1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

23 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 52,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀKháng cáo, kháng nghị là quyền của những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật được đề nghị tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định

Trang 1

MỤC LỤC

A. ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 1. Khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm ……… 1

2. Ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm ………2

3 Những quy định của BLTTHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 3.1 Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm………2

3.2 Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……… 4

3.3 Căn cứ kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……… 5

3.4 Thủ tục kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……… 5

3.5 Thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm………6

3.6 Thông báo kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……….6

3.7 Hậu quả kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……….6

3.8 Bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm……… 7

II THỰC TIỄN THI HÀNH NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 1 Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 1.1 Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng cáo phúc thẩm………8

1.2 Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng nghị phúc thẩm……… 12

2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm 2.1 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm………13

2.2 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm………14

2.3 Một số kiến nghị khác nhằm nầng cao hiệu quả của việc kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm………15

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ……… 15

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Kháng cáo, kháng nghị là quyền của những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật được đề nghị tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết

định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Việc nghiên cứu thực tiễn thi hành

những quy định của BLHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có một vai trò hết sức quan trọng để từ đó đề ra một số kiến nghị nâng cao hiệu quả kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Có thể nói đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM

1 Khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Kháng cáo phúc thẩm là quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo

quy định của pháp luật được tiến hành trong thời hạn và theo thủ tục luật định, yêu cầu Tòa

án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định

sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ hoặc của người

khác Kháng nghị phúc thẩm là quyền và nghĩa vụ của của Viện kiểm sát nhân dân thể hiện

bằng văn bản pháp lý, được tiến hành trong thời hạn và theo thủ tục luật định, yêu cầu Tòa

án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật đó không đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp

2. Ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là một chế định có vị trí và vai trò quan trọng trong TTHS Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm không thể thiếu được trong pháp luật TTHS Việt Nam Nếu không quy định quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cho các chủ thể có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát các cấp thì sẽ

có rất nhiều bản án, quyết định sơ thẩm thiếu căn cứ, vi phạm pháp luật được đem ra thi hành, dẫn tới quyền và lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng bị xâm phạm Đồng thời, nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử không có cơ sở để thực hiện hoặc có thực hiện được cũng không đạt được hiệu quả và mục đích của nó, pháp chế xã hội chủ

Trang 3

nghĩa khó được bảo đảm Như vậy, kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có ý nghĩa quan trọng

cả về mặt chính trị, pháp lý và xã hội

3 Những quy định của BLTTHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

3.1 Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Nhưng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện sai lầm không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm mà là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

3.2 Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

- Chủ thể của quyền kháng cáo phúc thẩm

Chủ thể có quyền kháng cáo được quy định tại Điều 231 BLTTHS và được hướng dẫn tại mục 1 phần I của Nghị quyết số 05/2005/NQ- HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng hình sự1 Theo đó, những chủ thể sau có quyền kháng cáo trong phạm vi luật định:

+ Bị cáo,người đại diện hợp pháp của bị cáo

Theo quy định tại Điều 50 BLTTHS, bị cáo là “người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” Những người thân thích của bị cáo đã thành niên như cha, mẹ, vợ, chồng, con

không được quyền kháng cáo thay cho bị cáo Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo Người đại diện hợp pháp của bị cáo là người đại diện theo pháp luật Bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ hoặc một phần của bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật

+ Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại

Người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm về phần hình phạt cũng như phần bồi thường thiệt hại Nếu như người bị hại là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về

1 Nội dung của quy định này xem tại mục 1 của Phụ lục

Trang 4

tâm thần hoặc thể chất thì người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo (bản thân người bị hại vẫn có quyền kháng cáo)

+ Người bào chữa của bị cáo

Để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo hạn chế về năng lực hành vi tố tung, luật tố tụng hình

sự của Việt Nam quy định người bào chữa có quyền kháng cáo trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Đây là quyền kháng cáo độc lập không phụ thuộc vào việc bị cáo hay người đại diện hợp pháp của bị cáo

có đồng ý hay không Trong trường hợp người bào chữa kháng cáo, bị cáo vẫn có quyền kháng cáo Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS thì người bào chữa có thể là luật sư, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bào chữa viên nhân dân

+ Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ tham gia vụ án hình sự để giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự nên quyền kháng cáo của họ hạn chế trong phạm vi phần bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật liên quan đến việc bồi thường thiệt hại

+Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 54 và Điều 231 BLTTHS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của

họ mà không được kháng cáo các phần khác như phần hình phạt, bồi thường thiệt hại…

+ Người bảo vệ quyền lợi của đương sự

Theo quy định tại Điều 59 BLTTHS, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất bao gồm: luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình Đây là quyền kháng cáo độc lập của người bảo vệ quyền lợi của đương sự, không phải do đương sự ủy quyền Người bảo vệ quyền lợi của đương sự chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ

-Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm

Trang 5

Điều 232 BLTTHS năm 2003 quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Viện kiểm

sát kháng nghị nhằm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định

sơ thẩm không đảm bảo tính căn cứ, tính hợp pháp Xuất phát từ trách nhiệm của Viện kiểm sát cấp trên tại Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 20022, Điều 232 BLTTHS năm 2003 không chỉ quy định cho Viện kiểm sát cùng cấp mà Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cũng có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự Thẩm quyền quyết định việc kháng nghị thuộc về Viện trưởng viện kiểm sát Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, phó viện trưởng Viện kiểm sát có quyền quyết định việc kháng nghị

3.3 Căn cứ kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào quy định căn cứ kháng cáo phúc thẩm

Bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ thấy bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật không hợp lý là họ có thể thực hiện quyền của mình Nếu hiện nay, BLTTHS quy định cụ thể về căn cứ kháng cáo phúc thẩm với những tiêu chí nhất định sẽ dẫn tới khó đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác bởi lẽ họ phải đảm bảo đủ những căn cứ và điều kiện

đó, dẫn tới khả năng xâm phạm các quyền cơ bản của công dân, chế độ hai cấp xét xử khó được thực hiện Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự mặc dù chưa được quy định trong BLTTHS năm 2003 nhưng đã được quy định tại khoản 1 Điều 33 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự3 Theo đó, bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng nghị phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau:

+ Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ

+ Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án

+ Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự

2 Nội dung của quy định này xem tại mục 2 của Phụ lục

3 Nội dung của quy định này xem tại mục 3 của Phụ lục

Trang 6

+ Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng

Điều 185 BLTTHS năm 2003 quy định rất rõ về thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ án mà bị cáo đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm Như vậy, được coi là thành phần HĐXX không đúng luật định đó là các trường hợp thành phần HĐXX không đáp ứng đầy đủ số thành viên theo quy định trên Các trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại mục 4.4 Phần I của Nghị quyết số 04/2004/NĐ-HĐTP ngày 15/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003.4

3.4 Thủ tục kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

- Thủ tục kháng cáo phúc thẩm

Thủ tục kháng cáo được quy định tại khoản 1 Điều 233 BLTTHS: “Người kháng cáo phải gửi đơn đến Tòa đã xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó theo quy định tại Điều 95 của

Bộ luật này”

-Thủ tục kháng nghị phúc thẩm

Khoản 2 Điều 233 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị bằng văn bản , có nêu rõ lý do Kháng nghị phải được gửi đến Tòa án đã xử sơ thẩm.”

Trang 7

Theo quy định của pháp luật hiện hành, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm và kháng cáo quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật được quy định không giống nhau:

+ Trường hợp kháng cáo đối với bản án sơ thẩm :

Theo quy định tại khoản 1 Điều 234 BLTTHS: “Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.” Như vậy, người

tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong vòng 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho bị cáo, đương sự vắng mặt

+ Trường hợp kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm: Khoản 2 Điều 239 BLTTHS quy định: “Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định” Trong trường hợp ngay trong ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định mà bị cáo,

đương sự có mặt tại phiên tòa có đơn kháng cáo ngay thì Tòa án cấp sơ thẩm nhận đơn kháng cáo theo thủ tục chung

Theo quy định tại Điều 235 BLTTHS thì việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do chính đáng Lý do chính đáng là lý do khiến người có quyền kháng cáo không thể thực hiện được quyền của mình trong thời gian luật định như: bệnh tật, tai nạn, đi công tác xa… Tòa án đã xử sơ thẩm xác minh lý do chính đáng của kháng cáo quá hạn đó, Tòa án cấp phúc thẩm xét và quyết định chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn với thành phần hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán, Viện kiểm sát cùng cấp được thông báo để có thể tham gia việc xét đơn kháng cáo quá hạn đó

3.6 Thông báo kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Trang 8

Theo quy định tại Điều 236 BLTTHS thì khi có kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết

có kháng cáo, nội dung kháng cáo, về những phần liên quan đến quyền lợi của họ trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị Việc thông báo là để những người này biết được việc vụ án sẽ được xét xử phúc thẩm, qua đó họ sẽ chuẩn bị cho việc tham gia

và bảo vệ quyền lợi của mình tại phiên tòa, cung cấp thêm những chứng cứ, tài liệu mới Riêng đối với bị cáo, việc thông báo còn đảm bảo cho họ có điều kiện thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm Người được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi ý kiến của mình cho tòa án cấp phúc thẩm

3.7 Hậu quả kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là cơ sở để phiên tòa phúc thẩm được mở ra và Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm Do vậy, sau khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hay quyết định sơ thẩm thì bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật ngay Khi thời hạn kháng cáo, kháng nghị hết mà

có đơn kháng cáo, kháng nghị thì những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều

255 BLTTHS: “ Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hay quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị, kháng cáo” Khi có kháng cáo, kháng nghị, tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án cùng

với đơn kháng cáo, kháng nghị cho tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị để tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị cho việc xét xử

3.8 Bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

-Về việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 238 BLTTHS thì sau khi có kháng cáo, kháng nghị, người đã kháng cáo, viện kiểm sát đã có kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị của mình trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nhưng không được bổ sung, thay đổi theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo Người đã kháng cáo hoặc viện

Trang 9

kiểm sát đã kháng nghị về tội nào thì có quyền bổ sung hoặc thay đổi kháng cáo, kháng nghị của mình về tội đó, còn đối với những tội chưa có kháng cáo, kháng nghị thì không được bổ sung hoặc thay đổi

-Về việc rút kháng cáo, kháng nghị:

Khoản 1 Điều 238 BLTTHS cũng quy định : “Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm… người kháng cáo và Viện kiểm sát cũng có thể rút một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị.” Nếu rút một phần thì Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phần còn lại Trường hợp tại phiên tòa phúc thẩm, người đã có đơn kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm phải đình chỉ việc xét xử phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 238 BLTTHS

Việc bổ sung, thay đổi cũng như rút kháng cáo, kháng nghị được hướng dẫn chi tiết tại mục 7 Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP5

II THỰC TIỄN THI HÀNH NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM

1 Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

1.1 Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng cáo phúc thẩm

- Những kết quả đạt được của việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm

Trong những năm gần đây (2005-2010), những người có quyền kháng cáo phúc thẩm hình sự đã thực hiện tốt quyền kháng cáo phúc thẩm của mình với chiều hướng gia tăng cả

về số vụ án có kháng cáo phúc thẩm và số bị cáo thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm, đồng thời, số lượng vụ án sơ thẩm bị kháng cáo luôn chiếm tỉ lệ cao so với số lượng vụ án

đã xét xử sơ thẩm, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình6 Bên cạnh

đó, các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án và Ban giám thị trại giam trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình đã rất chú trọng đến việc đảm bảo quyền kháng cáo, tạo mọi điều kiện thuận lợi và cần thiết để những người có quyền kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo của mình Tòa án đảm bảo bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị

5 Nội dung của quy định này xem tại mục 5 của Phụ lục

6 Các số liệu cụ thể được trình bày tại mục 6 của Phụ lục

Trang 10

kháng cáo đúng thời hạn, thực hiện tốt việc thông báo kháng cáo đến những chủ thể có liên quan đầy đủ và kịp thời.

- Những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm

Thứ nhất, qua thực tiễn xét xử phúc thẩm cho thấy, số lượng kháng cáo đối với một bản

án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngày càng nhiều Những vụ án đơn giản

và ít bị cáo thì không gây nhiều ảnh hưởng, tuy nhiên khi mà tính chất vụ án phức tạp và nhiều bị cáo và người tham gia tố tụng trong một vụ án cụ thể thì thực tế này gây ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng Việc thực hiện kháng cáo tràn lan và mang tính chất cầu may dẫn đến tố tụng kéo dài vô ích và thậm chí là không có căn cứ, điều đó thể hiện ở chỗ rất nhiều phiên tòa phúc thẩm được mở nhưng kết quả là xử y án sơ thẩm

Thứ hai, trường hợp kháng cáo không hợp pháp vẫn còn tồn tại phổ biến Thực tiễn

công tác xét xử, thụ lý kháng cáo cho thấy các đơn kháng cáo không hợp pháp và không được chap nhận tập trung ở các trường hợp như: kháng cáo quá hạn mà không đưa ra được

lý do chính đáng, người kháng cáo không thuộc những trường hợp quy định tại Điều 231 BLTTHS, kháng cáo vượt quá phạm vi, giới hạn mà pháp luật cho phép, người có quyền kháng cáo nhờ người khác ký hộ đơn kháng cáo hoặc kháng cáo gửi đúng hạn nhưng không

có chữ ký, địa chỉ hoặc kháng cáo của bị cáo đang bị tạm giam không có xác nhận của Ban giám thị trại giam, đơn kháng cáo của người tham gia tố tụng mà tư cách tố tụng của họ bị Tòa án đã xét xử sơ thẩm xác định sai

Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế thiếu sót trên có thể kể đến:

Một là, do sự bất cập của một số quy định pháp luật hiện hành và thiếu các văn bản

hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Hai là, những hạn chế nhất định về trình độ, năng lực cũng như đạo đức nghề nghiệp

của cán bộ các cơ quan có liên quan mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ thụ lý kháng cáo, cán bộ Ban giám thị trại giam

Ba là, tình trạng một số TAND cấp tỉnh có số lượng Thẩm phán còn thiếu so với biên

chế, số lượng Thẩm phán các Tòa phúc thẩm của TANDTC cũng chưa đáp ứng được yêu cầu

Trang 11

Bốn là, việc tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm về kháng cáo chưa được thực hiện một

cách thường xuyên, đặc biệt là việc rút kinh nghiệm về những trường hợp xử lý đơn kháng cáo, những khó khăn vướng mắc trong việc thông báo, bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo…

1.2 Thực tiễn thi hành những quy định của BLHS về kháng nghị phúc thẩm

- Những kết quả đạt được trong việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát các cấp

Thứ nhất, Viện kiểm sát các cấp đã thực hiện tốt quyền kháng nghị phúc thẩm hình

sự, đảm bảo cho việc xét xử đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân

Thứ hai, chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát các cấp từng

bước được nâng lên, các kháng nghị phúc thẩm nhìn chung bảo đảm hình thức theo quy đinh, nội dung chặt chẽ, bảo đảm được các căn cứ pháp lý, dần dần đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng trong việc hoạt động nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công

tố và kiểm sát hoạt động xét xử các vụ án hình sự Đồng thời, công tác kháng nghị phcus thẩm đã có những mặt tích cực thật sự đem lại quyền lợi chính đáng cho bị cáo và một số người tham gia tố tụng

Thứ ba, Viện kiểm sát các cấp đã chú trọng đến những vụ án được dư luận xã hội

đặc biệt quan tâm, nhất là các vụ án tham nhũng Viện kiểm sát đã kháng nghị phúc thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án nhằm đảm bảo công bằng, nghiêm minh, góp phần xây dựng niềm tin vào Đảng và bộ máy chính quyền Bên cạnh đó, kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát các cấp đã khắc phục được những vi phạm thủ tục tố tụng của cấp

sơ thẩm như bỏ lọt hành vi phạm tội vủa bị cáo đã được điều tra, truy tố

- Những vướng mắc, tồn tại và nguyên nhân của những vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm

Thứ nhất, số vụ án và số bị cáo bị Viện kiểm sát các cấp kháng nghị phúc thẩm còn

chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số các vụ án và số bị cáo đã xét xử sơ thẩm7

7 Các số liệu cụ thể được trình bày tại mục 7 của Phụ lục

Ngày đăng: 14/01/2016, 11:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w