Chính vì những lý do trên chúng tôi đã chọn nghiên cứu một khía cạnh nhỏ với vấn đề “Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái” trong một mảng lớn về giới
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ Môn học: Xã hội học giáo dục
con gái (Nghiên cứu trường hợp tại Khu 2 – Thôn Quan Ngoại – Xã Tam Quan – Huyện Tam Đảo – Tỉnh Vĩnh Phúc).
Giảng viên : PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà Nhóm 8 : 1 Lăng Hoàng Việt.
Trang 2MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5
3.1 Ý nghĩa khoa học 5
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 6
6 Mục tiêu nghiên cứu 6
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Giả thuyết nghiên cứu 8
10 Khung lý thuyết 9
NỘI DUNG CHÍNH 10
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 10
1.1 Cơ sở triết học 10
1.2 Những khái niệm công cụ cơ bản 10
1.3 Lý thuyết xã hội học 12
Chương 2 Thực trạng đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái 15
2.1 Nhận thức của cha mẹ đối với việc học tập của con trai và con gái 15
2.2 Đầu tư tài chính của cha mẹ cho việc học của các con 16
2.3 Lượng thời gian cha mẹ đầu tư cho việc học của các con 18
2.4 Sự quan tâm của cha mẹ đến việc học tập của các con 20
2.4.1 Mức độ quan tâm của cha mẹ đến việc học tập của con trai và con gái 20
2.4.2 Hình thức cha mẹ quan tâm đến việc học tập của con trai và con gái 21
2.5 Dự định bậc học của cha mẹ cho các con 23
2.6 Những nguồn thông tin cha mẹ học sinh tham khảo để đầu tư cho việc học của các con 24 Chương 3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái 26
3.1 Nghề nghiệp của cha mẹ ảnh hưởng tới việc đầu tư cho việc học của con trai và con gái. .26
3.2 Trình độ học vấn của cha mẹ ảnh hướng tới việc nhận thức và đầu tư cho việc học của con trai và con gái 29
KẾT LUẬN 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 31945, Chủ tich Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với thế giới và quốc dân đồng
bào: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
năm 1946, có ghi: “phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được
hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân” Ngay từ thời điểm đó, Đảng, Nhà
nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy sự quan tâm tới sự nghiệp giải phóng phụ nữ
để mang lại cho họ sự tự do, bình đẳng với nam giới trên đất nước Việt Nam Từ đây,sau nhiều năm đất nước ta ngày đã và đang phát triển kinh tế - văn hóa – chính trị –giáo dục mạnh mẽ, và tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” trong xã hội Việt Nam cũng đãđược Đảng và Nhà nước cố gắng đẩy ra khỏi tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam.Cho đến ngày nay, tư tưởng “ trọng nam, khinh nữ” trong xã hội đã được xóa bỏ mộtcách đáng kể, mọi người dân đã không còn quá coi nặng vấn đề nam – nữ nữa, tuynhiên ở một khía cạnh nào đó thì tư tưởng ấy vẫn còn tồn tại và không thể xóa bỏ hoàntoàn trong xã hội Việt Nam Đặc biệt là trong việc sinh con và việc học tập của con cái
ở mỗi gia đình
Trong vấn đề giáo dục, ở nước ta là một vấn đề rất được coi trọng, hầu hết mọigia đình đều tạo mọi điều kiện cho con cái mình đi học Tuy nhiên, vấn đề nam – nữtrong việc giáo dục cũng là một vấn đề khá nhức nhối từ xưa đến nay, khi mà trong tưtưởng Nho giáo từ thời phong kiến là chỉ con trai mới được đi học, thì điều này vẫnảnh hưởng tới tư tưởng và suy nghĩ của các bậc làm cha, làm mẹ ngày nay Theo số
Trang 4liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2013, thì số học sinh phổ thông giữa nam và nữluôn có sự chênh lệch, tỉ lệ nam đến được đến trường luôn cao hơn nữ ở một tỉ lệ nhấtđịnh, năm 2005-2006 tỉ lệ nữ đến trường là 48,5%, tỉ lệ nam đến trường là 51,5%, đến
năm 2013 tỉ lệ này đã được giảm xuống còn nữ là 49%, nam là 51% (nguồn: Tổng cục
thống kê) Ở mức độ nào đó thì vẫn có sự phân biệt giữa nam và nữ trong việc đầu tư
cho việc học tập của cha mẹ dành cho con trai và con gái ở mỗi gia đình Vậy nguyênnhân vì sao lại có sự chênh lệch như vậy giữa tỉ lệ đến trường của nam và nữ hiện nay?
Ở đề tài nghiên cứu này chúng tôi muốn tìm hiểu xem liệu rằng với sự bất bình đẳnggiới vẫn còn tồn tại ở nước ta hiện nay liệu có ảnh hưởng đến giáo dục, ảnh hưởng đếnviệc đầu tư cho học tập của cha mẹ dành cho con cái hay không? Vì gia đình luôn là bệphóng của những tài năng, là nơi chắp cánh cho những ước mơ của mọi trẻ em trên đấtnước Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung
Chính vì những lý do trên chúng tôi đã chọn nghiên cứu một khía cạnh nhỏ với
vấn đề “Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái”
trong một mảng lớn về giới tính và giáo dục Đây thực sự là một vấn đề quan trọng màchúng ta cần tìm hiểu, vì nó sẽ tạo điều kiện để các bậc phụ huynh có một nhận thứcmới về việc đầu tư học tập cho con trai và con gái
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Trong thời đại ngày nay việc học tập luôn được đề cao và là vấn đề được đặt lênhàng đầu ở mỗi gia đình, mỗi địa phương và mỗi quốc gia Hiện nay các bậc cha mẹ rấtquan tâm tới việc học tập của con cái họ Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều vấn đề phát sinhtrong việc đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con cái Mỗi gia đình lại có cách đầu
tư khác nhau, có những gia đình thì có sự bình đẳng hay giống nhau trong việc đầu tưcho học tập của con cái Nhưng cũng co những gia đình lại có sự khác biệt trong đầu tưcho việc học tập của con cái Mà điều này được thể hiện rõ ở các vùng nông thôn, vùngsâu, vùng xa khi mà điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhận thức của người dân còn thấp,vẫn giữ những hủ tục phong kiến Nhận thức của người dân về vai trò của con trai vàcon gái trong gia đình và xã hội còn nhiều cổ hủ, lạc hậu… Chính vì tính cấp bách hiện
Trang 5nay đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này Tại mỗi khu vực ta lại thấy đượcnhững sự đầu tư của cha mẹ cho con cái Nhưng ở đâu đó vẫn còn những định kiếnnhất định về vấn đề học hành của con trai và con gái Đặc điểm này càng được thể hiện
rõ tại các vùng nông thôn, nơi mà các hủ tục phong kiến vẫn còn nhiều tàn dư, nơi màcác quan niệm truyền thống vẫn còn in đậm trong tâm trí người dân Chính vì vậy nócũng ảnh hưởng nhiều tới việc đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con trai và congái
Tham khảo một số tài liệu của các nghiên cứu trước đây như: Khóa luận tốtnghiệp của sinh viên Lê Nguyên Long - Trường Đại học Công Đoàn Hà Nội với đề tài
“Thái độ của cha mẹ với việc học của con và định hướng nghề nghiệp cho con ở vùng ngoại thành Hà Nội”, bài viết “Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con cái” của Lê Thuý Hằng (Tạp chí Xã hội học số 2 (94), 2006), cũng đã
nêu rất rõ sự khác biệt giới trong dự định đầu tư cho con tới bậc học nào, cũng như cácyếu tố tác động và ảnh hưởng tới thực trạng đó
Ngoài những nghiên cứu trước đó ra thì hiện tại vấn đề này cũng đang trở thànhmối quan tâm tới toàn xã hội, có rất nhiều phương tiện truyền thông đại chúng đã nói
về vấn đề này, đồng thời cũng có nhiều nghiên cứu sẽ và đang tiến hành nghiên cứuliên quan tới vấn đề này
Trên cơ sở có chọn lọc, chúng tôi đã kế thừa và phát huy những kết quả nghiêncứu của các đề tài đã từng nghiên cứu, để làm luận cứ khoa học cho đề tài mà chúng tôi
đang tiến hành nghiên cứu là: “Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái”.
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
3.1 Ý nghĩa khoa học.
Nghiên cứu đề tài “Sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của contrai và con gái” đã áp dụng một số lý thuyết chuyên ngành của bộ môn Xã hội học giáodục, Xã hội học gia đình, Xã hội học giới và các lĩnh vực về mối liên hệ giữa gia đình
và giáo dục, sự khác biệt giới ảnh hưởng như thế nào tới giáo dục Từ kết quả nghiên
Trang 6cứu của đề tài này sẽ góp phần nhỏ làm phong phú thêm cho mảng nghiên cứu Xã hộihọc về gia đình – giáo dục – giới tính.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Thông qua việc vận dụng lý thuyết vào nghiên cứu, đề tài có được kết quảnghiên cứu mới về sự khác biệt giới có hay không ảnh hưởng và nó ảnh hưởng như thếnào đối với việc đầu tư cho việc học tập của con cái hiện nay Qua đó, đề tài giúp cácbậc cha mẹ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc đầu tư học tập cho con trai và congái, giúp các bậc phụ huynh, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và miền núi có một cáchnhìn mới tiến bộ hơn về việc đầu tư học tập cho con cái Để từ đó các bậc phụ huynh
có thể tạo ra cơ hội được học tập ngang bằng nhau cho chính con em mình và góp phầnhạn chế tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục và bất bình đẳng trong xã hội
4 Câu hỏi nghiên cứu.
- Sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con cái đượcthể hiện như thế nào?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến việc đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của concái ?
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
“Sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ đối với việc học tập của con trai vàcon gái”
5.2 Khách thể nghiên cứu.
Khách thể nghiên cứu là: các bậc phụ huynh đang có con là học sinh, sinh viên
5.3 Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi không gian:
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 30/01/2015 đến ngày 17/02/2015
6 Mục tiêu nghiên cứu.
- Tìm hiểu sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của contrai và con gái
Trang 7- Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ choviệc học tập của con trai và con gái.
7 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học hành của concái, thể hiện ở các khía cạnh như:
Mức độ quan tâm của cha mẹ đến việc học tập của con trai và con gái
Mức đầu tư tài chính cho việc học của con trai và con gái
Lượng thời gian cha mẹ đầu tư cho việc học của con trai và con gái
Dự định đầu tư của cha mẹ cho con học tới bậc học nào
8 Phương pháp nghiên cứu.
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu.
Tham khảo một số tài liệu của các nghiên cứu đi trước như:
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Nguyên Long - Trường Đại học Công
Đoàn Hà Nội với đề tài “Thái độ của cha mẹ với việc học của con và định hướng nghề
nghiệp cho con ở vùng ngoại thành Hà Nội”,2006.
Bài viết “Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con
cái” của Lê Thuý Hằng (Tạp chí Xã hội học số 2 (94), 2006).
8.2 Phương pháp quan sát.
Thông qua việc quan sát hoạt động học tập, cơ hội được đến trường của con trai
và con gái Ở đây, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát để xem xét có hay không
sự tồn tại của sự khác biêt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con cái,
và quan sát xem việc đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con cái thông qua hìnhthức nào
8.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi.
Chúng tôi tiến hành đi phát bảng hỏi để hỏi ý kiến của người dân ở địa bànnghiên cứu để biết được ý kiến của người dân về vấn đề nghiên cứu Chúng tôi tiếnhành phát 35 bảng hỏi cho 35 phụ huynh học sinh, sinh viên có con đang đi học Trongđó: 1 người là bác sĩ thú y, 1 người là cán bộ xã, 2 người là bộ đội, 4 người là giáo viên
và 27 người làm ruộng Để có thể biết được ý kiến và cái nhìn của các bậc phụ huynh
Trang 8về sự khác biệt giới ảnh hưởng như thế nào tới đầu tư cho việc học tập của con trai vàcon gái Để thấy được các gia đình ở đây có quan niệm hay có bị sự khác biệt giới làmảnh hưởng đến đầu tư cho việc học tập của con trai và con gái hay không.
8.4 Phương pháp phỏng vấn sâu.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với 5 mẫu Với 5 phụ huynh đang có con đihọc, có 3 nam và 2 nữ (trong đó: 3 người làm ruộng, 1 giáo viên, 1 bộ đội) Chúng tôiphỏng vấn những cha mẹ có học vấn từ THCS trở lên để đảm bảo sự nhận thức về việchọc tập của con cái được tốt hơn Nghề nghiệp của các gia đình khá đa dang nên việcviệc thu được thông tin từ những người có nghề nghiệp khác nhau là khả quan
9 Giả thuyết nghiên cứu.
- Có sự khác biệt giới trong đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của con trai vàcon gái Tuy nhiên, sự khác biệt này chỉ được thể hiện ở một số khía cạnh và sự khácbiệt này không lớn
- Nhận thức của cha mẹ, nghề nghiệp và trình độ học vấn của cha mẹ và nhữngyếu tố khác là nhân tố tác động tới sự khác biệt trong đầu tư cho việc học tập của contrai và con gái
Trang 9Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội.
Kinh tế và
nghề
nghiệp của
cha mẹ
Sự khác biệt trong đầu tư của cha
mẹ cho học tập của con trai và con gái
Quan niệm của cha mẹ về con trai và con gái theo truyền thống
Trình độ học vấn của cha mẹ
Nhận thức của cha mẹ
10 Khung lý thuyết.
Trang 10Quan điểm duy vật biện chứng đòi hỏi việc xem xét sự việc, hiện tượng trong sựvận động và phát triển của nó, đồng thời xem xét nó trong mối quan hệ giữa sự vật hiệntượng không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liện hệ Vận dụng vào nghiêncứu này để xem xét sự tác động của cha mẹ với con cái thông qua việc đầu tư của cha
mẹ cho việc học tập của con cái Trong đó, đầu tư của cha mẹ cho việc học tập của concái thì có yếu tố khách quan và chủ quan Đó là các yếu tố như: điều kiện kinh tế xã hội
và điều kiện kinh tế gia đình và các yếu tố của cha mẹ như yếu tố giới tính, tuổi tác,trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ Khi đầu tư cho việc học tập của các con vaitrò đó tác động ra sao, có liên quan với yếu tố khác
Quan điểm duy vật lịch sử yêu cầu nhà nghiên cứu xem xét sư vật hiện tượngphải đặt trong bối cảnh điều kiện cụ thể Vận dụng vào nghiên cứu, sự vật hiện tượngphải đặt trong bối cảnh và điều kiện cụ thể, nghề nghiệp vận dụng vào nghiên cứu,việc xem xét khi đầu tư cho việc học tập của con cái cũng như những yếu tố tác độngđến việc đầu tư cho giáo dục đặt trong bối cảnh cụ thể của đất nước, đặc biệt là điềukiện kinh tế gia đình, bối cảnh địa bàn nghiên cứu khi bước vào giai đoạn hội nhậpquốc tế và tác động của quá trình đô thi hóa
1.2 Những khái niệm công cụ cơ bản.
1.2.1 Khái niệm gia đình.
Gia đình là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau,thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản
Trang 11trong cuộc sống của họ về: sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và ngườiốm…
(Nguồn: Mai Huy Bích, Giáo trình Xã hội học gia đình, Nxb ĐHQGHN, 2009, tr 14).
1.2.2 Khái niệm giới.
Giới là những khác biệt giữa nữ giới và nam giới trong cùng hộ gia đình, trong
và giữa các nền văn hóa, là cấu trúc xã hội – văn hóa có thể biến đổi theo thời gian.Những khác biệt này được phản ánh trong các vai trò, trách nhiệm, khả năng tiếp cậncác nguồn lực, những sức ép, những ưu tiên, các nhu cầu, nhận thức và quan điểm…được thấy trong cả hai giới Do vậy, giới không đồng nhất với phụ nữ mà được xem là
cả nữ giới và nam giới cùng những mối quan hệ tương tác của họ (World Food
Programe: Gender Glossary, 1996, tr:26-27).
Luật bình đẳng giới định nghĩa: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữtrong tất cả các mối quan hệ xã hội” (2007:6)
1.2.3 Khái niệm khác biệt giới.
Khác biệt giới là sự không ngang bằng nhau giữa các nhóm phụ nữ và nam giớitrong các cơ hội Sự tiếp cận giữa các nguồn lực và sự sử dụng, hưởng thụ những thànhquả của xã hội
(Nguồn: Hoàng Bá Thịnh, Xã hội học về giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr 46).
1.2.4 Khái niệm giáo dục.
Giáo dục là mọi sự giao tiếp có tổ chức để theo đuổi mục đích học tập của conngười
(Nguồn: Nguyễn Tiến Đạt, Giáo dục so sánh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr 204).
1.2.5 Khái niệm đầu tư.
Đầu tư là sự bỏ ra, sự chi phí, sự hy sinh và hoạt động đầu tư là sự bỏ ra, sự hysinh sự chi phí các nguồn lực (tiền, của cải vật chất, sức lao động, ) để tiến hành cáchoạt động nào đó nhằm đạt được những kết quả lớn hơn (các chi phí đã bỏ ra) trongtương lai (như thu về được số tiền lớn hơn số tiền đã bỏ ra, có thêm nhà máy, trườnghọc, bệnh viện, máy móc thiết bị, sản phẩm được sản xuất ra, tăng thêm sức lao độngbao gồm cả số lượng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sức khoẻ)
Trang 12(Nguồn: Nguyễn Ngọc Mai, bài viết: Đầu tư phát triển và các loại đầu tư khác trong nền kinh
tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 2009).
Từ khái niệm đầu tư nêu trên, liên hệ với việc đầu tư của cha mẹ cho học tậpcủa con trai và con cái trong đề tài này, có thể thấy các bậc cha mẹ đã bỏ ra tiền bạc,thời gian, hy sinh nhiều điều trong cuộc sống của mình để toàn lực đầu tư cho việc họccủa con cái mình với mong muốn và sự kỳ vọng là con cái mình sẽ đạt được nhữngthành công trong cuộc sống, sự thành đạt sự nghiệp trong tương lai Đó chính là sựnghiệp trồng người của mỗi gia đình, họ bỏ ra chi phí để cho con cái họ học tập để thu
về những thành quả trong tương lai của chính con cái mình
1.3 Lý thuyết xã hội học.
1.3.1 Lý thuyết hành vi của George Homans(1910- 1989).
George Homans đã đưa ra mô hình lựa chọn duy lý của hành vi cá nhân trên cơ
sở những nguyên tắc cơ bản đã được khái quát thành định đề Ông đưa ra một số định
đề cơ bản trong lý thuyết của mình: Phần thưởng, kích thích, giá trị, duy lý, giá trị suygiảm, mong đợi Dựa vào những định đề đã nêu, Homan đã đưa ra quy tắc liên quanđến phần thưởng của họ tương xứng với việc đầu tư của họ
Định đề phần thưởng: đối với tất cả các hành động của con người, hành độngnào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng lặp lại
Định đề kích thích: nếu một nhóm kích thích nào trước đây đã từng khiến chohành động nào đấy được khen thưởng thì một nhóm mới càng giống kích thích đó baonhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương tự trước đây được lặp lại bấynhiêu
Định đề giá trị: kết quả của hành động có giá trị cao đối thủ với chủ thể baonhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu Và khi mốilợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt đượcnó
Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hànhđộng đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất
Trang 13Định đề giá trị suy giảm: càng thường xuyên nhận được một phần thưởng nào
đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động
Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người ta
sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng
Áp dụng đề tài nghiên cứu cho thấy, việc đầu tư học tập cho con cái cũng đượccoi là một hành vi lựa chọn nhằm đạt được phần thưởng theo mong muốn Mỗi giađình đầu tư học tập cho con với mong muốn đạt được một phần thưởng nào đó, như làcon cái mình sẽ có một công việc ổn định, có một tương lai tươi sáng Đấy không chỉ làmong muốn nói riêng của các bậc cha mẹ tại địa bàn nghiên cứu mà đó cũng là mongmuốn chung của mỗi cha mẹ, họ luôn là những người mong điều tốt đẹp nhất sẽ đếnvới con
Qua các định đề trên chúng ta thấy rằng cha mẹ khi đầu tư học tập cho con trai
và con gái đều nhằm tới vấn đề lợi ích và phần thưởng, và họ thường xuyên tìm cáchcân đối vấn đề này sao cho kết quả cuối cùng đem lại cho họ là một phần thưởng và cógiá trị cao nhất, ở đây chính là sự thành đạt của con cái trong học tập và tương lai, cũngnhư cuộc sống của con cái sau này sẽ tốt đẹp hơn Mỗi bậc cha mẹ sẽ chọn những hìnhthức đầu tư thích hợp nhất để đạt được cái mong muốn hay phần thưởng
1.3.2 Lý thuyết cơ cấu chức năng của Talcott Parsons (1902 – 1979).
Theo Talcott Parsons thì hệ thống bất kỳ nào cũng phải đáp ứng bằng hệ thốngchức năng (AGIL), đây là sơ đồ chức năng nhằm giải thích mọi cấp độ hoạt động củacác hệ thống
Sự thích nghi (Adaptation: A) : Chính là những đòi hỏi về mặt thích nghi, thíchứng của một hệ thống đối với những yêu cầu cấp bách của ngoại cảnh Hệ thống phùhợp với môi trường, đồng thời nó cũng làm môi trường phải phù hợp với những đòi hỏicủa hệ thống đó
Sự hướng đích (Goal Attainment : G): Một hệ thống xác định phải đạt tới mụctiêu xác định vì bản chất của sự tồn tại là hành động, mà hành động thì luôn phải cómục tiêu Mục tiêu là đòi hỏi tất yếu để duy trì hành động
Trang 14Sự liên kết (Integration : I): Đó là sự hội nhập liên kết, điều phối mối quan hệgiữa các thành viên của nó với nhau Với nội bộ trong hệ thống, nó đảm bảo sự liên kếttạo ra quan hệ chỉnh thể của hệ thống và đồng thời nó kiểm tra và điều khiển cả bachức năng còn lại A, G, L.
Sự duy trì khuôn mẫu (Latency pattern maintenance : L): Là sự cung cấp và duytrì động cơ hành động của chủ thể cũng như những khuôn mẫu văn hóa đã được xã hộitạo ra, chống lại những áp lực từ bên ngoài Duy trì khuôn mẫu là hoạt động không thểthiếu để đảm bảo được vị trí, vai trò, chức năng của các hệ thống và tiểu hệ thống xãhội nên cũng là duy trì tính ổn định xã hội
Đưa mô hình lý thuyết này vào phân tích giới , Parsons cho rằng xã hội hóa giớicần phải tuân thủ các nguyên tắc để hướng phụ nữ và nam giới thực hiện các chức năng
đã được quy định sẵn của họ trong cơ cấu ổn định của xã hội
Thuyết chức năng đem tới cho chúng ta sự giải thích tương đối có lý về nguồngốc của sự khác biệt vai trò giới và cũng thể hiện sự hữu dụng của chức năng về nhữngnhiệm vụ được quy định và phân công trên cơ sở giới Trong gia đình, người chồng –người cha sẽ thực hiện vai trò công cụ giúp duy trì cơ sở xã hội , hoàn thiện cơ sở vậtchất gia đình, là cầu nối giữa gia đình và thế giới bên ngoài còn người vợ – người mẹ
sẽ thực hiện vai trò tình cảm tức là người tạo các mối quan hệ gắn bó, tình cảm và nuôidưỡng gia đình, đảm bảo cho gia đình luôn êm ấm Tuy nhiên trong xã hội hiện đạicũng sẽ xuất hiện những sai lệch về vai trò, những sai lệch này có thể được điều chỉnhhoặc sẽ tạo ra một trạng thái cân bằng mới về vai trò trong gia đình
Cụ thể, trong đề tài nghiên cứu này của chúng tôi, chức năng của người cha,người mẹ sẽ được thể hiện cụ thể trong việc đầu tư cho việc học tập của con cái tronggia đình
Trang 15Chương 2 Thực trạng đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái.
2.1 Nhận thức của cha mẹ đối với việc học tập của con trai và con gái.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã phát ra 35 bảng hỏi, thu về 35 bảng hỏi hợp lệ vàthu được kết quả về nhận thức của cha mẹ về việc học tập của con trai và con gái nhưsau:
Bảng 1: Nhận thức của cha mẹ về việc học tập của con trai và con gái.
Từ bảng 1 ta thấy, trong số 35 bảng hỏi phát ra thì tất cả đều hợp lệ Trong đó,
số người cho rằng việc học tập của các con mình là “rất quan trọng” là 25 người, chiếm71,4% Có 15 người cho rằng việc học tập của các con mình là “quan trọng”, chiếm25,7% Chỉ có 1 người cho rằng việc học tập là “bình thường”, chiếm 2,9% và không
có ai cho rằng việc học tập là không quan trọng
Như vậy, đa số các phụ huynh học sinh đều cho rằng công việc học tập là quantrọng đối với con cái họ Việc học tập của con cái họ luôn được coi trọng và được đặtlên hàng đầu
Hộp 1: Nhận thức của cha mẹ đối với việc học tập của con trai và con gái PVS 5, D.T.N, 44 tuổi: “Việc học tập luôn luôn phải đặt lên hàng đầu Đối với gia
đình cô, các con có học tập tốt mới có thể trở thành công dân tốt cho xã hội Học khôngchỉ để lấy kiến thức, mà học để các con có sự giao tiếp trong xã hội”
Trang 16Nguồn: Điều tra xã hội học về sự khác biệt trong đầu tư của cha mẹ cho học tập của con trai và con gái.
2.2 Đầu tư tài chính của cha mẹ cho việc học của các con.
Qua cuộc điều tra chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Bảng 2: Mức đầu tư tài chính cho việc học tập của con cái (Đơn vị: VNĐ/tháng)
Mức
Giới
Dưới500.000
Tỷ lệ(%)
Từ500.000
- 700.000
Tỷ lệ(%)
Từ700.000-1000.000
Tỷ lệ(%)
Trên1000.000
Tỷ lệ(%)