1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số yếu tố thuộc môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố thái nguyên, thực trạng và giải pháp phát triển

81 505 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 408,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, để tìm ra được giải pháp tốiưu cho phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì cần thiết tìm hiểu cácyếu tố thuộc môi trường sản xuất kinh doanh của DN, phát hiện xem yếu tố

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi một mặt các doanh nghiệpphải thông qua các quan hệ cung cầu, cạnh tranh, giá cả thị trường để cócăn cứ khách quan khi quyết định tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sảnxuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? mặt khác các doanhnghiệp muốn quyết định được tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản đó cònphải căn cứ vào các giới hạn cho phép của môi trường bên ngoài doanhnghiệp đã xác định như môi trường chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hoá,

xã hội giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, chính sách chế độ và môitrường kinh doanh nội bộ DN Nói cách khác là DN phải căn cứ vào môitrường vĩ mô của Nhà nước và môi trường vi mô của DN

Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ươngkhoá VII, Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nhấn mạnh “Phát triển cácloại hình doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ với công nghệ tiên tiến, vốnđầu tư ít, suất sinh lời cao thời gian thu hồi vốn nhanh với phương châmlấy ngắn nuôi dài” (Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khoá VII,trang 8) Với đường lối đổi mới kinh tế và chủ trương phát triển nền kinh

tế hàng hoá nhiều thành phần, giải phóng sức sản xuất, động viên tối đamọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho mục tiêu CNH - HĐH, tronggiai đoạn 1990 - 2000 DN vừa và nhỏ đã có bước phát triển đáng kể.Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức quan trọng trong việc pháttriển kinh tế và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội Tuy nhiên từ năm

1996 cho đến nay, do nhiều nguyên nhân các DN vừa và nhỏ Việt Nam

Trang 2

đã gặp nhiều khó khăn, sản xuất chững lại, sức mua và thị trường giảmsút, tốc độ tăng trưởng giảm Chính vì vậy, để tìm ra được giải pháp tối

ưu cho phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì cần thiết tìm hiểu cácyếu tố thuộc môi trường sản xuất kinh doanh của DN, phát hiện xem yếu

tố nào trong đó thúc đẩy, kìm hãm sự phát triển các doanh nghiệp vừa vànhỏ

Qua nghiên cứu thực tế về các DN vừa và nhỏ trên địa bàn TP TNthì điều nổi bật là đều nhỏ bé về quy mô, lộn xộn trong hoạt động quản

lý kinh doanh, lạc hậu về công nghệ Nhìn chung môi trường sản xuấtkinh doanh của các DN vừa và nhỏ trên địa bản còn nhiều bất cập Làmột sinh viên chuyên ngành QTKD tổng hợp, tôi muốn tiếp cận vấn đềnày trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Vì lẽ đó tôi chọn đề tài

“Một số yếu tố thuộc môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, thực trạng và giải pháp phát triển” để viết Luận văn tốt

nghiệp

Kết cấu của chuyên đề như sau:

Phần mở đầu

Chương I: Những vấn đề cơ sở lý luận

Chương II: Thực trạng môi trường sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố TháiNguyên

Chương III: Giải pháp cải thiện một số yếu tố thuộc môi trường sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địabàn TP TN

Trang 3

Phần kết luận

Tác giải xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo TS TrầnViệt Lâm người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận vănnày Đồng thời tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáoTrung tâm đào tạo QTKDTH, những người đã truyền đạt cho tác giảnhững kiến thức quý báu trong thời gian học tập tại trung tâm

Do còn hạn chế về thời gian, kiến thức, số liệu thực tế nên Luậnvăn không thể tránh khỏi những hạn chế, sai sót Tác giả kính mongnhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo

Hà Nội ngày 26 tháng 04 năm 2001

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 4

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

I GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1 Khái niệm chung về doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhânnhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, trao đổi hàng hoá vàdịch vụ trên thị trường để tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu tài sản củadoanh nghiệp Như vậy, khi nói tới doanh nghiệp, chúng ta cần đề cậptới 4 vấn đề cơ bản là:

- Là một đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh của nền kinh tế,

- Có địa vị pháp lý (có tư cách pháp nhân),

- Nhiệm vụ: sản xuất, cung ứng, trao đổi hàng hoá và dịch vụ trênthị trường,

- Mục tiêu: Tối đa hoá lợi nhuận cho chủ sở hữu tài sản của DNthông qua đó tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng,

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có đầy đủ các đặc điểm của doanh nghiệpnói chung nhưng để xác định được doanh nghiệp nào là doanh nghiệpvừa và nhỏ thì có thể căn cứ vào các tiêu thức nhất định

2 Các tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam còn nhiều bàn cãi tranh luận và

có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau khi đánh giá, phân loại quy môdoanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, không có tiêu thức thống nhất đểphân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ cho tất cả các nước vì điều kiện kinh

Trang 5

tế xã hội mỗi nước khác nhau và ngay trong một nước, sự phân loại cũngkhác nhau tuỳ theo từng ngành nghề, từng thời kỳ, vùng lãnh thổ.

Có hai tiêu chí phổ biến dùng để phân loại DN vừa và nhỏ: tiêu chíđịnh tính và tiêu chí định lượng

Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanhnghiệp vừa và nhỏ như: Chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít,mức độ quản lý ít phức tạp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúngbản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó, nóthường chỉ sử dụng làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà thường ítđược sử dụng để phân loại trong thực tế

Nhóm tiêu chí định lượng có thể sử dụng các tiêu chí như số laođộng, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó:

- Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, laođộng thường xuyên, lao động thực tế

- Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản(hay vốn cố định), giá trị tài sản còn lại

- Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong năm, tổng giá trị giatăng trong năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này)

Trong tiêu chí định lượng có 3 quan điểm thường được sử dụng là:

2.1 Quan điểm 1

Phân loại doanh nghiệp dựa vào số lượng lao động sử dụng Quanđiểm này gắn việc phân loại doanh nghiệp với đặc điểm kinh tế kỹ thuậtcủa từng ngành theo yếu tố lao động: Tiêu chuẩn này được sử dụng đểphân loai các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nhiều quốc gia Theo tổ chức

Trang 6

APEC, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp sử dụng dưới 50 lao động,doanh nghiệp vừa có số lao động từ 49 đến 200 người Các quốc gia có

xu hướng quy mô dân số cao thì sử dụng tiêu chuẩn số lượng lao độnglớn hơn để phân loại, xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ Ví dụ:

- Cộng hoà Liên bang Đức, các doanh nghiệp có dưới 9 lao độngđược gọi là doanh nghiệp nhỏ, có từ 10 đến 449 lao động gọi là doanhnghiệp vừa và trên 500 lao động là doanh nghiệp lớn

- Trong các nước thuộc khối EC, các doanh nghiệp có dưới 9 laođộng được gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ, có từ 10 đến 99 lao động gọi làdoanh nghiệp nhỏ, từ 100 đến 499 lao động gọi là doanh nghiệp vừa vàcác doanh nghiệp có trên 500 lao động gọi là doanh nghiệp lớn

- Australia, trong lĩnh vực sản xuất, doanh nghiệp có dưới 100 laođộng là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa có từ 100 đến 199 laođộng Trong lĩnh vực dịch vụ thì con số là dưới 20 và từ 20 đến 199 laođộng

- Trung Quốc, các doanh nghiệp có từ 50 đến 100 lao động là doanhnghiệp nhỏ Các doanh nghiệp vừa là các doanh nghiệp có từ 101 đến

- Hàn Quốc, trong lĩnh vực sản xuất, khai thác mỏ, giao thông vậntải, doanh nghiệp có dưới 300 lao động là doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 7

Trong lĩnh vực xây dựng là dưới 200 lao động, trong lĩnh vực dịch vụ làdưới 20 lao động.

- Liên bang Nga, doanh nghiệp có từ 1 đến 249 lao động là doanhnghiệp nhỏ, có từ 250 đến 999 lao động là doanh nghiệp vừa

2.2 Quan điểm 2

Phân loại doanh nghiệp theo các tiêu thức số lượng lao động vàvốn, gắn với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành Các nước theoquan điểm này gồm Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan

Bảng 1.1: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Nhật Bản Dưới 300 lao động Dưới 100 triệu yên (1 triệu USD) cho các

doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệpchế biến và khai thác

Malaysia Dưới 50 lao động Vốn cố định dưới 500.000 Ringgit

(khoảng 145.000 USD)

2.3 Quan điểm 3:

Phân loại doanh nghiệp dựa vào số lượng lao động, vốn và doanhthu, theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành

Trang 8

Bảng 1.2: So sánh các tiêu thức phân loại SMEs của các thành viên tổ chức APEC

Nền kinh tế Số lượng lao động Tổng tài sản Doanh thu

Australia < 199 lao động

Brunei < 100 lao động

Trung Quốc < 500 lao động

Đài Loan < 200 lao động < 60 triệu tệ cho các SME

trong lĩnh vực khai thác, sản xuất và xây dựng

< 80 triệu nhân dân tệ

Hồng Kông < 100 lao động

Nhật Bản < 300 lao động trong

lĩnh vực xây dựng, sản xuất và CN nặng <

100 lao động trong các lĩnh vực khác

DN vừa Malaysia < 150 lao động trong

lĩnh vực sản xuất

< 25 tr Ringgit (RM) trong lĩnh vực sản xuất

Mexico < 250 lao động

New Zealand < 50 lao động

Philippines < 199 lao động < 60 triệu D

20  80 tr won cho các SME trong lĩnh vực sản xuất

Liên bang Nga < 999 lao động

Hoa Kỳ < 500 lao động < 5 tr USD trong lĩnh

vực phi sản xuát

Nguồn: Bản sơ lược về các DN vừa và nhỏ của APEC (Uỷ ban

Kinh tế - 1998)

Mặc dù, các quốc gia đều dựa vào 3 tiêu thức chủ yếu là số lượng

lao động, vốn và doanh thu để đánh giá, phân loại doanh nghiệp, nhưng

Trang 9

các tiêu chuẩn đó lại phụ thuộc vào sự khác nhau trong mỗi quốc gia về

quy mô dân số, sự phát triển của nền kinh tế Chẳng hạn, doanh nghiệp

vừa và nhỏ ở Hoa Kỳ hoặc Canada có thể là doanh nghiệp lớn ở các

nước đang phát triển như ở Việt Nam

Ở Việt Nam đưa ra các tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ mới chỉ có tính ước lệ, bản

thân các tiêu chí đó chưa đủ để xác định thế nào là khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ Bởi vì có nhiều

quan điểm rất khác nhau về các đối tượng các chủ thể kinh doanh nào được coi là thuộc về doanh

nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, đã có một số tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.

Một số tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ được áp dụng ở Việt Nam

Cơ quan tổ chức đưa ra tiêu chí Vốn Doanh thu Lao động Ngân hàng Công Thương Việt

Nam

Vốn cố định dưới 10 tỷ đồng

Vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng

Dưới 20 tỷ đồng/tháng

Dưới 500 người

Liên bộ Lao động và Tài chính Vốn pháp định dưới 1 tỷ

đồng

Dưới 1 tỷ đồng/năm

(chương trình Việt Nam - EU)

Vốn điều lệ từ 300.000 USD

50.000-Từ 10 đến 500 người

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo từng lĩnh vực:

Lĩnh vực Vốn Lao động

Sản xuất, xây dựng

DN nhỏ Dưới 1 tỷ đồng Dưới 100 lao động

Trang 10

DN vừa Từ 1 đến 10 tỷ đồng 100 đến 500 lao động Thương mại, dịch vụ

DN nhỏ Dưới 500 triệu đồng Dưới 50 lao động

DN vừa 500 triệu đến 5 tỷ đồng 50 đến 250 lao động

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

3 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước hết thể hiện cụ thể ởmức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia: thu hút laođộng, vốn đầu tư, tạo ra giá trị gia tăng, góp phần tăng trưởng kinh tế

Ở Việt Nam, nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu là sản xuất nhỏnên doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanhnghiệp và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế,tạo việc làm, thu hút vốn, làm cho nền kinh tế năng động hơn, hiệu quảhơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

3.1 Đóng góp vào kết quả của hoạt động kinh tế

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn và đóng góp quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam khoảng 24 - 25% GDP, đã tạo ra 25% giá trịsản lượng toàn ngành công nghiệp và 54% giá trị công nghiệp địaphương vào năm 1999 Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp vào giá trịgia tăng, góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế

3.2 Tạo việc làm cho người lao động

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tếhiện thu hút khoảng 25 - 26% lực lượng lao động phi nông nghiệp của cảnước Riêng trong công nghiệp, các cơ sở kinh tế này đã thu hút 50%tổng số lao động Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm trong DN vừa

Trang 11

và nhỏ chỉ bằng 3% so với các DN lớn Điều này cho thấy vai trò đặcbiệt quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tạo ra việclàm và thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và chủ yếu bằng vốn vàtài sản của dân.

3.3 Thu hút vốn

Vốn là một nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò rấtquan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từngdoanh nghiệp Nhờ có vốn mới có thể kết hợp được với các yếu tố nhưlao động, đất đai, công nghệ, quản lý Vốn có vai trò lớn trong việc đầu

tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề Vốn có vai trò trongviệc mở rộng quy mô sản xuất Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là ngườitrực tiếp tiếp xúc với người cho vay, như anh em, họ hàng, người thân,bạn bè nên họ có khả năng rất lớn trong việc huy động vốn nhàn rỗitrong dân

3.4 Làm cho nền kinh tế năng động hiệu quả hơn

Do số lượng các doanh nghiệp tăng nhanh, làm tăng tính cạnhtranh, giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế, đồng thời làm tăng sốlượng và chủng loại hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế Ngoài ra, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ vàchuyển hướng kinh doanh nhanh làm cho nền kinh tế năng động hơn Sự

có mặt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế có tác dụng

hỗ trợ cho doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn và có khả năngthâm nhập vào mọi ngõ ngách của thị trường mà doanh nghiệp lớnkhông với tới được

3.5 Khai thác tiềm năng rất phong phú trong dân

Trang 12

Hiện nay, còn nhiều tiềm năng trong dân chưa được khai thác: tiềmnăng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, bíquyết nghề, Việc phát triển các doanh nghiệp sản xuất các ngànhtruyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong những hướng quantrọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân mà hiện đang có

xu hướng bị mai một dần, thu hút lao động ở nông thôn, phát huy lợi thếcủa từng vùng để phát triển kinh tế

Ngoài ra, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có vai trò đa dạng hoá vàtăng thu nhập của dân cư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gieomầm cho các tài năng kinh doanh

4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ

4.1 Bộ máy quản lý

Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường do chính người chủ quản lý vàkiểm soát, có một số ít thì thuê người quản lý Do quy mô không lớn nênmối quan hệ giữa ông chủ giám đốc với nhân viên là quan hệ rất thânmật gần gũi

4.2 Tiền vốn ít

Nguồn vốn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là tiền tiếtkiệm của cá nhân hay tiền vay của người thân, bạn bè Các doanh nghiệpnày rất khó vay được tiền từ ngân hàng và các định chế tài chính khác vìngân hàng luôn đòi hỏi tài sản cầm cố, thế chấp Đa số các doanhnghiệp loại này đều cho rằng tài chính là vấn đề chính yếu của họ trongđiều hành hoạt động của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp mới thành lậpthì người chủ doanh nghiệp đều cho thấy thu hồi được vốn là điều không

Trang 13

dễ dàng Còn khi thành lập và đứng vững rồi thì khả năng về tài chính sẽ

dễ dàng hơn

4.3 Số lượng lao động không nhiều

Các doanh nghiệp loại này số lượng công nhân và người chủ có thể

từ vài người đến vài chục người là nhiều Công nhân có thể là thành viêntrong gia đình và thuê thêm ở ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu công việc.Giám đốc hay người chủ của doanh nghiệp vừa và nhỏ thường kiêm toàn

bộ công việc của giám đốc sản xuất, nhân sự, marketing và nhân viênbán hàng cho khách Ông ta phải hiểu tất cả các kỹ năng giao dịchthương mại Chỉ có như vậy thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới tồn tại

và phát triển trong thời đại cạnh tranh khốc liệt này

4.4 Sổ sách kế toán tài chính không đầy đủ

Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ không tiến hành ghi chép sổ sách kếtoán một cách chính xác Ngoại trừ một số doanh nghiệp có quy mô vừa

và số lượng lao động và việc làm tương đối nhiều thì họ có ghi chép vàhạch toán cẩn thận hơn Do đặc trưng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

là làm việc cùng với người thân, quen và có thể tiến hành sản xuất kinhdoanh ngay tại nhà nên việc hạch toán lãi, thu nhập là khó vì hàng ngày

có những khoản chi vụn vặt không tiện ghi vào sổ sách

5 Các đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có 5 đặc trưng cơ bản sau:

5.1 Về hình thức sở hữu

Trang 14

Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc đủ các hình thức sở hữu: Nhànước, tập thể, tư nhân và hỗn hợp Thông thường là các doanh nghiệpngoài quốc doanh và một bộ phận quốc doanh.

bị lạc hậu tới 20 - 50 năm so với các nước trong khu vực

Năng lực công nghệ và kỹ thuật hạn chế, trang bị vốn thấp (chỉbằng 3% mức trang bị trong các doanh nghiệp CN lớn) Tỷ lệ đổi mớitrang thiết bị rất thấp nên khó có thể tránh được sự tụt hậu Ngày nay doứng dụng KHCN tiên tiến vào sản xuất kinh doanh nên đã làm cho vòngđời sản phẩm ngắn lại Do đó mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ khôngtránh được tình trạng năng suất thấp, giá thành cao, rất khó cạnh tranhtrên thị trường trong nước và quốc tế

Trang 15

Sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu hết tiêu thụ ở thịtrường nội địa, chất lượng sản phẩm kém, mẫu mã, bao bì còn đơn giản,sức cạnh tranh yếu Tuy nhiên, có một số ít doanh nghiệp vừa và nhỏhoạt động trong lĩnh vực chế biến nông sản có sản phẩm xuất khẩu vớigiá trị kinh tế cao.

5.5 Trình độ lao động và quản lý

Nhìn chung, trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ lao động ít đượcđào tạo trong các trường lớp chính thống mà chủ yếu theo phương pháptruyền nghề, trình độ văn hoá còn thấp Lao động ít được đào tạo taynghề và nâng cao tay nghề nên ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, năngsuất lao động thấp

Trình độ tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rấtnon kém và lạc hậu Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động độclập, việc liên doanh liên kết còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn

6 Những lợi thế và bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Những đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ khi thành lập đến

sự tuyển dụng lao động, huy động vốn, tìm địa điểm, cách tổ chức quản

lý mà chúng ta thấy được doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế vàbất lợi sau:

6.1 Lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng khởi sự và hoạt động nhậy béntheo cơ chế thị trường do vốn ít, lao động không đòi hỏi chuyên môncao, dễ hoạt động cũng như dễ rút lui khỏi lĩnh vực kinh doanh Với đặctính chu kỳ sản phẩm ngắn, các doanh nghiệp có thể mạnh dạn sử dụngvốn tự có, vay mượn bạn bè, các tổ chức để khởi sự doanh nghiệp

Trang 16

Tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất gọnnhẹ Vì vậy mà khi gặp khó khăn trong nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bànbạc và đi đến thống nhất.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ phát huy bản chất hợp tác sản xuất,chỉ tham gia vào một khâu, một quá trình sản xuất và làm vệ tinh cho cácdoanh nghiệp lớn để tránh bị đào thải

Doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp

do đó tăng hiệu suất sử dụng vốn Cho nên góp phần đáng kể tạo công ănviệc làm, giảm bớt thất nghiệp cho xã hội

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sử dụng lao động tại nhà, địa điểmtại nhà từ đó mà có thể gần gũi được khách hàng và có thể sử dụng đượccác nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương rồi phục vụ ngay cho nhu cầucủa địa phương đó

6.2 Bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn nằm trong môi trường cạnhtranh gay gắt do tính chất dễ khởi sự Nhưng nó cũng có thể bị các doanhnghiệp lớn chèn ép nên có nhiều doanh nghiệp bị phá sản

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ vì thế có những bấtlợi làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh Có nhiều hạn chế vềviệc đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp dẫn đến trình độ thành thạocủa người công nhân và trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp ở mức độthấp

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bị động và khả năng tiếp thịcòn hạn chế, khó khăn trong việc thiết lập quan hệ với bên ngoài

Trang 17

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu vốn cho nên họ không

có khả năng đầu tư theo chiều sâu, mua thiết bị mới hay mở rộng sảnxuất

Mặt khác, khi xã hội càng phát triển, việc đô thị hoá là điều đươngnhiên xảy ra Mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì khó có thể di chuyểnđịa điểm được Nếu di chuyển đi thì họ không có được những lợi thế sẵn

có về địa điểm, nhân lực, khách hàng

II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

1 Khái niệm

Môi trường kinh doanh là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhaunên có một số khái niệm về môi trường kinh doanh như sau:

- Môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố các điều kiện ảnhhưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh cóquan hệ tương tác với nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp với mức độ và chiều hướng tác động khác nhau

- Môi trường kinh doanh là để chỉ các định chế hay lực lượng ở bênngoài nhưng lại có ảnh hưởng đến thành quả hoạt động của tổ chức(doanh nghiệp) [Khái niệm môi trường trang 62 sách QTKD]

- Môi trường kinh doanh là một khung cảnh bao chùm lên hoạtđộng sản xuất kinh doanh Nó bao gồm tổng thể các nhân tố mang tínhchất khách quan và chủ quan, vận động và tương tác lẫn nhau, tác độngtrực tiếp, gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sự tácđộng này có thể thuận lợi hoặc khó khăn

Trang 18

Khái niệm môi trường kinh doanh ở đây đề cập đến là môi trườngbên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

2 Các yếu tố cấu thành của môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh bao gồm: Môi trường kinh tế Môi trườngvật chất, môi trường chính trị, môi trường xã hội, môi trường pháp lý,môi trường công nghệ

Các yếu tố cơ bản trên có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đếnhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Để các doanh nghiệp có thể phát triển thuận lợi, môi trường kinhdoanh cần phải ổn định, an toàn Các yếu tố của môi trường kinh doanhphải đồng bộ

2.1 Môi trường vật chất

Khi đề cập đến môi trường vật chất, chúng ta muốn nói tới nhữngđặc điểm tự nhiên như diện tích, vị trí, khí hậu, địa thế và tất cả mọi tàisản của cải do con người và thiên nhiên để lại

Các tổ chức kinh doanh hoạt động trong những điều kiện này vàphụ thuộc vào hệ thống cơ sở hạ tầng được xây dựng từ những của cải và

HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Yếu tố môi trường

kinh tế Yếu tố môi trường chính trị Yếu tố môi trường pháp lý

Yếu tố môi trường vật chất

Yếu tố môi trường công nghệ Yếu tố môi trường

xã hội

Trang 19

tài sản đó Như chúng ta thấy, nước, đất, khí hậu, thuỷ văn có những lúcgây cho chúng ta tai hoạ như lũ lụt, bão, động đất nhưng cũng từ đó mà

có cuộc sống Nói một cách khác thiên nhiên hay môi trường vật chất làcái nôi của cuộc sống Đối với nhiều ngành công nghiệp thì tài nguyênthiên nhiên như các loại khoáng sản , nước ngầm, lâm sản là “thức ănchủ yếu” để nuôi sống chúng Như nước ta có nhiều cảng biển tự nhiên,nhiều sông ngòi rất thuận lợi cho hoạt động thương mại, vận tải đườngbiển Các tổ chức kinh doanh sẽ rất có lợi nếu các cảng được hiện đạihoá và cải tiến để hoạt động hiệu quả hơn

Nước ta ngày càng hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhằm tạo tiền đề và thúc

đẩy cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Một đất nướcmuốn thu hút đầu tư nước ngoài vào nước mình thì bao giờ cũng phảixây dựng cơ sở hạ tầng tạo ra những hứa hẹn về đầu tư để các doanhnghiệp nước ngoài tham gia đầu tư Chính phủ đã quy hoạch các khu vựcphát triển kinh tế, các trung tâm công nghiệp, tam giác kinh tế đồng thờitừng bước đầu tư vốn hoặc gọi vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở côngnghiệp tại các khu công nghiệp định hướng

Chiến lược phát triển công nghiệp phải đi đôi với phát triển đô thị

và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nềnkinh tế Việc khai thác, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang làmột yêu cầu cấp bách, bức xúc tất yếu khách quan Có thể thấy áp lựcbảo vệ môi trường và chống lãng phí nguồn tài nguyên đang được cả thếgiới quan tâm

Cùng với sự phát triển các khu công nghiệp sẽ mọc lên nhiều thànhphố mới, khu dân cư Sự cung ứng đầy đủ và thuận tiện về điện, nước,

có tác dụng thu hút đầu tư

Trang 20

2.1.1 Điện và nước

Với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng cao, nhu cầu về điện, nước

đã gia tăng rất mạnh mẽ trong thập niên vừa qua Nhà nước đã thực hiệnnhững dự án to lớn đầu tư vào thuỷ điện và xây dựng mạng lưới phânphối nhằm giải quyết vấn đề năng lượng cho chương trình công nghiệphoá - hiện đại hoá nền kinh tế đất nước trong những năm sắp tới

Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới nên tiềm năng về nước ngọt của takhá dồi dào, lượng mưa hàng năm cao, kênh rạch sông ngòi nhiều vàtiềm năng nước ngầm cũng có trữ lượng khá lớn Nhưng việc khai thác

và sử dụng quản lý vẫn còn nhiều bất hợp lý gây lãng phí rất lớn Chínhphủ đang từng bước cải tiến lại việc quản lý và sử dụng nước có hiệuquả hơn

2.1.2 Nguồn năng lượng

Một tiềm năng rất quan trọng nữa của nước ta là nguồn năng lượng

từ dầu mỏ và khí đốt Trong 10 năm qua ngành dầu khí Việt Nam đã lớnmạnh nhanh chóng, hiện nay là ngành xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệlớn nhất cho ngân sách

Vì vậy, các doanh nghiệp là những đơn vị tiêu thu điện, nước vàcác nguồn năng lượng khác là chủ yếu Cho nên các doanh nghiệp cần điđầu trong việc bảo vệ các nguồn năng lượng này và hạn chế sự lãng phí

2.1.3 Hệ thống vận tải

Hệ thống vận tải là một phần của môi trường vật chất mà trong đódoanh nghiệp hoạt động, là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình raquyết định Nó tạo ra một mạng lưới mà con người có thể hàng ngày đi

Trang 21

từ nơi ở tới nơi làm việc và hàng hoá, nguyên liệu được phân phối đếnkhắp mọi nơi Mặt khác, hệ thống vận tải còn làm chức năng chuyên chởhàng từ nơi dư thừa đến nơi khan hiếm Tính hiệu quả của hệ thống vậntải được quyết định ở chi phí, tốc độ, sự an toàn và sự tiện lợi của nó.Một hệ thống vận tải gồm có 3 yếu tố cơ bản: Phương tiện vận tải,đường xá và các bến, bãi, nhà ga Trọng tải của xe quyết định chi phívận chuyển của mỗi đơn vị vận chuyển, điều cần thiết là tất cả cáckhoảng trống không được sử dụng sẽ phải cộng thêm vào chi phí chonên các khoảng trống phải được tận dụng để giảm chi phí.

Điều kiện tự nhiên ở nước ta có rất nhiều bất lợi trong vận chuyểnđường bộ, nhưng rất thuận lợi cho phát triển đường biển và đường sông.Chính vì vậy mà cần phải phát triển cả đường bộ, đường sông và đườnghàng không để nối liền giữa các miền và tạo đà cho phát triển kinh tế

3.4 Mạng lưới truyền thông

Mạng lưới truyền thông đang ngày càng trở nên quan trọng đối vớinền kinh tế hiện đại Nó có tác dụng đàm thoại, truyền đi văn bản, truyền

đi bưu phẩm, bức điện Trong kinh doanh ngày nay, những cuộc điệnđàm quốc tế là những điều kiện cần thiết hàng ngày Các phương tiệnviễn thông, hội nghị có thể giúp các giám đốc từ những nơi khác nhauhội họp mà không cần đến sự gặp nhau trực tiếp Những chi phí tốn kémkhi sử dụng các loại phương tiện truyền thông được bù lại cho các chiphí đi lại và thời gian Bản sao các văn bản, mẫu hàng có thể đượctruyền đi bằng máy Fax, Telex

Trong giao dịch tài chính, tốc độ trao đổi thông tin, giữa các trungtâm tài chính với nhau có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của họ,

Trang 22

bởi sự giao động tỷ giá hối đoái và giá cả thị trường tiền tệ diễn ra chỉtrong vòng một vài giây.

Mạng lưới truyền thông ở nước ta đang ngày càng được mở rộngtrên thế giới Các chương trình truyền hình đang ngày càng cung cấpthêm các thông tin về hàng hoá cho người tiêu dùng và cung cấp cho cácnhà kinh doanh các số liệu thống kê của quốc gia, máy điện toán tại cácngân hàng tạo ra sự thuận tiện trong thanh toán và nâng cao dịch vụ ngânhàng

2.2 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế là những đặc điểm của hệ thống kinh tế màtrong đó các doanh nghiệp hoạt động Trong môi trường kinh tế chúng tachủ yếu tập trung xem xét mô hình của nó bao gồm các yếu tố: Sự tăngtrưởng kinh tế, các chính sách kinh tế, những hạn chế và những khuyếnkhích được đề ra để thúc đẩy kinh tế phát triển

Việc cố gắng tìm kiếm các nhân tố của môi trường kinh tế có ýnghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp Trong những năm gần đây, chúng ta đều nhận thấy nước ta đãchuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, với

sự đa dạng hoá các thành phần kinh tế có sự điều tiết vĩ mô của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhìn nhận môi trường kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử chúng ta

sẽ thấy rõ được sự khác nhau trong cơ chế, đường lối, chính sách

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, đặc trưng nổi bật trong cơ chếnày là nền kinh tế theo lối chỉ huy, mệnh lệnh Cơ cấu kinh tế chủ yếu làkinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Kinh tế tư nhân manh mún, nhỏ

Trang 23

yếu không có tác động lớn đến nền kinh tế và ngày càng nhỏ hẹp, yếu ớt

do không được Nhà nước ưu đãi

Sản xuất nông nghiệp huy động gần như toàn bộ vào làm ăn tập thểtheo hình thức khoán 100 Vào thời kỳ này có chiến tranh ở biên giới vàbão lũ lụt xảy ra liên miên nên nền kinh tế trở nên ngày càng yếu kém

Sự viện trợ của Liên Xô (cũ) và Đông Âu ngày càng giảm Nhận thứcđược những khó khăn trên Đảng và Nhà nước đã chuyển từ khoán 100sang khoán 10 trong sản xuất nông nghiệp và từng bước đầu tư, đẩymạnh sản xuất nông nghiệp

Từ năm 1982 - 1985 nền kinh tế nước ta đã có những bước phụchồi và phát triển Cơ chế bao cấp về giá đã từng bước được xoá bỏ tronglưu thông phân phối và trong công nghiệp

Tháng 12 - 1986, nền kinh tế nước ta chính thức bước vào thời kỳđổi mới theo hướng thị trường với vai trò điều tiết của Nhà nước Duy trìnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tếquốc doanh giữ vai trò chủ đạo Đây là mốc mới trong lịch sử mà nước

ta bắt đầu tiến hành làm với chủ trương “vừa làm vừa học” Đảng lãnhđạo, nhân dân cùng làm

Trong cơ chế thị trường từ năm đổi mới tới nay, đây là giai đoạnchuyển tiếp cực kỳ quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tếnước ta Từ năm 1986 - 1990, nền kinh tế nước ta có những diễn biến hếtsức phức tạp: Lạm phát, giá cả leo thang, đời sống nhân dân nhất là cán

bộ, công nhân viên gặp nhiều khó khăn Nguồn viện trợ thì ngày càngcạn kiệt trong khi đó chúng ta chưa thiết lập được các mối quan hệ thaythế Đến cuối năm 1989 và đầy năm 1990, chính phủ đã làm và chặnđứng được “cơn sốt” lạm phát, chỉ số giá cả đang từ 3 con số/năm giảm

Trang 24

xuống ở mức một con số Và chúng ta đã tiến tới thiết lập một thị trườnghàng hoá, nguyên liệu, vật tư thống nhất trong cả nước.

Chính sách đa dạng hoá nền kinh tế đã phát huy tác dụng, khu vựckinh tế tư nhân phát triển khá nhanh và ngày càng đóng vai trò quantrọng trong nền kinh tế quốc dân

Bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế ngày càng được tinh giảm vànâng cao

Năm 1991 là năm có ý nghĩa đối với nền kinh tế nước ta Lần đầutiên nước ta xuất khẩu được 1 triệu tấn gạo đứng thứ ba trên thế giới và

là năm đầu tiên nước ta có kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhập khẩu.Chính sách kinh tế “Đổi mới” ngày càng tỏ đúng đắn, Nhà nướctừng bước xoá dần chính sách bù lỗ cho các doanh nghiệp Nhà nước.Đặc biệt trong những năm gần đây, vai trò của Nhà nước đã pháthuy được cả về chính trị, kinh tế và ngoại giao Việt Nam muốn làm bạnvới tất cả các nước đó là phương châm của Đảng, Nhà nước và nhân dânta

Công cuộc CNH - HĐH đất nước đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân mộtlòng để đưa đất nước tiến lên và hội nhập về kinh tế với các nước trong

khu vực và trên thế giới

2.3 Môi trường công nghệ - khoa học

Môi trường khoa học - công nghệ là tổng hợp các nhân tố và điềukiện vận động, tác động qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng tới hoạt độngkhoa học - công nghệ của doanh nghiệp

Trang 25

Công nghệ là nguồn thay đổi năng động nhất trong kinh doanh Sựthay đổi này mang lại những thách thức cũng như những đe doạ đối vớinhà doanh nghiệp Nhờ đó mà sản phẩm mới nhanh chóng thay đổi sảnphẩm cũ Tự động hoá và điện toán hoá đã làm thay đổi phương pháplàm việc của con người trong các văn phòng và xưởng máy.

Môi trường khoa học công nghệ tồn tại một cách khách quan đốivới doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường không có hoạt động khoahọc công nghệ nào của doanh nghiệp lại tách rời khỏi môi trường khoa -công nghệ Môi trường khoa học công nghệ vừa là sản phẩm của các quyluật khách quan về phát triển kinh tế, về phát triển khoa học công nghệvừa là sản phẩm chủ quan của con người, vì thể chế hoạt động khoa học

- công nghệ do con người xây dựng và thực hiện nhưng nó lại tác độngkhách quan tới hoạt động khoa học - công nghệ của doanh nghiệp

Môi trường khoa học - công nghệ là môi trường đòi hỏi phải tạođiều kiện và biện pháp kích thích sự đổi mới, sáng tạo, hạn chế rủi ro

2.3.1 Tác động của khoa học - công nghệ đối với sản xuất kinh doanh

- Vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn hơn

Mỗi năm có nhiều sản phẩm mới được đưa ra thị trường Nhữngsản phẩm được sản xuất ra ngày càng được cải tiến và phù hợp hơn vớinhu cầu Chính vì vậy, sản phẩm thuần tuý không cải tiến thường khôngđược sản xuất nữa, điều này làm cho vòng đời sản phẩm ngắn hơn Kếtquả là nhiều nhà kinh doanh không muốn giữ nhiều hàng trong kho vìnếu giữ sẽ không bán được vì nó nhanh chóng bị lỗi thời

Trang 26

Các công nghệ sử dụng hay máy móc cũng nhanh chóng được thayđổi Những loại công nghệ máy móc ở các nước phát triển lại được báncho những nước đang phát triển - là nơi mà người tiêu dùng không cókhả năng mua các sản phẩm mới.

- Những phương pháp chế biến mới

Ngày nay nhờ có công nghệ chế biến mới mà nhiều sản phẩm dễhỏng có khả năng kéo dài vòng đời hơn mà không phải dùng đến phươngpháp làm lạnh cổ truyền Tỷ lệ hư hỏng thấp hơn làm giảm chi phí vàmang lại lợi ích cho người tiêu dùng

- Tự động hoá và năng suất

- Đào tạo lại công nhân

Do có tự động hoá mà số lượng công nhân sử dụng ít hơn Cho nênphải tính tới việc đào tạo lại để chuyển nghề Đồng thời, những ngườicông nhân phải huấn luyện lại để sử dụng máy móc, thiết bị mới

- Sự cần thiết đối với nghiên cứu và phát triển (R&D)

Để nâng cao khả năng cạnh tranh thì cần thiết phải nghiên cứu vàphát triển để tạo ra sản phẩm mới hay cải tiến mẫu mã, quy trình cho phùhợp với nhu cầu

- Cung cách làm việc mới

2.3.2 Vai trò của môi trường khoa học - công nghệ của doanh nghiệp

Môi trường khoa học - công nghệ là một bộ phận của mội trườngkinh doanh Nó có quan hệ và tác động qua lại với các bộ phận khác củamôi trường kinh doanh

Trang 27

Môi trường khoa học - công nghệ một mặt tạo ra các ràng buộc chocác hoạt động khoa học công nghệ của doanh nghiệp và đồng thời nócũng tạo ra các điều kiện thuận lợi, các cơ hội thuận lợi cho các doanhnghiệp Môi trường khoa học - công nghệ tác động đến cung và cầu vềcông nghệ, đến sự lựa chọn công nghệ của doanh nghiệp, kích thích hoặchạn chế việc nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mớicông nghệ và nó thúc đẩy hoặc kìm hãm việc nâng cao hiệu quả sử dụngcông nghệ.

Tóm lại, tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ là vô cùngphong phú và đa dạng, chúng ta có thể kể ra rất nhiều ảnh hưởng củatiến bộ khoa học - công nghệ Nhưng điều quan trọng cần phải nhận thứcđược là các nhà quản trị thuộc mọi tổ chức nói chung và trong từngdoanh nghiệp nói riêng đếu phải tính tới ảnh hưởng của các yếu tố nàytrong các mặt hoạt động của mình Sẽ là sai lầm lớn, nếu trong kinhdoanh mà các nhà quản trị không hoạch định được một chiến lược đúngđắn về kỹ thuật, công nghệ trong từng thời kỳ, khoa học - công nghệ làchìa khoá để các nhà doanh nghiệp trở thành nổi tiếng

2.4 Môi trường chính trị

Môi trường chính trị ở đây kể đến các yếu tố thuộc về thể chế chínhtrị như:

- Cơ cấu chính trị và quyền lực

- Hình thức tổ chức và các chức năng hoạt động của các tổ chứcchính trị

- Các chủ trương, đường lối được thể hiện trong các nghị quyết củaĐảng

Trang 28

đó Hệ thống pháp luật ở nước ta được xác định mục đích của nó lànhằm bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, tức là nó phải bảo đảm rằng mọiquyền lực thuộc về nhân dân Do đó, xã hội ta là xã hội “của dân, do dân

và vì dân”, được xây dựng theo mục tiêu công bằng dân chủ ý chí củanhân dân được thể hiện trong hiến pháp XHCN, là bộ luật cơ bản trong

đó xác định chế độ chính trị, thể chế, cơ cấu quyền lực Nhà nướcđể bảođảm quyền làm chủ của nhân dân Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra,

là cơ quan quyền lực cao nhất, có nhiệm vụ thay mặt nhân dân ban hành,sửa đổi hiến pháp và các đạo luật nhằm duy trì các hoạt động chính trị,kinh tế, xã hội theo ý chí của nhân dân

Quốc hội bầu Chủ tịch nước, là người đứng đầu quốc gia về mặtNhà nước Đại diện cho quốc dân trong các mối quan hệ bang giao quốc

tế Ban hành các pháp luật nhằm tổ chức điều hành các hoạt động của đấtnước theo ý nguyện của nhân dân mà Quốc hội đã giao quyền cho Chủtịch nước

Trang 29

Chính phủ với người đứng đầu là Thủ tướng Toà án nhân dân là cơquan tư pháp.

Các cơ quan của chính phủ bao gồm các bộ và các cơ quan ngang

bộ đứng đầu là Bộ trưởng Mỗi bộ hay cơ quan được Thủ tướng giaonhiệm vụ chức năng quản lý về mặt nhà nước các hoạt động kinh tế, vănhoá, xã hội nhất định

Ngoài ra còn có các đoàn thể quần chúng như: Mặt trận tổ quốcViệt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộngsản Hồ Chí minh

Ngày nay còn có sự hợp tác bên trong Hiệp hội các nước Đông Nam

Á (ASEAN) Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự ổn định chính trị vàtriển vọng kinh tế của các nước ASEAN cũng như ảnh hưởng lớn tới ViệtNam

Sự ổn định chính trị đối với kinh doanh Nền tảng chính trị ổn địnhđiều đó phải nói tới sự lãnh đạo tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam trongsuốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập dân tộc, ngày nay tiếptục lãnh đạo nhân dân tiến hành đổi mới để xây dựng một XHCN

Chính trị ổn định tạo ra môi trường thuận lợi đối với các hoạt độngkinh doanh Các nhà đầu tư được bảo đảm về quyền lợi sẵn sàng đầu tưvào những dự án dài hạn với những khoản tiền lớn

2.5 Môi trường pháp luật

2.5.1 Vai trò của pháp luật trong xã hội

Luật pháp là một khung các nguyên tắc và luật lệ do xã hội quyđịnh để chế tài hành vi của các thành viên của nó Luật pháp cũng quy

Trang 30

định những hành vi bị những hình phạt nếu không tuân thủ các nguyên

tắc và bảo vệ các cá nhân cũng như các tổ chức

Pháp luật pháp triển theo thời gian và có sửa đổi để phù hợp với

tình hình chung của xã hội

2.5.2 Hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật bao gồm Hiến pháp, pháp lệnh, quyết định, nghị

định và nhiều văn bản dưới luật khác tạo thành một hệ thống pháp chế

hoàn chỉnh nhằm chế định toàn bộ các hoạt động xã hội trong đó có hoạt

động kinh doanh

Một số đạo luật chi phối các hoạt động kinh doanh

Đặc tính của luật Các đạo luật

1 Hướng dẫn kinh doanh Luật hợp đồng

- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

2 Kinh doanh tổng quát - Luật doanh nghiệp Nhà nước

- Luật doanh nghiệp tư nhân

- Luật công ty

- Luật phá sản

- Luật bản quyền tác giả và nhãn hiệu hàng hoá

- Luật khuyến khích đầu tư trong nước

- Luật đầu tư nước ngoài

- Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài

- Luật doanh nghiệp

- Các luật thuế trước bạ, doanh thu, tiêu thụ đặc biệt, VAT

3 Quản lý việc sử dụng lao động - Luật lao động

- Pháp lệnh bảo hộ lao động

Trang 31

- Pháp lệnh ngân hàng và công ty tài chính

- Các văn bản dưới luật quy định về bảo hiểm

6 Các nghề chuyên môn Các văn bản dưới luật do các Bộ ban hành quy định

2.6 Môi trường xã hội

Môi trường xã hội chúng ta cần xem xét những đặc điểm quan

trọng về dân số, nhà ở, mức sống, tác dụng của hệ thống giáo dục và đào

tạo

Tổ chức kinh doanh hoạt động trong một xã hội nhất định, xã hội là

nguồn cung cấp các nguồn lực mà doanh nghiệp cần và tiêu thụ những

hàng hoá và dịch vụ do nó sản xuất Giám đốc doanh nghiệp phải hiểu

những đặc điểm của môi trường xã hội ảnh hưởng tới các hoạt động của

doanh nghiệp Giám đốc phải nắm vững về dân số, sự phân bố lứa tuổi

và giới tính, mức sống và các điều kiện giáo dục, đào tạo Những kiến

thức này sẽ giúp ông ta xác định được những khách hàng tiềm năng, sức

mua và các quyết định của họ Dựa trên những hiểu biết về các chương

trình đào tạo, huấn luyện nghề nghiệp nhà quản trị sẽ xác định được

những khu vực có loại lao động mà doanh nghiệp cần

Mặt khác, nhờ nắm vững được mật độ dân cư, mức thu nhập bình

quân, nhà doanh nghiệp có thể quyết định phát triển các chi nhánh tại

những khu vực dân cư để sử dụng nguồn lao động và bán sản phẩm, dịch

vụ ngay tại nơi đặt chi nhánh

- Đặc điểm về dân số thu nhập:

Trang 32

Dân số nước ta có khoảng 80 triệu người, bao gồm hơn 60 dân tộc,phân bố rải rác từ Bắc tới Nam Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh sốngtập trung tại khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và dọc theo miềnduyên hải.

Mức tăng dân số hàng năm vẫn ở mức cao so với thế giới, khoảng2,1%/năm Thu nhập bình quân tính theo đầu người khoảng300USD/người/năm Tuổi thọ bình quân 65 tuổi Giá nhân công rẻ, tỷ lệngười chưa có việc làm chính thức chiếm khoảng 6 - 8% lực lượng laođộng

Cơ cấu tuổi của người Việt Nam trong những năm tới sẽ có nhữngthay đổi Số người trong độ tuổi lao động sẽ tăng lên do tỷ lệ sinh đẻtrong thập kỷ 80 ở mức độ khá cao (2,2%/năm)

- Ảnh hưởng của mức tăng dân số đến kinh doanh

Những thay đổi mặt bằng dân số có những liên quan mật thiết đốivới kinh doanh Khi quy mô gia đình nhỏ hơn sẽ tạo ra khả năng chophép các bậc cha mẹ mua sắm nhiều hơn cho họ và con cái họ Mặt kháckhi mức thu nhập bình quân đầu người tăng lên cũng làm tăng khả năngmua sắm của mọi người

Do thu nhập tăng lên mà nhu cầu nghỉ ngơi giải trí cũng tăng lêndẫn đến xuất hiện nhiều ngành kinh doanh và cơ hội kinh doanh mới.Trình độ dân trí cũng ảnh hưởng tới cách thức mua sắm của ngườitiêu dùng

- Giáo dục và đào tạo

Trang 33

Mạng lưới giáo dục đào tạo nhằm trang bị cho mọi người dân trình

độ văn hoá cần thiết để có thể tiếp thu được những tri thức hiện đại, cótay nghề cần thiết để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước

Trang 34

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

I ĐÁNH GIÁ CHUNG

Năm năm qua, quán triệt chủ trương lấy phát triển kinh tế là nhiệm

vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Đảng bộ thành phố

đã tập trung lãnh đạo và đạt được những thành tựu quan trọng

Kinh tế - xã hội có bước phát triển Tốc độ tăng trưởng (GDP) bìnhquân hàng năm đạt 4,75%, giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng trênđịa bàn tăng bình quan 3,45%, thương mại dịch vụ tăng 5,95%/năm;nông, lâm nghiệp tăng bình quân 6,85%/năm Cơ cấu kinh tế có tỷ trọngcông nghiệp, xây dựng chiếm 45,9%, thương mại dịch vụ 44,2%, nônglâm nghiệp 9,9% Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,8 triệu đồng,tương đương 413 USD/năm

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong những năm đầu nhiệm kỳ(1996 - 2000) phát triển khá, nhất là năm 1997 Từ năm 1998 đến cuốinăm 1999 do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệtrong khu vực, một số doanh nghiệp gặp khó khăn gay gắt, sản xuất đìnhtrệ, đến năm 2000 mới từng bước phục hồi Trong bối cảnh đó, sản xuấtCN-TTCN ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố vẫn phát triển, giátrị sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng bình quân 12,5%

Theo đường lối phát triển kinh tế của Đảng, thể hiện trong các vănkiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và Nghị quyết 16của Bộ Chính trị có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Văn kiện Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh

“Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến,tạo việc làm, thu hồi vốn nhanh ” Thực hiện đúng chủ trương củaĐảng, Đảng bộ thành phố Thái Nguyên đã có nhiều chính sách ưu tiêncác doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệpnày phát triển

Trang 35

Hơn nữa, được sự quan tâm chỉ đạo của Thành uỷ, HĐND, UBND

đã chỉ đạo các cấp, các ngành chức năng của thành phố và các phường,

xã, bám sát chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo củaTỉnh, vận dụng phù hợp vào điều kiện của thành phố đã giúp đỡ cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh.Thực hiện quyết định số 120 của Chính phủ về việc cho vay vốn lãisuất ưu đãi giải quyết việc làm Thành phố đã chỉ đạo Phòng Côngnghiệp phối hợp với các phòng ban và Kho bạc hướng dẫn các doanhnghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh vay vốn và dự án trị giá 350 triệuđồng, đưa tổng số vốn vay ưu đãi lên trên 1 tỷ đồng thu hút thêm hơntrăm lao động có việc làm

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được tạo điều kiện thuận lợi cho việccấp phép hành nghề kinh doanh, cấp nguyên liệu gỗ cho một số đơn vịchế biến lâm sản, trang trí nội thất

Năm 1999, Thành phố đã đề nghị với Ban Tổ chức Hội chợThương mại - Công nghiệp Thái Nguyên và UBND Tỉnh hỗ trợ 1 gianhàng miễn phí cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh thamgia hội chợ nhằm giao lưu kinh tế và tìm kiếm thị trường

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng được tạo điều kiện trong việc

ký kết hợp đồng kinh tế lớn với Nhà nước và thông tin tư vấn, địnhhướng trong quá trình sản xuất kinh doanh, tháo gỡ khó khăn mang lạihiệu quả kinh tế cao hơn

Nhìn chung, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phốThái Nguyên đã được sự quan tâm và giúp đỡ rất nhiều của Thành phố.Tuy đã có những biến đổi thăng trầm song đến nay các doanh nghiệpvừa và nhỏ đã thích nghi được với cơ chế quản lý mới nên phát triển khá

đa dạng và phong phú Mặc dù vậy, sản xuất vẫn mang nặng tính chất tựphát, phân bổ xen kẽ lẫn với các hộ dân, khu dân cư gây ô nhiễm môitrường, không đảm bảo vệ sinh công nghiệp ảnh hưởng tới sức khoẻngười dân và không đủ điều kiện để mở rộng phát triển lâu dài Đánh giámột cách khái quát về sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏtrên địa bàn thành phố TN ta có bảng số liệu sau:

Trang 36

Nguồn: Theo số liệu kinh tế xã hội TPTN năm 1996 - 2000

Niên giám Thống kê năm 1996 - 2000

Qua bảng thống kê một số chỉ tiêu kinh tế xã hội như trên ta thấy

giá trị SXCN (NQD) có xu hướng ngày càng tăng năm sau cao hơn năm

trước từ 20% - 30% Điều này cho thấy công nghiệp và tiểu thủ công

nghiệp ngoài quốc doanh đang có triển vọng phát triển Năm vừa qua,

năm 2000 giá trị sản xuất công nghiệp (NQD) đạt khoảng: 90 tỷ đồng

Thu nhập bình quân của người lao động/ tháng năm 1995, 1996 chỉ đạt

khoảng 330.000 đồng/tháng đến năm 1999 cũng vẫn chỉ đạt 300.000

-700.000 đồng/tháng Điều này thể hiện thu nhập của người lao động còn

thấp, mức sống của họ chưa cao và đời sống còn gặp nhiều khó khăn

Nhưng đánh giá khái quát thì GDP bình quân đầu người có xu hướng

tăng từ năm 1996 - 1998 sau đó là năm 1999 đã bị giảm do ảnh hưởng

khủng hoảng kinh tế khu vực Năm 2000, GDP bình quân theo đầu

người đã đạt 5,82 triệu đồng là cao so với mức bình quân chung của cả

nước Số liệu thống kê cho thấy GDP bình quân đầu người năm 1998 đạt

Trang 37

mức cao nhất trong mấy năm gần đây là 6,06 triệu đồng GDP/người dântỉnh Thái Nguyên chỉ bằng khoảng 55 - 60% mức bình quân chung củanước Do đó mức sống của người dân tính trung bình còn thấp Nhưngthực tế mức sống của người dân thành phố là cao so với các nơi khác.Tóm lại, trong giai đoạn 1996 - 2000

Các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phốThái Nguyên đã tăng nhanh về số lượng nhưng chủ yếu là loại hình hộ tưnhân và cá thể

Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp do thành phốquản lý đạt mức độ tăng trưởng bình quân khá cao khoảng 12,5%/năm

Số lượng lao động thu hút được còn ít bình quân khoảng 100 laođộng/năm

II MỘT SỐ YẾU TỐ THUỘC MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1 Một số yếu tố thuộc môi trường vật chất.

Thái Nguyên với diện tích tự nhiên trên 177,7 km2, là vị trí cửangõ của các tỉnh phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 80km Thành phố Thái

nguyên có hệ thống giao thông đi lại hết sức thuận tiện Từ sân bay

quốc tế Nội Bài đến trung tâm thành phố có 50km, cách cảng Đa Phúc30km Sân bay Đồng Bẩm thuộc địa phận Thái nguyên cách trung tâmthành phố 4km

Ngoài giao thông đường bộ đi các tỉnh phía Bắc, và giao thôngđường sắt cũng đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và vận chuyển hànghoá đi khắp nơi, đặc biệt là tập trung chuyển hàng đi các tỉnh phía Bắc

Khu du lịch Hồ Núi Cốc là thắng cảnh cũng là nơi khơi thôngnguồn nước cũng là nơi tạo ra tiềm năng nước ngọt cho thành phố Thái

nguyên Nguồn nước cung cấp cho CN-TTCN lớn nhất là sông Cầu có

diện tích thu nước là 3480 km2, diện tích Hồ Núi Cốc là 2600ha với trữlượng là 175 m3 Hệ thống nước ngầm chiếm gần 1tỷ m3phần lớn ở độ

Trang 38

sâu 30-70 m, nguồn nước này qua khảo sát, xét nghiệm thì đảm bảo tốtcho sinh hoạt, phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biếnnói riêng.

Khả năng đất cho phát triển công nghiệp -TTCN, với diện tích

toàn thành phố là 135,2 km2, trong đó đất nông lâm nghiệp chiếm tỷ lệ36,64 % đất dân cư chiếm 32,93 % còn lại là đất CN-TTCN, đất chưa sửdụng và đất khác chiếm tỷ lệ là 30,43% Hiện nay, nhiều gia đình có đấtthổ cư hàng ngìn m2 Như vậy đất để phát triển CN-TTCN chưa phải làvấn đề khó khăn vấn đề đặt ra hiện nay và tương lai là quản lý và có kếhoạch đưa vào sử dụng quỹ đất dành cho CN-TTCN ngày càng pháttriển và có hiệu quả

Nguyên liệu từ nông lâm nghiệp: Trên địa bàn thành phố sản

lượng thóc và hoa mầu quy thóc bình quân hàng năm đạt xấp xỉ 23 nghìntấn, trâu bò lợn thương phẩm đạt gần 50 nghìn con, sản lượng này chođịa phương chế biến phục vụ cho người và gia súc, gia cầm, đáp ứngđược 40 -50 % nhu cầu của thành phố còn lại các thành phần kinh tếngoài quốc doanh đã thu mua nguyên liệu từ các địa phương khác để chếbiến phục vụ nhân dân thành phố

Cây công nghiệp chè: Thành phố hiện có diện tích 400 ha với sản

lượng chè búp tươi từ 15-16 nghìn tấn, qua chế biến được hơn 300 tấnchè búp khô/năm Trên địa bàn tỉnh có 6000 ha chè với sản lượng chèbúp tươi từ 23- 25 ngàn tấn/ năm Đây là nguồn nguyên liệu cung cấp chocông nghiệp chế biến chè xuất khẩu của thành phố phát triển

Nguồn nguyên liệu từ lâm nghiệp: Thành phố có 1900 ha rừng

chủ yếu là rừng trồng tỉnh có gần 100 ha trong đó hơn 80% là rqngf tựnhiên và 20% là rừng trồng, tổng chữ lượng gỗ rừng toàn tỉnh Tháinguyên khoảng 6 triệu m3phòng hộ Trong những năm qua nguồnnguyên liệu này chủ yếu cung cấp cho công nghiệp chế biến lâm sản củathành phố phát triển mạnh Nhưng hiện nay, Chính phủ đã có chủ trươngđóng cửa rừng phòng hộ và tạm thời không khai thác rừng kinh doanh

Trang 39

nhằm bao vệ rừng Do vậy việc chế biến gỗ cần có hướng chuyển đổithích hợp, cần khai thác có kế hoạch, sử dụng có hiệu quả gỗ tạp sườnđồi, rừng trồng và lâm sản khai thác để duy trì ngành nghề này.

Nguồn than: Cung cấp cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công

nghiệp dồi dào với tổng trữ lượng khoảng 100 triệu tấn tập trung ở các

mỏ Khảnh Hoà, Núi Hồng , Phấn mễ, Lang Cẩm, Quang vinh, Quántriều ( trữ lượng than đứng thứ 2 trong cả nước sau Quảng Ninh)

Nguồn điện: Thành phố Thái nguyên đã có điện lưới quốc ở tất cả

25 phường xã đối với công suất tiếp nhận hiện tại là 390-400 triệukwh/năm Trong đó công nghiệp tiêu thụ chiếm tỷ lệ 77% Theo kế hoạchcủa điện lực Thái nguyên thì hàng năm năng công suất tiếp nhận điện lên20% để đáp ứng thoả mãn nhu cầu sản xuất và đời sống

Mạng lưới truyền thông: Hiện nay đã rất thuận lợi cho các doanh

nghiệp phát triển giúp các doanh nghiệp trao dổi thông tin, thực hiện trênmáy nhiều công đoạn Truy cập trên mạng Internet là điều trở nên rất dễdàng

Tóm lại các yếu tố thuộc môi trường vật chất là rất thuận lợi chocác doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mỗi yếu tố thuộc môi trường vậtchất này có ý nghĩa quan trọng đối với từng nhóm ngành cần phát triển ởthành phố Thái Nguyên

2 Một số yếu tố thuộc môi trường chính trị-pháp lý.

Do chủ trương đổi mới của Đảng ta về phát triển kinh tế hàng hoánhiều thành phần, từ đó nhà nước và chính phủ đã ban hành các văn bản,luật nghị định như: Luật Doanh nghiệp tư nhân, luật công ty luật ( công

ty cổ phần, công ty TNHH), luật khuyến khích đầu tư trong nước, bộ luậtlao động, luật HTX Nghị định 66/HDBT đối với các hộ cá thể và tiểuchủ, tạo hành lang pháp lý thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp vừa

và nhỏ phát triển

Trang 40

- Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố đã chỉ đạo các cấp, cácngành chức năng của thành phố bám sát chủ trương chính sách của Đảng

và Nhà nước, chính phủ, vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể củatừng doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp vềcác mặt như Thủ tục cấp giấy phép hành nghề kinh doanh, mặt bằng sảnxuất, giảm thuế, miễn thuế đối với các đơn vị mới ra đời các sản phẩmmới mà địa phương khuyến khích, ví dụ như các sản phẩm mành cọ xuấtkhẩu, các sản phẩm phục vụ nông nghiệp Tạo điều kiện cho các doanhnghiệp CN vừa và nhỏ vay vốn của nhà nước từ quỹ quốc gia giải quyếtviệc làm, từ ngân hàng cân đối Việt Đức, Việt Pháp, và các ngân hàngtrên địa bàn thành phố

- Tạo điều kiện và đề nghị tỉnh cấp nguyên liệu gỗ theo chỉ tiêu kếhoạch cho một số đơn vị chế biến lâm sản, trang trí nội thất thu hút nhiềulao động, thông tin tư vấn, định hướng cho các đơn vị trong quá trình sảnxuất kinh doanh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, trong quá trìnhchỉ đạo và tổ chức thực hiện đặc biệt chú ý công tác tuyên truyền và vậnđộng các thành phần kinh tế nắm được chủ trương chiến lược của đảng

và Nhà nước ta về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để mọingười tin tưởng huy động các nguồn lực sẵn có đầu tư vào việc SXKD,tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội

- Tuy nhiên còn một số yếu điểm của môi trường chính trị pháp lýnhư: Chính sách nhà nước ban hành chưa đồng bộ, chưa kịp thời dối vớikhu vực kinh tế ngoài quốc doanh đặc biệt còn chưa thực sự ưu tiên cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Luật HTX, luật thuế giá trị gia tăng còn đòihỏi bức xúc của sự nghiệp phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phầnnhưng ban hành chậm Nhà nước chưa có chính sách bảo hộ hàng nội,chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn hàng ngoại nhập phi mậu dịch,trốn thuế, chèn ép hàng nội công tác thu thuế chưa gắn thu với việc tạođiều kiện thuận lợi để nuôi dưỡng nguồn thu, biểu hiện bưng bít các

Ngày đăng: 14/01/2016, 11:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: So sánh các tiêu thức phân loại SMEs của các thành viên - Một số yếu tố thuộc môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố thái nguyên, thực trạng và giải pháp phát triển
Bảng 1.2 So sánh các tiêu thức phân loại SMEs của các thành viên (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w