ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN --- ZHAO BIN XUAN TRIỆU BÂN TOÀN HIỆN TƯỢNG “NGÂN HÀNG” TỰ PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI KINH TẾ BIÊN MẬU Ở MỘT SỐ KHU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
ZHAO BIN XUAN (TRIỆU BÂN TOÀN)
HIỆN TƯỢNG “NGÂN HÀNG” TỰ PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NÓ ĐỐI VỚI KINH TẾ BIÊN MẬU Ở MỘT SỐ KHU
VỰC BIÊN GIỚI TRUNG - VIỆT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
Ngành: Việt Nam học
Mã số: 60220113
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
ZHAO BIN XUAN (TRIỆU BÂN TOÀN)
HIỆN TƯỢNG “NGÂN HÀNG” TỰ PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NÓ ĐỐI VỚI KINH TẾ BIÊN MẬU Ở MỘT SỐ KHU
VỰC BIÊN GIỚI TRUNG - VIỆT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ
Ngành: Việt Nam học
Mã số: 60220113
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Tung
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GS.TS Phạm Hồng Tung Nội dung được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Triệu Bân Toàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tâm của GS.TS Phạm Hồng Tung trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Vì vậy, tôi xin được gửi đến Thầy lời cảm ơn, biết ơn chân thành và sâu sắc nhất
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Viện Việt Nam học
và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập và nghiên cứu ở trường Những hành trang kiến thức mà các thầy cô mang lại cho tôi sẽ không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang quý báu cho công việc và cuộc sống của tôi sau này Tôi cũng chân thành cảm ơn các bạn học cùng khóa và các bạn Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi tìm tài liệu, góp ý trong suốt quá trình viết luận văn
Trang 5
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Tôi đã đọc và đồng ý với nội dung luận văn của học viên
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Người hướng dẫn khoa học
(Ký tên)
GS.TS.Phạm Hồng Tung
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN MẬU DỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH TIỀN TỆ BIÊN GIỚI Trung - Việt 10
1.1 Khái quát sự phát triển của mậu dịch Trung - Việt thời cổ đại 10
1.2 Khái quát sự phát triển của mậu dịch Trung - Việt thời cận đại 13
1.3 Một số thành tựu về mậu dịch của hai nước Trung - Việt 21
1.3.1 Mậu dịch Trung – Việt giai đoạn 1991 - 2000 22
1.3.2 Mậu dịch Trung – Việt giai đoạn 2001-2006 24
1.3.3 Mậu dịch Trung – Việt giai đoạn 2007 - 2014 26
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA “NGÂN HÀNG TỰ PHÁT” TẠI BIÊN GIỚI TRUNG - VIỆT 29
2.1 Thực trạng giao dịch, buôn bán ở biên giới Trung - Việt 29
2.1.1 Cơ cấu hàng hóa của Trung Quốc xuất sang Việt Nam 29
2.1.2 Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam 33
2.1.3 Hình thức mậu dịch và các loại hàng hóa mua bán giữa Trung Quốc và Việt Nam 34
2.1.4 Tình hình phát triển kinh tế mậu dịch của của Việt Nam và Trung Quốc những năm gần đây 36
2.2 Lý thuyết cơ bản phát triển của “Ngân hàng tự phát” 45
2.2.1 Khái niệm liên quan của “Ngân hàng tự phát” 45
2.2.2 Lý thuyết liên quan đến phát triển của “Ngân hàng tự phát” 48
2.3 Tiểu kết chương 2 55
Chương 3 ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN “NGÂN HÀNG TỰ PHÁT” 56
3.1 Nguồn gốc của các loại “Ngân hàng tự phát” 56
Trang 73.1.1 Nguồn gốc lịch sử của “Ngân hàng tự phát” 56
3.1.2 Nguồn gốc xã hội: “Ngân hàng tự phát” để bù đắp cho sự thiếu hụt trong cơ chế giải quyết thương mại biên giới 62
3.2 Tác động của “Ngân hàng tự phát” tới kinh tế biên mậu khu vực biên giới Việt - Trung 74
3.2.1 Điểm mạnh của hoạt động “Ngân hàng tự phát” và tính bất hợp pháp trong hoạt động của “Ngân hàng tự phát” 74
3.3.2 “Ngân hàng tự phát” dễ dàng thao tác tỷ giá hối đoái biên giới 82
3.3 Một số đề xuất về giải pháp quản lý đối với hoạt động “Ngân hàng tự phát” 83
3.3.1 Vấn đề trong quá trình phát triển “Ngân hàng tự phát” 83
3.3.2 Học tập kinh niệm quản lý “Ngân hàng tự phát” của Việt Nam 86
3.3.3 Các chính sách quản lý “Ngân hàng tự phát” mang tính công khai hóa và hợp phát hóa ở biên giới Trung - Việt 95
3.4 Tiểu kết chương 3 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
ACFTA: ASEAN - Trung Quốc Hiệp định Thương mại tự do
APEC: tiếng Anh:Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN: tiếng Anh: Association of Southeast Asian Nations,
viết tắt là ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
CBRC: China Banking Regulatory Commission
CIRC: China Insurance Regulatory Commission
CNDC: công ty xăng dầu Hải Dương Quốc gia Trung Quốc
CSRC: China Securities Regulatory Commission
DWT: Deadweight tonnage, là đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của tàu thủy tính bằng tấn
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA: Hiệp định thương mại tự do
PBOC: People's Bank Of China
Trung Quốc CMG: Merchants Group
WTO: tiếng Anh: World Trade Organization, viết tắt WTO,
tiếng Pháp: Organisation mondiale du commerce; tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG BỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ 1.1 Danh mực bảng biểu
Bảng 1.1 Tình hình cửa khẩu biên giới tỉnh Quảng Tây TQ và VN 14
Bảng 2.1: Tình hình xuất nhập khẩu Trung - Việt từ năm 1991 đến năm 2000 23
Bảng 3.1: Tình hình xuất nhập khẩu ở khu vực biên giới Việt – Trung giai đoạn 2001 – 2006 25
Bảng 1.2: Bảng thống kê các loại sản phẩm Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc ở khu vực biên giới Việt Trung 29
Bảng 2.2: Những sản phậm tự Việt Nam xuất khẩu đến Trung Quốc 30
Bảng 3.2: Cơ cấu hàng hóa từ Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 31
Bảng 4.2: Các loại sản phẩm xuất – nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc 34
Bảng 5.2 Bảng thống kê tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2009 – 2011 37
Bảng 1.3: Bảng so sánh ngân hàng chính quy và “Ngân hàng tự phát” 73
Bảng 2.3: Ưu thế của Ngân hàng tự phát 76
Bảng 3.3: Tình hình hoạt động của “Ngân hàng tự phát” 78
Bảng 4.3 Pháp luật quản lý của chính phủ Việt Nam đối với “Ngân hàng tự phát” 88 1.2 Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất, nhập khẩu giai đoạn 1991 - 2000 22
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất, nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2002 25
Biểu đồ 1.3: Cơ cấu các doanh nghiệp thanh toán bằng “Ngân hàng tự phát 81
1.3 Danh mục Sơ đồ Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kế toán mậu dịch biên giới Việt – Trung 54
Sơ đồ 1.3: Các hình thức tổ chức của ngân hàng biên mậu 109
Trang 10Trong mối quan hệ phát triển hai nước như vậy, trong cái lĩnh vực phát triển sôi động nhất, đến bất kỳ cửa khẩu nào mà có giáp giới giữa biên giới hai nước đều chính kiến, hoạt động chính kiến rất là sôi động, hàng hóa nông nghiệp, hàng hóa lâm nghiệp, hàng hóa công nghiệp, thậm chí là hàng hóa văn hóa trao đổi giữa hai nước rất thường xuyên Đó là một trong những tuyến biên giới có hoạt động biên giới sôi động, hiện nay là toàn bộ khu vực Đông Nam Á Hoạt động kinh tế biên
mậu có 3 loại hình: Một là, mậu dịch quốc gia của hai nước, đây là hình thức cơ bản của mậu dịch kinh tế Trung - Việt Hai là, công ty mậu dịch hai nước phải tuân theo
xuất nhập khẩu quy định của nhà nước,mậu dịch này chủ yếu là hàng hóa trao đổi
Trang 112
của vùng biên giới hai nước,đây là hình thức phụ của mậu dịch kinh tế Trung - Việt
Ba là, mậu dịch tiểu ngạch trao đổi cư dân hai bên, đây là hình thức truyền thống
của mậu dịch kinh tế Trung - Việt Đặt ra những vấn đề không chỉ là vấn đề kinh tế, vấn đề an ninh, còn có vấn đề an ninh xã hội, còn vấn đề đả bảo lợi ích chính cho tham gia hoạt động như vậy Hơn nữa, thì giao dịch “Ngân hàng tự phát” không chỉ lãi xuất, còn có nhiều dịch vụ
Khái niệm liên quan của Ngân hàng tự phát
“Ngân hàng tự phát” tồn tại trong khu vực biên giới Trung - Việt (đặc biệt là tại các cửa khẩu thương mại biên giới thịnh vượng, khu kinh tế và các điểm thương mại biên giới), để tham gia vào các dịch vụ đổi tiền, thanh toán tiền hàng, chuyển tiền, chủ yếu là trong các dịch vụ thương mại biên giới loại nhỏ và tổ chức kinh doanh thương mại truyền thống ở biên giới Vì hoạt động kinh doanh của nó với hoạt động kinh doanh của ngân hàng chính quy tương tự, lại mang hình thức kinh doanh bán hàng rong, được người dân địa phương gọi là “Ngân hàng tự phát”
Ở Trung Quốc, một số học giả đã coi “Ngân hàng tự phát” giống như ngân hàng ngầm Sau khi nghiên cứu, tác giả đã khảo sát thực địa phân tích và các thông tin có liên quan, cho rằng hai loại ngân hàng này khác nhau nhưng có liên quan với nhau Vì vậy, đối với “Ngân hàng tự phát” tiến hành giới định khái niệm để xác định, cũng cần thiết để xác định khái niệm về ngân hàng ngầm và phân tích mối quan hệ giữa hai ngân hàng
Ngân hàng ngầm có nghĩa là không qua cơ quan quản lý tài chính nhà nước phê duyệt thành lập, nhằm thu được lợi ích bất hợp pháp, tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp như tiền gửi giao dịch tài chính, cho vay lãi xuất cao hơn ngân hàng, cho vay nặng lãi, chuyển tiền, vốn phi pháp qua biên giới, phi pháp hoạt động giao dịch truyền thống và tổ chức tài chính, trong số đó hầu hết trong thế giới thực
là theo hình thức công ty đầu tư tài sản tồn tại
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã ban hành (năm 2004 Trung Quốc chống rửa tiền) báo cáo cho thấy, ngân hàng ngầm là một tổ chức tài chính bất hợp pháp,
Trang 123
nó lợi dụng hoặc lợi dụng một phần mạng lưới thanh toán ngân hàng và tổ chức tài chính khác, triển khai tiết kiệm và vay vốn, chuyển xuyên tiền vốn qua biên giới, bất hợp pháp kinh doanh ngoại hối và hoạt động tài chính bất hợp pháp khác Và chỉ
ra rằng các ngân hàng ngầm trôi dạt bên ngoài hệ thống quản lý tài chính, rất dễ dàng để trở thành rửa tiền, trốn thuế, buôn lậu, tham nhũng và các hoạt động tội phạm khác Theo các loại kinh doanh chủng loại khác nhau, ngân hàng ngầm có thể được chia thành: ngân hàng ngầm loại kiểu tiết kiệm cho vay và ngân hàng ngầm đổi ngoại tệ Có hai loại ngân hàng: ngân hàng ngầm kiểu tiết kiệm cho vay chủ yếu là tham gia thu hút tiền tiết kiệm và dịch vụ cho vay vào bất hợp pháp, kiểu ngân hàng ngầm trao đổi tiền ngoại tệ chủ yếu là triển khai đổi tiền tệ và hoạt động vốn xuyên biên giới Thông qua cả hai “Ngân hàng tự phát” và “ngân hàng ngầm” tiến hành xác định, nó có thể được nhìn thấy tồn tại trong khu vực biên giới Trung - Việt “Ngân hàng tự phát” không liên quan đến dịch vụ gửi tiền, so với kiểu đổi tiền
“ngân hàng ngầm” dịch vụ hình thức tương tự Nhưng sau khi tác giả thông qua các doanh nghiệp thương mại biên giới, các hộ cá thể và thậm chí những người kinh doanh “Ngân hàng tự phát” tại thành phố Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn sâu đã tìm hiểu được rằng: không phải tất cả các “Ngân hàng
tự phát” đều tham gia có liên quan đến rửa tiền và các hoạt động vi phạm khác Nhiều người kinh doanh “Ngân hàng tự phát” chỉ kiếm chênh lệch tỷ giá từ việc bán đồng nhân dân tệ sang tiền Việt Nam, tiền USD hoặc ngoại tệ khác hoặc theo trong khi ngân hàng chính quy quốc gia giữa tiền Trung Quốc và tiền Việt Nam thanh toán thương mại biên giới không thông thoát, giúp một số doanh nghiệp biên giới thương mại số lượng nhỏ và các hộ cá thể thương mại biên giới giao dịch kinh doanh làm dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác
Hiện nay, thông qua các “Ngân hàng tự phát” hầu hết thanh toán thương mại là những thương mại hợp pháp Vì vậy, mặc dù các “Ngân hàng tự phát” và ngân hàng ngầm dịch vụ kinh doanh tương tự và cũng đều là các tổ chức tài chính phi chính thức, được ẩn trong “ngầm”, nhưng bài viết này sẽ phân biệt “Ngân hàng tự phát”
Trang 134
và “ngân hàng ngầm” Theo giới chuyên môn nghiên cứu, ngân hàng tồn tại trong khu vực biên giới Trung - Việt, chủ yếu là tham gia trao đổi tiền tệ, thanh toán tiền vốn và hoạt động chuyển tiền khác, trong thế hệ thanh toán biên mậu Trung - Việt chiếm một vị trí quan trọng, loại kinh doanh thanh toán theo hình thức bán rong tổ chức kinh tế dân gian này gọi là “Ngân hàng tự phát”
1.2 Lý do khoa học
- Nguồn gốc lịch sử
Hoạt động “Ngân hàng tự phát” này không phải là bây giờ mới phát triển, cũng không phải là bây giờ mới có mà là có hàng trăm năm nay, đặc biệt kể từ khi hai nước có đường biên giới, thì đây là trở thành một thói quen Trong cái giao dịch song biên giới giữa hai nước thì cái thói quen này càng được củng cố vùng biên giới Trung - Việt, bởi vì cái vùng đấy thì cửa giao thương kinh tế, trước đây còn có rất nhiều thương mại của người Trung Hoa, có cả người Việt Nam
Nhóm buôn bán có xu hướng “lách luật” buôn lậu
Thông qua nghiên cứu “Ngân hàng tự phát” hay là “Ngân hàng tự phát” này
càng ngày càng có ít tôn trọng pháp luật của ngân hàng chính Trung Quốc và Việt Nam Bài viết này giới thiệu trước quá trình diễn ra phát triển và nguồn gốc của
“Ngân hàng tự phát” Sau khi phân tích hiện trạng “Ngân hàng tự phát” của khu biên giới Trung Việt, sử dụng phương thức điều tra và phỏng vấn các xí nghiệp và thương nhân của khu biên giới Hà Khẩu Vân Nam-Trung Quốc Lào Cai (Việt Nam)
để phân tích sử dụng tình hình “Ngân hàng tự phát”, theo sự phân tích của kết quả này có thể cho rằng “Ngân hàng tự phát” thoả mãn nhu cầu của kết quả tiền vốn của các thương nhân trao đổi cư dân biên giới và các xí nghiệp tiểu ngạch, tồn tại của nó
Trang 145
có kết luận tính khách quan và tính hợp lý Tiếp đó ,nghiên cứu những vấn đề phát triển và nguyên nhân của sự phát triển của “Ngân hàng tự phát” Trên cơ sở đó học kinh nghiệm quản lý “ Ngân Hàng Ngoài Đường” của Việt Nam, bài viết này đưa ra chính sách quản lý “Ngân hàng tự phát” của biên giới Trung Quốc phải rõ rằng, Chính sách đổi tên “Ngân hàng tự phát” đổi tên “Ngân hàng Biên Mậu”, chủ yếu bao gồm 6 phương diện như sâu:
1 Đưa ra pháp luật và pháp quy rõ ràng đối với “ Ngân hàng Biên Mậu”;
2 Thiếp lập chế độ giám sát của ngân hàng biên mậu;
3 Cho ngân hàng biên mậu khuyến khích và chính sách ưu đãi, thành lập thị trường kinh doanh thống nhất;
4 Dành cho ngân hàng biên mậu và ngân hàng thương nghiệp giao lưu hoạt động, triển khai hoạt động lành mạnh và cạnh tranh tốt;
5 Khuyến khích ngân hàng biên mậu tổ chức và sáng tạo nghiệp vụ mới;
6 Hoàn thiện biện pháp đầy đủ và rõ ràng của ngân hàng biên mậu
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu về quan hệ Trung - Viêt sau năm 1991
Chính sách đổi mới từ năm 1986 đến nay khoảng hơn 25 năm đổi mới, đã tác động đến mọi mặt đời sống của cả xã hội Việt Nam trên tất cả mọi phương diện Sự đánh giá quá trình 25 năm chuyển biến của hoạt động tinh thần của người Việt là vô cùng quan trọng, bởi vì cũng trong khoảng thời gian này, thế giới cũng đang đối diện với một chuyển động lớn nhất trong lịch sử nhân loại: biến đổi khí hậu, sự khan hiếm của tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái kinh tế của Âu Mỹ, sự bùng nổ của thế lực Trung Quốc, sự xung đột các tôn giáo ở Trung Đông… Thế giới và nhân loại đang đứng trước một sự thay đổi lớn về môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội và tâm linh con người Trong khi đó, kinh nghiệm 25 năm đổi mới và chuyển biến lớn của xã hội Việt Nam đã để lại nhiều bài học sâu sắc về mặt ứng xử của con người trước thay đổi của môi trường - môi trường tự nhiên cũng như môi trường kinh tế
Trang 156
Trong kết toán mậu dịch biên mậu, Phạm Kim Nga [24] phân tích số liệu từ năm 1991- năm 2006 mậu dịch xuất nhập khẩu hai nước Trung Việt, tìm hiểu đặc trưng và hiện trạng phát triển của mậu dịch hai nước, phát hiện vấn đề chủ yếu là mậu dịch hai nước mất cân đối, phân tích nguyên nhân mậu dịch mất cân đối Chu Tăng Lương [23] nghiên cứu phát hiện những năm gần đây trong mậu dịch đối ngoại Việt Nam vẫn là trạng thái nhập siêu
Trong vị trí của hai bên mậu dịch, Vương Quyên [36] vận dụng thiệt bị phần mềm SPSS phân tích số liệu thống kê thực tế mậu dịch hai bên Trung - Việt, phát hiện quan hệ số liệu là 0.981, chỉ ra hai nước có thể hỗ trợ với nhau
2.2 Các công trình nghiên cứu về biên mậu Trung - Việt
Trong chính sách mậu dịch Trung - Việt, Nguyễn Văn Chính cho rằng hai nước đều đang ở thời đại nền kinh tế có kế hoạch chuyển hướng kinh tế thị trường, tồn tại nhiều nguyên nhân hạn chế,ví dụ như: mâu thuẫn xã hội rất phức tạp, kỹ thuật lạc hậu, pháp luật không thuận tiện, nhưng theo chính phủ hai nước với cải cách mới, chính phủ hai bên có thể mượn ưu thế ví dụ như: thuận lợi của giao thông địa lý, nguồn gốc lịch sử và cấu trúc của sản phẩm bổ sung cho nhau, thúc đẩy phát triển toàn diện của quan hệ mậu dịch hai bên Nguyễn Thị Thủy [44] giới thiệu quan hệ hợp tác mậu dịch hai nước Trung - Việt, phân tích các nguyên nhân có lời phát triển quan hệ mậu dịch hai nước Trung - Việt ví dụ như: địa lý, chính trị, văn hóa v.v
1 Nghiên cứu vấn đề về phát triển mậu dịch Trung - Việt
2 Nghiên cứu chính sách thúc đẩy phát triển mậu dich Trung - Việt
Nguyễn Thị Khi Dung [9], Viện Nghiên Cứu Quản lý kinh tế Trung Ương
(Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ 1999): ''Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng
cơ chế chính sách và các biện pháp quản lý kinh tế đặc thù đối với khu vực cửa khẩu trên bộ phía Bắc Việt Nam'' Tác giả khẳng định rằng, giao lưu kinh tế qua
biên giới là sự thể hiện xu thế hội nhập kinh tế giữa các nước gần nhau về vị trí địa
lý, thực hiện mục tiêu mở rộng hợp tác kinh tế giữa các nước láng giềng
Trang 167
Đề tài khoa học cấp Bộ: "Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại hàng
hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ thời kỳ đến 2005", do tác giả
Phạm Thị Cải [2] làm chủ nhiệm cho thấy: Phát triển thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ là chủ trương của cả Chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Việt Nam
Tác giả Nguyễn Đăng Ninh [25] trong ''Đổi mới quản lý nhà nước về hoạt
động xuất nhập khẩu trên địa bàn các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc'', NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, khẳng định, cùng với quá trình cải cách và mở cửa, trên cơ sở nhận thức vai trò của hoạt động kinh tế biên mậu mà trọng tâm là việc thúc đẩy giao lưu kinh tế qua các cửa khẩu trên bộ, Chính phủ Việt Nam đã ban hành hàng loạt các chính sách có liên quan để hỗ trợ cho quá trình này
“Đề án phát triển biên mậu Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ 2006 – 2010” của
Bộ Thương mại [1] nhận định: Trung Quốc là một nước đang phát triển có dân số lớn nhất thế giới, kinh tế phát triển vào loại nhanh nhất thế giới Ngay từ những ngày đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc đã có một chiến lược khá toàn diện trong việc phát triển biên mậu, cho đến ngày nay đang tham gia sâu vào thể chế kinh tế thế giới nhưng về cơ bản vẫn duy trì những chính sách đó
2.3 Các công trình nghiên cứu về hoạt đồng “Ngân hàng tự phát”
Tóm lại, qua đánh giá sơ bộ tình hình nghiên cứu có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu đã thực hiện mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh trong quan hệ thương mại Trung - Việt Chưa có công trình nào đi sâu vào việc đánh giá một cách
có hệ thống thực trạng và triển vọng “Ngân Hàng Ngoài Đường” Hiện nay, nhiều văn bảng chủ yếu phân tích những phương diện như cấu trúc mậu dịch, tiêu thụ mậu dịch, địa vị mậu dịch, chính sách mậu dịch v.v Một phần văn bản nghiên cứu vấn
đề tồn tại mậu dịch Trung - Việt và nguyên nhân hạn chế phát triển mậu dịch Trung- Việt, đưa ra chính sách cải thiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
“Ngân Hàng Tự Phát” ở một số khu vực biên giới Trung - Việt
Trang 178
3.2 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
- Làm rõ nguồn gốc lịch sử của hoạt động biên mậu “Ngân hàng tự phát”
- Làm rõ nguồn gốc xã hội của hoạt động biên mậu “Ngân hàng tự phát”
- Làm rõ nguồn gốc kinh tế của hoạt động biên mậu Ngân hàng tự phát”
- Làm rõ tác động của “Ngân Hàng Tự Phát” đối với kinh tế biên mậu Việt – Trung
- Khảo sát và đánh giá thực trạng phát triển của Ngân hàng tự phát”
- Đề xuất một số giải pháp quản lý đối với “Ngân hàng tự phát”
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành: lịch sử, văn hóa, kinh tế
1 Khảo sát thực trạng phát triển của nền kinh tế Việt Nam, thông qua các tài liệu,
sự kiện và các hoạt động kinh tế biên mậu thể hiện trạng thái của mậu dịch biên giới Trung - Việt
2 Tổng hợp các tư liệu liên quan đến mậu dịch biên giới Trung - Việt ở khu vực biên giới Trung - Việt, chủ yếu là khu vực biên giới huyện Hà Khẩu Trung Quốc và tỉnh Lào Cai Việt Nam và trên thế giới
3 So sánh sự phát triển của mậu dich biên giới huyện Hà Khẩu Trung Quốc và tỉnh Lào Cai Việt Nam
4 Khảo sát thực tế ở một số biên giới huyện Hà Khẩu Trung Quốc và tỉnh Lào Cai Việt Nam theo hướng tiếp cận liên ngành Dân Tộc Học và Xã Hội Học
Trang 189
Chương 1: Khái quát lịch sử phát triển mậu dịch và hoạt động giao dịch tiền tệ
ở biên giới Trung - Việt
Chương 2 Thực trạng pháp triển của hoạt động “Ngân hàng tự phát” ở biên giới huyện Hà Khẩu Trung Quốc và Lào Cai Việt Nam
Chương 3 Phân tích và đánh giá về hoạt động của “Ngân hàng tự phát”
Trang 1910
Chương 1
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN MẬU DỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG GIAO
DỊCH TIỀN TỆ BIÊN GIỚI Trung - Việt
1.1 Khái quát sự phát triển của mậu dịch Trung - Việt thời cổ đại
Năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, thiết lập một vương triều phong kiến tập quyền trung ương thống nhất đầu tiên trong lịch
sử Trung Quốc Nhà Tần phía Bắc đánh đuổi Hung Nô, xây dựng Vạn lý trường thành để bảo vệ bờ cõi của mình; nam chinh bắc chiến, thiết lập quận huyện để cai trị, sau khi Tần Thủy Hoàng thôn tính Bách Việt, đã lập thêm bốn quận Mân Trung, Nam Hải, Quý Lâm, Tượng Quận Tượng Quận nằm ở Bắc bộ Việt Nam ngày nay, nhưng nhà Tần mệnh vận rất ngắn, sớm bị diệt vong.Nhà Hán ra đời Vào đời Hán
Vũ Đế, đời nhà Hán trong khu Lĩnh Nam thiết lập 09 quận, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là ba quận hiện nay là Trung bộ và Bắc bộ Việt Nam
Nhà Đường thay thế nhà Hán trị vì đất nước, đời Nam Bắc triều thống trị Giao Châu mấy trăm năm Nhà Đường mới đầu đặt Giao Châu là Tổng quản phủ, sau đó lại đổi thành Giao Châu Đô đốc Phủ năm 679 lại đổi tên thành An Nam Đô Hộ Phủ thành phủ, hiện nay là Hà Nội Năm 939, Ngô Quyền tự xưng vua, Bắc bộ Việt Nam bắt đầu độc lập với Trung Quốc Lãnh thổ của triều Nguyên vượt quá Hán Đường Nửa sau thế kỷ 13, Nhà Nguyên đã ba lần tấn công xâm lược nước Đại Việt
và cả ba lần đều bị thất bại Nhưng không lâu, nhà Nguyên và nước Việt Nam lại khôi phục quan hệ truyền thống bang giao Từ đó đến cuối Nguyên, sứ thần của hai nước đi lại thường xuyên và cũng không còn đối đầu quân sự quy mô lớn nữa Cả hai nước duy trì mối quan hệ hòa bình và thân thiện
Nhà Minh thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình Sau khi, Chu Nguyên Chương lên làm Hoàng đế, An Nam [19] đã nhận cáo dụ của nhà Minh và xin nhà Minh sắc phong, thiết lập mối quan hệ của nhà Minh với nước An Nam Mối quan hệ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á trong thời kỳ này là thịnh vượng nhất
Trang 2011
Mối quuan hệ ấy được hình thành từ nhà Minh duy trì cho đến thời kỳ nhà Thanh (năm 1644-1840) Năm 1666, nhà Thanh chính thức phong Lê Duy Hỷ làm vua Đại Việt [13], từ đó nước Đại Việt định kỳ cống vật cho Nhà Thanh, mối quan hệ hòa hảo giữa hai nước duy trì hơn hai trăm năm Nhân dân được sống trong hòa bình
Nhà Tống, mậu dịch có đường bộ và đường thủy Mậu dịch đường thủy chủ yếu là Khâm Châu, Liêm Châu (hiện nay là huyện Hạ Phố, tỉnh Quảng Châu), từ Đại Việt đi thuyền đến, đường bộ gần phải mất nửa ngày mới đến Nếu từ Đại Việt đến Vĩnh An Châu (nay là Tỉnh Quảng Ninh) đến Khâm Châu thuyền phải đi mất một ngày mới đến
Khi mới bắt đầu từ Đại Việt đi thuyền đến Liêm Châu, vì đường sá xa xôi, gió biển lớn, sóng biển cao, thường hay xảy ra tai nạn, thuyền bị đắm, cho nên những thương nhân chuyển sang đi bên đường Khâm Châu Đường mậu dịch bằng đường
bộ chủ yếu là tại Vĩnh Bình Trại (nay là huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam)
và Nam Giang San
Khi đó, những điểm mậu dịch này được gọi là Bãi Bác Dịch Bãi Bác Dịch nằm tại ngoại thành Khâm Châu Dịch Giang Đông, mậu dịch ở đây có hai loại: Một loại là mậu dịch dân gian, lượng mậu dịch không lớn, gọi là tiểu cương Chính quyền ở đây tiến hành quan phương mậu dịch, số lượng lớn, gọi là đại cương Dân Châu Vĩnh An (Đại Việt) sinh sống gần bờ biển nên họ sống nhờ biển, họ bắt cá, tôm, ngao và các loại hải sản để đi đổi với người Trung Quốc lấy gạo và vải
Thương nhân người Việt chuyên làm nghề mậu dịch, nếu đến Khâm Châu buôn bán, phải nộp công văn trước cho quan phủ Khâm Châu mới được từ đường biển vào Bãi Bác Dịch Khâm Châu tiến hành giao dịch, thương nhân Đại Việt và quan viên mang các hàng đến bán chủ yếu như vàng, bạc, đồng tiền, hương trầm, hương quang, hương thục, hương sinh, chân châu ngọc trai, ngà voi, sừng trâu Tiểu thương nhân của Tống triều thì mang giấy, bút, gạo, vải đến giao dịch với người Việt
Trang 2112
Những thương nhân giàu có thường là người Tứ Xuyên [46], họ mang đến thổ cẩm, mua về các loại hương của Đại Việt, số lượng giao dịch có thể đạt đến hàng nghìn lạng, nhưng một năm chỉ đi lại được một lần Hai bên mua và bán đàm phán,
họ ngồi với nhau vừa uống rượu, vừa trò chuyện, vừa trả giá Quan phủ theo tỉ lệ
400 tiền thu 30 tiền thuế Hai bên đều có một số gian thương, triều Tống có người bán thuốc giả, có thương nhân người Việt xảo quyệt trộn đồng vào vàng bạc, hương trầm ngâm muối, để cho nó chìm được xuống nước
Bãi Bác Dịch Thủy Bình Trại chỉ cách Đại Việt một dòng sông là thị trường giao dịch chủ yếu của đường bộ Ở đây, mậu dịch dân gian là chủ yếu Giao Chỉ [15] chủ yếu có các sản phẩm là hương liệu, sừng trâu, ngà voi, vàng bạc và muối… để đổi các loại hàng vải, lụa với người Tống Triều
Huyện Vũ Duyên (nay là huyện Vũ Minh, Trung Quốc) sản xuất loại vải khổ hẹp rất được ưa chuộng Điểm mậu dịch Nam Giang San (nay là biên giới Long Châu, Quảng Tây) là nơi mậu dịch dân gian tiến hành mậu dịch của Tô Mậu Châu Đại Việt, dân biên giới Đại Việt mang đồ thổ sản của miền núi đến đổi hàng vải, cẩm, the lụa của dân biên giới nhà Tống Ngoài ra, còn có những mậu dịch phi pháp
Gần biên giới Đại Việt có nơi thịnh sản mỏ vàng, thiếu lao động, đã lừa người
từ Tống Triều bán sang Đại Việt để làm nô lệ, khai thác mỏ vàng
“Nam Châu khách lữ, lừa người làm nô gánh phụ, khi đến Châu Động thì trói lại mang đi bán, mỗi người bán được hai lạng vàng Từ Châu đông lại bán đến Giao Chỉ, bán được ba lạng vàng, mỗi năm bán ra mấy trăm gần nghìn người, nếu
ai có năng khiếu nghệ thuật thì bán giá gấp đôi, hiểu biết văn sách thì hơn bán được hơn hai lần nữa Lấy khăn che mặt đi đường, đầu ngẩng lên để không nhìn thấy đường mà biết là đi đâu Ra khỏi nước, họ chỉ biết người chủ và phải làm
nô lệ cả đời, trên trán bị khắc 4-5 chữ, đàn bà con gái thì khác chữ vào eo Họ bị bắt giữ đánh đập nếu chạy trốn sẽ bị giết chết” [75]
Ở thời nhà Nguyên, khi Đại Việt trong thời kỳ triều Trần, vì triều Trần áp dụng
Trang 2213
chính sách phong tỏa, mậu dịch của hai nước Trung - Việt đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhưng hai dân biên giới trên sinh hoạt vẫn cần phải đi lại trao đổi Mậu dịch dân gian thời kỳ này vẫn được tiến hành Hàng hóa của Đại Việt có bạc trắng, đồng, thiếc, ngà voi, lông thú, quế, cau…đổi với hàng Trung Quốc là lụa, thổ cẩm, vải, lược ngà, giấy và đồ đồng, đồ sắt
Mậu dịch của thời Minh vẫn có đường thủy và đường bộ, vì đi đường thủy số lượng vận chuyển lớn và nhanh, thuận tiện Họ đã mở Phường Thành, Phật Đào hai đường thủy Tao, Ninh Việt, Dung Luân hai trạm thế vận chuyển, Phật Đào, Long Môn Huyện Linh Sơn có Long Môn, An Xuyên Hai mã Tao, An Hà, Cơ Mu là hai trạm vận chuyển Thiên Mã Sao huyện Khâm châu là trạm đường thủy và đường ngựa đều đi được Đại Việt cũng có thiết lập An Thủy Sao của Tĩnh An Châu, Đồng An trạm vận chuyển, Vạn Ninh Thủy Tao, Vạn Ninh trạm vận chuyển của huyện Vạn Ninh
1.2 Khái quát sự phát triển của mậu dịch Trung - Việt thời cận đại
Bảng 1.1 Tình hình cửa khẩu biên giới tỉnh Quảng Tây TQ và VN
Cửa khẩu Trung Quốc Cửa khẩu Việt Nam
Hữu Nghị Quan Hữu Nghị Quan
Bình Nhi Quan Binh Nhi Quan
Trang 2314
Nhà Thanh từ Trung Quốc sang Việt Nam bằng đường bộ chủ yếu qua 7 con đường, ở tỉnh Quảng Tây có 5 đường đi Con đường thứ nhất là từ Bằng Tường, Quảng Tây thông qua thị Trấn Nam Quan (nay là Hữu Nghị Quan), đi vào Văn Uyên, Việt Nam (nay là Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn Việt Nam) Đây là đường chỉ dùng để vận chuyển đồ cống cho triều đình thương khách dân gian không được đi lại
Đường thứ hai là từ Bằng Tường, Quảng Tây đi sang Văn Uyên, Thoát Lãng, Lạng Sơn Đường thứ ba là từ Phủ Tư Minh (nay là huyện Ninh Minh) qua Ma Thiên Lĩnh, qua Tư Linh, Lộc Bình Nhì Châu đến Việt Nam
Đường thứ bốn là từ Dật Long Châu Bình (sau gọi là Quan, nay thuộc thành phố Bằng Tường) sang Thất Uyên Châu Việt Nam Đường thứ năm là Quan Long Khẩu của Long Châu sang Đạt Long, Việt Nam
Trong địa phận của tỉnh Vân Nam có hai đường đi: đường thứ nhất là Từ Mông
Tự qua Liên Hoa Than đi sang Trình Lan động Việt Nam; đường thứ hai là từ Dật
Hà Dương sang Việt Nam Trước thời kỳ Càn Long (1736-1795) mậu dịch Trung - Việt đóng cửa Trong thời kỳ Càn Long, theo yêu cầu của vua Việt Nam, Nguyễn Quang Bình, mới bắt đầu hồi phục thương mại mậu dịch
Thời kỳ Dân Quốc, tiền lưu thông trên thị trường rất phức tạp, chế tạo của Pháp lưu thông tại Việt Nam là đồng tiền xu Pháp Quang, tiền giấy Pháp giấy, còn người Anh sử dụng tại Hồng Kông là đồng tiền Cảng Dương, tiền giấy gọi là Cảng Giấy Xưa khi Lục Vinh Đình cai quản Quảng Tây và năm 1918 phát hành đồng tiền
và tiền giấy “tiền Lão Quế” [31], dân biên giới gọi là “tiền Lão Lộc”
Năm 1932, Lục Vinh Đình lại tiếp tục phát hành “tiền Quế” Có hai loại tiền:
tiền đồng xu và tiền giấy, đồng thời, còn lưu thông nhiều loại tiền khác Đến thế kỷ
20, những năm 40, nhất là năm 1946 - 1949, vì thời cuộc không ổn định nên đồng tiền sử dụng còn hỗn loạn, phức tạp Đồng tiền không ổn định, mất giá rất nhanh, sáng tối tỷ lệ khác biệt rất lớn, chẳng hạn như buổi sáng số tiền có thể mua được một đấu gạo, chiều thì chỉ đủ mua một nửa đấu gạo thôi
Trang 2415
Việt Nam sử dụng đồng tiền là của ngân hàng Hội Lý Đông Phương Pháp phát
hành “BO SHI TE” Biến động tỷ giá ảnh hưởng lớn đến phát triển thương mại của
cả hai bên Từ năm 1840, sau chiến tranh thuốc phiện, chính sách đóng cửa tự thủ của Trung Quốc bị phá vỡ, hàng nhập từ phương Tây sang đến duyên hải đông Nam
bị bán phá giá , dần dần lan rộng vào lục địa, sau mấy chục năm sau đó, một số sản phẩm mới từ ba tuyến đường vào biên giới Việt Trung
Tuyến đường thứ nhất là Hương Cảng - Quảng Châu Ngô Châu - Nam Ninh - Long Châu hoặc Bạch Sắc; tuyến thư hai là Hải Phòng Việt Nam - Hà Nội - Lạng Sơn - Long Châu Quảng Tây Trung Quốc; Tuyến đường thứ ba là Hải Phòng Việt Nam - Hà Nội - Lào Cai - Hà Khẩu, lúc đó thuộc tỉnh Quảng Đông, Đông Hưng - Móng Cái Việt Nam cũng là một điểm mậu dịch, nhưng không bằng Long Châu - Lạng Sơn, Hà Khẩu - Lào Cai phồn vinh
Khi đó giao thông không thuận lợi, đường bộ quốc lộ rất ít, giao thông vận chuyển đắt, các phương tiện vận chuyển thô sơ Chủ yếu là do người gánh ngựa thồ, lượng vận chuyển có hạn Vận chuyển bằng thuyền đi theo đường thủy rất lớn, nó vừa thuận lợi, vừa rẻ cho nên những thị trấn gần bờ sông từ từ phát triển, trở lên phồn vinh Long Châu nhờ vào sông Lệ Giang (nay là sông Tả) nguồn chảy từ Việt Nam, đi theo dòng sông Chảy, qua tổng Tà, Phục Thuận, dọc theo nước chảy
về phía đông, qua Quý Cảng, Ngô Châu đến Quảng Châu
Hà Khẩu dựa vào sông Nậm Thi Mặc dù Đông Hưng có đường biển, phía nam
có thể đi đến Hồng Kỳ, Hải Phòng, miền Bắc có thể đi đến được Bắc Hải, Hồng Kông, nhưng đường lộ không có đường sông và cũng không có con đường lộ lý tưởng, vì vậy không tốt bằng Long Châu, Hà Khẩu phát triển và thịnh vượng Đến thời kỳ Dân Quốc, hàng ngoại đã đi vào thị trường Trung Việt nhiều năm
Có hai loại muối ăn, muối chín và muối thô Muối chín nhỏ mịn, nhưng hương
vị không ngon bằng muối biển, giá đắt hơn so với muối thô Muối biển giá rẻ nhưng thô Sức mua của dân biên giới không cao, thường mua muối biển
Ở Quảng Tây, đi theo đường bờ biển Hòa Phổ, Bắc Hải, Khâm Châu làm bằng
Trang 2516
muối biển, họ gánh đến Ngọc Lâm, chuyển qua Hằng Châu, Nam Ninh và sau đó bán ra biên giới Biên giới Vân Nam cũng có hai con đường chuyển muối ăn, một đường là được vận chuyển từ đất liền là muối giếng (còn gọi là muối nấu chín)
và một con đường khác là dọc theo sông Hồng vận chuyện muối biển đến Hà Khẩu
- Lào Cai Việt Nam
Lúc đó, biên giới chưa có đèn điện, dân biên giới ban đêm đốt đèn dùng dầu, không có đều kiện dùng giá cao dầu tây (kerosene, dầu hỏa), chỉ có thể dùng những dầu tự sản xuất như dầu trẩu, dầu vừng, dầu hạt cải
Mối quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam có hai ngàn năm lịch sử Có thể nói, trong quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á thì quan hệ giữa Trung - Việt thân mật nhất
Pháp xâm lược Việt Nam, không chỉ muốn xâm chiếm mà còn muốn phá hoại mối quan hệ truyền thống Trung - Việt Hơn thế nữa, Việt Nam biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, Vân Nam Trung Quốc, mục tiêu quan trọng của Pháp là muốn lợi dụng Việt Nam làm cơ sở để xâm lược Trung Quốc Đối với chính sách xâm lược và chiến tranh của Pháp, chính phủ nhà Thanh ban đầu có thái độ khá kiên quyết, nhưng trong chiến tranh thời kỳ đầu với sự thất bại của quân Thanh, lập trường của chính phủ nhà Thanh đã phát sinh biến đổi
Chính sách cơ bản của chính phủ nhà Thanh là để tránh chiến tranh cầu hòa, nhân nhượng và nhượng bộ Ngày 09 tháng 06 năm 1885, Lý Hồng Chương [20] đại diện cho chính phủ nhà Thanh và đại sứ viên Pháp tại Trung Quốc Bade Nuo đã
ký “Trung - Pháp hội định điều khoản Việt Nam” hoặc gọi là “Hiệp ước Trung -
Pháp” Trong hiệp ước này, chính phủ nhà Thanh chính thức công nhận Pháp là
thực dân thống trị Việt Nam
Kể từ đó, cắt đứt quan hệ quan phương truyền thống giữa Trung Quốc và Việt Nam đã kéo dài hơn 2000 năm Sau khi các cường quốc phương Tây chiếm đóng các nước khu vực Đông Nam Á, biến các nước này thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, nơi đầu tư và nơi cung cấp nguyên liệu của chúng Do Trung Quốc với khu vực
Trang 2617
Đông Nam Á về mặt địa lý tiếp giáp với nhau và có quan hệ lịch sử lâu đời gắn bó chặt chẽ, vì vậy trong triều đại nhà Thanh hệ thống thực dân, Trung Quốc và Đông Nam Á quan hệ thương mại đã được tiến lên phát triển hơn nữa
Cuối thể kỷ XIX, từ ba nước Việt Nam, Campuchia, Lào, người Pháp đã thành lập Liên bang Đông Dương Từ đó, Trung Quốc và Liên bang Đông Dương mức mậu dịch của năm 1897 là 103,5 lạng (tiền hải quan) Năm 1898 là 170,5 lạng, năm
1899 là 255,7 lạng, năm 1990 là 228,9 lạng, năm 1906 là 555,5 lạng, năm 1907 là 1091,7 lạng Cho dù, đồng tiền có hạ xuống một chút, nhưng nó vẫn giữ được giá trị cao Năm 1916 là 502,9 lạng, năm 1917 là 408,4 lạng, năm 1907 là 1091,7 lạng [55]
Khi Trung Quốc mới thành lập, ngày 05 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hồ Chí Minh đã gửi điện đến chúc mừng Chủ tịch Mao Trạch Đông Ngày 14 Tháng 01 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố
“Việt Nam sẽ sẵn sàng chuẩn bị thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước tôn trọng
quyền bình đẳng, lãnh thổ chủ quyền của nước Việt Nam và chủ quyền quốc gia của các nước”[33] Ngày hôm sau, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam - Hòang Minh
Giám đã gặp Thủ tướng Trung Quốc kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai Việt Nam công nhận Trung Quốc mới và quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, chính phủ Trung Quốc và cùng nhau phái đại
sứ trao đổi đi lại giữa hai quốc gia Ngày 18 tháng 1 năm 1950, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai đã gặp gỡ Bộ trưởng Ngoại giao Việt Hoàng Minh Giám: Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính quyền hợp pháp thay mặt cho ý chí của nhân dân Việt Nam Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao và cùng phái đại
sứ trao đổi, để củng cố mối quan hệ ngoại giao của hai nước, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa hai nước Như vậy, ngày 18 tháng 01 năm 1950, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam là nước Đông
Trang 271950 chính phủ Trung Quốc đã cử các cố vấn quân sự cho đoàn đại biểu Việt Nam
Với sự hỗ trợ của chính phủ Trung Quốc, Việt Nam triển khai Chiến biên giới
và chiến dịch Điện Biên Phủ một chiến dịch có tính chất quyết địch toàn diện chiến
thắng của Việt Nam Tháng 01 năm 1950 thiết lập lại quan hệ ngoại giao đến năm
1960, thương mại giữa hai nước đi theo con đường phát triển bình thường Năm 1950-1954, Việt Nam vẫn đang trong thời gian chiến tranh chống Pháp Tình hình phát triển thương mại bị ngưng trệ nhưng trong năm 1950, mức thương mại của Trung Quốc và Việt Nam là 10 vạn đô la Việt Nam và Trung Quốc trong năm
1952 đã ký một hợp đồng thương mại đầu tiên Đến năm 1978 Trung - Việt đã chấm dứt quan hệ mậu dịch Tuy nhiên, mỗi năm hai bên vẫn ký kết hiệp định thương mại
và giấy hợp đồng đổi hàng
Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc có thực phẩm, nông sản phẩm, động vật
và sản phẩm từ động vật, quặng thiếc và nhập khẩu từ Trung Quốc muối, gạo, sản phẩm công nghiệp, vải cây, sợi bông, dược phẩm, hóa chất Năm 1953, mức thương mại giữa hai nước đã tăng trưởng nhanh chóng, tăng gấp ba lần so với năm
1952 Đến năm 1950, xuất khẩu hàng hóa so với năm 1953 tăng hơn gấp đôi Từ năm 1952 - 1954, sản xuất nông nghiệp Việt Nam do ảnh hưởng kéo dài của chiến tranh, đời sống của người dân khó khăn, nhập khẩu chủ yếu là lương thực, vải, thuốc men và các hàng tiêu dùng cần thiết Năm 1954, sau khi ký Hiệp Định Genevơ [17], sự rút lui của quân đội Pháp ở miền Bắc Việt Nam, phía bắc vĩ tuyến
17 hoàn toàn được giải phóng Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa
Trang 2819
Năm 1954 - 1964, Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam ngoài các loại hàng tiêu dùng ra còn có thép, hóa chất, máy móc, thiết bị, vật liệu chịu lửa, xe lửa, máy công cụ cắt kim loại, thỏi nhôm và các sản phẩm ngành công nghiệp nặng khác, nhằm phục hồi và phát triển của ngành công nghiệp nặng tại Việt Nam Trên
cơ sở nguyên liệu sẵn có, Việt Nam xuất khẩu sang một bộ phận hàng công nghiệp như xi măng, gang thép, vải bông trắng, máy móc Sự phát triển thương mại Việt Nam – Trung Quốc thời kỳ này là rất nhanh Năm 1955 tổng mức nhập khẩu tăng hơn gấp đôi với năm 1954, sau đó từng năm tăng dần, từ năm 1956 với 47.920.000 nhân dân tệ đến năm 1964 tăng lên 74780 USD, tăng 64% so với năm 1956, năm
1964 hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc lần đầu tiên vượt quá 20 triệu USD, tăng 39% so với năm 1956 [36] Nhìn chung, những năm 50 thế kỷ 20, mậu Dịch của Việt Nam với Trung Quốc mới bắt đầu kinh doanh, mức thương mại tương đối nhỏ Đến năm 1950 sau, mức thương mại mậu dịch của hai nước gia tăng rất lớn, năm 1960 đạt đến 8331 vạn USD và những năm sau đó mỗi năm bình quân cũng khoảng trên 6000 đô la Mỹ Tháng 7, năm 1955, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp ước về vấn đề công ty thương mại địa phương quốc doanh của hai nước trao đổi hàng, thương mại quốc doanh địa phương chủ yếu là mậu dịch quốc gia cấp tỉnh,
mậu dịch địa phương quốc doanh làm theo nguyên tắc “Bình đẳng và cùng có lợi,
hỗ trợ lẫn nhau” yêu cầu xuất nhập khẩu cân bằng, mậu dịch quốc doanh cấp huyện
bù đắp cho sự thiếu thốn của thương mại quốc doanh cấp tỉnh Theo bản hiệp ước quy định liên quan, một số địa phương của tỉnh Quảng Tây, Vân Nam sẽ phân biệt với các cơ quan thương nghiệp của các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Lương Sơn, Việt Nam ký kết giao ước trao đổi hàng hóa Tháng 09 năm 1956 công ty mậu dịch tỉnh Vân Nam cùng với tỉnh Hà Giang, phía tây bắc Khu tự trị dân tộc Thái, Mèo (nay là tỉnh Lai Châu) Việt Nam Cũng năm 1956, Công ty lâm nghiệp tại Côn Minh đã ký
kết Hợp đồng xuất nhập khẩu mậu dịch quốc doanh địa phương Điền Việt Tỉnh
Vân Nam và Việt Nam đã xác định mức xuất nhập khẩu giữ trong vòng 1,5 triệu nhân dân tệ mỗi năm, số tiền này đã được sử dụng mãi cho đến năm 1969 khi Việt
Trang 2920
Nam chấm dứt hợp đồng, kéo dài 14 năm Các chuyến hàng đi từ Côn Minh, đến ba cửa khẩu: cửa khẩu Hà Khẩu, Sông Kim Hà, cửa khẩu Thiên Bảo giao nhận hàng hóa Cả hai bên hàng đổi hàng, đổi hàng còn thừa thì ghi sổ sách kế toán, thanh toán bằng ngân hàng, hàng hoá của công ty thương mại quốc doanh Tỉnh Vân Nam trao đổi nhập khẩu hàng về, có thể được bán trên địa bàn tỉnh Trong tháng 06 năm 1958,
đại biểu Trung - Việt đã ký Hiệp ước hội đàm vấn đề mậu dịch mức nhỏ, quy định
giữa hai công ty, công ty mậu dịch dân gian huyện Hà Khẩu và công ty mậu dịch Lâm Thổ Sản Lào Cai Việt Nam triển Khai khinh doanh mậu dịch số lượng nhỏ, hạn chế mức mậu dịch là trong vòng 10% của mức thương mại của quốc doanh tỉnh Vân Nam - Việt Nam, phương thức mậu dịch giống như mậu dịch quốc doanh cấp tỉnh Từ năm 1958 - 1965 trong tám năm thực hiện hợp đồng giữa các công ty thương mại quốc doanh cấp huyện, công ty xuất nhập khẩu và xuất huyện Hà Khẩu tổng số mậu dịch là 1.597.598 nhân dân tệ, trong đó xuất khẩu nhân dân tệ 82 vạn
9398 và nhập khẩu 76vạn 8.200 nhân dân tệ Khối lượng xuất nhập khẩu trung bình
trong năm là 19 vạn 9.700 nhân dân tệ Năm 1966 “Cách mạng Văn hóa” bắt đầu,
chấm dứt thương mại quốc doanh cấp huyện Ở Quảng Tây, các công ty thương mại quốc doanh địa phương với các công ty thương mại quốc doanh tương đương Việt Nam chỉ có một vài thương nhân Hàng xuất khẩu chủ yếu là vải bông, hạt giống lúa mì, giống trâu bò, thực phẩm, máy móc nông nghiệp, xe ngựa, bóng đèn, phích nước, pin và hàng tiêu dùng và văn phòng phẩm, mỹ phẩm Hàng nhập khẩu chủ yếu là dầu hỏa, muối biển, xi măng đá phosphate, pin chiếu sáng, rau, chuối, mây, mục nhĩ, các loại thảo mộc, thủy hải sản, lạc, dâu tây
Sau Hội nghị Geneve 1954, về khôi phục hòa bình ở Đông Dương, Hoa
Kỳ ngay lập tức không giữ lời hứa của mình Tháng 8 năm 1964, Hoa Kỳ đã tạo ra
“Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”[42] để lấy cớ, bắt đầu ném bom vào miền Bắc Việt Nam,
trực tiếp đưa quan sang xâm lược Việt Nam Về vấn đề này, chính phủ Trung Quốc
tuyên bố “Mỹ xâm phạm đến Việt Nam, là xâm phạm đến Trung Quốc, nhân dân
Trung Quốc sẽ không bao giờ ngồi xem mà không cứu”[3] Do cuộc đấu tranh
Trang 3021
chung của Việt Nam và Trung Quốc, Hoa Kỳ không trong trường hợp có thể chiến thắng trong chiến tranh Tháng 11 năm , Mĩ đã công bố vô điều kiện chấm dứt ném bom vào miền Bắc Việt Nam và trong tháng 01 năm 1969 bắt đầu cuộc đàm phán tại Paris Pháp Năm 1973, Mỹ và chính quyền Ngụy ở chiến trường miền Nam Việt Nam đã bị tấn công toàn diện, quân đội Mỹ đã buộc phải tuyên bố ngừng chiến và
vô điều kiện rút quân đội Mỹ xâm lược ra khỏi Việt Nam Năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc hơn nửa thế kỷ chiến tranh tại miền Nam Việt Nam
đã đạt được chiến thắng thống nhất đất nước, giải phóng dân tộc Theo thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1950 đến tháng 03 năm 1978, Trung Quốc trợ giúp vật chất Việt Nam tổng giá trị trên 20 USD, bao gồm cả vũ khí và đạn dược, vật tư quân sự, quần áo, thực phẩm, xăng dầu Tính theo trọng lượng, ở giai đoạn này, Trung Quốc đã cung cấp hỗ trợ cho hơn 100 tấn nguyên liệu hàng năm cho Việt Nam Trợ giúp vật chất của Trung Quốc sang Việt Nam là một sự hỗ trợ mà bất kỳ nước nào khác không thể so sánh được Từ năm 1978 đến năm 1990, thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc là thời kỳ Chiến tranh Lạnh Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1991 trong chuyến sang thăm Trung Quốc đã tiến hành cuộc hội đàm với chủ tịch Giang
Trạch Dân, lãnh đạo của hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã cùng ký bản “Công
Báo Liên Hợp Trung Việt”, kết thúc kéo dài 12 năm trạng thái bế tắc của hai bên
Năm 1999, các nhà lãnh đạo của hai bên Trung - Việt cùng xác định 16 chữ phương
châm về phát triển quan hệ của hai nước “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện,
ổn định lâu dài, hướng về tương lai” Năm 2000, hai nước đã ban hành “Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới”[32], để cho thế kỷ 21 quan hệ Trung -
Việt hữu nghị láng giềng tốt và hợp tác toàn diện giữa sự phát triển lành mạnh và ổn định đã đặt một cơ sở kiên cố vững chắc
1.3 Một số thành tựu về mậu dịch của hai nước Trung - Việt
Kể từ khi mối quan hệ hai nước bình thường hóa, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng, đạt tốc độ tăng trưởng rất cao Năm 1966, Trung Quốc chỉ là đối tác thương mại lớn thứ sáu của Việt Nam Đến
Trang 3122
năm 1998, Trung Quốc trở thành đối tác lớn thứ năm của Việt Nam Đến năm 2001, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tiếp là đối tác lớn nhất của Việt Nam
1.3.1 Mậu dịch Trung – Việt giai đoạn 1991 - 2000
Ở Giai đoạn này, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc với tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm là 78,42% Nhưng chỉ từ năm 1991 - 1995 số lượng xuất khẩu đạt đến 116,52% tỷ lệ tăng trưởng trung bình, cùng một thời kỳ với tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu bình quân cả nước lên tới 6,54 lần Sự bùng nổ của tốc độ tăng trưởng kinh tế do Việt Nam bắt đầu cải cách và mở cửa Trong thời gian này, mối quan hệ Việt Nam với Mỹ còn chưa bình thường hóa, Việt Nam chưa gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Thứ hai, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu đã làm mất mối quan hệ truyền thống thương mại với Việt Nam Thứ ba, Trung Quốc và Việt Nam là láng giềng gần gũi là thị trường lớn nhất của Việt Nam, giao thông vận tải thuận tiện đã mang lại rất nhiều thuận lợi cho thương mại của hai bên
Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất, nhập khẩu
giai đoạn 1991 – 2000
Nguồn tư liệu: Viện Nghiên Cứu Trung Quốc
Trang 3223
Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc hàng hóa với tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 40,5%, thấp hơn so với giai đoạn trước đó, nhưng vẫn còn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân của Việt Nam ở giai đoạn này là 1,8 lần Vẫn ở thời kỳ này, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc giảm tăng trưởng vì thương mại của Việt Nam bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Nhưng đến năm 2000, số lượng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc phát triển nhanh chóng, đạt 1.05 tỷ USD, đây là lần đầu tiên xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc vượt quá hơn ranh giới 1
tỉ USD Về phần Nhập khẩu từ năm 1991 đến năm 1995, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu trung bình đã tăng 87,8% Để đáp ứng nhu cầu hàng tiêu dùng của người dân Việt Nam, để phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp, Việt Nam đã nhập khẩu hàng hóa cỡ hàng lớn từ Trung Quốc Từ giai đoạn năm 1996 đến năm 2000 Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc số lượng hàng hóa tăng trưởng khá ổn định Bảng 2: Tình hình xuất nhập khẩu Trung - Việt từ năm 1991 đến năm 2000
Năm
Kim ngạch xuất khẩu
(Đô la Mỹ)
Kim ngạch nhập khẩu
(Đô la Mỹ)
Mậu dịch bằng xuất nhập khẩu
(Đô la Mỹ) Tỷ giá nhập khẩu
Trang 33Nguồn tư liệu: Vụ châu Á-Thái Bình Dương Bộ Công Thương đơn vị triệu USD, tỷ giá %
Thời kỳ này, Việt Nam tổng giá trị nhập khẩu là 3.332.9 triệu USD tăng 5,46 lần
so với giai đoạn 1991 - 1995 Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu năm 1997 là 22,9%, năm 1999 là 32%, vào năm 2000 tốc độ tăng lên dữ dội đến 105% Trên cán cân thương mại, giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000 Việt Nam đã được duy trì bởi thặng dư xuất khẩu Chỉ riêng năm 2000, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc thặng dư lên tới 135.300.000 USD Năm 1991 đến năm 2000 tổng thặng dư đạt 502.800.000 USD chiếm 185,7% lượng tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc [7] Nhưng điều đáng chú ý rằng ở giai đoạn này xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc thặng dư tăng giảm không ổn định
1.3.2 Mậu dịch Trung – Việt giai đoạn 2001-2006
Giai đoạn này của sự phát triển của quan hệ thương mại giữa hai nước là rất ổn định, vượt quá mục tiêu của lãnh đạo hai nước đã nêu ra, là thực hiện tỷ lệ tăng trưởng trung bình của hàng nhập khẩu và xuất khẩu đạt 27,4%, nhiều hơn so với Mỹ
và Nhật Bản và Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc (Trong năm 2004, tổng lượng hàng nhập khẩu và xuất khẩu đạt của Mỹ và Việt Nam là 6.0119 tỷ USD, Việt Nam và Nhật Bản là 7.0055 tỷ USD và tổng lượng nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đã lên đến 7.0192 USD) [5]
Giai đoạn 2001 - 2006, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm 35,6%, năm 2001 trong lịch sử của một thương mại, nghiên cứu và phát triển chiến lược hiện tại và trong tương lai là 1,04 tỷ USD, trong năm
2006 đạt mức 30 tỷ USD
Trang 34Mậu dịch bằng nhau
Nguồn tư liệu: Viện nghiên cứu Trung Quốc
Đồng thời, giai đoạn này Việt Nam nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc tốc độ cũng tăng lên rất nhanh, năm 2001 là 1.06 tỷ USD, năm 2006 đã tăng đến 7.04 tỷ USD So sánh tỷ lệ xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc, có thể thấy Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc nhiều hơn so với xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, dẫn đến sự nhập siêu hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất, nhập khẩu
giai đoạn 2001 - 2002
Nguồn tư liệu: Viện Nghiên cứu Trung Quốc
Trang 3526
Thông qua các số liệu thống kê, có thể thấy sự thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc mất cân bằng Mặc dù, giai đoạn 2001 - 2006 hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đang phát triển rất nhanh, nhưng so với hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam tỷ lệ vẫn còn thấp Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2006 liên tục nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu Sự cân bằng chênh lệch từ năm
2001 là 1.089 USD vào năm 2006 tăng đến 4 tỉ USD [40] Nguyên nhân chính là sức cạnh tranh của các công ty Việt Nam với công ty Trung Quốc vẫn còn thấp Đặc biệt là hàng Trung Quốc giá rẻ, chủng loại kiểu cách phong phú để đáp ứng hầu hết nhu cầu của người tiêu dùng
1.3.3 Mậu dịch Trung – Việt giai đoạn 2007 - 2014
Phát triển nhanh chóng của thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam trong giai đoạn này, từ năm 2006 sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng phát triển mỗi năm tăng lên Trong hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, Trung Quốc trong nhiều năm duy trì xuất khẩu sang Việt Nam nhiều hơn là nhập khẩu Theo thống kê của Bộ Thương vụ Trung Quốc, trong năm 2008, số lượng xuất nhập khẩu thương mại của Trung Quốc với Việt Nam là 19,46 tỷ USD, tăng 28,8% so với năm trước, trong đó xuất khẩu của Trung Quốc là 15,12 tỷ USD tăng 27,2%; nhập khẩu 43.4 tỷ USD tăng 34,6%, sự bội thu thương mại của Trung Quốc là 6.78 tỷ USD Theo thống kê của hải quan Trung Quốc, trong năm 2009, tổng lượng nhập khẩu và xuất khẩu giữa Trung Quốc và Việt Nam 21,05 tỷ USD, tăng 8,2%, trong đó xuất khẩu của Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam là 16.39 tỷ USD tăng 7,8%, nhập khẩu từ Việt Nam 4,75 tỷ USD, tăng 9,5%, sự bội thu thương mại của Trung Quốc 11.55 tỷ USD Từ năm 2004, Trung Quốc trong bảy năm liên tiếp là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Năm 2010, Việt Nam trong Đông Nam Á (ASEAN) là đối tác thương mại lớn thứ năm của Trung Quốc Từ tháng Giêng đến tháng 07 năm 2011, mức thương mại Trung - Việt là 21.52 tỷ USD Tăng 40% Trong đó, xuất khẩu của Trung Quốc là 15.92 tỷ USD đã tăng 35,8% Nhập khẩu là 5,6 tỷ USD, tăng 53,7% Tính đến cuối tháng 7 năm 2011, Việt Nam đầu tư
Trang 36so với cùng kỳ năm 2013 tăng 22,1% [41] Những số liệu này cho thấy Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Đầu tháng 12 năm 2014, báo chí Việt Nam theo trích dẫn phát ngôn của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết: các nền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc liên kết chặt chẽ, nhập khẩu và xuất khẩu liên quan đến thị trường Trung Quốc và ngược lại
Hoạt động giao dịch tiền tệ ở khu vực biên giới Việt – Trung hiện nay diễn
ra trên phạm vi rộng Ở lãnh thổ của Việt Nam thì diễn ra công khai, còn ở lãnh thổ Trung Quốc thì diễn ra lén lút Hoạt động của loại hình ngân hàng này mang tính nhỏ lẻ, thiếu sự chuyên nghiệp, tính an toàn không cao Nhưng lại thuận tiện, nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua bán, giao thương của những cư dân khu vực biên giới Việt – Trung
1.4 Tiểu kết chương 1
Như vậy, mậu dịch ở khu vực biên giới Việt – Trung có lịch sử phát triển lâu đời Mặc dù sự phát triển ấy có những bước phát triển thăng trầm khác nhau Song tựu chung lại, cho đến nay, tình hình phát triển của mậu dịch khu vực này đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
Trong suốt chiều dài lịch sử, sự phát triển mậu dịch khu vực này là minh chứng
về mối quan hệ thân thiết giữa Việt Nam và Trung Quốc Quá trình phát triển của
Trang 3829
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA “NGÂN HÀNG TỰ PHÁT” TẠI BIÊN
GIỚI TRUNG - VIỆT
2.1 Thực trạng giao dịch, buôn bán ở biên giới Trung - Việt
2.1.1 Cơ cấu hàng hóa của Trung Quốc xuất sang Việt Nam
Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu chưa thông qua gia công, giá trị thấp, lợi nhuận không cao Hàng hóa xuất khẩu chính của Trung Quốc đến Việt Nam là hàng hóa công nghiệp, máy móc, hàng tiêu dùng và các sản phẩm tinh chế Nó phản ánh mối quan hệ của ngành công nghiệp hai nước Bởi tài nguyên của hai nước không giống nhau và cả sự khác biệt của lực lượng lao động và trình độ kỹ thuật
Từ năm 1991 đến năm 1995, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu có nguyên liệu, sản phẩm nông nghiệp sơ chế, gạo, nguyên dầu, sản phẩm bằng gỗ, cao su, than, kim loại màu, dầu dừa, hải sản, nông thổ sản, lâm sản, khoáng sản, hoa quả, rau xanh, mây tre, dầu thực vật, chè lá, đồ nhôm Đến những năm 90 thế kỷ trước, hàng hóa từ Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc bắt đầu định hình, chủ yếu là tài nguyên khoáng sản, dầu, than, hải sản, cao su
tự nhiên và các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như giày dép, quần áo Nhìn chung, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc được chia thành 4 loại: Bảng 1.2: Bảng thống kê các loại sản phẩm Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc
ở khu vực biên giới Việt Trung
Các sản phẩm Việt Nam xuất khẩu
Nguyên liệu Than đá, dầu thô, cao su tự nhiên,
khoáng sản
Các sản phẩm nông nghiệp Lương thực, chè, rau và trái cây, hạt
điều
Trang 3930
Hải sản tươi sống và đông lạnh Tôm, cá, cua
Hàng tiêu dùng hàng ngày Hàng thủ công giày dép, sản phẩm làm
bằng da
Nguồn: Tác giả thống kê; ngày 12/03/2014
Bảng 2.2: Những sản phậm tự Việt Nam xuất khẩu đến Trung Quốc
Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ
Hàng hóa 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Hạt điều 3.48 16.88 1.20 1.13 87.21 58.60 59.47 64.89 Hải sản 2.93 8.29 12.00 0.09 32.81 51.54 51.65 222.97
Cà phê 1.70 0.11 10.00 27.31 3.55 2.02 3.68 3.06 Trà 0.80 0.30 0.19 0.10 0.31
Nguồn tư liệu: Viện nghiên cứu Trung Quốc
Từ số liệu và bảng thống kê trên, chúng ta có thể thấy các sản phẩm nông sản và các nguyên liệu thô xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm một tỷ lệ cao và mang lại
Trang 4031
những hiệu quả kinh tế nhất định cho Việt Nam Trong năm 2000, riêng dầu xuất khẩu giá trị đạt đến 0.75 tỷ USD và các sản phẩm hải sản có tổng giá trị xuất khẩu đạt 0.220 tỷ USD Rau, trái cây, hạt điều và cao su có số lượng xuất khẩu lớn
Từ giai đoạn năm 2001 - 2006, so với giai đoạn năm 1996 - 2000, ngoài việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu, Việt Nam còn xuất khẩu sang Trung Quốc các mặt hàng như quần áo, giày dép, máy tính và linh kiện điện tử, mặc
dù các sản phẩm này chiếm các thành phần không cao mấy, nhưng tốc độ tăng rất cao và ổn định
Bảng 3.2: Cơ cấu hàng hóa từ Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc
Giá trị (Tỷ
đô la Mỹ)
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Giá trị
Tỷ trọng
Cà phê 2.6 0.2 3.9 0.3 6.9 0.4 5.9 0.2 7.6 0.3 15.9 0.5 Gạo 0.5 0 1.7 0.1 0.3 0 19.2 0.7 12 0.4 12.4 0.4