kết hợp phân phối theo năng suất lao động vàphân phối lợi nhuận vòng theo cổ phần, giải quyết cùng một lúcnhiều lợi ích quyền lợi
- Tạo điều kiện độc lập và chủ động cho doanh nghiệp cổ phầnhóa trong các quan hệ tự nguyện về liên doanh, liên kết kinh tếtrong và ngoài nước, mở rộng khả năng tự nguyện Hợp tác hìnhthành các tập đoàn kinh tế mệnh đáp ứng với yêu cầu sản xuất kinhdoanh lớn trong nưóc và trên thị trường quốc tế
III NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CỔ PHẦN HOÁ DOANHNGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
1 Một số quan điểm trong quá trình cổ phần hoá
a Quan điểm thứ nhất
Việc chọn những doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổphần phải đặt trong chương trình tổng thể đổi mới khu vực kinh tếnhà nước và sắp xấp lại các doanh nghiệp nhà nước
Xét theo những yêu cầu cấu trúc lại khu vực kinh tế nhà nước,
để duy trì được vai trò chủ đạo và định hướng sự phát triển kinh tếthị trường ở nước ta, có thể chia làm 3 nhóm doanh nghiệp vớinhững giải pháp đổi mới khác nhau
- Nhóm thứ nhất: là các doanh nghiệp mà trong điều kiện hiện
nay cần phải giữ lại hình thức doanh nghiệp nhà nước 100% vốn.Thuộc vaò nhóm này là các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnhvực như: an ninh quốc phòng Các doanh nghiệp đóng vai trò thenchốt của nền kinh tế mà nhà nước cần phải nắm để điều tiết vĩ mô.Nền kinh tế như các lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ngân hàng, ngoại
Trang 20thương, năng lượng, Các doanh nghiệp thuộc về cơ sở hạ tầng cótính chất nền tảng giúp các ngành khác phát triển đó là: Nhữngngành đòi hỏi vốn lớn thời gian thu hồi chậm, tỷ suất lợi nhuận thấpnhư đường sát, cầu cổng, bến cảng, sân bay, các ngành văn hoá,giáo dục, thuỷ lợi, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cầnthiết cho quốc tế dân sinh trong các thành phần kinh tế khác khôngđầu tư vì nó không có lãi và Nhà nước phải đứng ra tổ chức và tàitrợ cho hoạt động này
- Nhóm thứ hai: là các doanh nghiệp thuộc các ngành, các lĩnh
vực không cần phải duy trì Hình thức sở hữu nhà nước thì nên thuhẹp dần bằng quá trình đa dạng hoá và cổ phần hoá để khuyến khíchcạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệpnày bằng cách:
* Cho tư nhân hoặc tập thể lao động tại doanh nghiệp thuê,nhận khoán, hoặc đấu thầu kinh doanh bằng các hợp đồng quản lý
* Cổ phần từng phần hay toàn bộ doanh nghiệp để chuyểnthành công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc công ty cổ phần
* Bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nước cho tập thể cán bộ quản
lý và công nhân viên trong doanh nghiệp và cho nhà đầu tư tư nhântrong và ngoài nước
* Phát hành cổ phiếu nhằm huy động vốn mới của tư nhân vàodoanh nghiệp
- Nhóm thứ ba: là các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ kéo dài,
mất khả năng thanh toán, không thuộc diện nhà nước trợ cấp nhưnhóm thứ nhất và không thể tiễn hành cổ phần hoá như nhóm thứ haithì được xử lý theo Luật phá sản doanh nghiệp, hoặc theo quyết định
Trang 21315/HĐBT với bốn giải pháp: sát nhập, cho thuê, nhượng bán vàgiải thể.
b Quan điểm thứ hai:
Việc lựa chọn doanh nghiệp để cổ phần hoá thuộc thẩm quyền
và chức năng của nhà nước với tư cách là người sở hữu chứ khôngthuộc vào ý kiến của giám đóc và tập thể lao động trong doanhnghiệp nguyên tắc này được nêu ra để làm cơ sở cho cơ quan chủquản nhà nước phân loại các doanh nghiệp do mình quản lý để thựchiện cổ phần hoá Về cơ bản sắp xấp các doanh nghiệp thành baloại:
- Doanh nghiệp không chuyển thành công ty cổ phần vì ởnhững ngành, những lĩnh vực nhà nước cần có sự kiểm sóat và độcquyền đã nêu ở quan điểm thứ nhất
- Doanh nghiệp có thể chuyển thành công ty cổ phần nhưngtrong vài năm tới các điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi
- Doanh nghiệp ưu tiên chuyển thành công ty cổ phần Loạinày được sắp xấp theo thứ tự ưu tiên trong vài năm tới
c Quan điểm thứ ba :
Cần xác định các mục tiêu chủ yếu và cụ thể đối với từngdoanh nghiệp được lựa chọn để cổ phần hoá Dựa trên các mục tiêu
có thể xác định từng loại doanh nghiệp cụ thể:
- Nếu nhằm mục đích thu hồi vốn để đầu tư vào lĩnh vực khácthì điều kiện kinh doanh được chú ý hơn vì thực hiện cổ phần hoádoanh nghiệp loại này là nhà nước không hướng vào mục tiêu huy
Trang 22đầy đủ để nhiều tư nhân muốn kinh doanh hùn vốn “mua lại phápnhân ” để hoạt động đây là một hướng chuyển các doanh nghiệp nhànước thành công ty cổ phần tư nhân
- Nếu nhằm mục đích huy động vốn vấn đề nhà nước tiếp tụckinh doanh thì điều kiện về doanh lợi điều kiện kinh doanh cần phảiđược nhấn mạnh Với các trường hợp như sau:
+ Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thườngbảng cân đối tài sản thực dương, việc phát hành thêm cổ phiếu sẽtạo cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh
+ Doanh nghiệp thâm hụt cán cân thanh toán nhưng chưa đếnmức phát mại, tuy nhiên sản phẩm đã có thị trường và có khả năng
mở rộng
+ Doanh nghiệp xây dựng gần đây có công nghệ và trang thiết
bị tương đối hiện đại Nhưng thiếu vốn hoạt động, bộ máy quản lýyếu kém
+ Doanh nghiệp có những hợp đồng với nước ngoài, có nhữngquan hệ chặt chẽ với thị trường nước ngoài, đang thiếu để tăng quy
mô sản xuất hoặc đề làm đối tác
+ Doan nghiệp có mức lợi nhuận cao nên đầu tư thêm côngnghệ mới sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch
+ Dựa vào những điều kiện cụ thể của từng loại doanh nghiệpnên trên thì tiến hành cổ phần hoá là để chuyển sang mô hình doanhnghiệp huy động, quản lý và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
+ Nếu nhằm mục tiêu hữu sản hoá công nhân, tạo điều kiện đểngười lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp thì nhà nước cần chú
Trang 23ý đến điều kiện mức thu nhập của công nhân mua cố phiễu dướidạng trả góp cũng như tỷ trọng “Vốn tự có” trong tổng số pháp địnhcủa doanh nghiệp.
d Quan điểm thứ tư :
Mọi tài sản đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước, trừ quỹphúc lợi xã hội của tập thể là phần tiền lương không chia để lại chomọi cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp đều hưởng Phần
“Vốn tự có” hiện nay của các doanh nghiệp nhà nước Hiện nay thựcchất là phần lợi nhuận và quỹ khấu hao được nhà nước cho phép giữlại để tái sản xuất mở rộng, nên đương nhiên thuộc về nhà nước vàtrở thành vốn cổ phần của nhà nước trong công ty cố phần Vì vậy,khi tiễn hành lập bảng cân đối tài sản trong công nghiệp Xác địnhgiá trị còn lại để cố phần hoá thì không thể đưa “Vốn tự có” rangoài bảng cân đối vì nó là của nhà nước và sự phần phối khôngcông bằng trong quá trình chuyển đổi sang công ty cố phần
e Quan điểm thứ năm :
Việc xác định giá trị của doanh nghiệp nhà nước để cố phầnhoá phải chú ý đến cả hai yếu tố cấu thành: giá trị hữu hình và giátrị vô hình Trong yếu tố giá trị hữu hình về cơ bản có hai bộ phận:giá trị toàn bộ tài sản hiếm có của doanh nghiệp và giá trị đất đai
mà doanh nghiệp đang sử dụng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh.Trong yếu tố giá trị Vô hình như uy tín của nhãn hiệu sản phẩm củadoanh nghiệp, ưu thế thị trường và khả năng cạnh ttranh, các điềukiện về địa điểm, quảng cáo, bạn hành, tựu chung lại đều biểuhiện ở khả năng sinh lợi hay tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 24Việc xem xét đầy đủ hai yếu tố cấu thành của giá trị donhnghiệp để có sự kết hợp hai pương pháp xác định giá trị của donhnghiệp đó là: phương pháp tính giá trị của doanh nghiệp dựa trên cơ
sở hệ thống kế toán hiện hành và phương pháp tính giá trị của doanhnghiệp dựa trên cơ sở lợi nhuận
f Quan điểm thứ sáu :
Phương pháp bán cố phần ở những doanh nghiệp được chọn cốphần hoá cần thực hiện công khai, thủ tục đơn giản, dễ hiểu đối vớimọi người Về cơ bản có thể vận dụng một hoặc kết hợp ba phươngpháp
- Bán cho các đối tượng đã xác định trước, áp dụng cho cácdoanh nghiệp có bộ máy yếu kém Các đối tượng được chọn thươngđóng vai trò những cố động chủ lực để tạo lập cơ sở cho việc tiếptục cố phàan hoá sau này Vì vậy, Thường là những người có vốn,
có trình độ và có kinh nghiệm
- Bán rộng rãi cho mọi đối tượng, áp dụng cho các doanhnghiệp có thành tích kinh doanh khả quan, mức độ lợi nhuận bảođảm, đối với những doanh nghiệp nay, mức giá cổ phần được nghiêncứu cụ thể theo quan hệ cung cầu của thị trường
- Bán cố phần cho cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp,
áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, và họ có khả năngmua đại bộ phận cổ phần các doanh nghiệp
Việc bán cổ phần có thể được bán trực tiếp tại trụ sở chính vàchi nhánh của doanh nghiệp, hoặc uỷ thác cho ngân hàng, các công
ty tài chính đại lý
Trang 25g Quan điểm thứ bẩy :
Để thực hiện thành công chương trình cổ phần hoá, nước takhông thể chú ý đến thu hồi vốn mà cần phải biết chấp nhận mộtkhoản phí tốn cần thiết mà ở nước nào cũng có như: phí bảo hiểm,trợ cấp cho người lao động bị mất việc làm và tìm kiếm việc làmmới Những chi phí do bán giá thấp nhằm ưu đãi Những tầng lớpdân cư nhất định theo mực tiêu chính trị Xã hội của chính phủ,nhưng chi phí cho bộ máy thực hiện và các cơ quan môi giới, tư vấnquảng cáo, Nhà nước có thể chấp nhận chi phí về trợ cấp cho vayvới điều kiện ưu đãi đặc biệt, Thực tiễn của việc làm thí điểm chothấy khoản phí tốn này là cần thiết cho sự nghiệp cổ phần hoá đểmưu cầu lợi ích cơ bản và lâu dài hơn là lợi ích trước mắt của việcthu hồi vốn của nhà nước
h Quan điểm thứ tám :
Theo Quyết định 202/HĐ-BT thì các doanh nghịêp cổ phần hoáđương nhiên sẽ hoạt động trong khuôn khổ Luật doanh nghiệp cóhiệu lực từ ngày 1- 1- 2000 cả về hình thức lẫn tổ chức quản lý vàohoạt động tài chính một vấn đề Là ai sẽ là người thay mặt cho sởhữu nhà nước trong các công ty này? Vì theo những quy định củaluật thì công nhân viên chức nhà nước đương nhiên không đượcsáng lập.Viên học quản trị viên trong công ty cổ phần điều này đòihỏi cùng với việc chuyển doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổphần, nhà nước phải có cơ chế đại diện nhà nước quản lý các nguồnvốn trong các công ty cổ phần có sự tham ga của nhà nước Xét vềmặt tổ chức đại diện nay sẽ thuộc một cơ quan nhà nước hoạt độngnhư một công ty tài chính quốc gia Chuyên trách quản lý và thựchiện các hoạt động đầu tư, thông qua hình thức các công ty cổ phần
Trang 26nhằm bảo toàn và phát triển sở hữu nhà nước theo các yêu cầu điềutiết định hướng nền kinh tế Bên cạnh đó nhà nước cũng cần xâydựng đội ngũ các nhà quản trị kinh doanh có đủ năng lực để hoạtđộng trong điều kiện mới.
I Quan điểm thứ chín :
Các doanh nghiệp được lựa chọn để cổ phần hoá cần có sự giảiquyết rõ ràng, dứt điểm các vấn đề tồn đọng về tài chính và laođộng trước khi chuyển sang công ty cổ phần
Trang 272 Đối tượng doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá.
* Thời kỳ từ 1992 đến 1998: thời kỳ này các doanh nghiệp nhànước thuộc diện cổ phần hoá là doanh nhgiệp có đủ 3 điều kiện sauđây:
- Điều kiện thứ nhất: chỉ có những doanh nghiệp có quy môvừa, vì đang là thời kỳ thí điểm, nếu cổ phần hoá các doanh nghiệplớn thì khó làm và có sai sót sẽ thất thoát một số lượng lớn taì sảncủa nhà nước Còn nếu thí điểm ở các doanh nghiệp quá nhỏ thì chỉhuy động được một khối lượng vốn quá ít, tức chi phí cổ phần sẽcao Theo Nghị định 222/HĐBT ngày 23/7/1991, cụ thể hoá một sốđiều quy định trong Luật công ty thì căn cứ vào vốn pháp định đốivới từng ngành, nghề, công ty cổ phần loại vừa là các công ty cóvốn pháp định tối thiếu từ 500 - 1000 (triệu đồng) Như vậy cácdoanh nghiệp nhà nước có vốn pháp định từ 500 - 1000 (triệu đồng )
sẽ là đối tượng chính để cổ phần hoá trong giai đoạn này
- Điều kiện thứ hai: phải là các doanh nghiệp nhà nước không thuộcdiện nhà nước đầu tư 100% vốn (như an ninh, quốc phòng hoặc một
số ngành then chốt) và phải được chính phủ xác định một danh mục
cụ thể
- Điều kiện thứ ba: phải là doanh nghiệp nhà nước đang làm ăn
có lãi hoặc tuy trước mặt có gặp khó khăn nhưng tương lai sẽ hoạtđộng tốt Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao nhà nước lại không cổ phầnhoá các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ
Trang 28Chúng ta biết rằng, lợi nhuận là chỉ tiêu đánh giá tổng quátnhất về hiệu quả sản xuất - kinh doanh của một doanh nghiệp chonên một doanh nghiệp đã có “giớp” làm ăn thua lỗ Thì không cósức thuyết phục cổ đông rằng: khi chuyển sang công ty cổ phần sẽlàm ăn tốt Qua thực tế các nước cũng cho thấy rằng: các doanhnghiệp nhà nước đang làm ăn có lãi mới cần cổ phần hoá, vì:
+ Để nâng cao hiệu quả sản xuất -kinh doanh hơn nữa
+ Để nhà nước có thể thu hồi vốn nhằm đầu tư cho những nhucầu cần thiết khác
+ Cổ đông góp vốn vào doanh nghiệp cũng nhằm mục đíchsinh lợi từ đồng vốn Doanh nghiệp làm ăn có lợi đương nhiên sẽ cósức hấp dẫn động viên cổ đông Vậy chỉ là các doanh nghiệp nàymới có thể thực hiện được đa dạng hoá quyền sở hữu một cách thuậnlợi hơn cả
* Thời kỳ từ 1998 - đến nay:
Nghị định số 44/1998 ngày 19 tháng 6 năm 1998 có những nộidung cơ bản được sửa đổi bổ sung về việc chuyển một số doanhnghiệp nhà nước thành công ty cổ pàn, trong đó về đối tượng cổphần hoá có quy định như sau:
Chính phủ đã xác định rõ loại doanh nghiệp chưa cổ phần hoágồm: các doanh nghiệp hoạt động công ích, các doanh nghiệp sảnxuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ nhà nước độc quyền kinh doanhnhư: vật liệu nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ, in bạc và các chứngchỉ có giá, mạng thống tin quốc gia và quốc tế Số doanh nghiệp nhànước còn lại thuộc diện cổ phần hoá hoặc các hình thực chuyển đổi
sở hữu khác (giao, bán, khoán, cho thuê)
Trang 29Trong giai đoạn từ 1998 đến năm 2000 đối với một số doanhnghiệp hoạt động ở các lĩnh vực quan trọng như: Tạo nguồn thu lớncho ngân sách nhà nước và cho kinh tế về ngoại tệ, vật tư chiến lượchặc là công cụ giúp cho nhà nước điều tiết vĩ mô nên kinh tế thì nhànước vẫn tiếp tục giữ 100% vốn, chưa cổ phần hoá.
Đối với các doanh nghiệp được phép cổ phần hoá mà đóng vaitrò làm nỏng cốt dẫn dắt nền kinh tế trong quá trình công nghiệphoá, hện đại hoá thì nhà nước phải giữ cổ phần chi phối, cổ phầnđặc biệt
3 Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của một số nước trên thế giới
Hình thức cổ phần hoá có thể khác nhau từng điều kiện cụ thểcủa từng doanh nghiệp Các hình thức cổ phần hoá thường thấy là:
a Đấu thầu công khái
- Hình thức này chủ yếu ở các nước có nền kinh tế thị trườngphát hiện Thị trường vốn hoàn chỉnh, môi trường pháp luật hoànthiện và sự hiểu biết rộng rãi của công chúng đối với cổ phần hoá
- Hình thức này có ưu điểm cơ bản là thực hiện nhanh chóng,
có khả năng cho nguồn thu lớn, công khai với mọi người và khônggiới hạn trong phạm vi tư nhân hay người nước ngoài
- Nhưng nó cũng có những nhược điểm mà trong thực tế rất dễbiến thành những trở lực trong quá trình đạt tới mục tiêu của việcchuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp nhà nước
b Tư nhân hoá hàng loạt
Trang 30Biến tất cả các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.
Để thực hiện được hình thức này, nhà nước đem chia tài sản của nhànước cho toàn dân theo một tiêu thức nhất định Hình thức này được
áp dụng trong một số nước khi chuyển từ sự quản lý nền kinh tế tậptrung sang kinh tế nhiều thành phần Do sự chuẩn bị không kĩ củachính quyền, sự hiểu biết nông cạn của quần chúng, sự quản lý lỏnglẻo và thiếu kinh nghiệm của bộ máy quản lý nên hình thức này bịthất bại
c Cổ phần hoá từng phần
Đây là hình thức cổ phần hoá có phần loại doanh nghiệp đểbán từng phần với mức độ cổ phần trong từng doanh nghiệp có khácnhau Nhìn chung, theo cách này, phần vốn nhà nước trong doanhnghiệp còn lại hoặc toàn bộ được goi là phần gốc tính là cổ phầnnhà nước góp vào doanh nghiệp Doanh nghiệp tiếp tục bán cổ phầncho các cổ đông, từ đó hình thành nên doanh nghệp cổ phần
Phần tích các hình thức ở trên thì hình thức cổ phần hoá từngphần có thể là hình thức thích hợp đối với Việt Nam
4 Các phương pháp cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
a Bán cổ phần cho công chúng
Phương pháp này được ưu thích ở nhiều nước Đó là việc nhànước bán toàn bộ hay một phần sở hữu nhà nướ trong doanh nghiệpcho công chúng Việc bán cổ phần cho cung chúng đòi hỏi doanhnghịp phải có tỷ lệ sinh lợi hãp dẫn Phương pháp này khuyến khíchviệc mở rộng và đa dạng hoá cơ cấu sở hữu trong doanh nghiệp nhànước Mặt khác, biện pháp này cũng làm giảm sự tập trung tài sản
Trang 31kinh tế của nhóm tư nhân, mở rộng quy mô và chiến sau của t hịtrường chứng khoán.
b Bán cổ phiếu cho tư nhân
Thực hiện phương pháp này, nhà nước bán một phần haytoàn phần số cổ phiếu của doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà nướccho một số cá nhân hay một nhýom nhà nước đầu tư tư nhân thôngqua đấu thần có tính cạch tranh hay những người mua đã được xácđịnh trước
Các lý do đưa đến việc áp dụng rộng rãi phương pháp cổ phầnhoá này bào gồm:
- Tính linh hoạt của nó trong các điều kiện cụ thể
- Tính đơn giản về pháp lý khi yêu cầu chuyển nhượng
- Tốc độ triển khai thực nhiện nhanh hơn
Do những đặc điểm nêu trên, phương pháp náy thường được ưutiên đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả,hay những doanh nghiệp nhà nước cần có những người chủ đủ mạnh
và có khả năng và có kỹ thuật quản lý tài chính, thương mại haynhững doanh nghiệp có quy mô không đáng kể để có thể bán rộngrãi cho công chúng
Việc bán cổ phần cho tư nhân, cũng có mặt hạn chế, thường bịchiều chỉ trích vì một bộ phận Dân cư sẽ có khả năng mua và ngàycàng tập trung quyền lực về kinh tế, chính trị, gây ra sự phần hoá xãhội sâu sắc
c Bán cổ phiếu cho người quản lý và lao động
Trang 32Phương pháp này thường được lựa chọn để thực hiện đối vớidoanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Phương pháp này cũng tạo ra
sự khuyến khích lớn đối với việc tăng năng suất lao động, đồng thờicũng là cách giải quyết vấn đề lao động trong trường hợp doanhnghiệp sắp bị giải thể
Trở ngại chính đối với việc áp dụng phương pháp này là thiếunguồn tài chính vaf tín dụng bảo đảm cho việc chuyển giao doanhnghiệp cho cán bộ quản lý và người lao động
5 Các bước của quá trình cổ phần hoá.
Theo nội dung của nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996 củachính phủ về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty
cổ phần thì quá trình cổ phần hoá gồm các bước sau đây:
* Bước 1: Thành lập danh sách một số doanh nghiệp nhà nước
để cổ phần hoá Các Bộ trường, Thủ trưởng cơ quan nang Bộ, Thủtrưởng cơ quan thuộc chính phủ, Chủ tục uỷ ban nhân dân các tỉnh,Thành phố Trực thuộc Trung ương Sau khi có sự nhất trí của bancán sự Đảng hoặc tỉnh uỷ quyết định danh sách một số doanh nghiệpnhà nước để cổ phần hoá và gửi về ban chỉ đạo Trung ương cổ phầnhoá, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư để theo dõi
Hội Đồng quản trị của tổng công ty nhà nước do Thủ tướngchính phủ quyết định thanhỳ lập Sau khi có sự nhất trí của Ban cán
sự hoặc Đảng uỷ Tổng công ty lập danh sách doanh nghiệp cổ phầnhoá báo cáo Thủ tướng chính phủ phê duyệt đồng thời gửi lên Bộ tàichính, Bộ kế hoạch và đầu tư để theo dõi
*Bước 2: Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ đề
nghị Xác định giá trị doanh nghiệp, Bộ tài chính (Hệ thống tổng
Trang 33cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp) có rtáchnhiệm Thẩm tra và quyết định giá trị doanh nghệp sau khi có vănbản thoả thuận Của bộ quản lý ngành hoặc tỉnh, Thành phố, Trựcthuộc trung ương liên quan.
Sau khi có quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thànhcông ty cổ phần, doanh nghệp tổ chức Phát hành cổ phiếu, bảo đảmcác cổ đông nhận được cổ phiếu chậm nhất 30 ngày kể từ khi kếtthúc thời hạn phát hạnh
* Bước 3: Thực hiện cổ phần hoá.
- Đối với những doanh nghiệp có vốn nhà nước trên 3 tỷ đồng,
Bộ trưởng cán bộ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân các tỉnh, Thành phốtrực tuộc trung ương xây dựng phương an cổ phần hoá gửi về banchỉ đạo trung ương cổ phần hoá đẽ trình thủ tương chính phủ phêduyệt
- Đối với những doanh nghiệp có vốn nhà nước từ 3 tỷ đồngtrở xuống, Bộ trưởng các bộ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, Thànhphố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện Cổ phần hoá trên cơ sởnghị định này và hướng dẫn, kiểm tra của các bộ có liên quan Cácvăn ban về cổ phần hoá của bộ và tỉnh, thành phố trực tuộc trungương phải gửi về ban chỉ đại Trung ương cổ phần hoá và bộ tàichính để theo dõi
- Đối với việc cổ phần hoá doanh nghệp thành viên của tổngcông ty nhà nước do thủ tương chính phủ quyết định thành lập, hộiđông quản trị xây dựng phương an cổ phần hoá gửi về ban chỉ đạo.Trungương cổ phần hoá để thực hịn theo điều 19 của nghị định này
Trang 34- Doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá sẽ hoạt độngtheo luật công ty và phải đăng ký kinh danh tại số kế hoạch và đầu
tư tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đóng trụ
sở chính
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ đăng ký kinhdoanh, sở kế hoạch đầu tư có trách nhiệm Cấp giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh cho công ty cổ phần hồ sơ đăng ký kinh doanhbao gồm:
+ Quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổphần
+ Điều lệ Tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần
+ Biên bản bầu hội đồng quản trị và cử giám đốc điều hành.+ Giấy xác nhận hợp pháp chuyển quyển sử dụng trừ sở chínhcủa doanh nghiệp
* Bước 5: Quản lý vốn nhà nước tại công ty cổ phần.
- Chuyển toàn bộ Doanh nghiệp độc lập thành công ty cổphần
Tổng cục trưởng tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nứơc tạidoanh nghiệp - cử người trực tiếp quản lý vốn và tài sản của nhànước tại công ty cổ phần sau khi thoả thuận Với bộ trưởng bộ quản
lý ngành hoạt chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộctrung ương lên quan
Trang 35- Chuyển một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước độc lập(Tổng công ty nhàn nước doanh nghiệp độc lập có hội đông quản trị
và không có hội đồng quản trị) thành công ty cổ phần
Hội đồng quản trị các doanh nghiệp nhà nước có hội đồngquản trị hoặc giám đốc doanh nghiệp nhà nước không có hội đồngquản trị, cử người trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước tại công ty
cổ phần được thành lập từ cổ phần hoá moat bộ phần của doanhnghiệp mình
- Người trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước tại công ty cổphần thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều
50 và điều 54 của Luật doanh nghiệp nhà nước
- Lợi nhuận tư phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần hoá nóitrên thuộc sở hữu nhà nước, chỉ sử dụng để đầu tư phát triển doanhnghiệp nhà nước và thu nộp về:
+ Ngân sách nhà nước đối với trường hợp chuyển toàn bộdoanh nghịp độc lập thành công ty cổ phần
+ Doanh nghiệp quản lý phần vốn nhà nước trong công ty cổphần đối với trường hợp chuyển một bộ phàan của doanh nghiệp nhànước độc lập thành công ty cổ phần
* Bước 6: Thành lập Ban chỉ đạo Trung ương cổ phần hoá.
Ban chỉ đạo Trung ương cổ phần hoá do Bộ trưởng, Trưỏngban chỉ đạo trung ương đồi doanh nghệp làm trường ban, một thứtrưởng Bộ tài chính làm phó trường ban thường trực, một thứ trưởng
Bộ lao động - thương binh và xã hội và mời một phó chủ tịc Tổngliên đoàn lao động Việt Nam làm uỷ viên Ban cổ phần hoá của
Trang 36Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp làm bộphần thường trực Ban chỉ đạo Trung ương cổ phần hoá có quyền đềnghị các Bộ liên quan điều động biệt phái một sẽ chuyên viên vào
bộ phần thường trực này
* Bước 7: Ban chỉ nđạo Trung ươqng cổ phần có trách nhiệm
phân công tổ chức thực hiện và ban hành quy trình tiến hành cổphần hoá, trực tiếp cùgn các bộ và tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương, Hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước do thủ tướng chínhphủ quyết định thành lập tổ chức thực hiện ở những doanh nghiệp
Có vốn nhà nước trên 3 tỷ đồng và các doanh nghiệp thành viênTổng công ty nói trên, hướng dẫn, theo dõi và giám sát các Bộ tỉnh ,thành phố trực thuộc trung ương thực hiện cổ phần hoá ở nhữngdoanh nghiệp đã được phân cấp , báo cáo kịp thời những vấn đề phátsinh lên Thủ tướng chính phủ đề xử lý nhằm thực hiện tốt chủtrương cổ phần hoá
6 Các mô hình về công ty cổ phần trên thế giới và áp dụng ở Việt Nam
6.1 Các mô hình về công ty cổ pần hoá trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều công ty cổ phần , nghiên cứu cáchình thức này sẽ cho ta bài học quý báu trong quá trình cổ phần hoá
và lựa chọn hình thức cổ phần hoá thích hợp ở Việt Nam
- Công ty vô doanh.
Là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó các cổ đông chỉ chịutrách nhiệm với công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình đồngthời các cổ đông cũng được chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp (Hãy
cổ phần của mình) Các công ty vô danh đều được tổ chức theo mô
Trang 37hình: Đại hội cổ đồng Hội đồng quản trị Giám đốc điều hành Ban kiểm soát công ty vô danh được quyền phát hành thêm cổphiếu khi có nhu cầu tăng vốn sản xuất kinh doanh hay phát hànhtrái phiếu đề vay vốn cổ phiếu hay trái phiếu của công ty đượcchuyển nhượng tự do trên thị trường chứng khoán.
Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có nhiều điểm giống với công ty
vô doanh Bên cạnh đó có một vài điểm khác bviệt: Công ty này bịhạn chế về số cổ đồng tồi đa và số tồi thiểu Tổ chức của công tynay thường gọn nhẹ
- Công ty dân sự.
Công ty dân sự là công ty trách nhiệm vô hạn có tư cách cánhân trong đó các thành viên có trách nhiệm vô hạn đối với hoạtđộng kinh doanh của công ty Pháp luật không quy định mức vốn tồithiểu của công ty thuộc loại này khi thành lập Trong quá trình kinhdoanh công ty không được phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu màchỉ có thể huy động vốn từ các cổ đông Việc chuyển nhượng cổphần hay xin ra nhập phải được sự đồng ý của tất cả các đông
- Công ty hợp tư cổ phần.
Đây là một loại công ty trách nhiệm vô hạn, nhưng có 2 loạihội viên tham gia công ty, các hội viên quản trị có trách nhiệm vànghĩa vụ giông như hội viên của công ty hợp doanh Hội viên xuấtvốn có thể không nắm quyền mà chỉ hưởng lợi tức
- Công ty hợp doanh
Trang 38Là công ty trách nhiiệm vô hạn có tư cách pháp nhân về cơbản công ty hợp doanh giống như công ty dân sự, Song có nhữngđiểm khác là: Thông thường do các công ty, xí nghiệp hoặc các tổchức kinh tế góp vốn đè thành lập công ty hợp doanh với vai trò nhưmột chi nhánh chung của các pháp nhân đó Các thành viên (cổđông) tham gia công ty hợp doanh chịu trách nhiệm như một ngườiđồng mắc nợ, một khi công ty này không trả nợ được thì chủ nợ cóquyền đòi hỏi thành viên trả nợ và những thành viên này không cóquyền từ chối trả nợ
Việt Nam với những đặc thù kinh tế riêng kết hợp với nhữngbài học rút ra từ mô hình coong ty cổ phần của các nước ngoài cũng
đã lựa chọn cho mô hình công ty cổ phần thích hợp hoạt đôngj theoluật công ty
Trang 396.2 Mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam
Công ty cổ phần ở Việt Nam theo luật công ty là: “Doanhnghiệp” Trong đó các thành viên cùng đóng góp và chỉ chịu tráchnhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vàocông ty, Thực chất các công ty là các doanh nghiệp có nhiều chủ sởhữu, công ty cổ phần có quyền lựa chọn ngành, nghề và quy mô kinhdoanh lựa chọn hình thức và cách thức huy đọng vốn, lựa chọnkhách hàng Tuyển chung và thuê mướn lao động theo yêu cầu củakinh doanh
Quyết định việc sử dụng phần thu nhập còn và đặc biệt là công
ty có quyền chủ động trong mọi hoạt đọng kinh doanh đã đăng ký.Bên cạnh các quyền trên cônh ty cũng phải có nghĩa vụ trong việckinh doanh: Kinh doanh theo đúng ngành nghề trong giấy phép kinhdoanh ưu tiên sử dụng trong nước, đảm bảo quyền lợi và lợi ích củangười lao động theo quy định của pháp luật lao động, tôn trọngquyền tổ chức công đoàn theo luật công đoàn Tuân thủ quy địnhcủa nhà nước về bảo vệ môi trường , bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá,danh lam thắng cảnh và trật tự an toàn xã hội, ghi chép - sổ sách kếtoán và quyết toán theo quy định của nhà nước Nộp thuê và thựchiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Các thành viên của công ty cổ phần có quyền sở hữu một phầntài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty Tham
dự đại hội đồng, tham gia thảo luận, biểu quyết các vấn đề thuộcthẩm quyền của đại hội đồng, có số phiếu biểu quyết tương ứng vớiphần vốn góp vào công ty Được chia lợi nhuận và chịu lỗ tươngứng với phần vốn góp vào công ty Nhóm thành viên đại diện cho ít
Trang 40xem xét và giải quyết những việc mà hội đồng quản trị hoặc giámđốc bỏ qua.
Đối với công ty cổ phần được chuyển từ doanh nghiệp nhànước sang thì Nhà nước thường giữ lại cho mình một lượng cổ phiếugọi là cổ phiếu đặc biệt hoặc cổ phiếu chi phối Do vậy nhà nướctrở thành cổ đông lớn, vai trò của nhà nước trong công ty cổ phầnnày cũng không phải là nhỏ và để tránh vấn đề tư nhân hoá hoặc điloch mục tiêu ban đầu khi cổ phần hoá doanh nghiệp Công ty cổphần ở Việt Nam với hình thức góp vốn trên sẽ huy động đượclượng vốn cần thiết cho kinh doanh đồng thời đảm bảo cho cácquyền lợi của cổ đông và người lao động Mô hình công ty cổ phầnchuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần của ViệtNam có những đặc điểm riêng khác thế giới, vừa đảm bảo quyền tựchủ của doanh nghiệp trong kinh doanh, vừa không làm cho mụcđích hoạt động ban đầu bị thay đổi, đồng thời đảm bảo các quyền lợicho người lao động và các cổ đông Chính vì vậy, nhà nước đã đề rachủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Đây là một biệnpháp quan trọng nhằm cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước ViệtNam đề phù hợp hơn trong nền kinh tế thị trường, khắc phục đượcnhững nhược điểm của doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua