Người giáo viên trong dạy học lịch sử đa số làm nhiệm vụ nói lại nội dung sách giáo khoa, càng khó khăn hơn trong việc phát triển bài giảng được soạn trên cơ sở sách giáo khoa. Như vậy bài giảng không gây hứng thú học tập cho học sinh mà gây nhàm chán trong tâm lý dạy học của cả giáo viên và học sinh. Về phía học sinh đa số các em coi lịch sử là môn phụ nên các em ít chú ý nghe giảng, ghi chép máy móc, chỉ học thuộc lòng những gì ghi trong vở, không biết kết hợp với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo lại không biết làm nảy sinh những vấn đề lịch sử cần được giải quyết. Các em lười suy nghĩ, không biết phân tích vấn đề, hay nhớ lầm giữa nội dung này với nội dung khác, sự kiện này với sự kiện khác càng không biết nêu vấn đề để thảo luận tìm hiểu. Đất nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến tới nền kinh tế tri thức. Cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành giáo dục cũng phải có đổi mới mà sự đổi mới đầu tiên là về nội dung và chương trình sách giáo khoa.Sách giáo khoa mới đã chú ý đến giải quyết hợp lý mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, hữu cơ giữa hai phần: kênh chữ và kênh hình do vậy giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học.
Trang 1phòng giáo dục & đào tạo vĩnh tờng
Trờng THCS Chấn Hng .0o0
SỬ DỤNG HỢP Lí, LINH HOẠT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MễN ĐỂ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
MễN LỊCH SỬ LỚP 9
Giỏo viờn viết chuyờn đề: ………
Giỏo viờn dạy minh họa: ……….
Tổ: Khoa học xó hội
Trang 2V.Giới hạn về không gian của đối tượng nghiên cứu 7
Phần thứ hai Nội dung
8
I Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu 8
II Một số phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch Sử 11
2 Một số phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch sử 11
3 Một số hình thức dạy học thường được sử dụng trong môn Lịch sử 11
Trang 32 Một số hình thức dạy học thường được sử dụng trong môn Lịch sử 35
Phần thứ ba Kết luận và kiến nghị
48
Phần thứ tư Bài dạy minh họa
50
Trang 4CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
- BCHTW: Ban chấp hành trung ương
- CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 5SỬ DỤNG HỢP LÝ, LINH HOẠT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN ĐỂ
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
MÔN LỊCH SỬ LỚP 9 PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
Nhận biết lịch sử đúng đắn là một tất yếu lịch sử khách quan để hành độngđúng trong hiện tại Ngay từ thời nguyên thuỷ khi mới xuất hiện con người đã cónhận thức này để xác định sự phát triển của cộng đồng, Ăng ghen nói: “Lịch sử bắtđầu từ đâu thì tư duy cũng bắt đầu từ đấy” Các nhà sử học cổ đại khẳng định “Lịch
sử là thầy dạy của cuộc sống” Trong đấu tranh cách mạng các lãnh tụ của giai cấp
vô sản coi trọng việc nghiên cứu quá khứ lịch sử là một trong những vũ khí đấutranh sắc bén có hiệu quả Việc nhận thức lịch sử không chỉ để biết mà phải hiểu đểrút ra bài học kinh nghiệm cho hoạt động thực tiễn Cũng như các môn khác họclịch sử là một quá trình nhận thức, thu nhận thông tin và sử dụng thông tin mà mỗi
cá nhân phải thực hiện cùng với sự giúp đỡ của thầy, tài liệu tham khảo và cácphương tiện học tập khác Trong hai nhân tố của quá trình học tập ( dạy và học) thìnhân tố bên trong học có ý nghĩa quan trọng mang tính quyết định Vì vậy khi họclịch sử học sinh không chỉ dừng ở việc ghi nhớ sự kiện mà điều quan trọng phảihiểu được bản chất lịch sử, quá trình lịch sử, rút ra quy luật, bài học kinh nghiệmcủa quá khứ để vận dụng vào cuộc sống hiện tại Trở thành con người có tư duyđộc lập, thông minh chủ động, tích cực trong suy nghĩ và hành động
Thực tế chất lượng dạy và học lịch sử chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu đàotạo Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều nhưng một trong những nguyên nhânquan trọng nhất năng lực tư duy của học sinh còn hạn chế , giáo viên chưa tạo đượchứng thú học tập cho các em vì vậy chất lượng bộ môn thấp Do vậy người thầycần phải tìm hiểu sử dụng phương pháp dạy học như thế nào cho hợp lý, linh hoạt
để tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng môn học đáp ứng nhu cầu pháttriển giáo dục và đào tạo
I Lý do chọn đề tài
1.Cơ sở lý luận.
Hiện nay đất nước ta đang trên con đường phát triển hội nhập Ngành giáodục có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển đất nước về mọi mặt, vìgiáo dục là ngành tạo ra những con người làm chủ xã hội , đất nước Vì vậyĐảng cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc
“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” BCHTW Đảng xác định mục tiêugiáo dục và đào tạo nhằm “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài, hình thành đội ngũ lao động trí thức, có tay nghề, có năng lực thực hành chủđộng sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”
Trang 6Xuất phát từ mục tiêu đó, Đại hội lần VIII của Đảng đã khẳng đinh “ Giáo dục làquốc sách hàng đầu” Quốc hội khóa X, Nước CHXHCN Việt Nam đã ra nghịquyết 04/2000 về vấn đề đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, và đặc biệt làtriển khai nghị quyết 04 của Quốc hội Bộ giáo dục đã ban hành văn bản số 3668ngày 15/5/2001 về việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Đây làphương hướng quan trọng chỉ đạo thế hệ trẻ thực hiện sự nghiệp cách mạng vẻvang mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
Mục tiêu giáo dục của Đảng ta từ trước đến nay luôn nhấn mạnh đến việcđào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, cóphẩm chất, đạo đức, hiểu biết khoa học, có năng lực tư duy và thực hành…Mọimôn học đều “bình đẳng” trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Việc học tập mônLịch sử cũng đòi hỏi, yêu cầu như học tập bất cứ môn nào khác
Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sảnViệt Nam đã nêu rõ định hướng: “ Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học…Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ vàsáng tạo của học sinh, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn”
Điều 4 luật giáo dục cũng khẳng định “ Phương pháp giáo dục phải phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học Bồi dưỡng năng lực
tự học, lòng say mê học tập và ý trí vươn lên”
Hoạt động dạy học là một quá trình thống nhất giữa giáo viên và học sinhtrong đó dưới tác động chủ đạo ( tổ chức, điều khiển) của giáo viên, học sinh tựgiác, tích cực tự học, tự điều khiển hoạt động học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụdạy học đã đặt ra
Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo và chủ động học tập của học sinh,chúng ta cần nhìn nhận và hiểu đúng về đổi mới phương pháp dạy học Việc lựachọn phải được đặt trong mối quan hệ qua lại của mục tiêu, nội dung, phương pháp,phương tiện, tổ chức đánh giá…dạy học Đặc biệt mối quan hệ giữa mục tiêu, nộidung và phương pháp dạy học là cơ bản nhất Phương pháp dạy học phải phù hợpvới mục tiêu, nội dung dạy học Ngược lại, phương pháp dạy học lại có ảnh hưởngtích cực tới việc thực hiện nội dung và mục đích dạy học
Học lịch sử là quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ đểhiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai Khi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên,người ta có thể trực tiếp quan sát trong tự nhiên hoặc trong phòng thí nghiệm.Nhưng lịch sử xã hội loài người không thể trực tiếp quan sát hoặc diễn ra trongphòng thí nghiệm Vì vậy nhiệm vụ tất yếu của bộ môn lịch sử là tái tạo lịch sử.Nhưng tái tạo lịch sử bằng cách nào? mà phương pháp dạy học là một khoa họcđồng thời cũng là một nghệ thuật Không có phương pháp nào là vạn năng cả, vìvậy trong dạy học, người giáo viên phải biết kết hợp đồng thời các phương pháp đểgây hứng thú học tập, phát triển tư duy cho học sinh
Trang 72.Cơ sở thực tiễn.
Đã có quan niệm sai lầm cho rằng học lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sáchgiáo khoa, ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử là đạt, không cần phải tư duyđộng não, không có bài tập thực hành…Đây là một những nguyên nhân làm suygiảm chất lượng môn học
Người giáo viên trong dạy học lịch sử đa số làm nhiệm vụ nói lại nội dungsách giáo khoa, càng khó khăn hơn trong việc phát triển bài giảng được soạn trên
cơ sở sách giáo khoa Như vậy bài giảng không gây hứng thú học tập cho học sinh
mà gây nhàm chán trong tâm lý dạy học của cả giáo viên và học sinh
Về phía học sinh đa số các em coi lịch sử là môn phụ nên các em ít chú ýnghe giảng, ghi chép máy móc, chỉ học thuộc lòng những gì ghi trong vở, khôngbiết kết hợp với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo lại không biết làm nảy sinhnhững vấn đề lịch sử cần được giải quyết Các em lười suy nghĩ, không biết phântích vấn đề, hay nhớ lầm giữa nội dung này với nội dung khác, sự kiện này với sựkiện khác càng không biết nêu vấn đề để thảo luận tìm hiểu
Đất nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến tới nềnkinh tế tri thức Cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành giáo dục cũng phải có đổimới mà sự đổi mới đầu tiên là về nội dung và chương trình sách giáo khoa.Sáchgiáo khoa mới đã chú ý đến giải quyết hợp lý mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, hữu cơgiữa hai phần: kênh chữ và kênh hình do vậy giáo viên phải đổi mới phương phápdạy học
Nhằm đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh, coi trọng vị trí vai trò của người học vừa là đối tượng-vừa là chủ thể.Thông qua quá trình học tập dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải tích cực,chủ động cải biến mình Nếu giáo viên biết phát huy nội lực từ phía người học thì
sẽ nâng cao được chất lượng hiệu quả của quá trình dạy học
Bản thân đã dạy lịch sử liên tục trong nhiều năm thấy được những khó khăntrong quá trình giảng dạy (Những quan điểm lệch lạc, những hạn chế của người dạy
và người học) Tôi mong muốn làm thế nào để học sinh của mình năng động sángtạo hơn, luôn có hứng thú học tập để giờ học bớt căng thẳng, các em tiếp thu bàiđược tốt hơn Thông qua thực tế giảng dạy, dự giờ học hỏi đồng nghiệp, cùng với
các đợt tập huấn chuyên môn tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học để tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử 9” góp phần đổi mới phương pháp dạy học và thấy các em
yêu thích môn sử hơn Đến giờ học, các em không còn căng thẳng nên kết quả họctập cao hơn
II.Mục đích nghiên cứu.
Chuyên đề xây dựng nhằm trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp để tìm
ra phương pháp tối ưu nhất theo hướng đổi mới để phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động, tư duy sáng tạo, hứng thú học tập, tìm tòi nghiên cứu nhằm tạo sự say
Trang 8mê, hứng thú yêu thích môn lịch sử hơn để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy vàhọc môn Lịch sử ở trường THCS.
III Đối tượng nghiên cứu
-“Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học để tạo hứng thú họctập và nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử 9”
-Học sinh lớp 9 trường Trung học cơ sở Chấn Hưng – Vĩnh tường - VĩnhPhúc
IV Phương pháp nghiên cứu
- Sưu tầm, nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài
-Phương pháp điều tra, dự giờ, thực nghiệm, trắc nghiệm, quan sát, tròchuyện với học sinh
-Trao đổi với đồng nghiệp
-Tổng kết kinh nghiệm cuả bản thân trong nhiều năm giảng dạy
-Kiểm tra, đối chiếu số liệu trước và sau khi áp dụng đề tài
V.Giới hạn về không gian của đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề này nghiên cứu trong không gian trường THCS Chấn Hưng-VĩnhTường- Vĩnh Phúc
VI.Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
-Phạm vi: Đề tài được thực hiện với giáo viên Lịch Sử và học sinh lớp 9trường Trung học cơ sở Chấn Hưng- Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc
- Kế hoạch nghiên cứu: Chuyên đề này tôi nghiên cứu trong năm học
2012-2013 và thực hiện trong học kỳ 1 năm học 2012-2013-2014
VII Ý nghĩa nghiên cứu
-Tạo cơ hội cho người dạy và người học có một phương pháp mới
-Nâng cao hứng thú học tập, phát triển tư duy, củng cố niềm tin và ý thứcvươn lên cho học sinh để nâng cao chất lượng học tập bộ môn
Trang 9PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề nghiên cứu
1 Cơ sở lý luận
Như ta đã biết lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, đặc thù của mônhọc lịch sử là phải tiếp cận nhiều sự kiện lịch sử, với những vị anh hùng, nhữngdanh nhân lịch sử, không chỉ của dân tộc mà còn cả thế giới, từ cổ đại cho đến hiệnđại Khi học lịch sử yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học mộtcách chính xác, đầy đủ Vì vậy, đòi hỏi các em phải cần cù, say mê, và chịu khólĩnh hội kiến thức thì mới đạt được kết quả cao Vì thế mà bộ môn lịch sử khó gâyđược hứng thú học tập ở học sinh
Mặt khác dạy học lịch sử là một quá trình cung cấp cho học sinh những kiếnthức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc nhằm phục vụ cho việc giáo dục,giáo dưỡng và phát triển tư duy của học sinh qua môn học Trên cơ sở đó, giáo dục,khơi dậy những tình cảm, tư tưởng, đạo đức làm chuẩn mực cho hành vi trong cuộcsống, góp phần phát triển toàn diện học sinh
Môn lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ Từnhững hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống của dân tộc, tự hào vớinhững thành tựu dựng nước và giữ nước của tổ tiên, xác định nhiệm vụ hiện tại cóthái độ đúng đắn đối với sự phát triển trong tương lai
Những nhận thức, quan niệm sai lệch về ví trí, chức năng của khoa học lịch
sử và môn lịch sử trong đời sống xã hội, trong giáo dục đã dẫn tới phương phápnghiên cứu, học tập không đúng làm giảm sút chất lượng bộ môn trên nhiều mặt.Tình trạng học sinh không biết những sự kiện lịch sử cơ bản, phổ thông, nhớ saihoặc nhầm lẫn kiến thức là hiện tượng khá phổ biến ở nhiều trường học nói chung
và trường THCS nói riêng
Vì vậy, trong chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo QĐ số
16/2006 của Bộ GD&ĐT ngày 5/6/2006 nêu rõ: “ Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện trường lớp, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập.”
Trong việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, việc phát huy tính tíchcực, gây hứng thú cho học sinh có ý nghĩa rất quan trọng Bởi xét cho cùng côngviệc giáo dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động Giáo dụcphải được thực hiện thông qua hành động và hành động của bản thân (tư duy vàthực tiễn)
Việc phát huy tính tích cực, khơi dậy sự hứng thú học tập, phát triển ý thức,
ý chí, năng lực, bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tự học là con đường phát triểntối ưu của giáo dục
Trang 10Đảng, Nhà nước và Bộ giáo dục rất coi trọng việc dạy học lịch sử Đúng nhưChủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong cuốn lịch sử nước ta:
“ Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.
Tại Đại hội khoa học lịch sử lần thứ III Tổng bí thư Đỗ Mười đã phát biểu:
“Cùng với quá trình quôc tế hoá ngày càng mở rộng Thì trở về nguồn là xu thế chung của các dân tộc trên thế giới, với chúng ta đó là sự tìm tòi phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành bước đi thích hợp hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh”
Vì thế, đối với chúng ta cần nhận thức một cách đúng đắn sâu sắc ý nghĩa bộmôn lịch sử trong chương trình giáo dục hiện nay ở trường phổ thông, phấn đấulàm tốt nhiệm vụ giáo dục của mình và kiên quyết đấu tranh chống những quanniệm sai lệch về bộ môn Lịch sử
2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1 Thuận lợi
- Trong những năm qua, bộ môn Lịch sử được các cấp, các ngành quan tâmhơn như tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 THPT chuyên, thi học sinh giỏi cấp huyện-tỉnh, thi tốt nghiệp THPT
- Được sự chỉ đạo quan tâm sâu sắc của các cấp, ban ngành, đặc biệt là SởGiáo dục & đào tạo, Phòng Giáo dục& đào tạo , Ban giám hiệu nhà trường, tổchuyên môn và các anh chị đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm
- Giáo viên có đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng,máy vi tính, đèn chiếu phục vụ cho việc giảng dạy
- Nhà trường có kết nối internet nên việc truy cập thông tin về chuyên môncũng có nhiều thuận lợi
- Bản thân giáo viên luôn có nhu cầu nghiên cứu, tìm tòi cái mới, cái haytrong bài giảng
- Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và một số em có sách tham khảo đó làđiều cần thiết cho các em học tập ở trường và ở nhà Mặc dù mới học lớp 9 nhưngmột số em đã biết truy cập vào trang web để lấy thông tin, kiến thức phục vụ chomôn học khi cần thiết
2.2 Khó khăn
Cùng với những thuận lợi như đã nói ở trên, thì trong công tác giảng dạy tôicũng nhận thấy nhiều khó khăn-bất cập, nguyên nhân dẫn đến chất lượng của bộmôn Lịch sử ngày càng sa sút Tuy nhiên, trong đề tài này tôi chỉ trình bày mộtcách ngắn gọn một số nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng đó
Trang 11Thứ nhất, trong nhận thức chung, chúng ta còn xem nhẹ môn học Lịch sử,
coi môn Lịch sử là “môn phụ” cho nên học sinh chưa thật sự yêu thích và có ý thức
trong việc học tập môn học này
Thứ hai, chương trình học và việc giảng dạy bộ môn LS còn nhiều vấn đềtồn tại: Chúng ta thấy rằng từ sau đổi mới chương trình và sách giáo khoa được áp
dụng từ năm học 2006-2007 của Bộ Giáo dục và đào tạo thì “dung lượng” kiến thức thì nhiều mà “thời lượng” thì quá ít dẫn đến phương pháp giảng dạy thiên
về đọc chép mà ít chú ý đến rèn luyện phát triển khả năng tư duy độc lập của họcsinh
Thứ ba, nhiều giáo viên bộ môn Lịch sử chưa thật sự tâm huyết với nghềhoặc năng lực chuyên môn còn hạn chế
Thứ tư, từ những nguyên nhân trên dẫn đến học sinh “ngán” không hứng
thú với môn Lịch sử, học LS chỉ là để đối phó với bài kiểm tra, nên đa số học sinh,học LS theo phương pháp “thuộc lòng” “máy móc” mà không có cái nhìn tổngquát , toàn diện về quá trình hình thành và phát triển của LS dân tộc và LS thế giới
Thứ năm: Sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão của khoa học vàcông nghệ, vì thế mà một số em và gia đình của các em chỉ chú trọng môn khoahọc tự nhiên, môn Lịch sử ít được quan tâm
-Khó khăn lớn nhất là học sinh không thích học môn Sử vì vậy ảnh hưởngnhiều đến chất lượng bộ môn Theo tôi nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là:
- Các em chưa thấy được tầm quan trọng của bộ môn, chưa yêu thích mônlịch sử, nên ý thức học tập của các em chưa tốt
- Do ảnh hưởng của gia đình và xã hội chưa thực sự coi trọng , quan tâm tớimôn lịch sử
- Các giờ học lịch sử chưa gây được sự hứng thú cho học sinh
- Các em thấy khó nhớ các sự kiện, khó học và chán nản
- Giáo viên sử dụng phương pháp chưa phù hợp với các đối tượng học sinh
- Với đặc điểm của môn lịch sử 9 (1,5 tiết trong một tuần) thì 1 tiết dạy 45phút như hiện nay, nếu không chuẩn bị, sắp xếp chu đáo sẽ không đạt được yêu cầu
về hai phía cả thầy lẫn trò bởi vì bài quá dài, kiến thức rất nặng
Qua thực tế khi chưa áp dụng chuyên đề, tôi đã đưa ra một số câu hỏi trắcnghiệm về thái độ của học sinh đối với học môn lịch sử Đồng thời yêu cầu các
em làm một bài kiểm tra về kiến thức Kết quả như sau:
+ Kết quả điều tra về thái độ của học sinh đối với việc học lịch sử :
Số HSđược điều tra
Trang 12+K t qu x p lo i b i ki m tra.ết quả xếp loại bài kiểm tra ả xếp loại bài kiểm tra ết quả xếp loại bài kiểm tra ại bài kiểm tra ài kiểm tra ểm tra.
II Một số phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch Sử
1 Khái niệm phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học là con đường, cách
thức hoạt động thống nhất của thầy và trò, trong đó thầy tổ chức, hướng dẫn họcsinh học tập nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
Phương pháp dạy học lịch sử trong thực tiễn cũng như trong lý luận là mộthoạt động phức tạp, đòi hỏi sự sáng tạo, cải tiến không ngừng lao động của cả thầy
và trò.Vì vậy xét về một mặt nào đó, phương pháp dạy học không chỉ là một khoahọc mà còn là nghệ thuật với những yêu cầu cao về thủ pháp sư phạm
2 Một số phương pháp đặc trưng của bộ môn Lịch sử
1 Trình bày miệng
2 Sử dụng đồ dùng trực quan
3 Sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác
4 Dạy học nêu vấn đề
5 Tổ chức việc tự học lịch sử cho học sinh…
3 Một số hình thức dạy học thường được sử dụng trong môn Lịch sử
1 Dạy học liên môn
2 Trao đổi đàm thoại
4 Phương tiện hỗ trợ trong day học Lịch sử
Sử dụng bản đồ tư duy, ứng dụng công nghệ thông tin, giáo án điện tử…
Trang 13III Giải pháp thực hiện
Xuất phát từ thực tế bộ môn và quá trình giảng dạy học của mình, tôi thấygiáo viên cần đầu tư, tìm tòi, nghiên cứu và sử dụng các phương pháp thật linhhoạt, sáng tạo vận dụng một hay nhiều phương pháp với nhau sao cho phù hợp vớitừng kiểu bài, phù hợp với thời gian cho phép, đối tượng học sinh để không chỉgiúp các em nắm vững, nhớ lâu kiến thức mà còn tạo nên một không khí thoải mái,gần gũi, nhẹ nhàng, sôi nổi, để lôi cuốn học sinh nhằm phát huy tính tích cực, say
mê, hứng thú hơn trong tiết học Lịch sử Có như vậy học sinh mới yêu thích mônhọc và sẽ nâng cao được chất lượng bộ môn
1.Một số phương pháp đặc trưng bộ môn
1.1.Trình bày miệng
1.1.1 Lời nói sinh động:
Với ngôn ngữ trong sáng, gợi cảm giàu hình ảnh, giáo viên sẽ dẫn dắt họcsinh “trở về” với quá khứ của lịch sử, tạo được biểu tượng rõ ràng, cụ thể về một
sự vật, biến cố lịch sử Lời nói có ý nghĩa giáo dục lớn tác động đến tình cảm, hìnhthành tư tưởng cho học sinh Trong dạy học lịch sử có nhiều cách trình bày miệngkhác nhau : Tường thuật, miêu tả , nêu đặc điểm về sự kiện nhân vật lịch sử và giảithích để tìm hiểu bản chất, ý nghĩa…
1.1.2 Tường thuật :
Là cách trình bày miệng quan trọng nhằm tái hiện ở học sinh biến cố lịch sửquan trọng với đầy đủ tính cụ thể và gợi cảm của nó Khi trình bày tình tiết phải gợicảm, gây xúc động, đồng thời tạo biểu tượng rõ ràng chân thật Giáo viên có thể kếthợp phân tích để học sinh hiểu sâu hơn nội dung, bản chất sự kiện Khi tình tiết đãcăng thẳng GV nên dừng lại vài giây đặt câu hỏi đưa các em vào tình huống: Nếuđặt mình trong đó mình sẽ phải giải quyết như thế nào? Tường thuật thường kếthợp với miêu tả, giải thích, đồ dùng trực quan…
1.1.3 Miêu tả :
Là trình bày những đặc trưng của một sự vật, một sự kiện lịch sử để nêu lên những nét bản chất chủ yếu, cấu tạo bên trong cũng như hình dáng bên ngoài của chúng
Ví dụ như miêu tả địa thế Điện Biên Phủ Có thể chia miêu tả làm hai loại : Miêu tả toàn bộ bức tranh quá khứ và miêu tả khái quát có phân tích Yêu cầu khi miêu tả giáo viên phải đảm bảo tính khách quan khoa học đồng thời phải trình bày
rõ ràng, có thái độ đúng đắn với đối tượng được miêu tả
1.1.4 Nêu đặc điểm về sự kiện, nhân vật lịch sử:
Là một dạng của miêu tả nhằm làm sáng tỏ những nét bản chất, những đặctrưng trong mối liên hệ bên trong của các hiện tượng lịch sử Nêu đặc điểm thườngđược dùng trong các trường hợp sau: Dùng xen vào tường thuật nhằm cụ thể hóa
Trang 14một sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc dùng để khái quát tính chất một hiện tượng lịch
sử dưới dạng một hình ảnh tượng trưng để giúp học sinh dễ tiếp thu nội dung bảnchất của hiện tượng
1.1.5 Giải thích
Được sử dụng trong việc tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của những hiện tượngphức tạp, những khái niệm, các qui luật, nhằm làm cho học sinh có quan điểm khoahọc về sự phát triển của xã hội loài người ,về những mối liên hệ nhân quả giữa cáchiện tượng
Giải thích được sử dụng khi trình bày sự kiện quan trọng, giáo viên cung cấpcho học sinh những kiến thức cần thiết rồi dừng lại phân tích sự kiện ấy hoặchướng dẫn học sinh tự phân tích VD: khi dạy về phong trào cách mạng 1930-1931với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh giáo viên hướng dẫn HS phân tích: Tại sao đó làcuộc diễn tập lần thứ nhất chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám 1945?
Giải thích được tiến hành ở cuối một bài, một chương để rút ra những điểmquan trọng nhất mà HS cần ghi nhớ, VD sau khi học xong bài Đảng cộng sản ViệtNam ra đời cần cho HS giải thích được :Tại sao Đảng ra đời là bước ngoặt vĩ đạitrong lịch sử cách mạng Việt Nam?
1.1.6 Những yêu cầu khi trình bày miệng của giáo viên
Trình bày phải vừa sức tiếp thu của học sinh, gây hứng thú cho học sinh.Ngôn ngữ phải đúng, chính xác, lời nói có hình ảnh sinh động, hấp dẫn, phải kếthợp chặt chẽ giữa lời nói, SGK, đồ dùng trực quan…
1.2 Sử dụng đồ dùng trực quan
1.2.1.Vị trí, ý nghĩa của đồ dùng trực quan
Về giáo dưỡng: Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của
sự kiện lịch sử, là phương tiện rất có giá trị để hình thành các khái niệm lịch sửgiúp cho học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội
Đồ dùng trực quan có vai trò rất to lớn giúp học sinh nhớ kỹ, nhớ lâu, hiểusâu những hình ảnh, kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắctrong trí nhớ đó là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan Vì vậy nhìnvào bất cứ đồ dùng trực quan nào học sinh cũng phải nhận xét, phán đoán, hìnhdung quá khứ lịch sử được phản ánh,minh hoạ như thế nào Học sinh suy nghĩ, tìmcách diễn đạt bằng lời, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể hoá bức tranh xã hội đã qua
Về giáo dục: Đồ dùng trực quan có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, cảm xúc, thẩm
mỹ cho học sinh VD: xem cuốn phim tài liệu cuộc đời và hoạt động của Hồ ChủTịch hay chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ Họcsinh sẽ có những tình cảm mạnh mẽ về lòng yêu mến lãnh tụ, những anh hùngchiến sỹ cách mạng, quý trọng nhân dân, căm thù quân xâm lược và chiến tranh
Với tất cả ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng và phát triển nêu trên, đồ dùng trựcquan góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, gây hứng thú học tậpcho học sinh Nó là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại
Trang 151.2.2 Các loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử.
Có nhiều cách phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trườngphổ thông Xong về cơ bản chúng ta có thể chia chúng thành 3 nhóm lớn:
1.2.2.1 Đồ dùng trực quan hiện vật
- Bao gồm:
+ Những di ích lịch sử cách mạng như: Kinh đô Huế, hang Pắc Pó…
+ Những di vật khảo cổ, các di vật thuộc các thời đại lịch sử như:
Trống đồng Đông Sơn, mũi tên đồng ở Cổ Loa, cọc gỗ Bạch Đằng, xe tăngtiến vào dinh Độc Lập…
Đồ dùng trực quan hiện vật là một tài liệu gốc rất có giá trị, có ý nghĩa to lớn
về mặt nhận thức Tuy nhiên việc sử dụng chúng còn bị hạn chế do nó không cósẵn trong nhà trường, nó được lưu trữ trong các bảo tàng hoặc di tích không cònnguyên vẹn, bị huỷ hoại theo thời gian.Trong những điều kiện thuận lợi, giáo viênnên tổ chức giảng dạy ngay trong các viện bảo tàng ở TW, địa phương hoặc ở ngaycác địa điểm diễn ra các sự kiện lịch sử
1.2.2.2 Đồ dùng trực quan tạo hình:
Gồm các loại phục chế, mô hình, sa bàn, tranh ảnh lịch sử… Nó có khả năngkhôi phục lại hình ảnh của những con người, đồ vật, biến cố, sự kiện lịch sử mộtcách cụ thể, sinh động, khá xác thực
Ví dụ:
- Sa bàn chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh
- Bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc ở đại hội Tua năm 1920”; “Lễ thành lậpĐội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân 22/12/1944”
- Phim tài liệu về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch
1.2.2.3 Đồ dùng trực quan qui ước:
Bao gồm: Các loại bản đồ lịch sử Sơ đồ, đồ thị, niên biểu… Các loại đồdùng này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng khi phản ánh những mặtchất lượng và số lượng của quá trình lịch sử, đặc trưng, khuynh hướng phát triểncủa hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội của đời sống Nó không chỉ là phương tiện
để cụ thể hoá sự kiện lịch sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho học sinh
Ví dụ:
- Bản đồ chung: Bản đồ “Đông Nam Á trước sự xâm lược của CNTBPhương Tây”; “Chiến tranh thế giới thứ II”…
- Bản đồ chuyên đề: “Chiến dich Điện Biên Phủ năm 1954”
- Bản đồ sơ lược: “Quá trình phát triển lãnh thổ về phía Nam của nướcĐại Việt”…
- Niên biểu về “Những thành tích của nhân dân Việt Nam trong thời
kỳ kháng chiến thực dân Pháp (1946-1954)”
Trang 16Ngày tháng Thành tích các mặt
Quân sự Kinh tế Chính trị Ngoại giao Văn hoá
Tùy vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùngthích hợp Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phùhợp với các bài học lịch sử
1.2.3 Cách sử dụng:
1.2.3.1 Phương pháp sử dụng hình vẽ, tranh ảnh trong SGK:Hình vẽ tranh ảnh không chỉ là nguồn kiến thức có tác dụng giáo dục tưtưởng tính cách mà còn phát triển tư duy cho học sinh Từ việc quan sát tranh ảnh
sẽ đến tư duy trìu tượng Bản thân tranh ảnh không thể gây ra quan sát tích cực nếukhông được đặt trong những tình huống có vấn đề, trong những nhu cầu cần thiếtphải trả lời một vấn đề cụ thể Thông qua quan sát miêu tả tranh ảnh học sinh đượcrèn luyện kỹ năng diễn đạt, lựa chọn ngôn ngữ, từ đó rèn khả năng sử dụng ngônngữ sử học của các em ngày càng phong phú Từ việc quan sát, giáo viên luyện chohọc sinh cách xem xét phân tích, giải thích để rút ra kết luận Nếu làm thườngxuyên các thao tác tư duy được rèn luyện, khả năng phát huy trí thông minh sángtạo của học sinh ngày càng nâng nên
Ví dụ 1 : Bài 24.Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủnhân dân 1945 – 1946
Khi dạy phần diệt giặc dốt giáo viên cho học sinh quan sát bức tranh hình 43 “ lớpbình dân học vụ” Để giúp học sinh thấy được phong trào xóa nạn mù chữ diễn rarất sôi nổi, tích cực, thể hiện truyền thống hiếu học của nhân dân ta Trước hết giáoviên cho học sinh quan sát bức tranh và có những câu hỏi gợi mở:
- Qua bức tranh này em thấy nhân dân ta học tập trong điều kiện như thếnào?
- Lớp học gồm những thành phần nào ?
- Gương mặt và thái độ học tập của mỗi người ra sao ? Thể hiện điều gì ?
- Sau khi học sinh trao đổi thảo luận, giáo viên sẽ sử dụng phương pháp trìnhbày miệng kết hợp với đồ dùng trực quan để các em hiểu: “ Đây là một trong nhữnghình ảnh thực của lớp bình dân học vụ ban đêm ở miền Bắc, trước mặt mỗi người
có một đèn dầu nhỏ, mọi người đang chăm chỉ học tập để đẩy lùi bóng đêm ngudốt, nét mặt ai cũng lộ rõ vẻ quyết tâm học chữ Truyền thống hiếu học lâu đời củanhân dân ta bị chế độ thực dân phong kiến kìm hãm đến nay đã có dịp phát huymạnh mẽ Mặc dù phải học trong những điều kiện thật khó khăn, gian khổ giữa baothiếu thốn và công việc bộn bề ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, nhưngnhân dân ta đã vượt nên tất cả mọi khó khăn vẫn hăng hái đi học Trong đêm tối,dưới ngọn đèn dầu le lói mọi người đều chăm chú say xưa học tập Bình dân học vụ
Trang 17đã lôi cuốn đủ các lứa tuổi, các thành phần, không phân biệt già trẻ, trai gái, giàunghèo… nó thể hiện khí thế của một dân tộc đang vươn lên làm chủ vận mệnh củamình GV có thể tích hợp với môn Văn học để giờ học nhẹ nhàng, học sinh hứngthú nghe giảng hơn :
“O tròn như quả trứng gà
Ô thì đội mũ, ơ thì thêm râu
O, a chẳng khác gì nhau,
Vì a có cái móc câu bên mình”
Ví dụ 2: Bài 27 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lượckết thúc 1953-1954
Khi dạy phần: Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 và chiếndịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954 GV cho HS quan sát bức ảnh hình 52 SGK, rồinêu vấn đề : Quan sát bức ảnh em hiểu được điều gì? Kết hợp các phương pháp: Sửdụng đồ dùng trực quan, nêu và giải quyết vấn đề, trình bày miệng…GV cho HShiểu được: Trước âm mưu mới của Pháp và Mĩ tháng 9.1953, Bộ chính trị BCHTWĐảng họp tại khu núi Hồng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên thuộc căn cứ địaViệt Bắc để bàn chủ trương tác chiến Đông- Xuân 1953-1954 Trong ảnh là Chủtịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh và các ủy viên Bộ chính trị đang bàn
kế hoạch tác chiến Đứng từ trái qua phải là Nguyễn Chí Thanh, Phạm Văn Đồng,
Hồ Chí Minh, Trường Chinh và cuối cùng là Võ Nguyên Giáp Ở trên bàn là bản
đồ quân sự Chủ tịch Hồ Chí Minh đang cầm thước chỉ trên bản đồ Tất cả mọingười khác đang chăm chú theo dõi và suy nghĩ để đi đến quyết định tác chiến cuốicùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng quân ủy trình bày hai phương ántác chiến do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị Bộ chính trị đã phân tích tình hình, chỉ
ra chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, cũng như của ta, cuối cùng quyết định đưa bộ độichủ lực của ta lên hướng Tây Bắc buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, tanhân đó tiêu hao sinh lực địch , đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở các chiến trườngsau lưng địch
Ví dụ 3: Bài 27 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lượckết thúc 1953-1954
Khi dạy phần :Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 và chiếndịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954 Trong mục 2.Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
1954 Giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh hình 55 SGK, rồi nêu vấn đề : Quansát bức ảnh em hiểu được điều gì? Kết hợp các phương pháp: Sử dụng đồ dùng trựcquan, nêu và giải quyết vấn đề, trình bày miệng, tích hợp với môn Âm nhạc, Vănhọc, sử dụng câu chuyện về nhân vật lịch sử (Anh hùng Tô Vĩnh Diện- lấy thânmình cứu pháo), ứng dụng công nghệ thông tin…GV cho HS hiểu được công việcchuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ của nhân dân ta: Trong ảnh các chiến sỹpháo binh đang gò lưng kéo pháo, cả người và pháo đều phải ngụy trang bằng lá
Trang 18cây Đường rừng thì hẹp, bề ngang chỉ vừa đủ bề ngang của khẩu pháo Các chiến
sỹ đã buộc dây chão vào khẩu pháo và đứng thành hai hàng, người nọ đứng sátngười kia, pháo kéo đến đâu thì phải có người chèn pháo đến đấy, đề phòng pháotrượt xuống dốc Có một chiến sỹ đứng ngoài hàng hô: một, hai, ba, hò dô tanào…! Cứ thế, cứ thế, với lòng yêu nước, quyết tâm tiêu diệt giặc, các chiến sỹpháo binh của ta đã kéo được các khẩu pháo vào trận điạ, sẵn sàng nã những đònsấm sét xuống đầu quân thù
Như vây việc khai thác nội dung tranh ảnh trong SGK kết hợp với phươngpháp: Sử dụng đồ dùng trực quan, nêu và giải quyết vấn đề, trình bày miệng, tíchhợp với môn Âm nhạc, Văn học, sử dụng câu chuyện về nhân vật lịch sử , ứngdụng công nghệ thông tin… Vừa giúp giáo viên bổ sung kiến thức cho bài giảng,vừa phát huy được năng lực tư duy cho học sinh, kích thích trí tưởng tượng phongphú, giờ học nhẹ nhàng thoải mái, bớt căng thẳng, tạo hứng thú học tập để HS tiếpthu bài tốt hơn
1.2.3.2 Phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học Lịch sử
Trên bản đồ các sự kiện luôn thể hiện trong một không gian, thời gian, địađiểm nhất định Qua quan sát rèn cho học sinh kỹ năng đọc bản đồ “như đọc sáchgiáo khoa” Thông qua quan sát đọc kí hiệu , giáo viên phát triển cho học sinh khảnăng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ kết hợp với phương pháp tườngthuật miêu tả, nêu đặc điểm, hệ thống câu hỏi và tài liệu tham khảo làm cho họcsinh thu nhận hình ảnh, sự kiện qua bản đồ được sinh động cụ thể sâu sắc hơn, huyđộng được tối đa khả năng làm việc của học sinh: Mắt thấy, tai nghe, óc phân tíchtổng hợp Nếu như chỉ dùng phương pháp trình bày miệng, giáo viên khó có thể tạocho học sinh biểu tượng về tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà thực dân Pháp cholà: “một pháo đài kiên cố không thể công phá” Rõ ràng khi chọn vị trí chiến lượccho kế hoạch của mình, Na Va đã nghĩ đến Điện Biên Phủ với địa hình cánh đồngMường Thanh có núi cao bao bọc hiểm trở sẽ gây khó khăn cho ta khi tấn công,hơn nữa còn là vị trí chiến lược có thể kiểm soát cả chiến trường Lào và Bắc Bộ
Nếu giáo viên biết kết hợp sử dụng bản đồ: Hình thái chiến trường trên cácmặt trận Đông - Xuân 1953 – 1954, lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 Tíchhợp với môn Địa lý cùng với một số hình ảnh khác , sử dụng phương pháp miêu tả,phân tích học sinh sẽ có biểu tượng khá rõ về “pháo đài kiên cố”, là “ xương sốngcủa kế hoạch NaVa” Kết hợp sử dụng các phương pháp như vậy giáo viên đã bồidưỡng quan điểm duy vật lịch sử cho học sinh, đặt sự kiện lịch sử trong khônggian, thời gian cụ thể có yếu tố địa lý nhất định
Ví dụ: Bài 30 Hoàn thành giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước 1973 –
1975 (Lịch sử 9 ) Khi dạy phần chiến dịch Tây Nguyên giáo viên sử dụng bản đồcuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 cho học sinh quan sát Qua quan sát
và giới thiệu của giáo viên, học sinh sẽ thấy có 3 kiểu mũi tên khác nhau từ đó xácđịnh được trong lược đồ thể hiện 3 chiến dịch: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, HồChí Minh Sau đó học sinh tập trung vào chiến dịch Tây Nguyên để các em nhận rõ
Trang 19vị trí chiến lược của Tây Nguyên Khi trình bày diễn biến GV hướng HS quan sátrồi trả lời các câu hỏi gợi mở của GV để phát triển năng lực tư duy cho HS:
- Tại sao ta chọn Tây Nguyên làm chiến dịch mở màn cho cuộc tổng tiếncông?
- Tại sao ta chọn Buôn Ma Thuột làm trận đánh mở đầu?
- Mất Buôn Ma Thuột có ảnh hưởng như thế nào đến chính quyền Sài Gòn?
- Thắng lợi Tây Nguyên có ý nghĩa như thế nào?
Như vậy với loại bài kháng chiến, khởi nghĩa GVnên vận dụng các phươngpháp: Trình bày miệng, trực quan, nêu và giải quyết vấn đề…để giúp học sinh tạobiểu tượng lịch sử, gây hứng thú học tập, kích thích tư duy phát triển
1.2.3.3 Sử dụng chân dung các nhân vật LS và kể các câu chuyện vềnhân vật LS
Học sinh rất thích xem tranh ảnh, nghe kể chuyện chân dung các nhà cáchmạng, các anh hùng dân tộc, các vị lãnh tụ… khi sử dụng GVcần chú ý đến mụcđích giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy Phải làm nổi bật tính cách của nhânvật thông qua miêu tả bên ngoài, hay nêu khái quát ngắn gọn tiểu sử để cho họcsinh hứng thú, kích thích óc tò mò, phát triển năng lực nhận thức Qua việc sử dụngchân dung các nhân vật LS, học sinh học tập được tài trí, đạo đức, lòng yêu nước,tinh thần đấu tranh hy sinh vì độc lập tự do cho đất nước của họ qua đó các em tựrèn mình qua các tấm gương đó
Ngoài việc chọn hình dáng đặc điểm riêng của từng nhân vật LS để gâyhứng thú học tập cho HS thì GV còn phải biết chọn lọc những hoạt động tiêu biểuhay sự nghiệp, những công lao của nhân vật ấy đối với đất nước hoặc nhân loại củanhân vật đó để khắc sâu kiến thức cho các em: Một nhân vật lịch sử bao giờ cũng
có một sự nghiệp nhất định, có khi bao gồm nhiều mặt Trong một thời gian ngắnngủi (45phút) trên lớp, người thầy giáo dạy sử không thể nào kể lại toàn bộ sựnghiệp của nhân vật, mà chỉ có thể chọn lọc một trong hai hoạt động tiêu biểu nhấttrong cuộc sống hoặc những hoạt động điển hình nhất, cần phải chọn lọc tinh giảncao độ nhưng phải đầy đủ chính xác, làm sao khi giảng mà không nông cạn, không
mơ hồ
Để đạt được mục đích trên, người giáo viên phải mất nhiều công sức như sưu
tầm tài liệu, tranh ảnh của từng nhân vật lịch sử mà trong tiết dạy yêu cầu, biết
chọn lọc, kết hợp đưa những kiến thức ngoài sách giáo khoa vào bài giảng đúng phương pháng dạy học theo kiểu sơ đồ Đai Ri Tất cả việc làm trên mặc dầu tốn nhiều thời gian và sức lực nhưng khi đạt được mục đích yêu cầu đề ra trong một tiết học trên lớp 45 phút thì người thầy giáo cảm thấy nhẹ nhõm, quên đi mệt mỏi lo
âu, làm cho học sinh hứng thú, phấn khởi học tập sau một giờ lên lớp công phu của
thầy và trò
Không phải lúc nào cũng đưa chân dung nhân vật Lịch sử ra mà thời gian sửdụng phù hợp với nội dung bài học Trong khi sử dụng giáo viên vừa miêu tả,
Trang 20tường thuật vừa phân tích, giải thích và định hướng cho học sinh tự mình đánh giávai trò, tính cách của nhân vật rút ra những suy nghĩ của mình và học tập theonhững tấm gương đó.
Ví dụ 1: Bài 18 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (Lịch sử 9) Phần luậncương chính trị tháng 10/1930 có bức chân dung Trần Phú GV cho HS quan sát vàđặt câu hỏi: Nêu hiểu biết của em về đồng chí Trần Phú? Sau khi HS phát biểu,GVcó thể kể cho các em nghe tóm tắt tiểu sử và sự nghiệp cách mạng của Trần Phúnhư sau: Trần Phú sinh ngày 1/5/1904 tại Đức Thọ - Hà Tĩnh Cha mẹ mất sớm nênphải về Quảng Trị nhờ họ hàng Trần Phú được vào học ở trường Quốc học Huế.Năm 1925 tham gia Hội Phục Việt rồi ra nhập Tân Việt cách mạng đảng Tháng8/1926 ông sang Trung Quốc liên lạc với hội Việt Nam cách mạng Thanh niên vàtrở thành hội viên Năm 1927 ông được cử sang học tại trường đại học PhươngĐông ở Mat-xcơ-va được cử làm Bí thư chi bộ Đầu năm 1930 về nước hoạt độngđược cử vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Được sự giúp đỡ của những người cảm tình Đảng ông được bố trí ở dưới tầng hầmcủa ngôi nhà số 90 phố Hàng Bông Nhuộm- nay là phố Thợ Nhuộm - Hà Nội Tạiđây Trần Phú đã khởi thảo luận cương chính trị của Đảng Tháng 10/1930 ôngtham gia Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, được cử làmtổng Bí thư của Đảng, sau đó về hoạt động ở Sài Gòn Sau thời gian hoạt độngngày 19/4/1931 ông bị địch bắt tra tấn và hy sinh lúc mới 27 tuổi Sau khi HS nghexong GV đặt câu hỏi:
“Những đồng chí chèn lưng cứu pháoNát thân nhắm mắt còn ôm…”
Đặt vấn đề : Câu thơ trên nói về ai ? Sau khi HS trả lời, GV kể cho học sinh nghe
câu chuyện về : Anh hùng liệt sỹ Tô Vĩnh Diện: “ Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 ở
Nông Trường- Nông Cống- Thanh Hóa Là tiểu đội trưởng pháo cao xạ thuộc Đạiđội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367 Được lệnh tham gia chiến dịch Điện BiênPhủ: Kéo pháo lên trận địa Tối ngày 25.1.1954 bắt đầu xuất phát, đến ngày30.1.1954 đơn vị Tô Vĩnh Diện kéo pháo ra đến Dốc Chuối, một cái dốc nghiêng
70 độ đường hẹp và cong rất nguy hiểm, bộ đội ta đặt tên là “dốc ba tời” vì mỗi lầnvượt dốc, mỗi pháo phải mắc tới ba tời Khẩu pháo nặng 2,5 tấn phải huy động 120người kéo Tô Vĩnh Diện xung phong cùng đồng chí Tỵ lái pháo, không may nửachừng dốc thì dây tời bị đứt, khẩu pháo cứ thế lao nhanh xuống dốc Anh bình tĩnhgiữ càng, lái cho pháo xuống thẳng đường Không may một trong bốn dây pháo lại
Trang 21bị đứt, pháo càng lao nhanh hất đồng chí Tỵ xuống suối Trước hoàn cảnh hiểmnghèo đó Tô Vĩnh Diện hô anh em: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và buông taylái chạy lên trước lấy thân mình lao vào chèn bánh pháo Khẩu pháo bị vướng,nghiêng dựa vào sườn núi nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ được pháo dừng lại.
Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽtoàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu và chiến đấuthắng lợi Ngày 7.5.1956 Tô Vĩnh Diện được nhà nước truy tặng huân chương quâncông hạng nhì và danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Khi học sinhnghe xong GV đặt câu hỏi:
- Em có cảm nghĩ gì về đồng chí Tô Vĩnh Diện? Qua đó em học tập được gì?
GV sử dụng câu chuyện về Anh hùng liệt sỹ Phan Đình Giót khi dạy phần
diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ, lúc ta tiến công đợi 1 để tiêu diệt căn cứ HimLam: “Phan Đình Giót sinh năm 1922 ở xã Cẩm Quan- Cẩm Xuyên – Hà Tĩnhtrong một gia đình nông dân nghèo Bố bị chết đói Anh phải đi ở từ năm 13 tuổicực nhọc, vất vả Cách mạng tháng Tám thành công, anh tham gia tự vệ chiến đấu.Năm 1950 anh xung phong đi bộ đội chủ lực Phan Đình Giót tham gia nhiều chiếndịch lớn: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc và đặc biệt trong trận đánh của cứ điểmHim Lam mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ chiều 13/3/1954 Đại đội 58 củaAnh được lệnh dùng bộc phá, phá rào mở cửa Phan Đình Giót đánh quả bộc pháthứ 9 thì bị thương vào đùi nhưng vẫn xung phong đánh quả bộc phá thứ 10 Địchtập trung hỏa lực bắn vào cửa mở, đồng đội bị thương vong, đồng chí lao lên đánhtiếp 2 quả nữa phá toang đoạn rào cuối cùng mở thông cửa để đồng đội lên đánhnốt lô cốt đầu cầu Lợi dụng thời cơ địch hoang mang Phan Đình Giót vượt lên ápsát lô cốt số 2 ném thả pháo , bắn kìm chế cho đơn vị tiến lên Đồng chí bị thươngvào vai máu chảy đầm đìa, nhưng hỏa lực từ lô cốt thứ 3 xuất hiện bắn vào đội hìnhquân ta Phan Đình Giót gắng lên nhích dần đến lô cốt này , dùng hết sức còn lại đểnâng khẩu tiểu liên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng hô lớn “Quyết hy sinh vìĐảng…vì dân!” rồi rướn người lấy đà lao cả thân mình vào bịt lỗ châu mai, dập tắthỏa điểm lợi hại nhất của quân Pháp, tạo thuận lợi cho đơn vị ào ạt xông lên tiêudiệt gọn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi trong trận đánh mở màn chiến dịchĐiện Biên Phủ Khi đó anh là tiểu đội phó Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn
141, sư đoàn 312 Ngày 31.8.1955 Phan Đình Giót được nhà nước truy tặng huânchương quân công hạng nhì và danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang Khi họcsinh nghe xong GV đặt câu hỏi:
- Em có cảm nghĩ gì về đồng chí Phan Đình Giót? Qua đó em học tập được gì?
1.2.3.4 Sử dụng niên biểu, đồ thị, sơ đồ:
Đây là phương pháp hệ thống hóa các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian,đồng thời nêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản của một giai đoạn lịch sử.Chúng ta có thể sử dụng các loại niên biểu sau:
- Niên biểu tổng hợp
Trang 22- Niên biểu chuyên đề
- Niên biểu so sánh
Ngoài ra còn sử dụng: Đồ thị và sơ đồ
1.2.3.5 Yêu cầu chung khi sử dụng đồ dùng trực quan
- Phải có sự chuẩn bị chu đáo, nắm vững nội dung, ý nghĩa từng loại để lựachọn cho phù hợp với từng kiểu bài
- Xác định rõ mục đích trình bày trực quan Khi sử dụng đưa ra khéo léo kịpthời, đúng nội dung, treo đúng vị trí, dùng xong cất ngay để đảm bảo tính khoa học,tránh sự phân tán của học sinh
- Đồ dùng trực quan phải đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học, tính thẩm mĩ.Tất cả học sinh được quan sát rõ ràng, đầy đủ Khi sử dụng phải kiểm tra đượcnhận thức của học sinh, chú ý phát triển óc quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp,khái quát, nhận xét, rút ra kết luận
Tóm lại, trong dạy học lịch sử ở trường Phổ thông, việc kết hợp lời nói sinhđộng với sử dụng đồ dùng trực quan là một trong những điều kiện quan trọng nhất
để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển cho học sinh
1.3 Sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác
1.3.1 Vị trí
- Sách giáo khoa là sự cụ thể hoá chương trình môn học do Nhà nước quyđịnh, được biên soạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xácđịnh , trong đó phải thể hiện mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học
- Kiến thức trong SGK đảm bảo tính khoa học, tư tưởng và phù hợp vớitrình độ nhận thức của học sinh từng cấp học, lớp học; đảm bảo tính toàn diện,phản ánh đầy đủ các mặt của xã hội loài người theo các quy luật của khoa học lịch
sử Thông qua hệ thống kiến thức đó, các em sẽ có thái độ đúng đắn, tình cảm phùhợp với các sự kiện, hiện tượng lịch sử được đề cập trong sách
- Hình thức trình bày trong sáng, rõ ràng và các bài học, chương mục sắp xếpđúng và hợp logic giúp giáo viên và học sinh dễ tiếp thu kiến thức khi học tập, soạnbài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp
1.3.2 phương pháp sử dụng
1.3.2.1 Sách giáo khoa Một vấn đề cần đặt ra cần giải quyết là GV nên sử dụng nội dung bài viết củaSGK như thế nào cho tốt, để tránh lặp lại hai khuynh hướng: thoát ly nội dung SGKhoặc bê nguyên xi bài viết SGKvào bài giảng Bằng kết quả thực nghiệm sư phạmtrong nhiều năm, tiến sĩ N.G.Dairi đề xuất cách sử dụng SGK minh họa bằng sơ đồsau:
Trang 23Số “2” chỉ phần nội dụng vừa có trong bài giảng, vừa có trong SGK Đó lànhững vấn đề chủ yếu nhất, khó hiểu nhất Việc lĩnh hội kiến thức ấy một cách sâusắc và vững chắc là nhiệm vụ hàng đầu
Số “1” Chỉ phần tài liệu không có trong SGK, GV đưa phần này vào bàigiảng, nhằm nâng cao tính khoa học, sự trong sáng, tính vừa sức của SGK
Số “3” chỉ nội dung của SGK không giảng ở trên lớp, mà HS sẽ tự học ở nhà.Thường thường, đó là phần tài liệu ít có ý nghĩa, nhưng đôi khi rất quan trọng màkhông đưa vào được do thiếu thời gian
Việc bổ sung sách giáo khoa và cụ thể hóa những luận điểm chung trongSGK không những làm cho bài giảng thêm dễ hiểu hơn mà còn tạo cho nó có tínhhấp dẫn, cảm xúc và động viên được tính tư duy của học sinh Bởi vì, “tài liệu họctập tự nó đã chứa đựng nhiều yếu tố kích thích, động viên tính ham hiểu biết vàtính tích cực của học sinh Đó là tính chất mới lạ của tư duy của khoa học, tính sáng
tỏ của sự kiện, tính độc đáo của các kết luận, phương pháp đặc sắc để phát hiện ranhững khái niệm đã được hình thành, sự xâm nhập sâu xa vào các bản chất của sựkiện…” Do đó, theo Dairi “nhiệm vụ đầu tiên trước khi chuẩn bị vào giờ học làxác định xem nội dung nào của SGK sẽ đưa vào hay không đưa vào bài giảng? Nộidung nào cần bổ sung và vì sao bổ sung cho quá trình lịch sử được miêu tả và giảithích một cách đúng đắn, trọn vẹn Chỉ với cách xử lý như vậy chúng ta mới đạtđược mục đích mở rộng thông tin và mới tập trung một cách đầy đủ vào những nộidung quan trọng nhất”
Tóm lại, việc sử dụng sơ đồ Dairi vừa có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâusắc, giúp GV khắc phục được mâu thuẫn trong quá trình dạy học, tránh được tìnhtrạng quá tải và tạo hứng thú cho HS trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượngdạy học Tuy nhiên, GVcũng nên lưu ý rằng việc sử dụng sơ đồ Dairi cần linh hoạt,không công thức, tùy theo nội dung bài giảng và trình độ cụ thể của HS cũng nhưđiều kiện cụ thể của dạy học
Bằng lý luận dạy học và kinh nghiệm thực tế ở nhà trường phổ thông, chúng
ta có thể xác định cách sử dụng SGK như sau:
Đối với giáo viên, để sử dụng SGK lịch sử được tốt, đúng mục đích và yêu
cầu bài học lịch sử, người GV cần thực hiện các công việc sau : (1) xác định kiếnthức cơ bản trong bài giảng; (2) sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa lịch sử và(3) sử dụng hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa để phát huy tính tích cực, độclập nhận thức của học sinh Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các công việc của GVkhi sử dụng SGK trong dạy học lịch sử
- Xác định kiến thức cơ bản của bài giảng: Việc làm này có vai trò quan
trọng vì nó giúp GV và HS hiểu rõ nội dung của SGK cũng như bài giảng của GV
Để xác định kiến thức của bài giảng, giáo viên thực hiện các bước sau:
+ Nghiên cứu tên bài học là việc đầu tiên của giáo viên trước khi chuẩn bịbài giảng, vì việc này giúp định hướng cho giáo viên cho việc xác định kiến thức cơ
Trang 24bản cần thiết cho bài giảng, kiến thức tham khảo để làm rõ bài giảng và phươngpháp truyền đạt cần thiết để cho học sinh hiểu và nắm được nội dung bài học.
+ Xác định kiến thức cơ bản Muốn làm được GV phải đọc toàn bộ nộidung trong SGK, trong đó chú ý các nội dung chính (đặc biệt có dính dáng đến tênbài học) rồi sau đó tóm tắt lại; tìm các thuật ngữ, khái niệm loại ra riêng để giảithích, sau đó lồng vào bài dưới dạng các câu hỏi để kích thích học sinh suy nghĩ vàtrả lời Ngoài ra, GV cũng xác định vị trí của kiến thức cơ bản trong bài (tất nhiên
là nó có vị trí quan trọng) để chú ý và làm rõ cho bài giảng của mình, chú ý thờigian để xác định nó cho bài giảng
+ Đối chiếu nội dung mục và tên bài để tìm ra sự liên quan giữa hai vấn
đề này với nhau Các đề mục trong bài thường gắn với các mảng kiến thức khácnhau nhưng những cái này đều là sự khai triển vấn đề mà tựa bài học đưa ra Mục
có nội dụng kiến thức liên quan đến tên bài thì thường kiến thức cơ bản sẽ tập trungnhiều nhất ở đó
Một yêu cầu quan trọng của GV trong việc thiết kế bài giảng đó là xác địnhchính xác mục tiêu bài học trên các mặt: kiến thức, tư tưởng và kỹ năng Việc xácđịnh đúng mục tiêu là rất quan trọng, nó giúp định hướng cho GV và HS trong suốttiến trình hoạt động dạy học, từ đó giúp GV hoàn thành mục tiêu của khóa trình,của môn học và của bài học Hiện nay, có nhiều tài liệu giúp GV xác định mục tiêubài học như sách giáo viên, sách thiết kế giáo án môn lịch sử, tài liệu tham khảodùng trong giảng dạy lịch sử… tuy nhiên những tài liệu này chỉ mang tính gợi ýcho GV tham khảo, chứ không hoàn toàn mang tính áp đặt Bài giảng trên lớp chỉmang dấu ấn của cá nhân GV, thể hiện trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạmcủa mình chứ không rập khuôn theo một khuôn mẫu nào cả GVcó thể tự mình xácđịnh mục tiêu bài học dựa trên SGK và theo chuẩn kiến thức kỹ năng Và tất nhiên,mục tiêu bài học phải có 3 mục chính: kiến thức, kỹ năng và tư tưởng, trong đóquan trọng nhất là phải nắm vững kiến thức cơ bản của bài học Từ việc nắm vữngkiến thức bài học, giáo viên tiến hành các thao tác sư phạm để giảng giải kiến thức
ấy giúp HS nắm vững, khắc sâu kiến thức cơ bản của bài học, bồi dưỡng tình cảmcho HS và đồng thời rèn luyện các kỹ năng cho HS như kỹ năng diễn đạt, kỹ năngđọc bản đồ, tranh ảnh…
Ví dụ: Bài 27 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc(1953 – 1954) Căn cứ vào vị trí của bài trong chương, ta cần xác định rõ mục tiêucủa bài học này là: Về phía địch, trong thời gian cuối của cuộc kháng chiến chốngPháp của nhân dân ta, Pháp gặp nhiều khó khăn về binh lực cũng như trang thiết bị,chiến lược, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào Việt Nam, cùng Pháp thực hiện âmmưu mới thâm độc thể hiện trong kế hoạch Nava Còn ở phía ta, trước âm mưu củađịch ta đã chuẩn bị sẵn thế và lực vững mạnh, đủ sức chống lại kế hoạch của Pháp– Mỹ Với mục tiêu bài học như vậy, khi dạy tiết 1 của bài, GVsẽ phải làm rõ cáckiến thức cơ bản: kế hoạch Nava để thấy rõ âm mưu thâm độc của Pháp – Mỹ, chủtrương chiến lược của ta và thắng lợi to lớn của quân dân ta ở Điện Biên Phủ, đây
Trang 25chính là kiến thức cơ bản cần nắm vững để qua đó HS hiểu được vì sao quân tađánh thắng được địch trong chiến dịch Điện Biên Phủ và trong cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược ?
Trong mục I Kế hoạch Na-Va của Pháp-Mĩ và mục II: Cuộc tiến công chiếnlược Đông – Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, GVcần làm rõhoàn cảnh và nội dung kế hoạch Nava và khẳng định cho HS biết rằng, kế hoạchNava thực chất chính là âm mưu mới của Pháp và Mỹ ở chiến trường Đông Dương.Với kế hoạch quân sự quan trọng này, Pháp – Mỹ hy vọng rằng, chiến tranh củachúng chống lại quân dân ta sẽ giành một thắng lợi quyết định trong 18 tháng để
“kết thúc chiến tranh trong danh dự” Đó là những cố gắng lớn nhất và cuối cùngcủa thực dân Pháp, có sự giúp đỡ to lớn của Mỹ Ở kiến thức (1) trong phần II,giáo viên cũng đi lướt qua, nhưng cần khẳng định cho học sinh biết rằng: thực hiệnchủ trương chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954 của Đảng, ta đã tấn công địch ởnhiều nơi, buộc địch phải phá sản kế hoạch tập trung quân ở đồng bằng Bắc Bộ,phân tán ra nhiều nơi để tấn công ta Chính chủ trương chiến lược đúng đắn của BộChính trị đã dẫn đến thắng lợi to lớn của quân dân ta mà đỉnh cao là chiến dịch lịch
sử Điện Biên Phủ Thắng lợi to lớn về quân sự đưa tới thắng lợi của ta trên mặt trậnngoại giao Chúng ta giành thắng lợi to lớn trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
là do nhiều nguyên nhân, trong đó sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch HồChí Minh, tài chỉ huy của Võ Nguyên Giáp là nhân tố quan trọng nhất Đạt đượcnhững nhận thức trên sẽ giúp HS có các kỹ năng như phân tích, so sánh, đánh giácác sự kiện lịch sử; giáo dục HS lòng yêu nước, tự hào dân tộc, niềm tin vào Đảng
và Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng kính yêu các anh bộ đội Cụ Hồ…
· 1.3.2.2 Các tài liệu tham khảo:
Những tư liệu tham khảo bổ sung đưa vào bài giảng, không những giúp
HS hiểu sâu sắc bài học, mà còn tác động mạnh đến tư tưởng và tình cảm của họcsinh Tư liệu tham khảo đó chính là tài liệu, tư liệu lịch sử, tài liệu văn học có liênquan đến bài học giáo viên sẽ dạy Giáo viên cần tìm đọc những tài liệu này, tìmcác nội dung phù hợp với trình độ học sinh và bài học để đưa vào bài dạy Để làmđược điều này, giáo viên cần:
- Căn cứ vào nội dung của từng phần bài học để lựa chọn cho phù hợp:Những nội dung lịch sử cần cụ thể hóa, ví dụ như miêu tả, tường thuật sự kiện, trậnđánh thì giáo viên tìm các hồi ký, ký sự và kể chuyện lịch sử Những nội dung cầnphân tích, khái quát thì giáo viên tìm đọc các tác phẩm kinh điển của Lê-nin và cácnhà cách mạng, văn hóa nước ta, sách đại học, sách chuyên đề… Khi tìm đọc cáctài liệu này, nhất thiết giáo viên phải tìm tài liệu chính thống hay các tài liệu củacác nhà khoa học có uy tín trong ngành để đọc Đọc để so sánh, đối chiếu với bàiviết trong SGK để tìm ra những ý cơ bản (trong đó có thể là những tư liệu mới,đoạn trích, hồi ký, những mẩu chuyện lịch sử có liên quan đến nội dung chính củabài) để lồng vào bài giảng Các ý cơ bản đó, thông thường giáo viên có 2 cách sửdụng:
Trang 26Một là, những giáo viên nào có trí nhớ tốt thì đọc qua một lần hay vài lần thì
sẽ nhớ và đập vào óc của mình là những ý cơ bản (cùng với lối diễn đạt trong tàiliệu) sau đó họ sẽ ghi lại những gì họ nhớ được khi đọc các tài liệu cùng chủ đề vàogiấy nháp rồi diễn đạt lại theo ý riêng của mình
Hai là, những GV nào trí nhớ chưa được tốt thì khi đọc tài liệu, thấy ý nào
hay và phù hợp với bài học thì cẩn thận viết vào một cuốn sổ tạm gọi là Tập tài
liệu lịch sử Trong tài liệu này, họ sẽ đọc lại các ý mà họ viết được, sau đó sắp xếp
lại theo một trật tự xác định, logic, phù hợp với cấu trúc bài học và trình độ của GV Sử dụng tốt những tài liệu có được liên quan đến bài học, rút ra những ý cơ bản đógiúp GV có cơ sở để sắp xếp các ý này theo đúng cấu trúc bài học, đúng chủ đề, nộidung và phù hợp với trình độ HS (dĩ nhiên điều đó có thực hiện được hay khôngtùy thuộc vào việc chuẩn bị kỹ bài học, kỹ năng – nghiệp vu của mình trong khigiảng bài để có được bài giảng hay, thu hút được HS tham gia xây dựng bài học và
họ tiếp thu, khắc sâu kiến thức cơ bản mà GV truyền đạt)
- Trên cơ sở tài liệu được chọn, GV căn cứ vào đặc điểm đối tượng, nội dungkiến thức, thời lượng dạy học để xác định cho phù hợp Một điều này nữa là khichọn tài liệu đọc rồi trích vào bài giảng, GV chọn lọc với mức độ vừa phải, phùhợp với thời lượng bài học, phù hợp với đối tượng HS và tất nhiên không dạy, nóiquá thời gian cho phép vì nếu làm như vậy, bài giảng của GV sẽ loãng, HS khôngtiếp thu dẫn đến mất tập trung và gây ồn ào, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học
Trở lại ví dụ trên, chúng ta sẽ thấy rõ điều này Để HS hiểu rõ tình hình Pháp
- Mỹ trước khi thực hiện kế hoạch Nava, GV đọc các tài liệu như Lịch sử Việt Nam
1945 - 1975 của Hồ Sĩ Khoách, Hà Minh Hồng và Võ Văn Sen; Điện Biên tronglịch sử của Đinh Xuân Lâm; Điện Biên Phủ (tư liệu của khoa lịch sử Đại học Sưphạm Hà Nội) của Phan Ngọc Liên , các tài liệu đó cung cấp khá nhiều thông tinliên quan đến bài học
Để làm nổi bật sự tài tình của ta, nêu rõ chủ nghĩa anh hùng cách mạng ởĐiện Biên Phủ, nguyên nhân và kết quả, GV tìm các hồi ký, ký sự để cụ thể hóamột số nhân vật tiêu biểu Ví như, khi nói đến gương hy sinh của Tô Vĩnh Diện,GVcó thể kể: "Khi quân ta được lệnh kéo pháo ra để chuẩn bị kỹ lưỡng hơn, đêmtối, đường dốc, dây kéo pháo bị đứt và khẩu pháo từ từ lao thẳng xuống vực Làmthế nào để kéo pháo lại ? Trong phút nguy nan ấy, Tô Vĩnh Diện hô anh em "Thà
hy sinh, quyết bảo vệ pháo" Thế là anh buông tay lái, xông lên trước, lao vào chènbánh pháo" Hoặc lúc trình bày về cuộc tấn công Him Lam của quân dân ta để làmnổi bật gương hy sinh anh dũng của Phan Đình Giót: Ngày 13/3/1954, quân ta tấncông Him Lam Sau một đợt yểm trợ, bộ binh ta tiến lên chiếm lấy các cứ điểm.Đại đội bộc phá của Phan Đình Giót được lệnh tiến lên phía trước Địch bắn ào ào
và liên tục, nhưng đại đội của anh vẫn không chùn bước mà tiếp tục tiến lên, pháthủng 4 hàng rào và 1 mảng lô cốt Trong lúc quân ta so kè kịch liệt với Pháp, anhGiót bị thương và lô cốt số 3 vẫn bắn ào áo ngăn cản bước tiến của đồng đội anh.Anh quyết định bò lên dưới làn mưa đạn, nhổm lên tường vào thẳng lỗ châu mai
Trang 27của lô cốt 3, áp chặt lưng vào đó Khi hỏa lực của địch tắt hẳn cũng là lúc anh hysinh, quân ta tiến chiếm gọn được Him Lam" Những tư liệu này có tác dụng giúp
HS nắm vững kiến thức cơ bản, giáo dục lòng kính yêu anh bộ đội và niềm tin vào
sự lãnh đạo của Đảng
Khi trình bày về cuộc tiến công khu trung tâm Mường Thanh - Hồng Cúm,tùy vào thời gian, GV có thể giới thiệu sơ lược làm nổi bật chiến công của cácchiến sĩ Vinh (tên thật Hoàng Đăng Vinh) và Nhỏ (có tài liệu gọi là Ngọ, tên thật
Bùi Văn Nhỏ) trong đại đội Tạ Quốc Luật: “Tối mồng 1/5, quân ta xung phong bất
ngờ tiêu diệt địch chiếm hoàn toàn đồi C1 Chiều mồng 6/5, tiếng nổ lớn của khối bộc phá 1 tấn phát ra mở đầu hiệu lệnh tổng công kích của quân ta Đến 17 h 30 phút, quân ta đánh thẳng vào trung tâm Mường Thanh, bao vây hầm của
Đờ-Ca-xtơ-ri Tạ Quốc Luật chỉ huy một nhóm chiến sĩ (Vinh, Nhỏ…) truy kích đến tận hầm Đờ-Ca-xtơ-ri Bốn xe tăng đỗ quanh cửa hầm liên tục nhả đạn vào quân ta để bảo vệ chỉ huy Vinh, Nhỏ bò tới gần sát 4 xe tăng, ném lựu đạn vào
xe, một xe đứt xích, một chiếc nổ tung và hai chiếc còn lại bỏ chạy để lộ ra cửa hầm chỉ huy không người bảo vệ Hai chiến sĩ mỗi người xông vào một cửa hầm và ném lựu đạn vào đó Trong làn khói mù mịt họ nhìn thấy một tên lính Pháp giơ tay hàng và qua tên lính này mới biết chỗ ở của Đờ-Ca-xtơ-ri Vinh giáp mặt với Đờ- Ca-xtơ-ri Đúng lúc đó các chiến sĩ khác cùng xông tới Họ cùng các anh bắt sống tướng Đờ-Ca-xtơ-ri cùng toàn bộ ban chỉ huy… Lá cờ quyết chiến quyết thắng của quân ta tung bay trên nóc hầm Đờ-Ca-xtơ-ri Đêm hôm đó, quân ta tiêu diệt nốt Hồng Cúm, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi” Những tư liệu này có tác
dụng quan trọng trong việc giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, giáo dục lòngkính yêu các anh bộ đội và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng
Sử dụng tài liệu tham khảo và sơ đồ Dairi đề khai thác nội dung bài viếttrong SGK là một biện pháp sư phạm có ý nghĩa quan trọng Nó giúp GV tránhđược xu hướng vẫn thường xảy ra là thoát ly SGK hoặc nói lại nội dung SGK Giảiquyết tốt mối tương quan giữa nội dung bài viết trong SGK và nội dung bài giảngcủa GV sẽ làm bài giảng sinh động, hấp dẫn để phát huy tính tích cực của HS, gópphần nâng cao hiệu qua dạy học bộ môn
1.3.2.3 Sử dụng câu hỏi trong sách giáo khoa để tạo hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh
1.3.2.3.1 Đối với giáo viên:
Trước khi bước vào bài mới, giáo viên nên nêu ngay câu hỏi định hướngnhận thức cho học sinh Các câu hỏi nêu vấn đề đưa ra vào đầu giờ nhằm động viên
sự chú ý, huy động các năng lực nhận thức của học sinh vào việc theo dõi bài giảng
để tìm câu trả lời Những câu hỏi này là những vấn đề cơ bản của bài học mà họcsinh phải nắm Đương nhiên, khi đặt câu hỏi không yêu cầu học sinh trả lời ngay
mà chỉ sau khi giáo viên đã cung cấp đầy đủ sự kiện thì học sinh mới trả lời được.Hoặc khi dạy bài 7: Các nước Mĩ La tinh (lịch sử lớp 9 sách giáo khoa trang 29) đểphần chuyển ý sang mục II gây được sự chú ý cho học sinh chúng ta có thể nói:
Trang 28Trong cơn bão táp cách mạng của Mĩ La tinh thì hình ảnh đất nước Cu Ba đẹp nhưmột dải lụa đào, bay lên giữa màu xanh của trời biển Ca -ri -bê với nắng vàng rực
rỡ, đó chính là Cu Ba hòn đảo của tự do - hòn đảo anh hùng Vậy hòn đảo anh hùngnày đã tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như thế nào? và công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Cu Ba đạt được kết quả gì ? Chúng ta chuyển sang mục II
“ Cu Ba-Hòn đảo anh hùng” Trong quá trình dạy học, chúng ta vẫn tuân thủ trình
tự cấu tạo của sách giáo khoa, song cần khai thác nhấn mạnh, giúp học sinh trả lờicâu hỏi nêu trên Học sinh trả lời được câu hỏi này tức là đã nắm và hiểu được kiếnthức chủ yếu của bài
1.3.2.3.2 Đối với học sinh:
Câu hỏi loại này thường là câu hỏi có tính chất bài tập muốn trả lời phải huyđộng kiến thức cơ bản của toàn bài hoặc cả một phần Chính vì vậy HS phải chuẩn
bị bài và trả lời trước các câu hỏi cuối mục ở nhà, chú ý, tập trung cao độ theo dõibài giảng, chọn lọc sự kiện và trình bày trên lớp Xác định mối liên hệ, xâu chuỗigiữa câu hỏi với các sự kiện, hiện tượng trong bài học
1.3.2.3.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi ở trên lớp:
- Trong quá trình giảng dạy ở trên lớp, GV còn phải biết đặt ra và giúp HSgiải quyết các câu hỏi có tính chất nhận thức kiến thức Một hệ thống câu hỏi tốtnêu ra trong qúa trình giảng dạy phải phù hợp với khả năng của các em, kích thích
tư duy phát triển Đồng thời tạo ra mối liên hệ giữa HS và HS, giữa HS với GV Tức là mỗi câu hỏi đưa ra, mỗi HS và cả GV phải thấy rõ vì sao trả lời được? Vìsao không trả lời được? Câu hỏi quá khó hay chưa đủ sự kiện, tư liệu để các em trảlời
- Trong SGK, thường sau mỗi mục, mỗi bài có từ 1 đến 3 câu hỏi, nhữngcâu hỏi này là cơ sở để GV xác định kiến thức trong sách, đồng thời bổ sung để xâydựng hệ thống câu hỏi của bài Câu hỏi phải có sự chuẩn bị từ khi sọan giáo án,phải có dự kiến nêu ra lúc nào? HS sẽ trả lời như thế nào? Đáp án ra sao? Rõ ràngviệc sử dụng câu hỏi trong dạy học còn là một nghệ thuật Những câu hỏi đặt ra bắtbuộc HS phải suy nghĩ, phải kích thích được lòng ham hiểu biết, trí thông minh,sáng tạo của HS Đặc biệt là giúp HS yếu kém tích cực hoạt động và dần dần hìnhthành kiến thức cơ bản cho các em qua hệ thống câu hỏi, từ đó các em có hứng thúhọc tập và xây dựng bài hơn
- Thông thường trong quá trình giảng dạy chúng ta thường đặt ra nhiều loạicâu hỏi, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các kiến thức lịch sử, chúng ta có cácloại câu hỏi Cụ thể:
+ Loại câu hỏi về sự phát sinh các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà chúng tathường hỏi về nguyên nhân, bối cảnh hay hoàn cảnh lịch sử của sự kiện, hiện tượnglịch sử và thường áp dụng cho đối tượng học sinh yếu kém Ví dụ: Nguyên nhândẫn đến cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (Bài 21SGK Lịch sử 9 trang 81 -86) Loại câuhỏi này thường xuất hiện vào phần đầu bài giảng Bởi vì bất kì một sự kiện, hiệntượng lịch sử nào đều xuất hiện trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, đều có nguyên