Do cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế,trong đó giao thông đường bộ đóng vai trò rất quan trọng, nên em đã chọn đềtài: Định hướng huy động và sử dụng vốn đầu t
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện chủ trương của Đảng: Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mớitoàn diện và sâu sắc, khai thác, phát huy tối đa nội lực, đẩy nhanh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩyquá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Trong 10 năm 1991-
2000 lĩnh vực đầu tư phát triển của nước ta đã được đẩy mạnh, trong đó đầu
tư xây dựng cơ bản thuộc NSNN đã đạt được những kết quả rất quan trọng,đặc biệt là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
Giao thông vận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng giữ vaitrò quan trọng trong việc phân bố lại dân cư, tăng trưởng kinh tế, củng cố anninh quốc phòng, góp phần thay đổi bộ mặt đất nước, đưa đất nước tiến lêncông nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, hiện nay cơ sở hạ tầng giao thôngvận tải nước ta còn nhiều yếu kém, lạc hậu Điều đó làm cản trở quá trìnhphát triển kinh tế- xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để phát triển kinh tế, hội nhập với khu vực và thế giới, cơ sở hạ tầnggiao thông vận tải nói chung, giao thông đường bộ nói riêng phải đi trướcmột bước
Từ tình hình trên đặt ra cho các cơ quan hoạch định chính sách, cơ chếquản lý đầu tư và xây dựng những yêu cầu bức xúc Đòi hỏi phải định hướnghuy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư NSNN cho phát triển giao thôngvận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng
Do cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế,trong đó giao thông đường bộ đóng vai trò rất quan trọng, nên em đã chọn đềtài:
Định hướng huy động và sử dụng vốn đầu tư NSNN cho giao thông đường bộ ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010.
Trang 2đường bộ ở Việt Nam giai đoạn 1995- 2000.
Chương III: Định hướng huy động và sử dụng vốn đầu tư NSNN cho giao thông đường bộ ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2010
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ
CHO GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ.
I- Khái niệm:
1 Đầu tư:
Đầu tư có thể được hiểu đồng nghĩa với sự bỏ ra, sự hy sinh những thứ
có ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải, trí tuệ) nhằm đạt được những kếtquả có lợi trong tương lai Có thể nói: Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn vớiviệc sử dụng vốn dài hạn nhằm mục đích sinh lời Chính từ khái niệm đầu tưcác nhà kinh tế học cho rằng hoạt động đầu tư có những đặc trưng, khác biệtvới các hoạt động kinh tế khác
Đặc trưng cơ bản của đầu tư:
* Tính sinh lời là đặc trưng hàng đầu của đầu tư Không thể coi mộthoạt động kinh tế là đầu tư nếu việc sử dụng vốn không nhằm mục đích thulại một khoản tiền, vật chất có giá trị lớn hơn khoản bỏ ra ban đầu Nhưvậy, đầu tư khác với: Việc cất trữ mua sắm, để dành (mục đích của việc cấttrữ, để dành là giữ được giá trị vốn có, không nhất thiết phải sinh lời); việcmua sắm nhằm mục đích tiêu dùng (khi thực hiện việc này tiền của không cókhả năng tăng lên hoặc sinh lời mà ngược lại); việc chi tiêu cho các lí donhân đạo hoặc tình cảm
* Đặc trưng thứ hai của đầu tư là thời gian kéo dài, thông thường hoạtđộng đầu tư từ 2 tới 70 năm hoặc lâu hơn Những hoạt động kinh tế ngắn hạn(thường trong vòng một năm) không được gọi là đầu tư Đặc điểm này chophép phân biệt hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh Kinh doanhthường chỉ được coi là một giai đoạn của đầu tư Đầu tư và kinh doanh thốngnhất ở tính sinh lời nhưng khác nhau ở thời gian thực hiện, kinh doanh là mộttrong những nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư
2 Hoạt động đầu tư, dự án đầu tư:
Trang 4* Hoạt động đầu tư: Dựa vào bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tưđem lại, đầu tư được chia thành 3 loại:
- Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động (đầu tư phát triển):
Người có tiền bỏ tiền ra tiến hành các hoạt động nhằm tạo tài sản mớicho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xãhội khác (xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, hiện đại hoá cơ sở sẵn có, đào tạonhân lực ) Đầu tư phát triển là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng caođời sống của mọi người dân trong xã hội Hoạt động đầu tư phát triển là mộthoạt động kinh tế đóng vai trò quan trọng, quyết định tới sự phát triển kinhtế- xã hội của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Tuy nhiên, đầu tư pháttriển là một hoạt động kinh tế gặp rất nhiều khó khăn trong công tác thựchiện Chính vì những lý do đó, đầu tư phát triển rất cần sự hỗ trợ của Nhànước
- Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính):
Người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá đểhưởng lãi suất định trước (mua trái phiếu Chính phủ, gửi tiết kiệm) hoặchưởng lãi suất tuỳ thuộc biến động của thị trường, tình hình hoạt động sảnxuất kinh doanh của tổ chức tài chính, công ty phát hành Loại hình đầu tưnày không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân (nếu không tính tớiquan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chínhcủa tổ chức, cá nhân đầu tư Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chínhvốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút vốn một cáchnhanh chóng (tính lỏng cao), khuyến khích người có tiền đầu tư Đây là mộtnguồn cung cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển
- Đầu tư thương mại:
Người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hoá, sau đó bán ra với giá cao hơnnhằm thu lợi từ chêch lệch giá mua- giá bán Loại hình đầu tư này cũngkhông tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến hoạt động ngoạithương) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân trong
Trang 5quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá Tuy nhiên đầu
tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất dođầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho NSNN,tăng tích luỹ vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và nềnsản xuất xã hội nói chung
Đầu tư phát triển giao thông vận tải được xếp vào đầu tư phát triển donhững đặc trưng riêng: Giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế, cótính chất phục vụ cho các hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội cho nênkhông tính toán được các kết quả cụ thể như các lĩnh vực khác Ví dụ như kếtquả của đồng vốn đầu tư thể hiện ở chỗ bao nhiêu mét cầu, đường làm mớihoặc nâng cấp cải tạo, thể hiện ở năng lực vận tải, sự thuận tiện tiết kiệm thờigian trong đi lại cũng như sự hao mòn phương tiện Hiệu quả một đồng vốnđầu tư (lợi nhuận thu được) của ngành giao thông so với các ngành khác đạtrất thấp nhưng nó có ý nghĩa xã hội rất lớn, góp phần nâng cao đời sống củamọi người dân trong xã hội
- Sự cần thiết phải đầu tư theo dự án: Dự án và đầu tư có mối quan hệmật thiết với nhau, mục tiêu chủ yếu của đầu tư là sinh lợi, khả năng sinh lợi
là điều kiện tiên quyết để đầu tư Nhà đầu tư sẽ không đầu tư nếu không sinhlợi, nhưng đầu tư, đặc biệt là đầu tư phát triển là việc làm rất mạo hiểm Một
Trang 6khi đã bỏ vốn đầu tư, hình thành năng lực mới thì cơ hội để sửa chữa sai lầmgần như không có, nhưng khi năng lực mới chưa hình thành, tất cả chỉ nằmtrong dự kiến thì việc đánh giá tính sinh lời của hoạt động đầu tư cũng rất khókhăn, phức tạp, khó chính xác Để tránh những sai lầm trong hoạt động đầu
tư, tránh những cuộc đầu tư không có khả năng sinh lời và cũng để đảm bảosinh lời tối đa khi bỏ vốn, đầu tư phát triển cần tiến hành một cách có phươngpháp, có hệ thống Phương pháp đó là đầu tư theo dự án, tạo nên một luậnchứng đầy đủ về mọi phương diện của cơ hội đầu tư, giúp đầu tư có độ tincậy cao hơn, an toàn hơn
3 Cơ cấu sử dụng vốn đầu tư của NSNN:
Võn ẵãu từ tữ NSNN hiẻn nay chð yặu tºp trung ẵãu từ cho cŸc dỳ Ÿnxày dỳng cỗ sờ hư tãng kinh tặ, v¯n hĩa, xơ hổi, an ninh quõc phíng, ẵãu từ
hồ trỡ võn cho cŸc doanh nghiẻp NhĂ nừốc, hồ trỡ cho nguón võn tẽn dũngNhĂ nừốc vĂ Quỵ hồ trỡ phát triển CŸc dỳ Ÿn ẵãu từ b±ng nguón võnNSNN chð yặu lĂ cŸc dỳ Ÿn không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp nhưcác dư án cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng, giao thỏng, thðy lỡi, tróng rữngẵãu nguón, rững phíng hổ, băo tón thiÅn nhiÅn, cŸc cỏng trệnh v¯n hĩa xơhổi, giŸo dũc, y tặ, phợc lỡi cỏng cổng, nghiÅn cửu khoa hàc, quõc phíng anninh
Bảng 1: Cơ cấu chi của NSNN ( Nguồn: Bộ Tài Chính) Nội dung 1995 1996 1997 1998 1999
Tổng số:
I- Chi đầu tư phát triển
Trong đó:
Chi đầu tư cho GT đường bộ
II- Chi trả nợ và viện trợ:
III- Chi thường xuyên:
Trang 73 Chi dân số KHH gia đình
4 Chi khoa học, CN và môi
trường
5 Chi văn hoá, thông tin
6 Chi phát thanh và truyền hình
Qua bảng trên ta thấy vốn chi cho đầu tư phát triển hàng năm chiếmkhoảng 1/4 tổng chi NSNN Điều đó chứng tỏ Đảng và Nhà nước ta rất chútrọng vào lĩnh vực đầu tư phát triển
II- Vai trò của vốn đầu tư NSNN với phát triển kinh tế nói chung và phát triển giao thông nói riêng:
1 Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế:
* Khái niệm vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinhdoanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác đượcđưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn
có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội
* Vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế:
- Vai trò của vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế thông qua mô hìnhHarrod - Domar:
Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là mộtcông ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng
số vốn đầu tư cho nó
Nếu gọi đầu ra là Y, tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra là g:
Y
g =
Y
Trang 8Đầu tư chính là cơ sở tạo ra vốn sản xuất do đó I = K.
Nếu gọi k là tỷ số gia tăng vốn - đầu ra ta sẽ có:
Mô hình Harrod - Domar chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quả tương tácgiữa tiết kiệm với đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh
tế Theo Harrod - Domar chính đầu tư phát sinh ra lợi nhuận và gia tăng khảnăng sản xuất của nền kinh tế
- Vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế qua mô hình Tổng cung - Tổngcầu:
Trang 9Đầu tư là bộ phận lớn và hay thay đổi trong chi tiêu Do đó những thayđổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tớisản lượng và công ăn việc làm Khi đầu tư tăng lên có nghĩa là nhu cầu về chitiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng tăng lên Sự thay đổi này làm cho đường tổng cầu chuyển dịch, AD tăng, Ytăng.
AD = C + I + G + NX => I tăng -> AD tăng -> Y tăng
Sơ đồ 1 – Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy,thiết bị, phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năngsản xuất của nền kinh tế Sự thay đổi này tác động đến tổng cung Khi vốnsản xuất tăng sẽ làm cho đường tổng cung chuyển dịch, làm cho mức sảnlượng tăng từ Y₀ đến Y ( Sơ đồ 2).₁
Trang 10Điều cần lưu ý là sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăngtrưởng kinh tế không phải là quá trình riêng rẽ mà nó là sự kết hợp đan xenlẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế.
Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sảnxuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế mà nó còn là điều kiện để nângcao trình độ khoa học- công nghệ, góp phần đáng kể vào việc đầu tư theochiều sâu, hiện đại hoá quá trình sản xuất Việc tăng vốn đầu tư cũng gópphần vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động khi mở ra cáccông trình xây dựng và mở rộng qui mô sản xuất
* Vốn đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu cóthể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cườngđầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ.Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và cáckhả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng 5- 6% là rất khó khăn Nhưvậy, chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cácquốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏitình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địathế, kinh tế, chính trị, của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn,làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển
* Vốn đầu tư với sự tăng cường khả năng khoa học công nghệ:
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đầu tư làđiều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ quốcgia Theo đánh giá của các chuyên gia, trình độ công nghệ của Việt Nam lạchậu nhiều thế hệ so với khu vực và thế giới UNIDO cho rằng nếu chia quátrình phát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì vào năm 1995, ViệtNam chỉ ở vào giai đoạn 2 và là một trong 90 nước kém phát triển về công
Trang 11nghệ nhất thế giới Với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệphoá- hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề rađược một chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh chóng, vững chắc Có
2 con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh hoặc nhậpcông nghệ từ nước ngoài Dù là tự nghiên cứu hay là nhập từ nước ngoài đềucần phải có vốn đầu tư Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn vớinguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không có tính khả thi
2 Vai trò của hệ thống giao thông và giao thông đường bộ trong nền kinh tếthị trường
2.1 Vai trò của hệ thống GTVT trong nền kinh tế thị trường:
GTVT trong nền kinh tế quốc dân có thể so sánh với những mạch máutrong cơ thể con người Một cơ thể muốn tồn tại và phát triển thì mạch máuphải lưu thông và hoạt động tốt
Đối với mọi quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, GTVTđều giữ vị trí hết sức quan trọng tạo tiền đề cơ sở vật chất- kỹ thuật cho cácngành kinh tế khác phát triển, tiếp thu các thành tựu, tiến bộ khoa học, côngnghệ của loài người
Riêng đối với Việt Nam, GTVT phát triển là tiền đề cho việc phát triểnkinh tế, văn hoá- xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước Do điều kiệnthuận lợi về địa lý, Việt Nam có tiềm năng lớn về GTVT, nếu nắm bắt đúngthời cơ, đầu tư phát triển hệ thống GTVT kịp thời, ngang tầm với các nướctrong khu vực và trên thế giới thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế to lớn Nếu cóđược hệ thống GTVT tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành các nhiệm
vụ quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đưacông nghiệp về nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất chế biến sảnphẩm nông nghiệp, cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, thực hiện công nghiệphoá nông thôn Tạo điều kiện khai thác tiềm năng kinh tế biển, kinh tế rừng.Góp phần phân bổ lại dân cư, đưa dân đến các vùng xa xôi có tiềm năng phát
Trang 12triển kinh tế, tạo việc làm cho hàng triệu lao động hoặc giãn dân ở các thànhphố lớn ra các thành phố vệ tinh
Phát triển giao thông nông thôn đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùngcăn cứ cách mạng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo,giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị GTVT phát triển chophép chúng ta đưa ánh sáng văn hoá xã hội tới các vùng sâu, vùng xa tạothuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các khu vực, góp phần giảiquyết công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời phân bổ sản xuất kinhdoanh dịch vụ mới với công nghệ, kỹ thuật hiện đại hơn nên sẽ hoạt động cóhiệu quả hơn mang lại nhiều thuận lợi hơn, thu nhập của người lao động cũngđược cải thiện hơn và vì thế mà trình độ văn hoá xã hội, y tế giáo dục, nhucầu giải trí cũng được nâng lên
Không những có ý nghĩa về mặt kinh tế, vai trò quan trọng trong pháttriển văn hoá- xã hội, y tế giáo dục GTVT còn có vai trò quan trọng trongviệc bảo vệ an ninh quốc phòng, tăng cường công tác chính trị Muốn đảmbảo nền kinh tế được tăng trưởng vững chắc, đời sống vật chất và tinh thầnnhân dân được ổn định, không thể không quan tâm đến vấn đề quốc phòngcủa đất nước và nhu cầu cho quốc phòng đòi hỏi một khối lượng vận tải rấtlớn
Như vậy có thể thấy GTVT có vai trò vô cùng to lớn, đặc biệt đối vớinước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện côngcuộc đổi mới nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thìyêu cầu đầu tư phát triển giao thông vận tải được đặt ra bức thiết hơn Bởi vìtrong thời kỳ quá độ này, hàng loạt hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụtạo lợi thế cạnh tranh đang và sẽ tiếp tục được triển khai và mở rộng gópphần thực hiện các mục tiêu chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hộicủa đất nước Để thực hiện được quá trình đó, chúng ta phải tiến hành xây
Trang 13dựng, sửa chữa cải tạo, nâng cấp các công trình giao thông đạt tiêu chuẩn tốtđồng bộ
2.2 Vai trò của hệ thống giao thông đường bộ:
- Đối với vùng lãnh thổ:
Ta có thể thấy mạng lưới giao thông đường bộ góp phần quan trọngtrong việc đảm bảo lưu thông hàng hoá, giao lưu giữa các vùng hoặc trongmột vùng, giao lưu với các nước láng giềng Nhu cầu tối thiểu của con người
là ăn, mặc, ở, đi lại Muốn tiến hành bất cứ hoạt động gì thì trước hết conngười phải được thoả mãn các nhu cầu này Đường bộ đảm bảo sự đi lại, traođổi hàng hoá của nhân dân trong vùng và giao lưu giữa các vùng, tức là phục
vụ đời sống của nhân dân trong vùng Khi đường bộ phát triển, giao thôngthuận tiện thì đời sống của người dân trong vùng được cải thiện rõ rệt Giaothông trong vùng phát triển tạo ra các cơ hội, các nhà đầu tư trong nước vànước ngoài đầu tư vào vùng đó tạo việc làm, cung cấp sản phẩm hàng hoá.Không những thế các tiềm năng trong vùng được khơi dậy, khai thác có hiệuquả sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế- xã hội của toàn vùng Tuy nhiên, do điềukiện tự nhiên xã hội mỗi vùng khác nhau nên trong quá trình phát triển sẽ có
sự phát triển không đồng đều Khi có giao thông nối giữa vùng phát triển vàkém phát triển tạo ra sự trao đổi hàng hoá, sức lao động, văn hoá giữa cácvùng Điều này có thể phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng và tạođiều kiện tiền đề cho chuyên môn hoá, hợp tác hoá từ đó tạo ra sự phát triểnđồng đều Đối với vấn đề kinh tế vùng, đường bộ góp phần nâng cao đời sốngcủa người dân, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế
- Đường bộ với vấn đề liên ngành:
Việc phát triển giao thông đường bộ sẽ kéo theo sự phát triển của cácngành có liên quan Khi đầu tư cho đường bộ đòi hỏi có yếu tố đầu vào như:máy móc, đá, cát sỏi, nhựa đường, xi măng, sức lao động Những yếu tố đầuvào này lại đặt ra nhu cầu cho các ngành khai thác: ngành chế tạo máy, côngnghiệp nhựa đường và công nghiệp khai thác đá Như vậy, hàng năm nhu cầu
Trang 14làm đường mới hoặc sửa chữa nâng cấp một đơn vị đường bộ sẽ đặt ra nhucầu phát triển các ngành công nghiệp phục vụ cho nó Đến lượt các ngànhnày lại đặt ra nhu cầu phát triển cho các ngành khác: chế tạo máy, đặt ra nhucầu cho luyện kim, công nghiệp nhựa đường đặt ra nhu cầu cho công nghiệp
hoá dầu Đó chính là mối liên kết ngược giữa các ngành Song mối liên kết
ngược đó không chỉ dừng lại ở bước thứ hai như đã nêu mà nó còn tiếp tụcvới các ngành sau Cứ một ngành phát triển nó lại tạo ra nhu cầu cho cácngành khác và cuối cùng tạo thành một chuỗi mắt xích, một hệ thống nền
công nghiệp Về liên kết xuôi: khi có hệ thống đường bộ tốt, các ngành sản
xuất được hưởng lợi ích Khi một tuyến đường mới được xây dựng, các dịch
vụ vận tải trên tuyến đường đó cũng được hình thành theo
- Đường bộ với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp Vì vậy tăng doanhthu bán hàng, giảm chi phí luôn là nỗi trăn trở của chủ doanh nghiệp Doanhnghiệp sẽ tìm mọi cách để tối thiểu hoá chi phí trong đó có cả chi phí vậnchuyển Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp muốn đầu tư ở nhữngnơi giao thông thuận tiện hoặc gần nơi cung cấp nguyên liệu hoặc gần thịtrường tiêu thụ Vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ chiếm tỷ trọng lớn; Dovậy, khi mạng lưới giao thông đường bộ thuận tiện, thông suốt thì chi phí vậnchuyển của doanh nghiệp giảm, chi phí bảo quản giảm, đảm bảo đúng thờigian, giảm lượng hàng tồn kho và phế phẩm Mặt khác, khi vận chuyển nhanhdoanh nghiệp có thể áp dụng hệ thống cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sảnphẩm theo nguyên tắc: cung cấp đúng nơi, đúng lúc, kịp thời, không có tồnkho, dự trữ, giảm chi phí quản lý, bảo quản góp phần làm tối thiểu hoá chiphí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận Không chỉ có vậy, khi đường bộ pháttriển, hàng hoá vận chuyển nhanh hơn, làm vòng quay của vốn nhanh, từ đó
mà tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Như vậy, rõ ràng là đường bộ góp phần đảm bảo sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp liên tục có hiệu quả
Trang 15- Đường bộ với đô thị hoá và công nghiệp hoá:
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, trong những năm quacông nghiệp nước ta phát triển mạnh mẽ và tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanhchóng Hiện tượng di dân từ nông thôn ra các đô thị lớn, cộng với sự pháttriển của công nghiệp, dịch vụ đã làm cho các đô thị này ngày càng phình ra.Tình trạng này gây ra hàng loạt các vấn đề bức xúc cho các đô thị như: môisinh, môi trường và các điều kiện sinh hoạt khác của con người Nguyênnhân căn bản là do nông thôn thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khókhăn Để giải quyết tình trạng này cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng một cách hữuhiệu trong đó đầu tư phát triển đường bộ chiếm vị trí quan trọng Đầu tư vàocác trục giao thông quan trọng nối liền các khu vực phát triển Tại các trụcđường này sẽ hình thành các khu công nghiệp, các khu này sẽ thu hút laođộng nông thôn và kéo giãn lao động ở các đô thị lớn, đồng thời tạo nên tiềmlực công nghiệp cho nước nhà Tại các nút giao thông hình thành các đô thịmới để tiêu thụ, sử dụng các dịch vụ về sản phẩm nông nghiệp, đồng thờihình thành một số ngành tiểu thủ công mới hoặc khôi phục các nghề thủ côngtruyền thống, thu hút lao động ra khỏi nông nghiệp mà không gây sức ép chonền kinh tế Không những thế, nó còn tạo điều kiện cho việc dịch chuyển cơcấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - nôngnghiệp - dịch vụ rồi tới dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Như vậy ta cóthể vừa giải quyết lao động tại chỗ, tăng thu nhập cho người dân, đồng thờithực hiện được chủ trương “Ly nông không ly thôn” Với ý nghĩa như vậy,đường bộ đã góp phần vào công nghiệp hoá, đô thị hoá nền kinh tế đất nước
- Đường bộ với phát triển nông thôn:
Nước ta dân số sống ở nông thôn chiếm tỷ lệ lớn (có tới hơn 2 phần 3dân số) so với mức thu nhập bình quân theo đầu người là 200.000 đồng/tháng, trong đó có những hộ nghèo với thu nhập là 100.130 đồng/ tháng Đểcải thiện mức sống cho một bộ phận lớn dân số sống ở nông thôn Chính Phủ
đã có chương trình xoá đói giảm nghèo cho nông dân Song hiện nay, nhiệm
Trang 16vụ nặng nề được đặt ra là ở cơ sở hạ tầng giao thông các dịch vụ phục vụcho nông nghiệp phải được cải thiện để tạo môi trường cho nông dân biếnnông sản thành hàng hoá Có thể thấy là những năm trước sản xuất nôngnghiệp Việt Nam mang nặng tính tự cấp tự túc Mấy năm trở lại đây tình hình
có khá lên, người nông dân đã bắt đầu sản xuất theo hướng thị trường Nềnkinh tế hàng hoá đã xâm nhập vào nông thôn Tuy vậy, bước vào cơ chế thịtrường với sự cạnh tranh mạnh mẽ, người sản xuất gặp phải hàng loạt các vấn
đề bức xúc: thị trường, thông tin, giá cả Do chưa tiếp cận trực tiếp và dựđoán được dung lượng thị trường nên vào các lúc đông vụ giá sản phẩm nôngnghiệp hạ tới mức thấp nhất, gây thiệt hại lớn cho nông dân Giải quyết vấn
đề này như thế nào? có hàng loạt các biện pháp trong đó phát triển giao thôngnông thôn, nối liền tỉnh lộ là một biện pháp Giao thông thuận tiện, ngườinông dân tiếp cận với thị trường trực tiếp xác định được nhu cầu thị trường,tránh được tình trạng dư cung Không những thế, vận chuyển hàng hoá cũngthuận tiện hơn Các sản phẩm nông nghiệp thường khó bảo quản, dễ hỏng,dập nát; Với giải pháp này sẽ làm giảm được tình trạng ngừng trệ trong traođổi hàng hoá, vì vậy mà giảm được lãng phí hàng hoá Vận chuyển nhanhgóp phần làm tăng tỷ xuất hàng hoá và tăng giá trị nông sản, từ đó tăng thunhập cho họ, có điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mình Từ việc tăng thunhập dẫn tới sự giao lưu rộng rãi, văn hoá, văn minh cũng tràn về nông thôn,cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân Với sự đóng góp vào tốc
độ đô thị hoá của đường bộ cùng với sự gia tăng đầu tư vào nông thôn, mởmang các ngành nghề phụ, thu nhập của nông dân cũng tăng lên Điều này sẽthu hẹp được sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn và như vậy, một vấn
đề bất cập trong phát triển kinh tế được giải quyết
- Đường bộ với vấn đề dân tộc:
Vấn đề dân tộc đang nổi cộm ở các quốc gia trên thế giới hiện nay.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này Đảng ta chủ trương đoàn kết,hoà hợp giữa các dân tộc, mở rộng quan hệ giao lưu, giảm bớt khoảng cách
Trang 17giữa các vùng dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa với các vùng khác Thựchiện các chủ trương này Đảng và Nhà nước ta đã có chính sách ưu tiên, ưuđãi với vùng dân tộc, đặc biệt là nghị quyết 22 của Bộ Chính trị Để khuyếnkhích đầu tư vào vấn đề này giao thông đường bộ trở nên hết sức quan trọng
vì đây là loại hình giao thông gần như duy nhất tới các vùng dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa Phát triển mạng lưới đường bộ, tạo ra sự giao lưu giữamiền núi, miền xuôi và giữa các dân tộc Điều này tạo ra cơ hội làm ăn chođồng bào dân tộc có thể phát triển sắc tộc, phát triển những truyền thống vănhoá riêng Hơn thế nữa, ta còn có thể khai thác tiềm năng du lịch và các dịch
vụ khác, mở rộng giao lưu văn hoá, tạo thành một xã hội có nền văn hoá theosắc tộc muôn màu muôn vẻ nhưng lại hoà hợp trong đại cộng đồng ngườiViệt Nam
- Đường bộ với an ninh quốc phòng:
Hệ thống đường bộ phân bổ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu phát triểnkinh tế Song để sản xuất được an toàn thì an ninh phải vững chắc Vì vậy màđường bộ nước ta còn phân bổ thành các tuyến phòng thủ quốc gia và cácđường an toàn khu Các đường này đặc biệt có ý nghĩa khi chiến tranh xảy ra
Ví dụ như trong kháng chiến chống Pháp đường an toàn khu có tác dụng lớntrong việc bảo vệ chiến khu Việt Bắc Trong kháng chiến chống Mỹ, đườngmòn Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn giúp cho cuộc chiến tranh tiến đến thắnglợi Đường bộ còn là cầu nối quan trọng giữa hậu phương và tiền tuyến, gópphần vào chiến thắng của hai cuộc chiến tranh Trong thời bình các tuyếnđường này vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa quốc phòng và công tácchính trị ngoại giao, đảm bảo an ninh vững chắc cho tổ quốc, chống lại sựxâm lược, đem lại sự bình yên cho đất nước
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống giao thông đường bộ và vai trò củavốn đầu tư NSNN cho giao thông đường bộ:
3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống giao thông đường bộ:
- Nhu cầu giao thông đường bộ ngày càng tăng:
Trang 18+ Kinh tế thị trường phát triển, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế,đòi hỏi tăng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá, từ đó nhu cầu giao thôngnói chung và giao thông đường bộ nói riêng phải tăng nhanh để đáp ứng.Bảng 2: Khối lượng hành khách và hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ
giai đoạn 1995- 1999
Chỉ tiêu Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999Khối lượng hàng
Tr KháchTr.KháchKm
55,952968472,212743
62,443498517,914279
69382456715083
76,58425158515962
82,11455360916543
Nguồn: Chiến lược phát triển GTVT quốc gia đến năm 2020
Ta thấy, trong giai đoạn 1995- 1999, khối lượng hàng hoá và hànhkhách vận chuyển cũng như lưu chuyển đều tăng rất nhanh, tốc độ tăng kháđều đặn qua các năm Nếu như 1995 khối lượng hàng hoá vận chuyển mới là55,95 triệu tấn thì đến năm 1999 khối lượng hàng hóa vận chuyển đã là 82,11triệu tấn Khối lượng hành khách vận chuyển cũng tăng từ 472,2 triệu hànhkhách năm 1995 lên 609 triệu hành khách vào năm 1999
+ Do nền kinh tế tăng trưởng, dân số tăng nhanh, đặc biệt dân số đô thị
do đó nhu cầu giao thông đô thị ngày càng phát triển mạnh
- Thực trạng xuống cấp của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải:
+ Giao thông vận tải không phát triển thậm chí còn bị tàn phá nặng nề
do chiến tranh trong đó giao thông đường bộ bị ảnh hưởng lớn nhất Đảng vàNhà nước ta đã dần dần khôi phục nhưng do hạn chế về nguồn lực nên khảnăng phát triển không thể đáp ứng nhanh được Phần lớn mạng lưới đường bộđều đã cũ và hư hỏng qua những năm chiến tranh Hiện tượng sụt lở đường,
Trang 19biến dạng bề mặt đường, đường có quá nhiều ổ gà là rất phổ biến, gây nhiềukhó khăn, phiền hà, mất thời gian trong giao thông đi lại chưa kể đến tai nạngiao thông ngày một tăng cũng một phần do đường xấu (đèo, núi ) Đặc biệtvào mùa mưa lũ ngay cả trên đường quốc lộ cũng có nhiều đoạn bị ngập, áchtắc giao thông, một số cầu phà cũng không thể hoạt động được vào mùa này.Như vậy, do sự tàn phá của chiến tranh đã để lại hậu quả lớn cho sự phát triểngiao thông đường bộ Khả năng vận chuyển và vận tải đã gặp nhiều khó khănđặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa khi giao thông đường bộ chưa phát triển, phầnlớn vẫn sử dụng những con đường cũ kỹ, xuống cấp nghiêm trọng Vấn đềđặt ra là phải phát triển mạnh mẽ giao thông đường bộ khắc phục những tồntại yếu kém do chiến tranh để lại
- Vốn để đầu tư cho hạ tầng cơ sở, đặc biệt là giao thông đường bộchưa đáp ứng được yêu cầu Hiện nay, vốn cho chi phí nâng cấp cải tạo cũngnhư cho việc duy tu bảo dưỡng đang còn thiếu một cách trầm trọng, hàngnăm chỉ đạt 25% theo yêu cầu thấp nhất Ví dụ hàng năm chỉ vá láng được từ5-7% chiều dài mặt đường nhựa so với yêu cầu của chu kỳ kỹ thuật là 20-30%, rải lại mặt đường nhựa chỉ được 2-3% so với yêu cầu là 8-10% Theođánh giá của WB thì 75% đầu tư đường bộ không có trong suốt hai thập kỷgần đây, mặt khác đường xá cầu cống thì vẫn tiếp tục hư hỏng, xuống cấptheo thời gian Tình trạng như trên kéo dài đã gây những tổn thất to lớn đó làkhông những không phát triển được, không giữ được cơ sở vật chất hiện cócủa hệ thống đường bộ mà còn gây cản trở rất lớn cho sự đi lại và việc vậntải Với một ngân sách hạn hẹp như vậy thì hệ thống đường bộ hay cơ sở hạtầng nói chung đã không được đầu tư một cách thích đáng để từ đó tạo tiền đềphát triển cho các ngành kinh tế khác
- Công tác qui hoạch, kế hoạch đối với hệ thống giao thông đường bộ:Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng XHCN, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ để thực hiện chức năng quản
lý của mình Một trong những công cụ đó là chiến lược và kế hoạch Qui
Trang 20hoạch được coi là cầu nối giữa chiến lược phát triển ngành ( vùng ) với kếhoạch Chiến lược -> qui hoạch -> kế hoạch
Qui hoạch là một quá trình dài (thường từ 10- 20 năm), bắt đầu từchiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà nước sau đó qui hoạchrồi đưa ra các kế hoạch theo thứ tự ưu tiên Kế hoạch là công việc đầu tiêntạo tiền đề cho đầu tư đúng hướng Vì đầu tư cuối cùng là để thực hiện cácmục tiêu theo thứ tự ưu tiên mà kế hoạch đề ra Tuy nhiên, trong những nămqua công tác này vẫn tiến hành một cách rất chậm chạp Đặc biệt là quyhoạch phát triển đường bộ cho toàn ngành, cho các vùng kinh tế trọng điểm
và các đô thị lớn Quy hoạch này được gắn kết với các quy hoạch sản xuất vàdịch vụ khác như quy hoạch phát triển công nghiệp, nông nghiệp, đô thị, dulịch Tất cả các quy hoạch này đang được các Bộ và các địa phương xâydựng dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Nhưng không thể cứ chờ có quy hoạchmới đưa ra kế hoạch, hiện nay kế hoạch 5 năm vẫn được lập nhưng dựa trênđịnh hướng phát triển kinh tế- xã hội của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảngcộng sản Việt Nam, các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của vùng lãnh thổ,các địa phương Từ các định hướng, kế hoạch này mới xây dựng kế hoạchcủa các Bộ và các địa phương Tuy nhiên các qui hoạch tổng thể chỉ mangtính chất định hướng hoặc không được điều chỉnh cụ thể, thường xuyên vì thếcác kế hoạch 5 năm có thể bị vỡ không hoàn thành Các kế hoạch hàng nămmột mặt phải dựa vào kế hoạch 5 năm mặt khác phải dựa trên các cân đốihàng năm, do vậy mà đầu tư còn mang tính gián đoạn Các dự án đầu tư bố trítrong kế hoạch phụ thuộc vào cân đối kế hoạch hàng năm vậy nên một số dự
án đầu tư không đảm bảo được yêu cầu tiến độ Một số dự án đầu tư lớn,năng lực thiết kế lớn hơn nhu cầu đầu tư thực tế làm tăng năng lực huy độngvốn và gây sức ép đối với Ngân sách Trong khi đó, hệ thống vành đai đô thịrất căng thẳng về mật độ giao thông nhưng lại chưa được giải quyết do ngânsách còn eo hẹp Mặt khác, khi nguồn lực huy động được để đầu tư củaChính Phủ dồi dào thì chỉ việc liệt kê các dự án hợp pháp, căn cứ vào tổng dự
Trang 21toán và thời gian thực hiện để chia hết nguồn vốn theo các kỳ kế hoạch,nhưng nguồn lực có hạn, thậm chí rất hạn hẹp lại xảy ra hiện tượng xếp hàngđầu tư, cắt giảm dự án, do đó, việc bố trí không theo qui hoạch là rất tuỳ tiện.
Do quy hoạch không có cho nên không có hướng ưu tiên phát triển và khônglập ra được thứ tự ưu tiên Dẫn tới ta phải lựa chọn các dự án để đưa vào kếhoạch là các dự báo hoặc kế hoạch ngắn hạn Những dự án đưa vào kế hoạch
mà phần lớn là các dự án nhóm B, C phải kéo dài thời gian thực hiện và dự
án chậm thực hiện so với tiến độ được duyệt, do đó nhiều dự án phải tăng chiphí đầu tư, dẫn tới giảm hiệu quả đầu tư một cách đáng kể
3.2 Vai trò của vốn đầu tư Ngân sách cho giao thông đường bộ:
Có thể nói vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn đầu tư cơ bản và quantrọng nhất để đầu tư phát triển hệ thống giao thông đường bộ và duy trì việcvận hành, đảm bảo giao thông trên các tuyến đường Vốn đầu tư từ NSNNchủ yếu đầu tư vào những lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, các công trình côngcộng, phúc lợi xã hội Mạng lưới giao thông vận tải nói chung, giao thôngđường bộ nói riêng là cơ sở hạ tầng của mọi quốc gia, tạo tiền đề cho côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công trình giao thông đường bộ là nhữngcông trình công cộng đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thuhồi vốn dài, lãi suất thấp Do đó, các nhà đầu tư thường không muốn vàkhông đủ sức đầu tư vào lĩnh vực này Hiện nay việc tham gia đầu tư từ cácnguồn vốn ngoài NSNN là quá ít; để đảm bảo thực hiện được các mục tiêuphát triển đất nước, Nhà nước phải sử dụng vốn đầu tư từ NSNN đầu tư chophát triển mạng lưới giao thông đường bộ Từ khó khăn về huy động vốn dẫnđến tiến độ thi công các công trình đầu tư phát triển giao thông đường bộcũng rất chậm chạp, trì trệ, một số công trình có tên trong danh mục đầu tư đãđược phê duyệt cứ phải xếp hàng mãi mới đến lượt, nhiều công trình khôngthể thực hiện được vì không đảm bảo vốn đầu tư Ngoài ra, vấn đề sử dụngvốn cho phát triển giao thông đường bộ cũng đang là vấn đề nhức nhối màcác ngành đang phải tìm cách giải quyết Đó là tình trạng thất thoát vốn do tệ
Trang 22tham ô, tham nhũng, do việc thực hiện không đúng tiến độ kỹ thuật Mà thấtthoát vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thì rất lớn gây lãng phívốn đáng phải xem xét lại
III- Sự cần thiết khách quan phải định hướng huy động và sử dụng vốn đầu tư Ngân sách Nhà nước cho giao thông đường bộ:
1 Quan điểm của Đảng về vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư từ NSNN
Võn ẵãu từ tữ Ngàn sŸch NhĂ nừốc luỏn giự vai trí chð ẵưo trongtọng nguón võn ẵãu từ cða NhĂ nừốc, trong thội gian qua đã vĂ ẵang ẵĩngvai trí quan tràng trong viẻc ẵiậu tiặt nận kinh tặ trÅn bệnh diẻn vỉ mỏ vĂ vimỏ
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quán triệt quan điểm: Vốn trong nước
là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng Trên cơ sở đó đề ra các giảipháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phù hợp với từng giai đoạn phát triểnkinh tế- xã hội của đất nước Võn ẵãu từ phŸt trièn tữ NSNN khỏng ẵíi hịiphăi chiặm vÙ trẽ ẵổc tỏn, nhừng phăi ẵð ẵè giăi quyặt ẵừỡc vản ẵậ ẵãu từcỏng cổng vĂ cŸc quyặt sŸch khŸc khi cãn thiặt Do ẵĩ, vối tý tràng nguónvõn tữ NSNN nhừ hiẻn nay ẵð ẵè NhĂ nừốc cĩ thè ẵiậu hĂnh nận kinh tặ vốiẵiậu kiẻn cĩ chẽnh sŸch cỗ cảu ẵãu từ phù hỡp Võn ẵãu từ phŸt trièn tữNSNN vữa tham gia trỳc tiặp ẵóng thội hồ trỡ võn, lĂm "cợ hẽch" ẵè thu hợtcŸc nguón võn khŸc ẵãu từ vĂo phŸt trièn săn xuảt kinh doanh vĂ hệnhthĂnh cŸc quỵ hồ trỡ ẵãu từ ẵÙa phừỗng, quỵ ẵãu từ phŸt trièn chuyÅnngĂnh ‡ày sÁ vạn lĂ nguón võn ẵĩng vai trí cỳc kỹ quan tràng trong viẻcgiăi quyặt cŸc vản ẵậ t¯ng trừờng kinh tặ- xơ hổi cða đảt nừốc Tuy nhiÅn,
mờ rổng thŸi quŸ nguón võn ẵãu từ nĂy sÁ hưn chặ vĂ lĂm thui chổt cŸckhă n¯ng cða cŸc thĂnh phãn kinh tặ khŸc M´t khŸc, nguón võn ẵãu từphŸt trièn tữ NSNN thừộng cĩ hiẻu quă kinh tặ trỳc tiặp từỗng ẵõi thảp, hiệulực quản lý còn phức tạp nÅn viẻc sứ dũng nguón võn nĂy cãn phăi ẵừỡc cànnh°c kỵ lừởng, theo quan ẵièm: ẵãu từ vĂo nhựng cỏng trệnh, dỳ Ÿn, lỉnhvỳc quan tràng cĩ ỷ nghỉa quõc gia, quõc tặ; mang tẽnh ẵÙnh hừống, cơ sở
Trang 23nền tảng cho toĂn bổ nận kinh tặ, mĂ cŸc thĂnh phãn kinh tặ khŸc khỏng
ẵð n¯ng lỳc ẵãu từ, ho´c ẵãu từ khỏng mang lưi hiẻu quă kinh tặ trỳc tiặp cao.Vốn đầu tư phát triển từ NSNN có vai trò rất quan trọng, vì vậy, hàng nămNhà nước ta giành khoảng 1/4 tổng chi NSNN cho đầu tư phát triển để tạo đà,tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Mặc dù, vốn đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước có xu hướngtăng chậm lại, nhưng trong điều kiện các nguồn vốn khác (vốn FDI, vốn đầu
tư ngoài quốc doanh) giảm mạnh chứng tỏ sự điều tiết nền kinh tế của Nhànước và vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh đang được khẳng định
2 Sự cần thiết khách quan phải định hướng huy động và sử dụng vốn đầu tưNSNN cho giao thông đường bộ
2.1- Ưu thế của giao thông đường bộ so với các loại hình giao thông khác:
- Ưu thế về sử dụng: Vận tải đường bộ mang tính cơ động linh hoạt,vận chuyển từ nơi này đến nơi kia mà không cần phương tiện khác trungchuyển, các hình thức vận tải khác không thể hoạt động như vậy được Mặtkhác, đường bộ còn hơn hẳn các ngành giao thông khác về vận chuyển tầmngắn và trung bình Nhu cầu vận chuyển đường bộ lớn hơn hẳn các phươngthức vận tải khác Hơn thế nữa vận chuyển đường bộ cũng đảm bảo về tốc độ
và thời gian, thực tế do địa hình của nước ta nhiều nơi không thể có các hìnhthức vận tải khác được Từ đó vận tải đường bộ là ưu việt hơn hẳn
- Ưu thế về giá cước vận chuyển: Tuy về tốc độ vận tải đường bộ chậmhơn hàng không nhưng giá cước lại rẻ hơn rất nhiều; so với các phương thứcvận tải khác như đường sắt, đường thuỷ thì vận tải đường bộ có giá cước caohơn, song sự chênh lệch cũng không lớn lắm, và xét về chi phí cơ hội thì vậntải đường bộ vẫn ưu việt nhất
- Về đa dạng sử dụng và sự linh hoạt: Không như các lĩnh vực giaothông khác, giao thông đường bộ không chỉ phục vụ cho một loại phươngtiện vận tải là ô tô mà nó còn phục vụ nhiều nhu cầu vận tải bằng các phươngtiện khác như xe máy, xe đạp, đi bộ nhất là trong điều kiện nước ta chưa có
Trang 24nhiều mạng lưới cao tốc và có sự lẫn lộn của phương tiện thô sơ và cơ giớikhác Các lĩnh vực giao thông khác như đường sắt chỉ phục vụ cho một loạiphương tiện là tầu hoả, đường thuỷ và đường hàng không cũng vậy Sự đadạng của phương tiện vận tải đường bộ sẽ kéo theo sự tăng lên về số lượng,nhu cầu vận tải Mặt khác, vận chuyển bằng máy bay, tầu thuỷ, tầu hoả cuốicùng cũng có điểm dừng tại các ga, các cảng mà không đến thẳng được điểmdừng cuối cùng, từ các ga, các cảng này lại phải vận chuyển tới đích cuốicùng thông qua đường bộ Các phương tiện hiện nay dù vận chuyển thế nàothì vẫn bị gián đoạn và phải nối tiếp bằng đường bộ Còn vận chuyển đường
bộ không bị gián đoạn mà có thể vận chuyển thẳng từ điểm xuất phát tới đíchcuối cùng Trong khi các phương tiện vận chuyển khác có thể phải bốc dỡhàng hoá đến mấy lần trong cả quãng đường thì vận tải đường bộ chỉ phảibốc dỡ có một lần Một điểm khác nữa là các phương tiện vận tải khác phụthuộc khá lớn vào hệ thống điều khiển và điều kiện tự nhiên: Máy bay phụthuộc vào hệ thống điều hành bay dưới đất, tầu hoả phụ thuộc vào thông tin
về đoạn đường, sương mù có thể trì hoãn một chuyến bay, một cơn bão làmdừng một chuyến đi biển, về mùa khô vận tải đường sông gặp nhiều khókhăn, thậm chí không sử dụng được Trong khi đó đường bộ vẫn có thể tiếnhành được, vận tải đường bộ cũng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên song sựphụ thuộc này không quá chặt chẽ
- Về phương thức xây dựng đối với hệ thống đường bộ cũng rất đadạng và phong phú Đường cấp hạng kỹ thuật cao, đòi hỏi thiết kế thi côngphức tạp do Nhà nước đảm nhận Đường cấp thấp hơn có thể do địa phươngxây dựng quản lý Những con đường huyện, xã nhân dân có thể tự góp vốn và
bỏ sức ra xây dựng
- Sự thuận tiện trong đầu tư:
Xét về đầu tư xây dựng thi công, công trình đường bộ dễ xây dựng hơn
cả so với các loại hình khác Chúng không đòi hỏi một công nghệ xây dựngcao siêu hoặc một sự tiêu chuẩn hoá chặt chẽ như hàng không, cảng biển
Trang 25Đặc biệt về vốn đầu tư ta có thể đầu tư tuỳ theo khả năng và yêu cầu của sựphát triển, có thể phân kỳ thành nhiều giai đoạn mà vẫn đảm bảo được yêucầu vận tải tối thiểu Các điều kiện để xây dựng cũng rất thuận lợi vì nó thíchhợp với nhiều cấp hạng kỹ thuật của đường Từ đường cấp I, II, III, IV, V đếncác đường liên huyện, xã đều có vai trò trong phát triển kinh tế và đời sốngcủa nhân dân trong khu vực
Bên cạnh tính ưu việt của giao thông đường bộ, chúng ta không thểkhông nói đến nhược điểm của nó Việc phát triển giao thông đường bộ kéotheo sự phát triển của các phương thức vận tải ô tô, xe máy Đặc biệt ở nhữngkhu có mật độ giao thông cao, mức độ ô nhiễm do khí thải vượt quá quy địnhcho phép, gây ô nhiễm môi trường, vấn đề an toàn giao thông cũng sẽ khôngđảm bảo Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể thấy việc phát triển giao thông đường
bộ là rất cần thiết nhờ tính ưu việt của nó
2.2- Tình trạng yếu kém của hệ thống đường bộ:
Do tình trạng xuống cấp, yếu, kém của hệ thống đường bộ đã gây tổnthất về kinh tế lớn, gây lãng phí rất nhiều Ước tính làm tăng thêm chi phí vậnhành xe cộ, có khi cao nhất lên tới 80% (tuỳ theo điều kiện đường mà xe sửdụng) tổn thất khoảng 160 triệu US$ một năm Hơn nữa nếu hệ thống đường
bộ không được bảo trì, duy tu thường xuyên, thì cuối cùng cũng phải sửachữa cải tạo với chi phí cao hơn nhiều, gấp hơn 3 lần ( 200 000 US$/km chođường trải nhựa trong giai đoạn 15 năm, so với chi phí duy tu là 60000US$/km)
Thiệt hại do đường xấu gây nên cho nền kinh tế là vô cùng to lớn.Bằng chứng là trước khi có chương trình cải tạo đường bộ, chi phí vận tải từnăm 1986 đến năm 1991 tăng lên Trong giai đoạn đó, chi phí vận tải hànghoá tăng theo hệ số 2,7 so với giá cả nói chung Sau khi tăng cường cải tạođường bộ trong giai đoạn 1991 - 1996 chi phí này đã tăng chậm lại ở mức hệ
số là 1,8 Ngoài ra, nên lưu ý rằng chi phí gia tăng này không được phân phốiđồng đều trong cả nước Những vùng có mạng lưới đường tương đối tốt ( tức
Trang 26là hai vùng kinh tế ở phía Bắc và phía Nam) có chi phí vận hành xe cộ thấphơn so với những vùng có mạng lưới đường yếu kém, tức là các tỉnh và vùngnông thôn Chi phí vận tải cao hơn cũng có tác dụng giống như đánh một loạithuế: nó thường có xu hướng làm tăng chi phí cho hàng hoá và dịch vụ cóxuất xứ và đích đến là những vùng có mạng lưới đường xấu, vùng kinh tế khókhăn và do vậy lại càng làm tăng chênh lệch giữa các vùng kinh tế trọng điểmvới phần còn lại của đất nước
2.3- Thực hiện mục tiêu đầu tư nâng cấp đường bộ, đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn:
Cải tạo và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ đã cũ nát làmột trong các mục tiêu kinh tế chính trong chương trình “Đầu tư công cộng”của Chính phủ giai đoạn 1996-2000 Muốn thực hiện được mục tiêu củaChính phủ, cải tạo nâng cấp, hiện đại hoá đường bộ, cần phải có vốn đầu tưlớn Trong chiến lược phát triển kinh tế, cần phải ưu tiên cho phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông ở ba vùng kinh tế chiến lược, tức là tam giác Hà Nội- HảiPhòng- Quảng Ninh ở miền Bắc, Huế- Đà Nẵng ở miền Trung và TP Hồ ChíMinh- Vũng Tàu ở miền Nam ( năm 1997 những vùng này tạo ra 75% GDPcủa đất nước, thu hút trên 80% vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, và chiếm75% trong xuất nhập khẩu của đất nước); tạo gắn kết với các nước lánggiềng, liên kết các hệ thống giao thông, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị và cácdịch vụ giao thông công cộng để giảm ách tắc
Những mục tiêu này là rất to lớn và đòi hỏi một chương trình kế hoạchđầu tư lớn Các dự án đầu tư chính vào giao thông như cải tạo quốc lộ 5, 10,
và 18 ở tam giác tăng trưởng phía Bắc, quốc lộ 1 (nối Hà Nội và TP Hồ ChíMinh) cho thấy sự ưu tiên của Chính phủ trong việc quan tâm đến giao thôngđường bộ Ngoài ra còn một số hoạt động như sửa chữa, cải tạo nâng cấp đểduy trì hoạt động giao thông vận tải Việc cải tiến giao thông đô thị cho đếnnay còn rất chậm, nhận được vốn tài trợ không đáng kể, có nguy cơ tắc nghẽnnghiêm trọng nếu không sớm có biện pháp Tiến bộ trong cải thiện mạng lưới
Trang 27đường giao thông nông thôn vẫn còn chậm, nó phản ánh hạn chế về vốn củaChính phủ.
Theo đánh giá tỷ lệ thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư XDCB làtương đối lớn Sự thất thoát này nằm rải rác ở nhiều khâu Chỉ riêng khâukiểm tra dự toán, phiếu giá (đã được cấp có thẩm quyền thẩm định và phêduyệt) trong 4 năm 1995-1998, hệ thống Tổng cục Đầu tư phát triển đã khôngchấp nhận thanh toán gần 2.000 tỷ đồng, xấp xỉ 3% giá trị đề nghị thanh toán.Việc đánh giá chính xác tỷ lệ thất thoát, lãng phí là rất khó khăn do cơ chế,chính sách quản lý chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, chất lượng tư vấn đầu tư xâydựng thấp Đây cũng chính là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 - 2000.
I- Tổng quan về sự phát triển của mạng lưới giao thông đường bộ:
Sau hơn 10 năm đổi mới, giao thông đường bộ nước ta đã có nhữngbước phát triển đáng kể Vận tải đường bộ đã phần nào đáp ứng được nhu cầuphát triển kinh tế- xã hội, giảm tình trạng ách tắc ở một số thành phố lớn Đây
là kết quả của việc tập trung đầu tư khôi phục, nâng cấp hệ thống giao thôngđường bộ hiện có, kết hợp với những chính sách phát triển giao thông vận tảiđường bộ một cách đúng đắn
1- Về cơ sở hạ tầng:
Mạng lưới giao thông đường bộ của nước ta hiện có tổng chiều dài:207,254 km, bao gồm: Quốc lộ: 15.284 km (chiếm 7,73%); Tỉnh lộ:16.403,50km(chiếm 8%); Đường huyện: 36.905 km (chiếm 17,8%); Đường xã:~130.000 km (chiếm 62,8%); Đường đô thị: 3.211 km (chiếm 1,6%); Đườngchuyên dùng: 5.451km (chiếm 6,2%) Về độ bao phủ, mạng lưới này có thể
so sánh với các nước láng giềng và các nước ASEAN khác Với mật độđường trên 100 km vuông là 21,9 km, Việt Nam đạt cùng trình độ với nhữngnước ASEAN phát triển (như Thái Lan, Phi-lip-pin, Bru-nêy) Tuy nhiên vềchất lượng thì mạng lưới đường bộ của Việt Nam vào loại kém nhất: chỉ có42% đường cấp một (quốc lộ và tỉnh lộ) và khoảng 4% đường cấp huyện vàcấp xã được trải nhựa Hiện nay Việt Nam chưa có đường bộ cao tốc, trongkhi đó nhiều nước trong khu vực đã có đường cao tốc như Singapore,
Trang 29Malaysia, Thái Lan (trong đó có những nước có đường cao tốc chiếm tỷ lệcao so với tổng chiều dài đường bộ như Singapore đạt 4,4%) Các cuộc khảosát chỉ ra rằng gần một nửa mạng lưới đường bộ quốc gia ở trong tình trạngyếu kém và rất yếu kém, một phần tư số cầu có tải trọng đã giảm sút, cầnđược cải tạo hoặc thay thế Tình hình đối với mạng lưới đường liên huyện vàliên xã còn tồi tệ hơn thế, 9% đường nông thôn là đường trải đá ong hoặcđường đất trong tình trạng xấu và dễ bị ngập vào mùa mưa Ngoài ra trên 600
xã vẫn chưa có đường cho xe cơ giới đi đến các trung tâm huyện, 12% dân sốnông thôn không được tiếp cận với các phương tiện giao thông cơ giới và trên
100000 km đường bộ cấp địa phương chỉ dùng được vào mùa khô
- Mật độ đường:
Mật độ đường nói chung (không kể đường xã và đường chuyên dùng)
so với diện tích và dân số là 21,9 km /100km2 và 0,96 km/1000 dân
Mật độ quốc lộ 4,43km/ 100km2 và 0,19km/1000 dân
- Tỷ lệ được trải mặt:
Các tuyến đường có tỷ lệ được trải nhựa còn thấp Toàn mạng lưới chỉ
có 15,5% chiều dài đường được trải nhựa, còn lại là đường đá cấp phối, đất.Các quốc lộ cũng chỉ có 60% (8987 km), đường tỉnh có 30% (3960 km) vàđường huyện có 10%, đường xã có 2% được trải nhựa
- Bề rộng mặt đường:
Đường có bề rộng mặt đường hai làn xe (mặt 7m) trở lên còn ít, ngaytrên hệ thống quốc lộ cũng chỉ chiếm 62% Chủ yếu là đường một làn xe (mặt3-3,5m)
Trang 30cầu, phải vượt sông bằng phà hoặc đường tràn Hiện nay, trên các quốc lộ vàtỉnh lộ còn 115 bến phà và hơn 1.500 đường tràn.
- Đánh giá chung về chất lượng cầu đường: So với những năm đầu củathập kỷ 90, chất lượng cầu đường của Việt Nam đã được nâng lên một bước:+ Đường tốt chiếm: 10%
+ Đường khá và trung bình chiếm: 45%
+ Đường xấu chiếm: 21%
+ Đường rất xấu chiếm: 24%.ng r t x u chi m: 24%.ất xấu chiếm: 24% ất xấu chiếm: 24% ếm: 24%
Trang 33luËn v¨n tèt nghiÖp nguyÔn tiÕn minh
2- Hiện trạng về vận tải
- Khối lượng vận chuyển:
Khối lượng hàng hoá, hành khách vận chuyển bằng đường bộ giai đoạn1991-1999 chiếm tỷ trọng cao, trên 60% tấn vận chuyển hàng hoá, và xấp xỉ80% về hành khách vận chuyển so với các phương tiện vận tải khác
Tốc độ tăng trưởng vận chuyển hàng hoá, hành khách đường bộ giaiđoạn 1991-1999:
+ Hàng hoá: 11,88%/ năm
+ Hành khách: 7,5%/ năm
So với tốc độ tăng trưởng GDP:
Tỷ lệ (trung bình) giữa tốc độ tăng trưởng khối lượng vận chuyển hànghoá, hành khách bằng đường bộ và tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991-1999:
Khi GDP tăng 1% thì:
+ Hàng hoá tăng: 1,50%
+ Hành khách tăng: 1,11%
- Phương tiện vận tải cơ giới đường bộ:
Bảng 4: Số lượng, tăng trưởng và cơ cấu phương tiện vận tải đường bộ
Năm Tổng số
( Chiếc )
So sánhgia tăng (%)
Ô tô
So sánh gia tăng (%)
Môtô
So sánh gia tăng(%)
(Bộ Giao thông vận tải)
- Tải trọng phương tiện:
Trang 34luËn v¨n tèt nghiÖp nguyÔn tiÕn minh
Tải trọng bình quân phương tiện đường bộ (theo số liệu khảo sát):
- Sở hữu và tổ chức vận tải
Theo số liệu thống kê, sở hữu phương tiện kinh doanh vận tải đường bộ:+ Sở hữu nhà nước: 11%
+ Sở hữu tư nhân: 89%
Các loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể và tư nhân:
+ Hợp tác xã: 52,3%
+ Hộ và nhóm kinh doanh: 28,3%
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn: 5,8%
+ Công ty liên doanh nước ngoài: 1,2%
+ Doanh nghiệp tư nhân: 0,7%
+ Công ty cổ phần: 0,7%
- Tai nạn giao thông đường bộ
Một số nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông:
Lỗi do người tham gia giao thông: 78,2%
Trong đó:
Chạy quá tốc độ: 32,90%
Tránh vượt sai qui định: 32,25%
Do say rượu, bia: 8,40%
Do mệt mỏi, xử lý kém: 2,20%
Trang 35luËn v¨n tèt nghiÖp nguyÔn tiÕn minh
Tai nạn giao thông đường bộ phân theo mạng lưới đường:
TNGT xảy ra trên quốc lộ: 56,50%
TNGT xảy ra trên tỉnh lộ: 16,50%
TNGT xảy ra trên nội thành nội thị: 27,80%
Tai nạn xảy ra trên đường nông thôn: 3,60%
3- Hiện trạng phân bố đường bộ theo vùng:
* Vùng Bắc Bộ: Là vùng kinh tế được chú trọng phát triển của đất nước,
là trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước Tuy nhiên, mạng lưới đường bộchưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của vùng; Đường bộ dẫn đến cácvùng xa xôi hẻo lánh rất thưa thớt, các trục quốc lộ nối các trung tâm của vùngcòn xấu, chưa đảm bảo giao lưu thuận lợi với các vùng khác
* Vùng duyên hải Miền Trung: Có hai trục quan trọng là đường 1A và14A, có các quốc lộ thông với Lào và Campuchia, đồng thời là cửa ngõ choLào thông ra biển Đông Tuy vậy, mạng lưới giao thông đường bộ trong vùngcòn nhiều hạn chế: Quốc lộ 1 phải vượt qua đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cả những đoạn đường vượt đèo chưa được cải thiện, hạn chế năng lực lưu thôngqua các tuyến đường; Quốc lộ 1A nhiều đoạn cần phải khôi phục
* Vùng Tây Nguyên: Mạng lưới đường bộ bị chia cắt bởi nhiều núi nonhiểm trở, giao thông không thuận tiện Các tuyến đường trong vùng còn rấtthưa thớt, nhiều đường chỉ thông xe vào mùa khô, đường vào các xã còn thiếu.Các tỉnh Tây Nguyên giao lưu với các tỉnh ngoài vùng bằng quốc lộ 14B, QL
24, QL 25, QL 19, QL 26, QL 20; các quốc lộ này cũng đang xuống cấp
* Vùng Nam Bộ: Đông Nam Bộ có mạng lưới đường bộ phát triển, vậntải đường bộ thuận tiện hơn so với vùng Tây Nam Bộ Khác với Đông Nam
Bộ, phía tây có mạng lưới sông ngòi dày đặc, đường bộ kém phát triển do địachất yếu, phải vượt qua nhiều kênh rạch Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mốigiao thông liên kết với tất cả các thành phố, thị xã trong vùng, mạng lưới
Trang 36luËn v¨n tèt nghiÖp nguyÔn tiÕn minh
đường bộ ở đây khá phát triển Mạng lưới đường bộ đi sâu vào khu vực tứ giácLong Xuyên, bán đảo Cà Mau- Đồng Tháp Mười còn thưa thớt, chưa đáp ứngđược nhu cầu khai thác tiềm năng kinh tế, đặc biệt là kinh tế nuôi trồng thuỷsản
II- Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư Ngân sách Nhà nước cho giao thông đường bộ giai đoạn 1995-2000:
1 Thực trạng đầu tư NSNN cho giao thông đường bộ
Nhà nước đã có chủ trương tập trung đầu tư cho giao thông vận tải, thời
kỳ 1995-2000 vốn đầu tư cho ngành giao thông vận tải chủ yếu từ NSNN thểhiện ở tỷ trọng chi đầu tư cho GTVT trong tổng số chi đầu tư XDCB hàng nămngày một cao hơn (chiếm 23%- 27% tổng số chi đầu tư xây dựng cơ bản từNSNN ), trong đó phần lớn là tập trung đầu tư cho giao thông đường bộ (chiếmkhoảng 75%)
Bảng 5: Tỷ lệ đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông
so với tổng đầu tư toàn xã hội và GDP (đơn vị: Tỷđồng)
GDP 250000 283000 314000 330000 366000 430000Tổng đầu tư toàn
xã hội 68000 79000 97000 97000 104000 120000
% đầu tư toàn xã
hội so với GDP 27,2% 27,9% 30,9% 29,3% 28,4% 27,9%Đầu tư cho cơ sở
hạ tầng giao thông 4578,3 5261 7529,1 7588,5 9541,2 10000
% đầu tư cho GT
so với tổng đầu tư 6,73% 6,66% 7,76% 7,82% 9,17% 8,33%
% đầu tư cho giao
thông so với GDP 1,83% 1,85% 2,39% 2,29% 2,6% 2,32%
Trang 37luËn v¨n tèt nghiÖp nguyÔn tiÕn minh
(Nguồn: Bộ Tài Chính)
Từ bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thôngvận tải trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng mạnh, từ 6,73% năm 1995 lênđến 8,33% năm 2000, riêng năm 1999 là 9,17% Năm 1995 tỷ trọng đầu tư chogiao thông trong GDP là 1,83%, đến năm 2000 tỷ trọng này đã tăng lên đến2,32%, thậm chí năm 1999 là 2,6% Sự gia tăng mạnh của vốn đầu tư cho giaothông trong giai đoạn này phản ánh luồng vốn ODA vào Việt Nam đã tăng lên
và ưu tiên của nhiều nhà tài trợ cho cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông Điều đócũng nói lên Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến việc phát triển
cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho CNXH, tạotiền đề cho công cuộc đổi mới, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
Bảng 6: Tỷ lệ vốn đầu tư cho giao thông vận tải
so với tổng vốn đầu tư từ NSNN
Đơn vị: Tỷ đồng
Vốn đầu tư từ NSNN 22963 30413 40700 46000 55760 61210Vốn đầu tư cho GTVT 4578,3 5261,0 7529,1 7588,3 9541,2 10000
% đầu tư cho GTVT so với
vốn đầu tư từ NSNN 19,9% 17,3% 18,5% 16,5% 17,1% 16,3%Đầu tư cho GT đường bộ 3342,2 3945,7 6023,3 6222,6 8014,6 8500
% so với vốn đầu tư cho GT 73% 75% 80% 82% 84% 85%
% so với vốn đầu tư từ
Trang 38luËn v¨n tèt nghiÖp nguyÔn tiÕn minh
đồng năm 1995 lên đến 10000 tỷ đồng năm 2000) nhưng tỷ trọng vốn đầu tưcho giao thông trong NSNN có chiều hướng giảm là do sự gia tăng mạnh củavốn ODA Liên quan đến phân bổ chi theo phân ngành trong giao thông, Chínhphủ đã thực hiện một chiến lược thống nhất ưu tiên cho cải tạo và hiện đại hoámạng lưới đường bộ chính của đất nước Ta có thể thấy vốn dành cho pháttriển giao thông đường bộ ngày một tăng cả về lượng tuyệt đối (tăng rất mạnh
từ 3342,2 tỷ đồng năm 1995 lên 8500 tỷ đồng năm 2000) và tỷ trọng (chiếm tỷtrọng ngày càng cao: 73% năm 1995 đến năm 2000 đã tăng lên đến 85%) sovới tổng vốn đầu tư dành cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông Điều nàyphản ánh sự gia tăng thực hiện những chương trình đầu tư đường bộ lớn ở cấpquốc gia
2 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phân bổ cho giao thông đường bộ
Thời kỳ 1995-2000 vốn đầu tư cho ngành giao thông đường bộ chủ yếuđầu tư từ hai nguồn cơ bản là vốn trong nước và vốn ODA đầu tư theo quanđiểm: Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng Đặc điểmcủa ngành giao thông là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội và cóthời gian hoàn vốn lâu, nhiều công trình không thể tính một cách cụ thể hiệuquả Do vậy vốn từ Ngân sách trong nước sử dụng cho việc xây dựng và bảo trìcác công trình phục vụ cho nhu cầu kinh tế xã hội chung, các công trình có thờigian hoàn vốn lâu hơn và khó tính được hiệu quả cụ thể Vốn ODA ( ta gọi làvốn từ Ngân sách từ nguồn vay ODA ) đầu tư vào các công trình giao thôngquan trọng, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, cókhả năng thu hồi toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư
Bảng 7: Cơ cấu vốn đầu tư cho giao thông đường bộ
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 Vốn NSNN 44,8% 38,6% 40,9% 23,4% 23,0% Vốn Khác 55,2% 61,4% 59,1% 76,6% 77,0%
( Nguồn: Bộ Tài Chính)
Trang 39luËn v¨n tèt nghiÖp nguyÔn tiÕn minh
Qua bảng số liệu trên ta thấy vốn đầu tư cho phát triển giao thông đường
bộ từ NSNN có sự thay đổi về cơ cấu: vốn NSNN giảm dần, vốn khác tăng dần( từ 55,2% năm 1996 tăng lên 77% năm 2000) Đó là do sự gia tăng mạnh củaluồng vốn ODA Tuy nhiên vốn NSNN vẫn đóng vai trò quyết định, vốn ngoàinước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các tuyến quốc lộ và một sốtuyến tỉnh lộ
Bảng 8: Chi của TW và địa phương cho giao thông
Tỷ trọng chi ngân sách địa
phương trong tổng chi cho giao
thông ( % )
Tỷ trọng chi ngân sách TW trong
tổng chi cho giao thông ( % )
4456
6436
5941
6040
Nguồn: Đánh giá chi tiêu công 2000
Tỷ lệ chi cho giao thông giữa TW và địa phương chuyển dịch theohướng có lợi cho địa phương, từ tỷ lệ 64/36 năm 1994 sang 60/40 năm 1998.Điều này cho thấy chi đầu tư và chi thường xuyên của địa phương tăng nhanhhơn Hơn một nửa chi đầu tư cho giao thông trong giai đoạn 1997- 1998 của
TW là dùng vốn ODA, còn chi của địa phương thì chủ yếu lấy vốn của Nhànước và đóng góp của dân, tuy nhiên số liệu chi cho giao thông không bao gồmphần đóng góp này Gần đây, viện trợ ODA cho địa phương đã được dùng chonhững dự án lớn nhóm A trong đó sửa chữa cơ sở hạ tầng giao thông chiếm vaitrò lớn hoặc thậm chí là chủ đạo