1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngành thép việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực vả thế giới

84 264 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là thời kỳ có tốc độ tăng sản lượng mạnh nhất.Hiện nay, lực lượng tham gia sản xuất và gia công chế biến thép trong cảnước rất đa dạng, bao gồm nhiều thành phần kinh tế, ngoài Tống c

Trang 1

LỜI MỒ ĐẦU

Nước ta đang phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nướccông nghiệp có trình độ phát triến khá Chiến lược 10 năm 2001-2010 làđấy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền tảng cho một nước côngnghiệp trong giai đoạn sau Chiến lược 10 năm này phải hướng tới việc đưađất nước phát triển nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế tự chủ, chủđộng hội nhập có hiệu quả với kinh tế quốc tế và tiếp tục đối mới sâu rộnghơn nữa

Ngành thép là một ngành công nghiệp năng then chốt trong nền kinh

tế quốc dân, là đầu vào cho rất nhiều các ngành công nghiệp khác

Thép được đánh giá là vật tư chiến lược không thể thiếu của nhiềungành công nghiệp và xây dựng có vai trò hết sức quan trọng trong sựnghiệp CNH-HĐH đất nước Ngành thép liên quan tới rất nhiều ngành kinh

tế khác như khai khoáng (than, dầu, khí đốt, quặng sắt ), ngànhđiện Ngành thép cũng liên quan tới các ngành sử dụng thép làm nguyênliệu,vật tư đế phục vụ cho hoạt động phát triển sản xuất của mình như: xâydựng, chế tạo, đồ gia dụng, giao thông vận tải

Ngoài việc là vật liệu trực tiếp cho các ngành, thép còn có vai trògián tiếp trong việc phát triến ngành nông nghiệp thông qua tác động vàongành công nghiệp chế tạo máy móc thiết bị vật tư cho nông nghiệp Mộtvai trò quan trọng không thế không kế đến là thép phục vụ cho công nghiệpquốc phòng

Ngoài ra ngành thép góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục vạn

các ngành có liên quan Trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang trongcông cuộc CNH-HĐH nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng và tốc độ đô thịhoá gia tăng mạnh mẽ thì thép trở thành vật liệu ngày càng quan trọng vàphổ biến

Trong thời gian qua thị trường thép Việt Nam cũng như thế giới cónhiều biến động lớn Ngành thép Việt Nam đang đứng trước thử thách khắcnghiệt và đã có dấu hiệu phát triển không theo quy hoạch, không tính lợiích lâu dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển tổng thể củangành thép Điều này có nguy cơ làm lãng phí các nguồn lực đầu tư và lâudài có thể ảnh hưởng mạnh tới toàn nền kinh tế nói chung Nước ta có tiềmnăng lớn về tài nguyên khoáng sản Có thị trường trong nước rộng lớn, rất

đa dạng về gang thép và đang phát triến với tốc độ nhanh Thị trường nàycòn bao gồm cả vùng Đông Nam Á rộng lớn, nhất là các nước xung quanhkhông có điều kiện phát triển gang thép như ta Chúng ta có khả năng xâydựng ngành gang thép từ thượng nguồn với những dây chuyền sản xuấtkhép kín hiệu quả kinh tế cao, sức cạnh tranh mạnh, vốn đầu tư chấp nhậnđược Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng ngành thép hiện nay thấy còn nhiềubất cập từ cả phía Nhà nước và doanh nghiệp Hậu quả là những biến độngtrong thị trường gần đây đã khiến không ít các doanh nghiệp lao đao Tìnhthế ngành thép Việt Nam cần có sự phân tích kỹ lưỡng Trước hết phải nhìnthẳng vào thực trạng ngành thép Việt Nam đang như thế nào Có điếmmạnh, điếm yếu nào, năng lực cạnh tranh ra sao trong thời điếm hiện naycũng như trong tương lai khi Việt Nam tham gia đầy đủ vào AFTA, WTO

và các tố chức khác Cũng cần phải phân tích tình hình khu vực và thế giới,

so sánh tương quan với Việt Nam xem cơ hội cho chúng ta có còn không

và phát triến như thê nào Trong bản thân các ngành công nghiệp Việt Namcũng nên có sự phân tích đế có sự phân bố họp lý các nguồn lực đầu tư chotừng ngành công nghiệp giúp đất nước phát triến nhanh nhưng cân đối Từ

Trang 2

đó, Nhà nước và các doanh nghiệp có nhũng chính sách cụ thế gì giúp chongành thép phát triển và hội nhập quốc tế thành công.

Từ những vấn đề nêu trên, một nghiên cứu toàn diện và có nhận địnhđúng đắn cũng như đưa ra những giải pháp tống thế về mặt vĩ mô và cả vi

mô về ngành thép Việt Nam là cần thiết Bài khoá luận này sẽ giải quyếtmột phần vấn đề đó Trong khuôn khổ bài khoá luận sẽ chỉ phân tích sâu vềthực trạng ngành thép Việt Nam, những kết quả, tồn tại; thuận lợi cũng nhưkhó khăn đế từ đó phân tích khả năng cạnh tranh của ngành thép cũng nhưđưa ra những quan điếm phát triến cho ngành thép trong dài hạn và giảipháp cụ thể cho các doanh nghiệp Dựa trên nội dung đó bài khoá luậnđược chia làm 3 chương:

Chương 1: Quá trình hình thành và phát triến ngành công

nghiệp thép Việt Nam

Chương 2: Ngành thép Việt Nam đứng trước thách thức hội nhập

kinh tế khu vực và thế giới

Chương 3: Những giải pháp phát triến ngành thép trong quá

trình hội nhập kỉnh tế thế giới và khu vực

Những phân tích, nhận định và các ý kiến nêu ra dựa trên quan điếmtoàn diện và biện chứng và có sự tham khảo chọn lọc từ các bài nghiên cứu

Trang 3

Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới các thầy cô trường Đại họcNgoại Thương và đặc biệt thầy giáo hướng dẫn PGS TS Lê Đình Tường

CHƯONG lĩ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẾN NGÀNH

CÔNG NGHIỆP THÉP VIỆT NAM

1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành thép Việt Nam

Ngành thép Việt Nam bắt đầu được xây dựng từ đầu những năm 60,khu Liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp đã cho ra lò mẻgang đầu tiên năm 1963 Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt, 15năm sau khu liên hợp gang thép Thái Nguyên mới có sản phẩm cán Năm

1975, nhà máy Luyện cán thép Gia Sàng do CHDC Đức giúp đã đi vào sảnxuất Công suất thiết kế của cả khu Liên hợp gang thép Thái Nguyên lên 10vạn tấn/năm

Năm 1976, khi đất nước thống nhất, công ty luyện kim đen MiềnNam được thành lập trên cơ sở tiếp quản các nhà máy luyện cán thép minicủa chế độ cũ để lại ở thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hoà, với công suấtkhoảng 80.000 tấn thép cán/năm

Từ 1976 - 1989, ngành thép gặp nhiều khó khăn do kinh tế đất nướckhủng hoảng và nguồn thép tù' Liên Xô và các nước XHCN vẫn còn dồidào nên ngành thép không phát triển, chỉ duy trì mức sản lượng 40.000-

Trang 4

Năm 1990, Tổng công ty thép Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nặngđược thành lập, thống nhất quản lý ngành sản xuất thép trong cả nước Đây

là thời kỳ phát triển sôi động, nhiều dự án đầu tư chiều sâu và liên doanhvới nước ngoài được thực hiện Các ngành và các thành phần kinh tế khácđua nhau làm thép mini Sản lượng thép cán năm 1995 đã tăng gấp 4 lần sovới năm 1990, đạt 450.000 tấn/năm và bằng mức Liên Xô cung cấp cho tahàng năm trước 1990

Tháng 4/1995, Tổng công ty Thép Việt Nam theo mô hình Tốngcông ty 91 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Tổng công ty Thép ViệtNam thuộc Bộ Công nghiệp và Tổng công ty Kim khí thuộc Bộ Thươngmại

Thời kỳ 1996- 2003: ngành thép vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khácao, tiếp tục được đầu tư mới và đầu tư chiều sâu, đã xây dựng và đưa vàohoạt động nhiều dự án liên doanh Sản lượng thép cả nước trong năm 2002

đã đạt 2,38 triệu tấn Đây là thời kỳ có tốc độ tăng sản lượng mạnh nhất.Hiện nay, lực lượng tham gia sản xuất và gia công chế biến thép trong cảnước rất đa dạng, bao gồm nhiều thành phần kinh tế, ngoài Tống công tythép Việt Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc các ngành, địa phương kháccòn có các liên doanh, các công ty cố phần, công ty 100% von nước ngoài

và các công ty tư nhân

2 Tình hình sản xuất của ngành thép Việt Nam

2 ỉ Ngành thép còn ở điêm xuất phát thấp

Ngành thép được đầu tư xây dựng cơ sở đầu tiên từ năm 1959 Hơn

40 năm qua do chiến tranh và nhiều khó khăn nên gần đây mới được quan

Trang 5

nhập khấu với giá ưu đãi Trong một thời gian dài hầu như không được đầu

tư nâng cấp và đầu tư mới nên trình độ hết sức lạc hậu

Từ khi Liên Xô và các nước SEV tan rã khó khăn diễn ra trong cảnước trong đó có ngành thép Phải đến những năm 90 sau khi có chủtrương đối mới kinh tế đất nước ngành thép mới được quan tâm Năm

1995, Tống công ty thép được thành lập, đến nay mới hoạt động được 8năm, mặc dù đã hết sức cố gắng đầu tư nhiều hạng mục công trìnhmới,nâng cấp nhiều thiết bị cũ song cho đến nay các nhà máy vẫn còn trongtình trạng lạc hậu nhỏ bé phân tán, mới được coi là đang trong giai đoạnđầu phát triển (trong khi các nước trong khu vực đã phát triển trước takhoảng 10 năm nhưng có công suất lớn, và cơ cấu sản phẩm đầy đủ)

2.2 Quy mô, năng lực sản xuất, cơ cấu sản phâm

Hiện nay, thộp sản xuất trong nước chủ yếu là thộp xõy dựng, cũncỏc loại thép đặc chủng hầu như phải nhập khẩu Chỉ tính riêng năm nay,nhu cầu trong nước cần khoảng 5 triệu tấn thộp cỏc loại, trong đó sản xuấttrong nước mới khoảng 2,73 triệu tấn, phần lớn là thộp xõy dựng; lượngthộp tấm, thộp lỏ, thộp chế tạo phải nhập khấu khoảng 2,3 triệu tấn

Mặt hàng sản xuất còn đơn điệu, chỉ có khả năng sản xuất các sảnphấm dài (thép thanh tròn, dây, hình nhở cho xây dựng và chế biến một sổsản phẩm dẹt (tôn mạ, ống hàn, cắt uốn) và gia công sản xuất ống hàn, tôn

mạ hình uốn nguội,cắt xẻ từ sản phẩm dẹt nhập khẩu Các sản phẩm dàitrong nước cũng phần lớn được cán từ phôi thép nhập khẩu, khả năng tự’sản xuất phôi trong nước còn nhở bé Các loại thép dẹt và thép chất lượngcao chưa được đầu tư xây dựng, chưa có cơ sở tập trung chuyên sản xuất

thép đặc biệt phục vụ chế tạo, cơ khí, quốc phòng mà chỉ sản xuất ở quy

mô nhỏ tại một số nhà máy cơ khí và một số nhà máy của Tổng công tythép Việt Nam Chưa có thiết bị cán nóng, cán nguội đế sản xuất thép tấm,thép lá Chất lượng sản phẩm thấp, trừ sản phẩm của khu vực liên doanh cóchất lượng khá hơn Sự mất cân đối trong các loại sắt thép sản xuất hiệnnay đặt ra cho ngành thép phải chọn mặt hàng phù họp với nhu cầu của thịtrường đế đầu tư trong thời gian tới Nhu cầu thị trường ngày càng lớn và

đa dạng nhưng hiện nay cơ cấu sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu

Trong giai đoạn 1991-2002 ngành thép đã đạt được một số kết quảnhư sau:

Sản lượng thép sản xuất tăng nhanh trong thời kỳ 1991-1995 (Bìnhquân 30%/năm) và tiếp tục gia tăng ở giai đoạn sau 1996-2002

Báng 1: Sản xuất và tiêu thụ thép cán trên thị trường Việt Nam

Trang 6

Thép Tây Đô 120.000

nguyênCần thơ

hàn cỡ nhỏ

Chỉ tiêu Đon vị

- - * ~— - -'— -— Nguôn: Tính toán từ các sô liệu của Bộ Công Nghiệp và vsc

-Bảng trên cho thấy sản lượng thép cán của Việt nam trong nhữngnăm 90 đã tăng đáng kể về tuyệt đối, mức tăng trung bình hàng năm là27,83% Trong đó tăng nhanh vào năm 1996 do một số liên doanh nhưVinakyoei, VPS, Vinausteel, NatsteelVina, được đầu tư 1995 và cuối 1996

đi vào sản xuất Tuy sản lượng sản xuất tăng nhưng không đáp ứng nhu cầutiêu dùng mặc dù nhu cầu tiêu dùng chỉ tăng trung bình hàng năm 21,78%.Như vậy, nhìn tổng thế thì trong những năm 90, việc đầu tư cho ngành sảnxuất thép cán thành phẩm phục vụ sản xuất chưa tưong ứng Khả năng sảnxuất trong nước chỉ đáp ứng trung bình 51,33% Đe bù đắp phần thiếu hụtcho tiêu dùng trong nước, thời gian qua Việt nam đã cho phép nhập khẩumột khối lượng khá lớn thép cán (trung bình 48,66%) với tốc độ tăng nhậpkhẩu bình quân hàng năm là 19,35% Tốc độ tăng nhập khẩu thép cán caohơn tốc độ tăng trung bình nhập khẩu nguyên vật liệu của nền kinh tế ViệtNăm 10 năm qua là 16,78% Như vậy, nhìn về lâu dài thì nhập khâu thépcán cho tiêu dùng trong nước vẫn tiếp tục và chiếm tỷ lệ lớn

Những sản phẩm của công nghiệp thép hiện tại chỉ là sản phẩm dài(thanh, dây, hình nhỏ) dùng cho xây dựng Dự báo trong năm 2003 nhu cầuthép của cả nước khoảng 5 triệu tấn, trong đó trong nước sản xuất khoảng2,73 triệu tấn chủ yếu là thép xây dựng Nhu cầu nhập khẩu thép tấm, thép

lá, thép chế tạo khoảng 2,3 triệu tấn Vì lẽ này, thép cán sản xuất tại Việtnam thừa đối với các loại thép xây dựng, chất lượng thấp nhưng thiếu các

loại thép hình, thép tấm, thép carbon cường độ thấp và thép carbon cường

độ cao, là đầu vào của các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu, đóng toa xe,cấu kiện kim loại Hiện tại, sản lượng thép xây dựng đang tồn kho rất lớntrong khi đó một loạt các nhà máy đang được tiếp tục xây dựng Trong 7tháng đầu năm công ty HPS lỗ 7 tỷ đồng, SSE lỗ 20 tỷ đồng, thậm chí công

ty thép Ninh Bình còn phải rao bán nhà máy dù mới xây dựng Đen naydanh sách nhà máy cán thép đã lên đến con số 28 Công suất các nhà máycán thép khoảng 4 triệu tấn trong khi nhu cầu khoảng 2,7 triệu tấn Cơ cấumặt hàng sản xuất trong nước không hợp lý đã buộc các doanh nghiệp kinhdoanh thép một mặt phải tìm thị trường cho sản phẩm thép xây dựng khôngchỉ trên thị trường Việt nam mà còn cả thị trường xuất khẩu Mặt khác,nhập khâu thép cho các ngành sản xuất khác cũng buộc phải thực hiện vớiyêu cầu bảo đảm hiệu quả Tình hình này đặt ra bài toán điều chỉnh cơ cấuđầu tư sản xuất các mặt hàng thép cán cho ngành thép Việt Nam trongnhững năm tới

Năng lực sản xuất và sản lượng thép thô của Việt Nam quá nhỏ bé,chỉ đáp ứng được khoảng 15% nhu cầu phôi thép cho cán thép xây dựngthông thường (sản xuất khoảng 450000 tấn phôi /năm) Trong đó lượngphôi sản xuất tù’ lò điện dùng thép phế liệu chiếm trên 90%, chỉ gần 10%phôi được sản xuất từ quặng sắt-gang lò cao ở khu gang thép Thái Nguyên.Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa tham gia sản xuất phôithép

Sản xuất phôi từ quặng sắt hầu như chưa phát trien (Trù' lò cao 100m3 và một số hạng mục đầu tư do Trung Quốc giúp đõ' ở Thái Nguyên) nênnguồn quặng sắt trong nước chưa được khai thác lớn, chưa được nghicncún sâu

Hiện tại so với các nước trong khu vục, Việt Nam chưa được liệt vàonước có sản xuất thép vì sản lượng thép thô quá thấp

Bảng 2: Phân bô các cơ sở sản xuất và trang thiết bị kỹ thuật ngành thép Việt Nam

Nguồn: Cơ sở chung cho việc tái cấu trúc chính sách đối với ngànhcông nghiệp thép Việt Nam trong quá trình hội nhập

2.3 Trình độ công nghệ và mảy móc thiết bị

Máy móc thiết bị sản xuất thép trong những công ty của Tống công

ty thép Việt Nam từ những năm 60,70 đến nay vẫn đang hoạt động (cácthiết bị này đã cũ, lạc hậu, hết khấu hao, ít được đối mới hiện đại hoá Cácthiết bị được đầu tư gần đây cũng chỉ thuộc loại trung bình công nghệ,trang thiết bị hiện có nên đã có những thiết bị luyện thép, cán thép của thếgiới, mức độ tự động hoá thấp Đen nay, ngành thép đã được đầu tư và đổimới, gia công sau cán hiện đại Tuy nhiên nhìn chung công nghệ sản xuấtcủa toàn ngành vẫn dưới trình độ trung bình tiên tiến của thế giới

Bảng 3: So sánh một số chỉ tiêu cơ bản của ngành luyện cán thép Việt Nam và thế giới

Trang 7

Nhìn vào các chỉ tiêu cơ bản của các cơ sở luyện thép Việt Nam(Bảng 3) cho thấy các nhà máy luyện thép nội địa của Việt nam đang hoạtđộng trong tình trạng công nghệ rất lạc hậu Chỉ tiêu thời gian nấu cao hơn360% so với thế giới Các chỉ tiêu tiêu hao thép phế, điện và điện cực đềuquá cao, đặc biệt là tiêu hao điện bằng 257,14% so với thế giới Với côngđoạn cán, các nhà máy nội địa có tốc độ cán chỉ bằng 12,73% tốc độ cáncủa các nhà máy trên thế giới Các chỉ tiêu tiêu hao đều cao hơn đặc biệt,chỉ tiêu tiêu hao dầu và điện là 260% và 178,75% so với thế giới Tìnhtrạng lạc hậu của công nghệ sản xuất thép rõ ràng sẽ tác động động đến giáthành sản phẩm, chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm thép Viêt Namtrong tương lai Do tình trạng công nghệ và thiết bị lạc hậu nên ngành côngnghiệp thép Việt Nam hiện nay chỉ sản xuất được các loại thép các bonthông thường Một số thép chất lượng được sản xuất nhưng chưa thề đánhgiá thực sự đạt tiêu chuẩn chất lượng nào Trong khi đó, nhu cầu thép chomột quốc gia thường cần đến 60% thép xây dựng và kết cấu, thép các bon

Trang 8

thông thường chỉ cần khoảng 10% Vì vậy, thép sản xuất trong nước hiệnnay chủ yếu cung ứng cho nhu cầu xây dựng các công trình nhỏ và thịtrường nông thôn.

Ket hợp với bảng phân bố các co sở sản xuất và trang thiết bị kỹthuật ngành thép Việt Nam ở trên ta thấy được bức tranh toàn cảnh chothấy trình độ công nghệ và trang bị kỹ thuật của ngành thép Việt Nam cònrất nhiều điểm tối

Đe làm rõ hơn, xin lấy ví dụ công ty Gang thép Thái Nguyên Là đơn

vị lâu đời nhất của ngành thép, được thành lập năm 1963 Do tình trạng lạchậu của thiết bị và trình độ hạn chế của công nhân nên trong thời gian qua,T1SCO luôn nằm trong tình trạng thua lỗ, sản phẩm sản xuất ra không tiêuthụ được Năng suất lao động thấp là một vấn đề quan trọng của công ty,nếu so sánh với các công ty Nhật Bản thì sản lượng thép trung bình củamột công nhân công ty Gang thép Thái Nguyên thấp hơn 15 lần của côngnhân công ty Nippon (Nhật Bản) Vì vậy, TISCO cần phải nhanh chóng cắtgiảm những lao động thiếu kỹ năng, không được đào tạo lại kịp thời vànhững cơ sở sản xuất không hiệu quả cần phải loại bở

Trình độ công nghệ và trang thiết bị của toàn ngành thép cũng lạchâu tương tự TISCO Công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn số trang thiết bịcủa ngành công nghiệp thép Việt Nam, tập trung ở các nhà máy đã tồn tạilâu năm cả ở Miền bắc và Miền Nam Công nghệ tiên tiến chỉ chiếm tỷ lệnhỏ, chủ yếu trong khâu cán của các nhà máy liên doanh với các hãng NhậtBản và Hàn Quốc như Vinakyoei, VSC-POSCO, Việt Ý, Hoà Phát, ThépNinh Bình, Phú Mỹ

Theo số liệu điêu tra trong năm 2000 cho thấy tình hình công nghệ

và trang thiêt bị của ngành thép Việt Nam (xem biêu đô) Và theo Bộ Kêhoạch và Đầu tư, đến năm 2002 công nghệ lạc hậu vẫn chiếm tới 63% năng

Trang 9

Nam hiện có giá thành khoảng 280 USD/tấn trong khi các nước ASEAN có

thép Việt Nam năm 2000

Trang 10

Tnmg Quèc 33%

Sơ đồ 2: Nguồn gốc công nghệ và thiết bị của ngành công nghiệp thép Việt Nam năm 2000

2.4 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

So với khối liên doanh và thế giới,chi phí sản xuất của vsc thuộcloại cao nhất Do công nghệ kém, tiêu hao năng lượng và vật chất đầu vàolớn nên chỉ tính riêng phần tiêu hao vật chất quy ra tiền của vsc đã gấp 2

lần so với thế giới và gấp 1,5 lần so với liên doanh Thêm vào đó lực lượnglao động của vsc quá lớn và bộ máy hành chính cồng kềnh cũng làm giáthành 1 tấn thép bị đẩy lên cao So với thép của Nga và Tâu Âu, giá thépcủa Việt Nam có giá bán cao hơn tù’ 10-14%, còn so với liên doanh thì caohơn từ 4-5% và cao hơn các nước trong khu vực từ 20-25$/t Lợi thế về giánghiêng thép nước ngoài gây nên khó khăn lớn cho sản phẩm thép trongnước trong cuộc cạnh tranh ở hiện tại và một số năm trước mắt

Vấn đề gắn liền với cung cầu sản xuất trong nước của ngành côngnghiệp thép Việt Nam là khả năng cạnh tranh về giá Do những bất cậptrong khâu tổ chức sản xuất và nhập khẩu phôi thép cũng như tình trạngtrang thiết bị lạc hâụ, năng suất lao động thấp nên giá thành thép cán sảnxuất trong nước hiện nay rất cao, khó cạnh tranh với thép nhập khẩu Hiện

Trang 11

tại các loại thép cán xây dựng cung đã vượt cầu nhưng giá khá cao Trongnăm 2000, giá thép xây dựng do các cơ sở Việt nam sản xuất thường caohơn 10 - 15% so với giá thép nhập khẩu CIF cảng Việt Nam từ Nga và cácnước SNG (từ 25 - 38 ƯSD/tấn) và cao hơn giá thép nhập khẩu CIF cảngViệt nam của Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Tây Âu khoảng 5% (từ 10

- 12 USD/tấn) Như vậy cạnh tranh về giá ngay trên thị trường Việt Nam đă

là một bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng Neu trong thờigian tới, giá thép xây dựng của Việt Nam giảm được 1 0 - 1 5 USD/tấn thìsức ép cạnh tranh trên thị trường nội địa sẽ giảm, và điều này phù hợp với

lộ trình loại bỏ các hàng rào thương mại theo thoả thuận AFTA Neu giảm

20 - 25 USD/tấn thì sẽ có khả năng cạnh tranh trên thị trường thép khu vực

và thế giới Theo các chuyên gia của vsc thì khả năng này chỉ đạt đượcdựa vào việc khấu hao thấp hoặc hết khấu hao của một sổ cơ sở sản xuấtcũng như khi các doanh nghiệp mới đầu tư sản xuất đã trả hết nợ vay Còncác yếu tố giảm giá khác như tăng năng suất lao động, giảm chi phí quản

lý, tăng công suất thực tế của các nhà máy thì đòi hỏi thời gian dài hơn

Bảng số liệu cho thấy nếu sản xuất thép cán từ phôi nhập khẩu thì cảCông ty Gang thép Thái nguyên lẫn Công ty Thép Miền Nam đều có giáthành thấp hơn, chủ yếu là do giá phôi nhập khấu thấp hơn sản xuất trongnước Tuy nhiên trong năm 2003 giá phôi thép nhập khâu lại tăng đột biếnkhiến việc sản xuất phôi thép trong nước thu được hiệu quả

Bảng 4: Giá thành thép cán sàn xuất trong nước trong năm 2000.

Trang 12

thép lớn nhất của Việt Nam đều đặt địa điếm sản xuất tại Bà rịa-Vũng tàu

và Hải Phòng đều gần nguồn nguyên liệu nhập khấu và gần nguồn khí đốtnhưng nếu xét về lâu dài khi có nguồn nguyên liệu trong nước thì địa điểmnày bộc lộ hạn chế Đối với khu vực công nghiệp thép địa phương và ngoàiquốc doanh thì phân bố hết sức tuỳ tiện Việc phân bố hết sức tuỳ tiện các

cơ sở sản xuất ngành thép đã vi phạm nguyên tắc kỹ thuật tổng thể của sảnxuất thép Đế nâng cao hiệu quả của ngành sản xuất thép, các cơ sở sảnxuất thuộc các khâu khác nhau cần bố trí trên cùng một địa điểm, các khâusản xuất phải kế tục liên tiếp đế tạo ra sản phẩm cuối cùng Sẽ là khônghiệu quả và kém tính cạnh tranh nếu sản xuất thép tấm ở các cơ sở phíaBắc, làm nguội và cứng lại, vận chuyển hàng nghìn km tới các cơ sở cánnóng ở phía Nam

2.6 Đầu tư sản xuất phôi và cán thép

Đầu tư sản xuất thép ở Việt Nam mất cân đối nghiêm trọng giữanăng lực sản xuất phôi và cán thép Theo tài liệu của hiệp hội thép ViệtNam, hiện tống công suất của các nhà máy thép đã đạt gần 5 triệu tấn/năm,vượt nhu cầu sử dụng tới 80% Năm 2002, các nhà máy bình quân hoạtđộng 60% công suất, nhưng sản lượng vẫn đạt khoảng 2,8 triệu tấn Tuynhiên, sản lượng phôi sản xuất trong nước đạt gần 500.000 tấn/năm, đápứng khoảng 15% nhu cầu Tức ngành thép phát triển với tốc độ phi nướcđại trên đôi chân phụ thuộc tới 80% vào người khác.Trong khi đó, nhu cầuphôi thép cho các cơ sở cán thép của tất cả các khu vực đều tăng trongnhững năm gần đây đẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong bản thânngành thép

Sự mất cân đối trcn đây trước hết là do đầu tư vào khâu sản xuấtphôi đòi hỏi vốn lớn, thời gian đi vào sản xuất và hiệu suất thu hồi vốnthấp Một lý do khác là giá trị gia tăng của khâu sản xuất phôi thấp, lợi

Trang 13

nhuận thấp nên các doanh nghiệp sản xuất trong nuớc không đủ khả năngđầu tu còn các doanh nghiệp nuớc ngoài thì không muốn đầu tu Chỉ haidoanh nghiệp “bị giao trách nhiệm” mới đầu tu luyện phôi là TISCO và

bản thân Theo các chuyên gia phân tích, các dự án luyện phôi ở Việt Namchỉ có thể tồn tại khi gắn liền hạch toán cùng các dự án cán thép Neu bócriêng luyện phôi thì lồ là chính (vì công nghệ lạc hậu, quy mô manh mún,chắp vá) Đã vậy, vốn đầu tu cho luyện phôi đắt gấp bốn lần cán thép, về

kinh doanh đơn thuần, không một đơn vị nào muốn sản xuất phôi

Việt Nam buớc vào nền kinh tế thị truờng, nhu cầu xây dựng trong

đó có thép xây dựng luôn tăng với tốc độ rất cao Nhà nuớc có chủ trươngphát triển ngành này nên đã đặt những chính sách bảo hộ hết sức “hậuhĩnh”, mong tạo cơ hội cho ngành “đủ lông, đủ cánh” trước khi hội nhập

Đó là đánh thuế thép nhập khẩu 40% và đặt 10% phụ thu Với chính sáchbảo hộ trên, quả thật đầu tư sản xuất thép là hốt bạc Thống kê của hiệp hộithép cho thấy, hầu hết các cơ sở cán thép từ công nghệ châu Âu đến thủcông đều lãi lớn Các loại hình kinh tế, các ngành, các cấp vì thế hăm hởlao vào sản xuất thép cán

Thêm vào đó, mặt hàng phôi thép được khuyến khích nhập khẩu chosản xuất thay thế nhập khẩu ở khâu cán nên không được bảo hộ (thuế suất3% sau đó tăng lên 7% và lên 10%) vì vậy các nhà đầu tư, kế cả đầu tưtrong nước không có lợi Khác với khâu sản xuất phôi, sản phẩm cán trongnhững năm vừa qua nhu cầu tăng cao, chủ yếu là thép xây dựng nên khảnăng tiêu thụ sản phấm nhanh Hơn nữa, đầu tư vào khâu cán không cầnnguồn vốn lớn nên không chỉ các doanh nghiệp Trung Ương, các doanhnghiệp địa phương mà cả các công ty tư nhân đều có thế đầu tư Thêm vào

đó, các công ty nước ngoài cũng tìm thấy lợi thế trong khâu này nên đãđầu tư nhiều dưới hình thức liên doanh Tất cả những lý do trên đã làm sai

Trang 14

lệch tình hình đầu tư sản xuất giữa hai khâu luyện và sản xuất phôi vớikhâu cán thép.

Theo chiến lược phát triển ngành thép đến năm 2020, năm 2000,Việt Nam chỉ cần 1,9 triệu tấn thép thanh (thép xây dựng đơn giản), đếnnăm 2005 khoảng 3,3 triệu tấn Song song là lượng phôi có tốc độ tăngtrưởng 15%/năm và đạt 1,5 triệu tấn vào năm 2005 Tuy nhiên, thực hiệnhai chỉ tiêu này có hai tốc độ hoàn toàn khác nhau Theo biểu đồ thống kêcủa hiệp hội thép, năm 1990 khi chỉ có TISCO và ssc hàng năm cung cấpcho cả nước sản lượng thép 100.000 tấn Nhưng trong vòng 10, các doanhnghiệp này đã không ngừng cải tạo, tăng quy mô lớn gấp nhiều lần, cộngthêm gần 20 doanh nghiệp ra đời (đó là chưa tính hàng chục doanh nghiệpquy mô dưới 50.000 tấn/ năm), đưa tổng công suất lên 5 triệu tấn/năm, gấp

50 lần so với năm 1990 và vượt mức cung năm 2005 gần 2 triệu tấn Hiệnnay, số dự án nữa sắp đi vào hoạt động và đến năm 2004 tổng công suấtcủa cả nước có thế lên đến 6 triệu tấn/năm Theo giấy phép đầu tư của các

dự án cán thép, những nhà máy này đều phải sản xuất phôi khi bước vàogiai đoạn hai Tuy nhiên, khi mà giai đoạn hai đã qua nhiều năm rồi nhưngcũng chưa doanh nghiệp nào đả động đến chuyện luyện phôi Chỉ tiêu đếnnăm 2005 đạt 1,5 triệu tấn chỉ có vsc phải lo và hiện chương trình nàymới đang khởi động Ông Phạm Chí Cường, phó chủ tịch hiệp hội thép chobiết, ngay khi thép xây dựng cung sắp vượt cầu (năm 2000), vsc, Bộ Côngnghiệp, thậm chí cả Thủ tướng Chính phủ đã có công văn chỉ đạo cácngành, các địa phương ngừng cấp phép cho các dự án cán thép, nhưng hàngloạt các nhà máy mới ở Hải Phòng, Ninh Bình vẫn tiếp tục mọc lên Vàđến nay thì quy hoạch của ngành thép đã không được như mong muốn củanhững người lập ra nó

Do sai lệch về đầu tư thiết bị nên năm 2002 Việt Nam vẫn phải nhậpkhẩu gần 2 triệu tấn phôi cho sản xuất thép thanh trong nước Đen khi giá

Trang 15

phôi thép tăng bất thường khiến các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn,thậm chí còn thua lồ Giá phôi thép nhập khẩu trong tháng 9 ở mức 283-

285 USD/tấn và hiện nay đã cao hơn khoảng 35USD/tấn Nhiều doanhnghiệp phải chấp nhận bán thép dưới giá thành đế hạn chế tồn kho (ướctính khoảng 230.000 tấn) gây thua lỗ Chỉ có TISCO và ssc là lãi vì tự sảnxuất được một phần phôi thép và thuế nhập khẩu phôi đã tăng lên 10%.Bảo hộ trong một giai đoạn đế phát triển là cần thiết, nhưng ngành thép đãkhông được bảo hộ đúng mức cho phần gốc tức là luyện phôi Phương thứcquản lý ngành lại chưa đủ sức chi phối chính chiến lược của mình nên sựbảo hộ đã không đạt được mục đích đề ra Hàn Quốc, Đài Loan tuy cũng

có nền công nghiệp thép non trẻ nhưng do sớm đầu tư “một cục” cho lĩnhvực luyện phôi nên nay họ đã là những “đại gia” trong ngành luyện kim.Còn Việt Nam chỉ chú trọng phần ngọn, tức là sản xuất thép thành phấmtrước, luyện phôi sau vấn đề đặt ra là cần phải xác định trong 5 - 1 0 nămtới, nhập khẩu phôi thép cho sản xuất trong nước vẫn là chủ yếu nhưngcũng cần tòng bước nâng cao tỷ lệ cung cấp trong nước

Tóm lại, từ sự phân tích hiện trạng ngành công nghiệp thép Việt namtrên các mặt tình trạng kỹ thuật, phân bố đầu tư và cơ cấu sản xuất sảnphẩm cũng như biến động của thị trường thép Việt Nam, chúng ta có thểrút ra một số đánh giá sau:

- Qui mô của ngành công nghiệp thép Việt nam còn nhỏ bé, trangthiết bị kỹ thuật của ngành rất lạc hậu, trừ một số liên doanh có thế đạt trình

độ trung bình tiên tiến Công nghệ sản xuất thiếu đồng bộ Cơ cấu sảnphấm sản xuất bất họp lý, chất lượng thấp

- Sự mất cân đối giữa khâu sản xuất phôi và khâu sản xuất thànhphẩm rất nghiêm trọng, làm cho quá trình điều chỉnh cơ cấu phải rất dài vàđầu tư vốn lớn

Trang 16

- Chi phí sản xuất cao do nhiều nguyên nhân làm cho giá sản phấmcao, điều đó làm cho ngành thép Việt Nam mất khả năng cạnh tranh về giá.

- Ngành thép Việt Nam cho đến nay phát triển không theo một quihoạch tống thể, manh mún, cần phải sắp xếp lại

3 Đặc điếm về tố chức sản xuất của ngành thép Việt Nam

3.1 Cơ cẩu cung cầu

Ngành công nghiệp thép Việt Nam có sản lượng và tiêu thụ thép thấphơn so với các nước ASEAN khác và các nước tiên tiến Mặt khác ngànhcông nghiệp lại không bị thiệt hại nặng nề do cuộc khủng hoảng tài chínhtiền tệ trong khu vực, nhu cầu vẫn tiếp tục tăng

Sản xuất thép xây dựng cung đã vượt xa nhu cầu trong khi sản xuấtcác loại thép đặc biệt trong các ngành cơ khí lại thiếu rất nhiều Trongtương lai khi công nghiệp phát triển nhu cầu các loại thép đó sẽ rất lớn nếukhông có chính sách phát triển hợp lý thì cung sẽ không theo kịp với mứctăng của nhu cầu, nhập khấu sẽ tăng nhiều Mặt hàng nhập khấu chủ yếu làthép lá Ngoài nhập khẩu thép thành phẩm, nhập khẩu thép phôi, bán thànhphẩm của thép thanh, cũng đang tăng

Nguyên nhân cho sự gia tăng nhập khấu thép dẹt và thép phôi là docác thiết bị sản xuất của Việt Nam thiên về các quy trình công nghệ giaiđoạn hoàn thiện, và cấu thành sản phẩm cũng có nhiều hạn chế Thiết bịluyện gang có hai lò cao với dung tích 100 m3, trong đó có duy nhất một lòđang hoạt động Công trình cải tạo, nâng cấp TISCO do Trung Quốc tài trợ

Trang 17

Trong khi ngành công nghiệp thép hầu như hoàn toàn phụ thuộc vàonhập khẩu thép phôi và thép lá thì thép tròn và tôn mạ kẽm đã từ thiếu vào

3.2 Sản xuất thép bởi ba khối doanh nghiệp

Ngành công nghiệp thép Việt Nam bao gồm ba khối doanh nghiệp.Các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc vsc, các liên doanh với nướcngoài của vsc hoặc doanh nghiệp thành viên, các doanh nghiệp trongnước không nằm trong vsc Ngoài ra, còn có một số doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài

3.2.1 vsc và các doanh nghiệp thành viên

phân phối thép ở Việt Nam vsc được thành lập vào năm 1990 do cácdoanh nghiệp chính của miền Nam và miền Bắc được sáp nhập lại vsc

được tái thành lập và tổ chức lại căn cứ theo quyết định số 255/TTg ngày24/9/1995 của Thủ Tướng Chính phủ, nghị định 03/CP ngày 25/1/1996 vàgiấy phép đăng ký kinh doanh số 109612 ngày 5/2/1996.vsc là một trong

số 17 tổng công ty 91 Chính phủ kiểm soát việc bổ nhiệm lãnh đạo cũngnhư đầu tư quy mô lớn của vsc, vsc lại kiếm soát hoạt động của các đơn

vị thành viên Mặt khác, cả vsc và các doanh nghiệp thành viên đều có

chế độ hạch toán độc lập

Trang 18

Công ty kinh doanh thép và vật tư Hà Nội, Công ty kinh doanh thép vàthiết bị công nghiệp, Công ty kim khí và vật tư tổng hợp Miền Trung,Trung tâm hợp tác lao động với nước ngoài, 2 đơn vị nghiên cứu phát triển

và đào tạo: Viện luyện kim đen, Trường đào tạo nghề cơ điện luyện kimThái Nguyên Cevimetal mặc dù là một doanh nghiệp thương mại nhưngcũng có nhà máy cán về năng lực sản xuất, vsc có 2 lò cao cỡ nhỏ vớinăng lực sản xuất là 368.600 tấn thép/năm và cán 760.000 tấn/năm Ngoài

ra TISCO còn có một mỏ than và một mỏ sắt ở Việt Nam, duy nhất chỉ cócác doanh nghiệp thành viên của vsc là có quy trình luyện gang và thép.Các doanh nghiệp sản xuất có các đặc điểm và tồn tại như sau

Tồn tại thứ nhất là về phương thức sán xuất: Tồn tại này có the

chia làm ba điểm như sau:

Một là thiết bị và công nghệ đều có quy mô nhỏ và lạc hậu Các thiết

bị chủ yếu của TISCO, ssc, Đà Nằng Steel, Cevimetal đều không đạt đếnquy mô phù hợp đối với thiết bị sản xuất thép Do đó không phát huy đượchiệu quả sản xuất quy mô lớn, năng suất thấp Các doanh nghiệp thành viêncủa vsc có 20 lò điện, lò lớn nhất cũng chỉ đạt công suất 96.000 tấn/năm,tất cả các lò còn lại đều dưới 50.000 tấn Ngoài ra lò cao duy nhất của ViệtNam thuộc sở hữu của TISCO cũng chỉ có dung tích thực tế là 100 m3.Trong khi đó ở những nước tiên tiến, lò cao thường có dung tích trên 2.000

m3, trong những năm gần đây tiêu chuẩn trung bình đã vượt quá 3.000 m3.Trong các công nghệ đang được sử dụng có rất nhiều công nghệ đã lạc hậu.Chang hạn tại nhà máy cán của Cevimetal, mặc dù là một nhà máy mớiđược xây dựng vào năm 1996, vẫn còn những thao tác nguy hiểm như:dùng gậy sắt đế kéo thép phôi trong khâu cán thô Tại các doanh nghiệpcán thóp nhà nước khác, trong các thao tác với thcp phôi hay cuộn thópdây vẫn có nhiều khâu đòi hỏi lao động nặng nhọc hoặc kinh nghiệm thaotác thủ công

Trang 19

Hai là quy trình sản xuất không đồng bộ: Xu hướng này đặc biệt rõ

ở TISCO TISCO có vị trí gần mỏ sắt phía sâu trong đất liền do đó có thểtiếp cận nguyên liệu một cách dễ dàng Tuy nhiên, TISCO vẫn phải muavào thép phế cũng như thép phôi nhập khẩu Ngoài ra trong khâu nấu gang,gang được làm nguội một lần rồi sau đó lại được cho vào lò điện nên phátsinh tổn thất về năng lượng cộng thêm chi phí vận chuyển trên đất liền sẽlàm giá thành tăng cao Hiện nay với sự giúp đỡ của Trung Quốc, TISCOđang tiến hành nâng cấp và cải tạo nhà máy, nhằm mục đích giải quyết vấn

đề về cân bằng năng lực sản xuất tại các công đoạn khác nhau

Tiếp theo là tồn tại về vận hành sản xuất: TISCO có tỷ lệ tiêu hao

than là l,17t/t, nhưng nguyên nhân không chỉ về mặt thiết bị mà còn dokhâu vận hành chưa được hoàn thiện một cách khoa học Ngoài ra trongđiều kiện Việt Nam, thép phế trước khi được đưa vào lò điện chưa đượctuyển lựa kỹ lưỡng, vẫn còn chứa nhiều gỉ ảnh hưởng đến chất lượng sảnphấm cũng như hiệu suất điện năng trên một đơn vị sản phấm Tuy nhiên

do thị trường Việt Nam không đòi hỏi chất lượng cao nên hiện nay điềunày không ảnh hưởng đên việc bán sản phẩm

Tồn tại thứ tư là công nhân dư thừa: đặc biệt trong trường hợp của

TISCO Dưới hệ thống kế hoạch hoá tập trung theo mô hình Liên Xô cũ, córất nhiều các bộ phận trung gian và phúc lợi trong cơ cấu tổ chức củaTISCO dẫn đến số lượng công nhân quá dư thừa Hiện nay TISCO đangtiến hành tinh giảm biên chế nhưng vẫn còn khoảng 10.000 công nhân viên.Ngược lại trong trường hợp của ssc, đây vốn là một doanh nghiệp tư nhânđược Nhà nước tiếp quản sau giải phóng nên có ít bộ phận trung gian Do

đó số lượng công nhân viên chỉ có khoảng 4.000 người

Năng suất lao động tính trên đầu người tại các doanh nghiệp trựcthuộc vsc năm 1999 là 13,4 tấn tại TISCO, 68 tấn tại Đà Nằng Steel, 73

tấn tại ssc Những con số này rất tương phản với các con số tương ứng ở

Trang 20

Nhật Bản Năng suất của công ty thép Nippon sử dụng lò cao là 887 tấn,còn năng suất của công ty Kyoei Seiko sử dụng lò điện là 1.987 tấn Năngsuất của Việt Nam quá thấp so với tiêu chuẩn quốc tế.

Tóm lại các doanh nghiệp thành viên của vsc đều có những tồn tạilớn về cơ cấu sản xuất, nhưng giữa các doanh nghiệp cũng có sự chêng lệchlớn Đối với TISCO, thách thức lớn nhất là công nghệ lạc hậu và công nhân

dư thừa, còn đối với Đà Nằng Steel và Cenvimetal là vấn đề quy mô củanhà máy quá nhỏ Công nghệ thiết bị của ssc so với các đơn vị khác tươngđối hiện đại, ngoài ra do vị trí nằm tại Miền Nam là nơi chiếm 65% lượngthép tiêu thụ nội địa nên chiếm ưu thế trong cạnh tranh Hiệu suất sử dụngthiết bị của ssc cũng đứng đầu Một sổ nhà máy của ssc đang hoạt độnghết công suất Có thể nói rằng, ssc có sức cạnh tranh tương đối mạnhtrong số các doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên đây cũng là một phần dobảo hộ mậu dịch

3.2.2 Liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài

Các liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động trong lĩnhvực cán thép dài, ống hàn, tôn mạ kẽm Vina Kyoei và VSC-POSCO cóthiết bị cán liên hoàn theo tiêu chuấn của các nước tiên tiến, còn các doanhnghiệp khác có thiết bị cán cỡ nhỏ bán liên hoàn Các thao tác cơ bản đềuđược tự động hóa, không có những công đoạn nguy hiếm hay đòi hỏi phải

có kỹ năng thủ công

Các doanh nghiệp cán kéo thép dài đều sử dụng thép phôi nhập khấu.Trong chiến lược của các doanh nghiệp này có hai hướng: một là sử dụngcác công nghệ tiên tiến đế sản xuất thép có chất lượng cao và bán với giácao, hai là sử dụng các thiết bị rẻ tiền đế sản xuất thép có chất lượng trung

Trang 21

Sản phẩm của Vina Kyoei có giá cao hơn các doanh nghiệp khác tạiMiền Nam do doanh nghiệp này sử dụng thiết bị sản xuất tinh vi như máycác tự động của Nhật Bản, phối hợp máy cán ngang và các máy cán thẳngđứng Vận hành ổn định do công tác quản lý được tiến hành bởi các côngnhân được đào tạo ở Nhật Bản Nhấn mạnh chất lượng sản phẩm là giá trịđối với người tiêu dùng, Vina Kyoei tự đề ra mục tiêu trở thành Hondatrong ngành công nghiệp thép.

Vinausteel mua máy cán thép từ Đài Loan, khấu hao được kiểm soát

và gánh nặng vay ngân hàng được giảm nhẹ do thiết bị rẻ

Các liên doanh được hưởng các biện pháp khuyến khích bao gồm các

ưu đãi về thuế, nhưng vẫn chịu những gánh nặng do các nhân tố khác nhauchẳng hạn như chi phí tăng cao Vina Kyoei vì lo lắng về điện cung cấpnên mặc dù ở ngay sát nhà máy điện Phú Mỹ vẫn sử dụng máy phát điệnđộc lập Và trong trường hợp của Vinausteel đóng trên đất Hải Phòng,Vinausteel cho rằng chi phí vận tải tù' cảng Hải Phòng đến nhà máy và cácchi phí khác khá cao

nước ngoài của ssc sản xuất tôn mạ kẽm có quy mô lớn nhất trong lĩnhvực tôn mạ kẽm Cả hai doanh nghiệp đều sản xuất các sản phẩm tiêuchuẩn trên dây chuyền thiết bị rẻ tiền Dây chuyền mạ kẽm của sssc nhậptù’ Malaysia, còn dây chuyền của POSVINA do doanh nghiệp tụ' sản xuất.Thiết bị rẻ tiền giúp cho hai doanh nghiệp này có chi phí lãi vay ngân hàng

và khấu hao thiết bị nhở Tuy nhiên, do không được trang bị lò ôxy nên haidoanh nghiệp này không sản xuất được các sản phấm cao cấp phục vụ chođiện gia dụng, xe hơi Tuy vậy, ssc vẫn sản xuất thép dẹt có màu, trongphạm vi có thế đang cố gắng thực hiện sản xuất các sản phấm có giá trị giatăng cao

Trang 22

3.2.3 Các doanh nghiệp không liên quan đến vsc

Các doanh nghiệp không có liên quan đến vsc, nếu không kểVinaTaPhong là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, chia làm baloại Loại thứ nhất là các doanh nghiệp cơ khí Nhà nước không nằm trongngành công nghiệp thép Loại thứ hai là các doanh nghiệp tư nhân có sảnlượng hàng năm là từ một vài nghìn tấn cho đến 20.000 tấn Loại thứ ba là

hộ sản xuất gia đình có quy mô rất nhỏ Nguyên nhân các doanh nghiệpkhông liên quan đến vsc tham gia vào ngành công nghiệp thép là do sựngừng nhập khẩu thép từ Liên Xô cũ vào đầu những năm 90 Một số ngườicho rằng có một số hộ gia đình trước đây trong một thời gian dài đã từng cóhoạt động sản xuất thép trước cả thời hiện đại

Theo kết quả điều tra của vsc trong số các doanh nghiệp này, cácdoanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước có thiết bị phân tích và đăng ký chấtlượng sản phấm với cơ quan hữu quan Tuy nhiên các doanh nghiệp tưnhân và tố sản xuất không có thiết bị phân tích Các doanh nghiệp này ítquan tâm đến chất lượng sản phẩm và sản xuất sản phẩm bằng cách đunchảy thép phế trong lò cảm ứng hay cắt cán những khối thép bằng các thiết

bị đơn giản mà không điều chỉnh các yếu tố thành phần Theo vsc trongnăm 1999, trong số 1.400.000 tấn thép tiêu thụ trong thị trường nội địa, cóđến 30% là sản phẩm không đạt tiêu chuấn Đây là một nguyên nhân trongcác vấn đề hiện nay về an toàn của các công trình kiến trúc

Nguyên nhân dẫn đến các sản phẩm thép không đạt tiêu chuẩn lưuthông trên thị trường nằm ở cả hai phía người tiêu dùng và phía người sảnxuất, về phía nhà sản xuất, một số doanh nghiệp làm giả nhãn mác đế chosản phấm của mình giống như các sản phấm của các doanh nghiệp Nhànước Mặt khác, cũng có nhiều người sử dụng trong xây dựng mà không

Trang 23

Năm 1999, Chính phủ đã ban hành quy định về chất lượng và yêucầu các nhà sản xuất thép xây dựng phải đăng ký chất lượng và dán nhãn

do một cơ quan có chức năng của Chính phủ phát hành Tuy nhiên, việcbuôn bán các sản phẩm thép không đạt tiêu chuẩn vẫn sẽ gia tăng

3.3 Lưu thông, phân phối thép

Trong quá khứ, do sự tồn tại của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,vẫn tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa các doanh nghiệp trực thuộc vsc

và các doanh nghiệp sử dụng thép quy mô lớn Mặt khác điều đáng chú ý là

có rất nhiều những nhà bán lẻ và bán buôn quy mô nhỏ ở Hà Nội, Thànhphố Hồ Chí Minh và các thành phố khác có cửa hàng bán lẻ ở ngay mặtđường Hình thức giao hàng thông thường là giao tại nhà máy, khách hàngphải thuê công ty vận tải để nhận hàng từ kho của nhà máy

Do sự bãi bỏ độc quyền Nhà nước trong thương mại về thép tạo điềukiện cho nhiều đại lý tham gia vào các giao dịch nội địa cũng như nhậpkhẩu Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài vẫn chưa được phép nhậpkhẩu và bán sản phẩm nhưng được phép mở văn phòng đại diện

Trực thuộc vsc có tám công ty kim khí hoạt động buôn bán các sảnphấm nội địa cũng như nhập khấu, nhưng tỷ trọng của thép nhập khâu đã

và đang tăng lên Hiện nay những công ty kim khí chủ lực của vsc vẫnđóng một vai trò lớn trong lưu thông phân phối thép

Tuy nhiên, trong hoạt động của các công ty kim khí lại có sự không

Trang 24

ốn định thị trường, chắng hạn như dự trữ thép dẹt hay tiến hành các giaodịch không có lãi nếu các giao dịch này có tác dụng ốn định thị trường.

Thực tế cho thấy một số các đại lý bán buôn, bán lẻ có quy mô nhỏ

là khách hàng hay đối thủ cạnh tranh của các công ty kim khí, có rất nhiềucông ty kim khí kinh doanh không ốn định khiến cho các liên doanh cốgắng xây dựng một mối quan hệ lâu dài với các đại lý phân phối đáng tincậy Vina Kyoei hỗ trợ về mặt kinh doanh cho các đại lý chỉ định đồng thờithông qua các đại lý xây dụng uy tín về thương phẩm của mình Ket quả làkhách hàng đã đánh giá cao thương hiệu của Vina Kyoei và đã chỉ định sửdụng sản phẩm của công ty này

Tóm lại, nếu nhìn vào toàn thế quá trình sản xuất và lưu thông phânphối của ngành thép Việt Nam, luân chuyển hàng ho á có quy mô nhỏ vàkhông ốn định Các thiết bị trong các nhà máy thép có quy mô nhỏ và thiếuđồng bộ Ngoài ra các khâu thu mua nguyên vật liệu, chế tạo và bán sảnphấm đều không thông suốt Các doanh nghiệp đảm nhiệm một phần nhấtđịnh của công đoạn có quy mô nhỏ Với những lý do trên, một nền tảng sảnxuất quy mô lớn vẫn chưa được thành lập Đây là một tình hình khó khănnghiêm trọng đối với một ngành công nghiệp cần phát triển quy mô Có sựchênh lệch về công nghệ trong bản thân các công ty Nhà nước và cả với tưnhân hoặc liên doanh với nước ngoài

Trang 25

CHƯƠNG 2: NGÀNH THÉP VIỆT NAM ĐỨNG TRƯỚC THÁCH

THỨC HỘI NHẬP KINH TẾ KHƯ vực VÀ THẾ GIỚI

1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thépViệt Nam hiện nay

1.1 Các yếu tổ tác động đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghiệp

Khả năng cạnh tranh chịu tác động của rất nhiều các yếu tố chủ quan

và khách quan

Theo đánh giá của UNCTAC (Hội nghị LHỌ về thương mại vàphát triển ) thì các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh bao gồmcông nghệ,nhân lực, vốn, chính sách thương mại, đối thủ cạnh tranh mới.Trong đó thì công nghệ, nhân lực, vốn được coi là các nhân tố chủ quan màdoanh nghiệp có thể thay đối được thông qua đầu tư, huy động vốn Nhữngyếu tố này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, chủng loại, giá cả sản phẩm hànghoá để quyết định sản phẩm có thể gia nhập thị trường hay không? Cònchính sách thương mại và đổi thủ cạnh tranh mới là những nhân tố kháchquan mà doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ đế thích ứng và đề ra được chiếnlược cạnh tranh cho mình

Theo WEF ( Diễn đàn kinh tế thế giới ) các yếu tố đó là sự mở cửacủa nền kinh tế, vai trò của nhà nước, khả năng tài chính của doanh nghiệp,

Trang 26

Theo nhà kinh tế học M Porter các yếu tố ảnh hưởng đến khả năngcạnh tranh là điều kiện về các yếu tố đầu vào, điều kiện về cầu, các nguồnliên quan, các ngành hỗ trợ, chiến lược cấu trúc và mức độ cạnh tranh.

Ngoài các yếu tố này thì thời cơ và đặc biệt là vai trò của nhà nướcđược xem như những điều kiện tổng hợp thúc đẩy hoặc hạn chế tác độngcủa các yếu tố trên và tác động gián tiếp đến khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp

Như vậy, thông qua ba quan điểm đánh giá nêu trên có thể tổng kếtlại các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp baogồm các yếu tố đầu vào (thuộc về yếu tố chủ quan của doanh nghiệp ) như :công nghệ, lao động, quản lý, tố chức sản xuất Đây là những yếu tố cóảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm và cơ cấusản phẩm sản xuất đế từ đó tạo ra điều kiện cho doanh gia nhập thị trường.Yeu tố thứ 2 được coi là yếu tố khách quan bao gồm những yếu tố thuộc vềchính sách của nhà nước, thuộc về thị trường (cung - cầu) và các đối thủcạnh tranh Những yếu tố này không trực tiếp tạo ra giá trị cho sản phẩmnhưng là những điều kiện cho sản phẩm của một doanh nghiệp có thế thâmnhập và chiếm lĩnh thị trường Đây là những yếu tố gián tiếp và kháchquan mà một doanh nghiệp muốn cạnh tranh thành công cần phải nghiêncún kỹ

Như vậy ngoài sự tác động gián tiếp của các yếu tố khách quan, đầu

tư là chìa khoá để mở ra và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

vì đầu tư là điều kiện cơ bản nhất đế hình thành các yếu tố đầu vào - cácyếu tố cấu thành sản phấm

Khi xem xét trên bình diện quốc gia, lợi thế cạnh tranh của một quốcgia được hình thành bởi sự tương tác của các yếu tố:

Trang 27

2 Các điều kiện của thị trường nội địa

3 Các ngành công nghiệp bố trợ có liên quan

4 Chiến lược, cơ cấu các doanh nghiệp và sự cạnh tranh trongnội bộ quốc gia

5 Các quyết sách và điều hành của chính phủ

6 Các nhân tố ngẫu nhiên

Trong 6 nhân tố này thì 4 nhân tố đầu là quan trọng nhất Phân tíchđiều kiện và thực tế ngành thép Việt Nam khi tham gia khu vực mậu dịchtụ’ do AFTA và xa hơn là WTO thì lợi thế cạnh tranh gần như không có

1.2 Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thép Việt Nam hiện nay

Dựa trên lý luận ở trên và những số liệu thu thập được ta có thế thấynăng lực cạnh tranh của ngành thép Việt Nam rất yếu

a về khoáng sản cho phát triển ngành thép theo những nghiên cứu

Trang 28

dạng thô tù' tài nguyên đến nông sản phẩm Các ngành sử dụng sản phẩmcủa ngành thép của các nước ASEAN như Thái Lan, Xingapo, Indonesia,Philipin đã phát triển ở trình độ cao, có sản phẩm xuất khẩu vào nhiềunước phát triển Ớ Việt Nam các ngành cơ khí chế tạo cho ngành thép pháttriển rất chậm và yếu kém Những ngành co khí phát triển như công nghiệp

ô tô xe máy, cơ khí chính xác, đóng tàu chủ yếu là liên doanh hoặc 100%vốn nước ngoài, thực chất là của nước ngoài Sẽ còn rất lâu Việt Nam mớiđược chuyến giao công nghệ hoàn chỉnh của các ngành cơ khí mạnh từ phíanước ngoài Do đó khả năng thị trường nội địa cho công nghiệp thép (vớicác sản phẩm thép chất lượng cao và đặc biệt) là khó khăn cho ngành thép.Nguy cơ rõ ràng là ngành thép Việt Nam có thể mất thị trường ngay ở đấtnước mình

Với thị trường nước ngoài ngành thép Việt Nam mới chỉ có khả năngthăm dò xuất khâu sang một số thị trường có yêu cầu thấp về chất lượngsản phẩm như Lào, Cămpuchia, I Rắc

d về chi phí sản xuất và giá thành ngành thép Việt Nam đều cao hơncác nước khác

Chi phí sản xuất cao, thậm chí giá thành sản xuất thép trong nướccao hơn giá CIF nhập khẩu thép tại cảng Hải Phòng, làm giảm vị thế ngànhthép ngay ở thị trường nội địa

Ngoài ra, phôi thép là nguyên liệu chính và chiếm tỷ trọng lớn tronggiá thành có giá cả không cao hơn giá nhập khẩu của một số doanh nghiệpsản xuất thép ở các nước trong khu vực nên giá thành cao chỉ là do hệ sốtiêu hao nguyên liệu của các nhà máy sản xuất Việt nam cao và năng suấtcán thép quá thấp so với trình độ của các nhà máy sản xuất trong khu vực

Trang 29

còn khoảng 275-288 USD/tấn nhưng đến tháng 9/2003 giá khoảng 350USD/tấn nhưng chủ yếu do giá phôi thép nhập vào quá cao ở mức 270USD/tấn Theo vsc, mức giá 280 USD/tấn cao hơn giá xuất khẩu của Ngatù’ 10-15% nhưng chỉ cao hơn so với giá thép của Nhật Bản và Hàn Quốc5% Với tình hình như vậy, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài vàvsc có khả năng thu được lợi nhuận.

Do đó, nếu coi giá thị trường quốc tế tương đương với giá của HànQuốc và Nhật Bản và các doanh nghiệp của Việt Nam cũng tiến hành hợp

lý hoá sản xuất với cùng tốc độ như các doanh nghiệp của hai nước trên thìcác doanh nghiệp cán thép dài Việt Nam cũng có thể cạnh tranh trên thịtrường quốc tế ngay cả khi thuế suất nhập khẩu là 5% Tuy nhiên do giáthép thế giới biến động liên tục (ví dụ việc bán sản phẩm với giá rẻ mạt củacác doanh nghiệp của Nga đã tác động đến thị trường thế giới, và giá phôithép thế giới tăng cao như trong năm 2003 khiến giá thép tăng và lớn hơn

cả giá thành sản xuất 370 ƯSD/tấn), sự sống còn của nhiều doanh nghiệp sẽtrở thành câu hỏi Trong ngành sản xuất tôn và mạ kẽm và ống hàn, nơithậm chí một số liên doanh cũng còn chịu lỗ, hiện trạng cho thấy sức cạnhtranh còn khó khăn hơn

Sức cạnh tranh của ngành thép Việt Nam tương đối thấp, hầu hết cácdoanh nghiệp đều đang hoạt động nhò' hàng rào bảo hộ thuế quan và phithuế quan Các doanh nghiệp này sẽ gặp trục trặc khi chúng ta thực hiệnCEPT của AFTA Tóm lại, tham gia AFTA/CEPT và hội nhập khu vực,quốc tế ngành thép có ít lợi thế

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của ngành thép Việt Nam

2.1 Nhóm các nhân tố thuộc về chính sách

Trang 30

2.1.1.1 Hạn chế về lịch sử và cơ cấu đối với ngành thép

Hiện trạng các thiết bị sản xuất đều có quy mô nhỏ, thép phôi và thép

dẹt thiếu, có một phần là do những điều kiện hạn chế về mặt lịch sử và cơcấu đối với ngành thép Chẳng hạn TISCO là một nhà máy thép được xâydựng vào những năm 50, hơn nữa một phần cơ sở vật chất đã bị phá huỷtrong chiến tranh chổng Mỹ và xung đột với Trung Quốc Mặt khác trongthời kỳ kế hoạch hoá tập trung có một số chức năng mang tính xã hội đăđược đưa vào trong cơ cấu tố chức dẫn đến sự bành trướng trong quy môcủa lực lượng lao động Những khó khăn TISCO phải đối phó hiện nay cónguyên nhân sâu xa là các điều kiện lịch sử có trước đổi mới Hơn nữa cảicách lại bị cản trở khi một kế hoạch đầu tư mới thiết bị trong những năm 90không thực hiện được, một phần là do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ởChâu Á và những khó khăn trong huy động vốn đầu tư Tuy nhiên dù cónhững điều kiện hạn chế về mặt lịch sử và cơ cấu, phải nói rằng trong chínhsách bảo hộ và phát triển công nghiệp thép của chính phủ và hoạt động củacác doanh nghiệp đều có những tồn tại chưa được khắc phục

2.1.1.2 Bảo hộ cho sản xuất thép dài và sản xuất dư thừa

Do thị trường nội địa diễn biến phức tạp, cung cầu của các loại thépkhông tương xứng nhau, để bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nước thựchiện chiến lược thay thế nhập khấu đối với những hàng hoá tư liệu sản xuấtđồng thời bảo đảm nhập khẩu những loại thép là nhân tổ đầu vào quantrọng của một số ngành sản xuất, các hàng rào bảo hộ đã được sử dụng

Công cụ phi thuế quan được sử dụng với thép thanh xây dựng bằng

Trang 31

tham gia AFTA, thuế suất cho phôi thép là 3% và sau đó đã liên tục tăngtrong những năm gần đây 7% và hiện nay là 10% Trong khi đó ở các nuớcASEAN như Philippin mức thuế này chỉ 3%, Thái Lan: 1%, các nước cònlại 0% Việc bảo hộ bằng cách tăng thuế nhập khẩu phôi thép vừa bất hợp

lý, vừa không có lợi, vì điều này chỉ gây ra hậu quả tiêu cực cho sự cạnhtranh của ngành công nghiệp thép và tăng chi phí cho người sử dụng bìnhthường, làm đội giá thành các công trình xây dựng, ảnh hưởng các ngànhcông nghiệp khác nếu có đầu vào liên quan đến sắt, thép (tăng thuế lênthêm 3% khiến giá thép tăng 100.000 đồng/tấn) Việc tăng thuế có vẻ chỉ

đế bảo hộ cho vsc chứ không phải cho ngành thép Việt Nam bởi sản xuấtphôi của vsc chỉ chiếm khoảng 15% nhu cầu của thị trường Theo ý kiếncủa các cơ quan chức năng, mục đích của việc tăng thuế là đế khuyến khíchđầu tư sản xuất phôi thép nhưng hiện nay việc đầu tư sản xuất phôi thépmới do vsc đảm nhiệm và sẽ rất khó cho các doanh nghiệp khác đầu tư.Nhà nước được thuế nhưng các công trình lớn của Nhà nước - là các đơn vịtiêu thụ thép lớn nhât - sẽ bị ảnh hưởng Trong khi đó Chính phủ tăng thuếthì dễ nhưng các liên doanh không thế có ngay nhà máy, điều này có thếảnh hưởng đến nhà đầu tư Nói cho cùng thiệt hại lớn nhất thuộc về Nhànước

Các loại sắt thép không hợp kim được cán mỏng, có chiều rộng khácnhau, được phủ hoặc không phủ, mạ hoặc tráng có thuế suất từ 0% - 40%.Các loại thép thanh, thép hình chủ yếu phải chịu thuế suất nhập khẩu 40%.Hiện nay, thuế nhập khấu thép giảm xuống 20% năm 2005 là 10% và năm

2006 là 5% Do thuế suất khá phức tạp nên có thể dùng hai chỉ tiêu là thuếquan trung bình theo tỷ trọng các loại sắt thép nhập khấu và hệ số bảo hộthực tế đế phân tích tác động bảo hộ đổi với các doanh nghiệp sản xuất thcptrong nước

Trang 32

Mức thuế quan trung bình được tính cho các loại sắt thép nhập khấutheo kế hoạch sổ luợng nhập khẩu năm 2000 của vsc, theo giá trung bình

Trang 33

Nguồn: Cơ sở chung cho việc tải cấu trúc chính sách đối với ngành công nghiệp thép Việt Nam trong qúa trình hội nhập.

Từ các số liệu của bảng trên, thuế quan trung bình của các loại sắtthép nhập khẩu là: 35*0,04 + 15*0,23 + 15*0,30 + 3*0,43 = 10,64% Nhưvậy tất cả các sản phấm cán đều có mức thuế quan vượt mức thuế quantrung bình và cần phải thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo CEPTtrong những năm tới Điều này sẽ đặt các doanh nghiệp sản xuất thép cáncủa Việt Nam trước một sức cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm thép nhậpkhẩu của các doanh nghiệp từ các nước ASEAN sau năm 2006 Tuy nhiên,cách tính trên cũng chưa cho thấy chính xác mức bảo hộ đổi với các sảnphẩm thép cán trên thị trường Việt Nam hiện nay vì phôi thép có thuế suấtthấp với số lượng nhập khấu lớn đã làm sai lệch kết quả Vì vậy, thuế quantrung bình theo tỷ trọng nhập khẩu được tính cho ba loại sản phẩm cán là

16,34% cho thấy thuế quan bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất thép cánhiện nay rất cao Nhu vậy, trong tuơng lai, để cạnh tranh với thép cán nhậpkhẩu, thuế quan bảo hộ vẫn là cần thiết cho sự tồn tại của ngành thép Neu

so sánh thuế quan trung bình của các loại thép nhập khẩu của Việt Nam vớithuế quan trung bình của các nước trong khu vực thì tỷ lệ này cao hơn khánhiều

Chúng ta hãy xem xét các chính sách thương mại và cạnh tranh đãtạo ra một mối quan hệ cạnh tranh như thế nào trong thị trường thép dài.Quyết định cấm nhập khẩu thép dài dùng trong xây dựng được áp dụng saunăm 1997 do Nga tiến hành bán phá giá trên thị trường nhằm thu hút ngoại

tệ hay đối hàng Cả Nga và Ukraina đều bị giảm nhu cầu trong nước sau sựtan rã của Liên Xô cũ Bao bì, thời hạn giao hàng đều không đạt yêu cầu,chất lượng được đánh giá là sản phẩm cấp thấp nhất trên thế giới Hai nướcnày đã gây ra những vụ ma sát mậu dịch trên toàn thế giới Lo ngại nhậpkhẩu các sản phẩm rẻ tiền sẽ gây khó khăn cho sự phát triển của côngnghiệp thép trong nước, chính phủ đã áp dụng các biện pháp bảo hộ

Tuy nhiên, biện pháp cấm nhập khẩu không có một thời hạn rõ ràng

và làm cho vấn đề trở nên phức tạp Một chính sách thương mại nhất quánnói chung là sự kết hợp giữa bảo hộ ở mức thấp và thâm nhập thị trường tự'

do, hoặc một sự kết hợp giữa hoặc bảo hộ chặt chẽ và giới hạn thâm nhập.Trong khi đó thị trường thép dài Việt Nam một mặt được bảo hộ khỏi cạnhtranh quốc tế đồng thời được mở rộng cho các nhà sản xuất trong nước dochính sách đối mới Ket quả là có nhiều doanh nghiệp tư nhân vìra và nhỏ

và các tố chức sản xuất gia đình đã tham gia sản xuất thép dài với các thiết

bị lạc hậu không hiệu quả dẫn đến sản xuất dư thừa trong thị trường thépdài Sự không nhất quán trong chính sách đã duy trì một thị trường cho cácsản phẩm không đạt tiêu chuẩn bằng cách tạo điều kiện cho hành độngmang tính cơ hội chủ nghĩa nhằm theo đuổi lợi ích trước mắt Thế nhưng

Trang 34

không thế kết luận rằng việc tham gia của các doanh nghiệp tư nhân có tácđộng tiêu cực đối với ngành công nghiệp thép mà phải nhận thức được rằngthất bại về mặt chính sách đã cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp tưnhân lành mạnh Có thể thấy cũng có một tình trạng dư thừa tương tự đốivới sản xuất dư thừa hai mặt hàng là tôn mạ kẽm và ống hàn.

Một số lượng lớn các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn là do các doanhnghiệp tư nhân vừa và nhỏ và các tổ sản xuất gia đình sản xuất Nhưng cácdoanh nghiệp Nhà nước và liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài cũngkhông tránh khỏi tác động tiêu cực của các chính sách của Chính phủ

2.1.1.3 Lộ trình gia nhập AFTA của ngành thép

Hiện nay sản xuất thép nội địa được Nhà nước bảo hộ với mức độ rấtcao Nhà nước đang áp dụng chế độ thuế suất cao đối với thép và sản phấmthép nhập khẩu Các biện pháp phi thuế quan đang được sử dụng triệt để.Các biện pháp cấm nhập khâu các sản phâm trong nước đang sản xuất đủ;hạn chế nhập khẩu theo hình thức hạn ngạch và quản lý theo đầu mối nhậpkhẩu các sản phẩm trong nước chưa sản xuất đủ theo nhu cầu hiện nayđang áp dụng cần phải nhanh chóng loại bỏ

Khi xác định lịch trình giảm thuế các ngành hàng tham giaAFTA/CEPT Việt Nam chia ra thành ba nhóm ngành với các mức độ giảmthuế khác nhau

Nhóm I: Nhóm ngành hàng có thế mạnh xuất khấu Nhóm ngành

hàng này có tiến trình giảm thuế sớm và nhanh Nhóm này gồm ngànhhàng nông sản (gạo, cà phê, chè); ngành hàng thủy sản, dệt may, cao su

Trang 35

thuốc trừ sâu, cao su chế biến, săm lốp cao su, mỹ phẩm chất tẩy rủa);ngành hàng xi măng.

Nhóm 3ỉ Nhóm các ngành hàng có tiềm năng cạnh tranh kém Lịch

trình giảm thuế theo CEPT được dự kiến cho các ngành hàng này với tiếntrình chậm nhất Mức độ bảo hộ của nhà nước cao Các ngành hàng củanhóm này gồm: ngành hàng khoáng sản và luyện kim; ngành hàng giấy;ngành hàng đường

Việc phân nhóm này đế có lịch trình giảm thuế phù họp và có biệnpháp thích ứng đế thúc đấy xuất khâu hoặc bảo vệ sản xuất tốt nhất

Như đã trình bày ở trên ngành luyện kim Việt Nam có tiềm năngcạnh tranh yếu Trong ngành luyện kim quan trọng nhất là ngành sản xuấtthép

So sánh với các nước ASEAN nhìn chung các nước này cũng không

có ngành thép thực sự phát triển, giá thành sản xuất cũng như Việt Nam,khó có thế so sánh được với giá thép của các nước như Nga, Ucraina, HànQuốc bán tại cảng Việt Nam Hiện nay, phần lớn sản phẩm sắt thép củacác nước ASEAN đều có thuế xuất thấp và được xếp trong danh mục giảmngay

Lịch trình giảm thuế: Căn cứ trên thực trạng sản xuất khả năng cạnhtranh hiện nay của ngành thép trong nước và thực tế thực hiện CEPT củacác nước ASEAN, lịch trình giảm thuế của Việt Nam cho các sản phẩm sắtthép được dự kiến với các bước giảm chậm nhất, đặc biệt là đối với các sản

có chục mặt hàng có thuế suất cao hơn phải cắt giảm thuế tù’ năm 1998 theolịch trình Việt Nam đã công bố với các nước cho Danh mục cắt giảm

Nguồn: Cơ sở chung cho việc tái cẩu trúc chỉnh sách đổi với ngành

công nghiệp thép Việt Nam trong quá trình hội nhập.

- Thép xây dựng các loại, thép hình, các sản phẩm, thiết bị bằng thépkích cỡ nhỏ là những mặt hàng có thuế suất hiện tại tương đối cao, trongnước đã sản xuất được và thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch nhập khấuđược đưa vào danh mục loại trừ tạm thời, lịch trình của một số mặt hàng cụthể như sau:

+ Năm đưa vào thực hiện CEPT 2002, 2003

-T -7 -7

-Ngu ôn: Cơ sở chung cho việc tái câu trúc chính sách đôi với ngành

công nghiệp thép Việt Nam trong quả trình hội nhập.

Trang 36

Mức thuế về thép và các sản phấm thép sẽ giảm bình quân tù' 9,9 %năm 2002 xuống 4,3% vào năm 2006 Đen thời điếm này sẽ không còn hạnché về số luợng đối với thép nhập khẩu từ các nuớc ASEAN và đến năm

2008, các sản phấm thép nhập khâu tù’ các nuớc trong khu vục sẽ khôngcòn áp dụng rào cản phi quan thuế Các biện pháp bảo hộ cao với ngànhthép đang thực hiện cần phải giảm nhanh chóng Ngành thép Việt Namkhông thể sống đuợc bằng bảo hộ thông qua các biện pháp phi thuế quan

Tuy nhiên, thử thách lớn nhất đổi với ngành thép nước ta là từ sự hộinhập thế giới khi nước ta trở thành thành viên của WTO Việt Nam đangtích cực đàm phán và theo lộ trình sẽ gia nhập tố chức này vào khoảng năm

2005 Là một thành viên đầy đủ của WTO, nước ta sẽ phải tuân thủ mộtloạt các quy định phức táp của WTO, gồm 4 nguyên tắc chính: 1-Thực hiệnkhông phân biệt đối xử; 2-DỜ bở hàng rào quan thuế; 3-Tự do hoá thươngmại; 4-Thực hành công khai, minh bạch đối với nhà đầu tư, nhà sản xuất vàngười tiêu dùng Với những lộ trình hội nhập ngắn như thế, liệu ngành thépViệt Nam có đủ thời gian và tiềm lực kinh tế cần thiết đế tái cơ cấu, xâydựng ngành thép thành ngành công nghiệp trọng điếm của nước ta để đủsức cạnh tranh hội nhập? vấn đề bảo hộ của nhà nước đối với ngành thép

vì vậy không nên kéo dài quá năm 2006

Nguyên nhân biện pháp cấm nhập khẩu được áp dụng năm 1997 là

do hệ thống pháp chế về thương mại của Việt Nam chưa hoàn thiện Việc

áp dụng các biện pháp bảo hộ nhằm chống lại cạnh tranh không lành mạnh

và thiệt hại đến công nghiệp trong nước là hợp lý ngay cả trong quá trìnhhoà nhập của kinh tế thế giới Tuy nhiên, các biện pháp bảo hộ cần phù hợpvới tình hình cụ thế và có thời gian rõ ràng

Hệ thống kiếm soát giá trong nước và bảo hộ nhập khấu các sảnphấm thép hiện nay phải được sửa đôỉ cơ bản khi mà thời hạn cuối cùngthực hiện tự do thương mại theo hiệp định AFTA vào năm 2006 đang đến

Trang 37

gần và sắp tới là các cuộc đàm phán gia nhập WTO Tuy nhiên, điều nàykhông có nghĩa là phải dỡ bỏ tất cả các hình thức bảo hộ nhập khấu cùngmột lúc Đổi với một số sản phẩm được khuyến khích phát triển theo một

số kế hoạch cụ thể mang tính khả thi thì Việt Nam với tư cách là một quốcgia gia nhập sau sẽ được phép bảo hộ nền công nghiệp trong nước trên cơ

sở không bảo hộ toàn diện, thái quá hoặc vĩnh viễn Đe bảo vệ không làmảnh hưởng xấu đến nền kinh tế trong nước thì Việt Nam cũng phải cầnđược phép tiến hành các biện pháp chống lại việc phá giá của nước ngoàihoặc hỗ trợ xuất khẩu và bảo vệ nền kinh tế khỏi những cú xốc về giá cóảnh hưởng xấu trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, hiện nay việc Việt Nam

có được quyền thực hiện những biện pháp bảo hộ này theo AFTA và trongtương lai là WTO hay không và đến mức độ nào thì vẫn còn chưa rõ

1.1.2 Chính sách đầu tư liên quan đến ngành thép

1.1.2.1 Vay vốn đầu tư phát triến

Trong giai đoạn hiện nay, Chính Phủ khuyến khích các doanh nghiệpcông nghiệp nói chung tụ’ đầu tư bằng nguồn vốn tụ’ có, đồng thời loại trừnhững trường hợp Chính phủ trực tiếp đầu tư từ nguồn vốn ngân sách,Chính phủ ban hành những chính sách để các doanh nghiệp có thể tiếp cận

và vay vốn đầu tu phát triển

Nguồn vốn cho các doanh nghiệp vay bao gồm: (i) nguồn vốn trongnước; và (ii) nguồn vốn ngoài nước Đối với nguồn vốn trong nước, doanhnghiệp có thể được vay vốn dưới hai hình thức: vay tín dụng ưu đãi và vaythương mại

Trang 38

phủ ban hành ngày 2-3-2000m theo đó lãi suất cho vay được điều chỉnh từ9%/năm xuống còn 7%/năm.

Tín dụng ưu đãi của Nhà nước:

Các dự án ở nguồn vay này được thực hiện theo kế hoạch đầu tư xâydựng cơ bản hàng năm của Nhà nước với lãi suất ưu đãi

Vay thương mại:

Việc vay thương mại của các doanh nghiệp tuân theo các thủ tục ởphần trên và do các ngân hàng thương mại thực hiện

(ii)Vay nước ngoài

Các doanh nghiệp có thế được vay trục tiếp nước ngoài hoặc vay từnguồn vay nợ nước ngoài của Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước theophương thức tự vay tự’ chịu trách nhiệm trả nợ

Vay trực tiếp: Doanh nghiệp trực tiếp vay và trả nợ nước ngoài

Trang 39

Nam Do vậy, hầu hết các trường hợp phải vay thông qua sự dàn xếp môigiới của các đơn vị nước ngoài Thủ tục và cơ chế vay của nước ngoài cũngchặt chẽ, phức tạp vấn đề vướng mắc nhất hiện nay là việc bảo lãnh và táibảo lãnh Điều này cũng là dễ hiểu một phần vì ở những giai đoạn đầu của

sự phát triển các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa đủ mạnh và chưa đủ tincậy trên thương trường quốc tế

1.1.2.2 Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Từ năm 1986 đến nay, thực hiện chủ trương thu hút đầu tư nướcngoài Chính phủ đã cố gắng đưa ra nhiều biện pháp thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài và đã thu được kết quả đáng kể Một hệ thống biện pháphợp lý, đồng bộ đế thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đã thu được kết quảkhá

Trong năm 2000, Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi đã được ban hànhnhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa đế thu hút đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam, chiến lược phát triển của ngành thép trong thời gian này là tăngcường họp tác liên doanh với nước ngoài đế đầu tư xây dựng các nhà máysản xuất thép, đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạngcủa nền kinh tế, tiếp cận với công nghệ hiện đại và quản lý khoa học củacác tập đoàn công ty thép có danh tiếng trên thế giới

Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài vào ngành thép, đặc biệt là trong khâusản xuất thượng nguồn còn gặp nhiều khó khăn và còn kém hấp dẫn, dotính chất đặc thù của ngành Điều kiện hạ tầng chưa phát triển nên thườngthì các dự án đầu tư phải gánh chịu luôn cả phần phát triến cơ sở hạ tầngnhư đường xá, cầu cống, cấp điện, cấp nước Điều này đặc biệt nặng nề đốivới dự án đầu tư vào ngành thép Nhiều dự án không thế thu được vốn đầu

tư vì vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng quá nặng

Trang 40

Trong 10 năm 1991-2000, tính riêng Tổng công ty thép Việt Nam đãgóp vốn xây dựng 12 liên doanh sản xuất thép có tổng vốn đầu tu hơn 382triệu $ (trong đó thu hút được một lượng FDI khá lớn khoảng 300 triệu $)vốn pháp định là 127 triệu $(vốn pháp định của Tổng công ty là 43 triệu $).

Nguồn :Phòng Kế hoạch đầu tư - vsc.

Thiết bị của liên doanh gồm có hai máy cán liên tục thuộc loại tươngđối hiện đại của VPS và VinaKyoei và 3 máy cán bán liên tục Tống côngsuất thiết kế của của 5 liên doanh đạt 910.000t/năm Liên doanh Vinakyoei

có quy mô lớn nhất (công suất 240.000t/năm), sản lượng thép cán năm

1999 đạt 257.124 tấn chiếm 31,6% so với khối liên doanh và tăng 12,41%

so với năm 1999 Thép Tây Đô có sản lượng nhỏ nhất 78.864 tấn, chiếm9,4%so với khối liên doanh Như vậy năm 2000, khối liên doanh đã sảnxuất được 814.056 tấn thép cán, đạt 119,7% kế hoạch và tăng 18,34% sovới thực hiện năm 1999, gấp 1,5 lần sản lượng của vsc.

về tiêu thụ thép cán khối liên doanh năm 2000 đã tiêu thụ 809.300tấn đạt 119% kế hoạch và tăng 20,34% so với kết quả thực hiện năm 1999

cụ thể Số liệu về tiêu thụ của các liên doanh năm 2000 như sau: Vinakyoeităng 10,88%, VPS tăng 14,96%, Natsteeelvina tăng 25,75%, Vinausteeltăng 44,52% và Tây Đô tăng 25,98%

So với lượng tiêu thụ của cả nước (không kế nhập khấu) khối liêndoanh luôn chiếm hơn 50% lượng tiêu thụ thép cán Như vậy hiện nay liêndoanh đang có thị phần lớn nhất cả nước hơn cả Tống công ty thép

Ngày đăng: 13/01/2016, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. The current Vietnamese Steel industry and its challenge - Nozomu Kawabate (Tohoku Univ.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The current Vietnamese Steel industry and its challenge
Tác giả: Nozomu Kawabate
Nhà XB: Tohoku Univ.
4. Overall strategy for the development of the Steel industy up to 2010 - Do Huu Hao (MOI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overall strategy for the development of the Steel industy up to 2010
Tác giả: Do Huu Hao
6. Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 73 (7/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Năm: 2003
3. Evaluating alternative scenarios for Steel industy promotion: QualiTication of ProTitability and Risks - Kenichi Ohno (GRIPS) Khác
5. Tạp chí Tri thức và Công nghệ số 153 (2003), 143 (2002) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 7: Dự báo các chỉ tiêu tống hợp của ngành thép - Ngành thép việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực vả thế giới
Bảng 7 Dự báo các chỉ tiêu tống hợp của ngành thép (Trang 52)
Bảng 10: Phân tích một sổ dự án đầu tư của ngành thépNguồn: Tạp chí Công nghiệp Việt Nam sổ 10/2002. - Ngành thép việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực vả thế giới
Bảng 10 Phân tích một sổ dự án đầu tư của ngành thépNguồn: Tạp chí Công nghiệp Việt Nam sổ 10/2002 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w