Chưong 1 : Sự cần thiết cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nưóc ỏ’ Việt nam 1.1 Cố phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1.1.1 Khái niệm CPH doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyến đối các DNNN
Trang 1Phần mở đầu
Cô phần hóa danh nghiệp nhà nước( CPHDNNN) là một quá trình tấtyếu và phố biến ở các nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trungsang cơ chế thị truờng Tiến trình này sẽ thay đổi cơ bản doanh nghiệp thôngqua thay đối hình thức sở hữu , tù' đó làm thay đối các yếu tố khác như tốchức quản lý, thay đổi phương thức làm việc và quan trọng hơn là thayđổi nhận thức của mồi thành viên trong doanh nghiệp theo hướng tích cực, tạođiều kiện và động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển
Nhận thức được điều đó, ở Việt nam CPH đã được Đảng và nhà nướcxây dựng thành một chủ trương lớn Sau 16 năm thực hiện, tiến trình CPH ởViệt nam đã đạt được những thành công bước đầu trên nhiều phương diệnđặc biệt là kinh tế .Tuy nhiên trên một số phương diện khác, tiến trình CPHcũng sinh nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu và giải quyết Bên cạnh đókhông phải lúc nào tiến trình CPH cũng diễn ra theo như kế hoạch làm ảnhhưởng không nhỏ tới định hướng kế hoạch của chính phủ trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội Xuất phát từ thực tiễn đó đề tài “Giảipháp thúc đẩy
tiến trình cỗ phần hóa tống công ty thép Việt nam ” được chọn để làm luận
văn tốt nghiệp
Chưong 1 : Sự cần thiết cổ phần hóa các doanh nghiệp
nhà nưóc ỏ’ Việt nam
1.1 Cố phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1.1 Khái niệm
CPH doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyến đối các DNNNthành công ty cổ phần , từ doanh nghiệp mà nhà nước là chủ sở hữu duy nhấtthành doanh nghiệp có nhiều chủ cùng tham gia sở hữu .Trong đó, nhà nước
có thể tiếp tục nắm quyền chi phối hay chỉ là một chủ sở hữu bình đẳng vớicác chủ sở hữu khác
Khác với thành lập công ty cổ phần , CPHDNNN là một quá trìnhchuyến đối về mô hình tổ chức quản lý , sản xuất kinh doanh và hoạt động tàichính sang công ty cô phần thế nhưng vẫn trên co sở hạ tầng và nền tảng cơbản của DNNN Các chủ thế khác mua lại từng phần giá trị của DNNN và trởthành cố đông cùng tham gia sở hữu Chính do vậy CPH không chỉ là bước đithận trọng mà còn phù hợp với trình độ phát triển , nhận thức và kinh nghiệm
tố chức quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô Một mặt , CPHDNNN chính là đốimới căn bản mang tính bước ngoặt đổi với các DNNN thông qua thay đốihình thức sở hữu, trước đây sở hữu doanh nghiệp chỉ là nhà nước nhưng giờđây có nhiều cá nhân tổ chức tham gia sở hữu tùy vào điều kiện nhà nước chophép, quan hệ sở hữu thay đối tất yếu sẽ làm các quan hệ khác đặc biệt làtrong hoạt động sản xuất kinh doanh biến đối và thực tế đã chứng minh nhữngbiến đối này là tích cực Mặt khác vẫn cho phép tận dụng những cơ sở vậtchất, con người và các yếu tố thuộc về tài sản vô hình khác Bên cạnh đó tùyvào mức độ cổ phần hóa khác nhau nhà nước vẫn có thế tham gia sở hữu vàquản lý ít nhất là trong một giai đoạn nào đó đủ đế duy trì sự ốn định cần thiết
Trang 2khi cơ chế quản trị điều hành mới chưa được hình thành và phát huy một cáchhiệu quả nhằm đảm bảo sự phát triến ốn định của những DNSCPH
Chúng ta không thể đồng hóa CPHDNNN với tư nhân hóa nhưng cũngkhông hoàn toàn không phải là tư nhân hóa Bởi có bán cổ phần cho các chủthế khác trong nền kinh tế thì mới là CPH , mới đúng theo khái niệm đặt ratheo luật doanh nghiệp, ít nhất là trên phương diện sở hữu Đó chính là quátrình chuyến tù’ sở hữu công cộng sang sở hữu tập thế hoặc cá nhân , tức là cómột phần tư nhân hóa Tuy nhiên cũng không hoàn toàn là tư nhân hóa vì cácDNSCPH không phải tất cả doanh nghiệp tư nhân mà hầu hết là những công
ty đa sở hữu dù nhà nước là cổ đông nhỏ hay không tiếp tục tham gia sở hữu
1.1.2 Mục tiêu cổ phần hóa
Tùy vào tùng quốc gia và tùng giai đoạn lịch sử khác nhau mà có mụctiêu CPH khác nhau , tuy nhiên về cơ bản vẫn là các mục tiêu sau :
Mục tiêu thứ nhất: Xóa bỏ sự bao cấp của nhà nước và phát huy quyền
tự chủ về sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả nền kinh tế , củng cố
và phát trien những nền tảng cơ bản của kinh tế thị trường Nhờ CPH mà ngânsách nhà nước sẽ bớt gánh nặng hơn, thậm chí còn có the tăng lên vì cácdoanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn Trong khi đó các doanh nghiệp nhà nướcsau CPH sẽ được tự chủ hơn trong các quyết định của mình với sự tham giađóng góp ý kiến của nhiều cổ đông và các nhà quản lý có năng lực Nen tảng
cơ bản của cơ chế thị trường là sự cạnh tranh trên cơ sở công bằng Khôngđược nhà nước đem lại cho các đặc quyền đặc lợi cũng như không có quyềnđòi hỏi như trước làm cho các doanh nghiệp phải tự thân vận động , tự tìmcho mình phương thức kinh doanh hiệu quả nhất và dần hình thành nên mộtmôi trường kinh doanh lành mạnh vận hành theo cơ chế thị trường Hiệu quảcủa một doanh nghiệp không phải tù’ CPH mà thông qua có chế thị trường, sựthay đối hình thức sở hữu là điều kiện cần cho doanh nghiệp vận hành theo cơ
Trang 3chế thị trường một cách tự giác cao độ , từ đó thúc đấy các doanh nghiệp pháttriến Có thế nói CPH các DNNN là tiền đề cho sự vận hành của nền kinh tếtheo cơ chế thị trường , đảm bảo sự công bằng, minh bạch và phát triển bềnvững.
Mục tiêu thứ hai : Huy động những tiềm năng vốn trong xã hội đế đầu
tư vào doanh nghiệp thông qua quá trình chào bán cổ phần các DNNN Cácnhà đầu tư với nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình luôn tìm kiếm các cơhội đầu tư nhằm gia tăng giá trị nguồn vốn đó Việc thực hiện CPH của cácDNNN là một cơ hội đầu tư rất hấp dẫn, tuy có nhiều hạn chế nhưng DNNNcũng có lợi thế của mình đó là cơ sở hạ tầng, thương hiệu qua bao nhiêu nămgây dựng, bên cạnh đó lại được hưởng các chính sách hỗ trợ tù’ chính phủnhằm đưa doanh nghiệp đi vào ốn định sau CPH Thực tế cho thấy các doanhnghiệp sau CPH hoạt động rất hiệu quả, có tới 96% doanh nghiệp làm ăn cólãi, nợ xấu giảm mạnh Nhờ có vốn đầu tư các doanh nghiệp sẽ có điều kiệntiếp cận với công nghệ hiện đại, với phương thức quản lý hiệu quả kéo theonâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động tạo nguồn lực cho doanh nghiệpphát triến kéo theo thúc đấy nền kinh tế phát trien , giảm gánh nặng và tăngthu cho ngân sách nhà nước
Mục tiêu thứ ba : Khuyến khích đầu tư nước ngoài và chuyến giaocông nghệ tiên tiến Từ khi Đảng và nhà nước thực hiện chính sách đối mới,mở của nền kinh tế thì các nhà đầu tư nước ngoài rất muốn tiếp gia nhập thịtrường Việt nam , một trong những cách thâm nhập hiệu quả và an toàn là lập
ra các liên doanh liên kết , tham gia trở thành các cổ đông chiến lược trongcác doanh nghiệp ở Việt nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu
tư và công nghệ tiên tiến của nước ngoài là yếu tố đặc biệt quan trọng cho cácdoanh nghiệp Việt nam tăng năng suất , đuối kịp với các nước tiên tiến trongkhu vực cũng như trên thế giới, từ đây có khả năng cạnh tranh với các doanh
Trang 4nghiệp nước ngoài trên thị trường trong nước và tạo động lực gia nhập thịtrường thế giới
1.1.3 Các hình thức và mức độ cố phần hóa
Hình thức và mức độ CPH ở tùng quốc gia vào tùng giai đoạn lịch sửkhác nhau là khác nhau tùy thuộc vào kế hoạch của chính phủ các quốc gia đócũng như đặc thù nghành nghề kinh doanh , được thế hiện thông qua tỷ lệđóng góp cô phần của nhà nước trong các doanh nghiệp Có bốn hình thứcthường được lựa chọn :
Hình thức thứ nhất: giữ nguyên toàn bộ giá trị vốn sở hữu nhà nước hiện
có tại doanh nghiệp và phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn đầu tư từcác chủ thế khác trong nền kinh tế Ưu thế của hình thức này là quy mô được
mở rộng , hình thức này phù họp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hình thức thứ hai : bán một phần giá trị thuộc vốn của nhà nước Hìnhthức này quy mô huy động được ấn định ở mức nhất định thay thế cho sựgiảm xuống tương ứng tỷ lệ vốn thuộc sở hữu nhà nước Cách làm nàythường áp dụng cho các doanh nghiệp quy mô lớn Bởi vì giá trị doanh nghiệplớn nên không dễ dàng huy động những nguồn vốn lớn đúng theo tỷ lệ sở hữunhư yêu cầu đặt ra khi phát hành cổ phiếu mới
Hình thức thứ ba : tách một bộ phận của DNNN đủ điều kiện đế tiếnhành CPH Hình thức này thường được áp dụng cho các doanh nghiệp được
tố chức theo mô hình công ty mẹ công ty con hay các công ty có các chinhánh có tính độc lập cao Tống công ty thép Việt nam được tiến hành theohình thức này , theo đó ban đầu tiến hành CPH một số doanh nghiệp thànhviên có giá trị nhỏ, làm ăn không có lãi Sau khi nhận thấy những kết quả thực
tế mang lại là tích cực ban lãnh đạo tiếp tục thực hiện đối với những doanhnghiệp có quy mô vốn lớn hơn và cuối cùng là tiến hành đối với công ty mẹ
Trang 5Hình thức thứ tư : bán toàn bộ giá trị thuộc vốn sở hữu nhà nước Đây làhình thức có mức độ CPH cao nhất, nhà nước không còn tham gia vào việcđiều hành quản lý doanh nghiệp nữa mà chuyển hẳn cho các cá nhân tổ chứckhác trong nền kinh tế sở hữu và điều hành Đây là một việc phổ biến đối vớinước Nga trong những năm 90 của thế kỷ trước, hình thức này đã nảy sinhnhiều bất cập dễ gây ra những mất mát tài sản thuộc quyền sở hữu nhà nướcsang tay tư nhân do bị định giá thấp và bán cho tư nhân với giá rẻ mạt TạiNga hình thức này đã hình thành nên những tập đoàn tư nhân rất lớn lũngđoạn cả nền kinh tế Ớ Việt nam hình thức này chỉ được tiến hành đối vớinhững doanh nghiệp nhỏ hoặc những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ do vậykhông dẫn tới tình trạng như ở nước Nga Đây là một bài học kinh nghiệmquý báu cho những người đi sau như Việt nam
1.2 Quá trình cố phần hóa DNNN ở Việt nam
1.2.1 Thực trạng
Tiến trình CPH ở Việt nam được hầu hết các nhà nghiên cứu chorăng băt đâu từ năm 1992 vì trong năm này những công việc đầu tiên về côphần hóa mới thực sự được tiến hành Căn cứ vào sự tiến triển về tốc độ cũngnhư sự thay đổi về chất lượng cổ phần hóa, quá trình cho đến nay có thể phânchia thành 2 giai đoạn Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn trước khi có thị trườngchứng khoán: 1992-1999; và giai đoạn thứ hai, từ năm 2000 đến nay khi thịtrường chứng khoán Việt Nam đã được hình thành và phát triến
1.2 Ị 1 Giai đoạn trước khi có thị trường chứng khoản( 1992-1999) :
Hành lang pháp lý đầu tiên cho quá trình CPHDNNN ở Việt nam tronggiai đoạn này là Quyết định số 202/CT ra ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng theo đó thí điểm chuyến một số DNNN thành CTCP Tiếptheo là Quyết định số 203/CT ra ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng, quyết định lựa chọn bảy DNNN thí điểm thực hiện cố phần hóa và ủy
Trang 6quyền cho Bộ Tài chính nghiên cứu và ra quyết định về danh sách cácDNNN khác đuợc phép thí điếm cố phần hóa của các Bộ và ủy ban Nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tiếp đến, vào ngày 04/03/1993, Thủtuởng Chính phủ ra Chị thị số 84/TTG về việc tiến thực hiện thí điểm cổ phầnhoá và nghiên cứu các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối vớiDNNN Vào năm 1994, nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳkhóa VII đã thống nhất và cụ thế hóa mục tiêu và hình thức tiến hànhCPHDNNN, một trong số đó là bán một tỷ lệ cổ phần cho cán bộ, công nhânviên chức đang làm việc tại doanh nghiệp đế tạo ra động lực bên trong trựctiếp thúc đấy doanh nghiệp phát triển, và bán cổ phần cho các chủ thế ngoàidoanh nghiệp đế thu hút thêm vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Sau hơn bốn năm thí điếm cô phần hóa, trên cơ sở tống kết và đánh giánhững thành công thất bại, những ưu điểm và những tồn tại của quá trình cổphần hóa, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/1996/NĐ-
CP nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý và môi trường kinh tế thuận lợi hơncho các DNNN tiến hành cố phần hóa Nội dung của Nghị định này tập trunggiải quyết những vấn đề quan trọng sau :
Mở rộng đối tượng tiến hành cổ phần hóa đổi với tất cả các DNNN
Bố sung các hình thức cổ phần hóa đổi với từng bộ phận doanh nghiệp
Mở rộng uu đãi cho các DNSCPH và người lao động đang làm việctrong các doanh nghiệp đó
Phân cấp việc phê duyệt CPH, theo đó Thủ tướng Chính phủ chỉ phêduyệt cổ phần hóa với những DNNN có vốn điều lệ từ 3 tỷ đồng trở lên
Tiếp đó, Nghị định số 25/NĐ-CP ngày 26/3/1997 hoàn thiện hơn một sốđiều khoản về thâm quyền lựa chọn DNNN cô phần hóa của Chính phủ, mởrộng phạm vi, đối tượng, bố sung hình thức CPH một số bộ phận doanhnghiệp Nghị quyết trung ương lần thứ 4 khóa VIII và chỉ thị số 20/TTg ngày
Trang 721/4/1998 về đẩy mạnh sắp xếp lại các DNNN theo đó, có tới 42,1% sốDNNN hiện có thuộc diện phải cố phần hóa.Bên cạnh đó, chính phủ còn banhành Nghị định số 44/1998 NĐ-CP ngày 29/6/1998 thay thế cho các Nghịđịnh số 28/1996NĐ-CP và Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 29/6/1998 đã giảiquyết những vướng mắc về chính sách chế độ mà văn bản trước đây còn chưathực hiện được như: lựa chọn DNNN cố phần hóa, chính sách hỗ trợ cho cácDNNN hậu CPH Đen thời điếm này, quá trình cố phần hóa đã được thựchiện một cách quyết liệt và không trông chờ vào sự tự nguyện của DNNN như
ở thời kì trước nữa Ket quả trong 6 tháng cuối năm 1998 cả nước có 86DNNN chuyển sang CTCP, đưa số DNNN đến năm 1998 lên 116 doanhnghiệp Năm 1999 chúng ta lại có thêm 254 doanh nghiệp nữa được cố phânhóa, tăng gấp hơn 2 lần tông số doanh nghiệp đã được cố phần hóa trong suốtgiai đoạn 1992-1998, đến tháng hết năm 1999 tổng số DNNN đã được cốphần hóa đã đạt tới hơn 370 doanh nghiệp.Việc không ngừng hoàn thiệnnhững cơ sở pháp lý và chế độ cổ phần hóa trong giai đoạn này thực sự đãgóp phần thúc đây quá trình CPHDNNN ở nước ta
Mặc dù đã đạt được những kết quả như vậy nhưng theo đánh giá chungnhất thì tiến trình cổ phần hóa ở Việt nam trong giai đoạn này vẫn là rất chậmchạp, chi phí thời gian thực hiện cố phần hóa của mỗi doanh nghiệp vẫn rấtcao Có rất nhiều nguyên nhân được đưa ra đế giải thích cho tốc độ cô phầnhóa chậm trong giai đoạn này, song có hai nguyên nhân cơ bản : Thứ nhấtViệt nam chưa có thị trường chứng khoán và do vậy việc cố phần hóa và pháthành cổ phiếu chủ yếu mang tính chất nội bộ doanh nghiệp, hoặc cục bộ địaphương, tính chất xã hội hóa rất hạn chế Thị trường chứng khoán chưa pháttriến làm cho công việc chào bán cố phần ra công chúng hạn chế và tính thanhkhoản của cố phiếu thấp gây cản trở không nhỏ tới tốc độ và thành công củaquá trình cổ phần hóa Thứ hai là hành lang pháp lý chưa minh bạch, thiếu
Trang 8nhất quán và sự ốn định , chưa nhất quán trong chỉ đạo thực hiện làm chonhững doanh nghiệp muốn CPH không gặp thuận lợi trong việc đăng kí cácthủ tục pháp lý cũng như chưa có những thuận lợi nhất định khi chuyến đổicòn các doanh nghiệp không muốn CPH thì có cớ chây ỳ
1.2 ỉ.2 Giai đoạn sau khi thị trường chứng khoản ra đời (2000-2008)
Giai đoạn này được xem là bước ngoặt đặc biệt quan trọng, một bướctiến biến đối cả về chất và về lượng của quá trình CPH Khởi đầu giai đoạnnày được đánh dấu bởi sự hình thành và phát triển của thị trường chứngkhoán Việt Nam Ngày 20/7/2000, Trung tâm giao dịch Thành phố Hồ ChíMinh được khai trưong và bắt những phiên giao dịch đầu tiên vào cuối thángbảy Mặc dù, còn ở mức độ rất sơ khai và chưa nhiều các công ty niêm yết,quy mô lúc ban đầu chỉ trên dưới 5 tỷ VND, tuy nhiên sự xuất hiện của thịtrường chứng khoán đã trở thành động lực hết sức quan trọng đẩy mạnh quátrình cổ phẩn hóa ở Việt Nam không chỉ về mặt tốc độ - số lượng mà còn cả
về mặt chất lượng cố phần hóa cũng thay đổi hoàn toàn
Trong hai năm 2000-2001, cả nước đã có tới 361 DNNN được cố phầnhóa xấp xỉ bằng tống số doanh nghiệp được cố phần hóa trong cả giai đoạngần 10 năm từ 1992 đến 1999 Tuy nhiên, điều quan trọng là đến giai đoạnnày, việc mua cổ phiếu của cán bộ công nhân viên trong những DNNN thựchiện CPH không phải đế giữ việc làm như trước đây chứng tở đã thay đốinhận thức về CPH, rất nhiều người đã có thu nhập cao từ việc bán lại số cổphiếu được mua hay quyền được mua cố phiếu theo tiêu chuấn của các doanhnghiệp đặt ra Rất nhiều DNNN, mặc dù chưa xây dựng xong phương án cổphần hóa, cố phiếu đã được các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp đăng ký và đặtcọc đế mua theo giá thị trường, cao hơn mệnh giá rất nhiều lần
Song song với việc phát triến thị trường chứng khoán Đảng và nhànước đã tiếp tục củng cố và hoàn thiện hành lang pháp lý và chính sách kinh
Trang 9tế, tài chính nhằm thúc đẩy nữa tiến trình CPHDNNN Vào ngày 19/6/2002chính phủ ban hành số nghị định sổ 64/2002 NĐ/CP bổ sung sửa đối nghịđịnh số 44/1998 NĐ/CP về những vấn đề bao gồm: thẩm quyền của các cơquan quản lý cấp trên, định giá doanh nghiệp, cổ đông và cổ phiếu, về chínhsách đổi với lao động dôi du Tiếp đến, các thông tư hướng dẫn cũng banhành như số 79/TT - BTC ngày 12/9/2002 hướng dẫn cách định giá trị doanhnghiệp khi chuyển từ DNNN sang CTCP; số 80/TT - BTC ngày 12/09/2002hướng đẫn bảo lãnh phát hành và đấu giá bán cổ phần ra công chúng của cácDNNN thực hiện CPH Ngoài ra, còn rất nhiều nghị định, thông tư liên quanđược ban hành thêm như: Nghị định số 69/ 2002 NĐCP ngày 12/7/2002 về xử
lý nợ tồn đọng, nghị định 41/2002 NĐCP ngày 11/04/2002 về chính sách đốivới người lao động dôi dư, quyết định số 174/TTg ngày 2/12/2002 của thủtướng chính phủ về tố chức hoạt động của các công ty tài chính, nghị định số187/2004 NĐCP ngày 16/11/2004,vv đã góp phần giải quyết được nhữngnhược điểm cơ bản đối với việc xác định giá trị bán cổ phần ra công chúng
Ban chỉ đạo đối mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước được thànhlập trực thuộc văn phòng Chính Phủ, thay mặt Thủ tướng giám sát và điềuhành toàn bộ quá trình CPH các doanh nghiệp trục thuộc các bộ ngành và ủyban nhân dân tỉnh và thành phố, giải quyết những bất cập và khó khăn trongquá trình chuyến đôi tù’ DNNN sang công ty cô phần Bên cạnh đó, các BộNgành, Úy ban nhân dân các tỉnh và thành phố; Tổng công ty và các tập đoàn
Trang 10một kết quả rất đáng buồn Tống công ty Thép Việt nam là một tổng công tyrất lớn với hơn 37 công ty thanh viên ,dự tính sẽ CPH xong vào năm 2009 saukhi hoàn tất việc CPH các đơn vị thành viên vào năm 2008 Thủ tướng cũng
đã phê duyệt kế hoạch CPH theo đó đặt mục tiêu niêm yết 71 DNNN loại lớntrên TTCK vào năm 2010
Như vậy có thế nói đã có rất nhiều những chính sách liên quan đến cổphần hóa được ban hành, bố sung và sửa đối đế ngày càng hoàn thiện hơn,phù hợp hơn với thực tế tiến trình cố phần hóa Thành quả của tất cả những cốgắng trên là các chế độ quy định ngày càng đồng bộ , thông thoáng hơn tạođiều kiện thuận lợi cho các DNNN chuyển đổi sang công ty cổ phần, chế độhợp lý cho người lao động và những cơ hội tốt cho các nhà đầu tư So với cácgiai đoạn trước, ở giai đoạn này cổ phần hóa được đánh giá là đã đi vào thựcchất hơn Trong khi đó nếu xét về số lượng, tổng số DNNN được cổ phần hóatrong giai đoạn 2000-2008 lên tới con sổ 3800 doanh nghiệp, gấp hơn 10 lần
sổ lượng DNNN được cổ phần hóa trong giai đoạn 1 từ 1992 - 1999 Đây làmột con số đáng mừng , thời gian tới cần đẩy nhanh hơn nữa tiến trình CPHđang có xu hướng chậm lại như trong năm 2007 nhằm hoàn thành CPH cơbản các DNNN trước năm 2015 như dự định của Nhà nước đặt ra
1.2.2 Khó khăn sau cổ phần hóa ỏ’ Việt nam
Những ưu thế của DNNN sau CPH là rất đáng kể, thực tế ở nhiều nước
Trang 11doanh Có thế thấy DNNN sau CPH đã và đang đương đầu với những khókhăn và thử thách rất lớn đặc biệt trong nhũng năm đầu tiên sau cố phần hóa
ỉ.2.2 ỉ Khó khăn về von và khả năng huy động từ hệ thống tài chính
Trên phương tiện lý thuyết, các DNNN sau CPH có lợi thế về quy môvốn, nguồn vốn và các phương thức huy động đa dạng phong phú hơn so vớikhi còn là DNNN Ngoài các hình thức huy động thông thường như tín dụngthương mại, tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp này còn có thế huy độngvốn qua thị trường chứng khoán như phát hành cổ phiếu tăng vốn, phát hànhtrái phiếu danh nghiệp Tuy nhiên nhìn chung thì ở Việt nam các doanhnghiệp phần lớn vẫn chưa huy động được những nguồn vốn như mong muốnnhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư đối mới và phát triến ,bởi còn tùy thuộc vàonhiều yếu tố , chang hạn như điều kiện tùng doanh nghiệp trước CPH và mức
độ cổ phần hóa được lựa chọn Bên cạnh đó còn tùy thuộc vào quy định củanhà nước về đối tượng nắm giữ cố phần , giá trị từng đối tượng được nắm giữ
Tuy nhiên giả sử việc mở rộng quy mô vốn của các DNSCPH không bịhạn chế bởi Nhà Nước thì việc tăng quy mô vốn của các doanh nghiệp cũngkhông đơn giản vì còn phải phụ thuộc vào tất cả các nhân tố chủ quan củadoanh nghiệp và khách quan của nền kinh tế về chủ quan thì quan trọng nhất
đó là kết quả sản xuất kinh doanh , theo quy định của Việt nam những doanhnghiệp muốn phát hành cố phiếu ra công chúng thi phải đáp ứng được nhữngđiều kiên nhất định chẳng hạn về quy mô vốn , về kết quả sản xuất kinh doanh,đây chính là nhân tố chủ quan của doanh nghiệp Bên cạnh đó chi phí vốnthường rất cao do chi phi thuê bảo lãnh phát hành ,chi phí đáp ứng kì vọngcác cố đông Những giới hạn khách quan đối với việc phát hành vốn thuộcnền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng
Đối với TTCK lúc phát triển ốn định thì phát hành cổ phiếu sẽ thu đượcnhiều vốn hơn cho doanh nghiệp , nhưng nếu vào giai đoạn suy thoái như hiện
Trang 12nay thì thu được rất ít vốn , thậm chí việc phát hành tăng vốn không nhữngkhông hiệu quả mà có thế hạ thấp uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp nữa
Khả năng huy động vốn thông qua các công cụ nợ của các DNSCPHcũng không phải luôn thuận lợi, nhất là doanh nghịêp này lại được cố phầnhóa từ những DNNN có lịch sử tình hình sản xuất - kinh doanh và tài chínhkhông tốt đẹp Các chủ nợ, đặc biệt là các NHTM luôn muốn cho các DNNNvay vốn hon là các doanh nghiệp không hoàn toàn thuộc về nhà nước, do luônyên tâm rằng luôn được trả nợ cho dù có làm ăn thua lỗ bởi có sự bảo trợ củanhà nước Sau khi CPH, các doanh nghiệp mất đi sự bảo lãnh của nhà nướcđối với các ngân hàng thương mại và công chúng trong khi các doanh nghiệpnày chưa đủ thời gian cần thiết đế tự' khắng định lòng tin đối với ngân hàngthuong mại cũng như các chủ nợ khác Ớ Việt nam cho vay thế chấp là rấtphổ biến , muốn vay được phải có tài sản thế chấp đủ điều kiện trong khi đórất nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện này Do vậy, cácDNNN sau CPH thường không có được các lợi thế so với khi còn là DNNNkhi tiếp cận nguồn vốn thông qua các công cụ nợ
1.2.2.2 Nhũng khó khăn về chất lượng nguồn nhân lực
Trong các DNNN sau CPH, quyền làm chủ doanh nghiệp thuộc về cổđông và những người lao động được tham gia mua cổ phần, rất khác so vớitrước Sự thay đối này vừa là động lực rất lớn đối với người lao động đồngthời cũng là áp lực khiến họ phải cố gắng, nỗ lực nâng cao hiệu quả sản xuất -kinh doanh của doanh nghiệp vì trong đó có lợi ích của chính bản thân mồithành viên Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, từ cán bộ quản lý cho đến ngườilao động và các cố đông đều muốn đóng góp công sức, tài sản cũng như sẵnsàng chia sẻ sáng kiến, kinh nghiệm đế củng cố và thúc đấy sự phát triến cácDNNN sau CPH Song đó chưa phải là điều kiện đủ ,đế đạt được điều đó lại
Trang 13là chất lượng nguồn nhân lực bao gồm nhận thức ,trình độ chuyên môn vànghiệp vụ của cán bộ công nhân viên làm việc trong các DNSCPH.
Nghiệp vụ chuyên môn và nhận thức của đội ngũ người lao độngtrong DNNN khi chuyển sang CPH chưa thể đáp ứng về nhiều mặt vấn đềnày đã được chuyên gia phân tích kinh tế nhận định là một khó khăn cản trởđáng kế đối với việc thực hiện các mục tiêu và phát huy vai trò của tiến trìnhDNNN sau CPH về mặt nhận thức, do thời gian dài làm việc trong cácDNNN với tình trạng làm chủ hình thức nay chuyến sang làm việc trong môhình công ty cố phần , sự nhận thức không đầy đủ về quyền lợi, trách nhiệm
và vị thế làm chủ, nảy sinh mâu thuẫn và bất đồng ý kiến giữa những chủ thếtham gia sở hữu với những đội ngũ quản lý Không ít những rủi ro vì hạn chế
về mặt này của người lao động đã xảy ra và gây những tốn thất nặng nề về tàichính cho doanh nghiệp,ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và hình ảnh củadoanh nghiệp trên thương trường, về trình độ chuyên môn, rất nhiều ngườilao động cần phải được đào tạo lại về kỹ năng, trình độ công nghệ sản xuất -kinh doanh ,ý thức và tính chất chuyên nghiệp Yêu cầu đặt ra về nguồn nhânlực của những DNNN sau CPH là cần được đào tạo lại một cách cơ bản vàmang tính hệ thống từ ý thức, tác phong đến trình độ chuyên môn ,nghiệp vụmới đủ khả năng làm chủ doanh nghiệp đồng thời làm chủ khoa học kỹ thuật
và công nghệ sản xuất - kinh doanh, quản lý Đe giải quyết được yêu cầu nàycác DNNN sau CPH sẽ phải bỏ nhiều thời gian và một khoản kinh phí khôngnhỏ cho việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
1.2.2.3 Sự bất cập về quản trị điều hành.
Do những quy định của nhà nước về hình thức CPH là bán một phần tàisản thuộc sở hữu công cộng trong các DNNN, không ít doanh nghiệp vẫn duytrì tỉ trọng vốn khá lớn thuộc sở hữu nhà nước và các đại cố đông của Nhànước nắm quyền quản trị điều hành Việc làm này không dẫn đến sự xáo trộn
Trang 14lớn nào về nhân sự, cán bộ lãnh đạo được bố nhiệm từ trước khi cổ phần hóa.Với việc tiếp tục nắm quyền chi phối với tỷ lệ vốn cao, Nhà nước không chỉtiếp tục duy trì về nhân sự lãnh đạo mà các hoạt động sản xuất - kinh doanh
và phân phối tài chính, bố chí sử dụng nguồn nhân lực,v,v.„, của DNNN sauCPH vẫn chịu sự can thiệp của đại diện phần vốn nhà nước hoặc cơ quanquản lý của nhà nước Phần lớn những can thiệp vẫn mang tính chất hànhchính và thường gây ra cản trở đối với hoạt động của DNSCPH Thậm chí đốivới không ít DNSCPH, hoạt động sản xuất - kinh doanh vẫn theo quy môhình tố chức và quản trị điều hành cũ theo cơ chế của DNNN trước khi thựchiện cổ phần hóa Như vậy CPH vẫn không có tác dụng nào ngoài huy độngvốn cho nhà nước , chưa thực sự tạo ra động lực đế phát triến
1.2.2.4 Hạn chế về trang thiết bị công nghệ.
Trong thời đại toàn cầu hóa thì yếu tố kỹ thuật, công nghệ sản xuất - kinhdoanh trở thành nhân tố mang tính chất quyết định đối với sự tồn tại và pháttriển của các doanh nghiệp bởi đó là yếu tổ quyết định tới năng suất , chấtlượng sản phấm cung cấp Tuy nhiên đó là vấn đề khó khăn trở ngại rất lớnđối với DNNN sau CPH ở Việt nam, có những doanh nghiệp vẫn tiếp tục sửdụng máy móc thiết bị được sản xuất từ những thập kỷ 70, 80 hoặc cũ hơncủa thế kỷ trước
Sau thực hiện cố phần hóa, xét về khả năng, DNSCPH có điều kiệntăng thêm vốn đế mua sắm máy móc mới và thiết bị hiện đại và đây chính làthuận lợi rất lớn đế đổi mới công nghệ Từ đó tạo điều kiện nâng cao chấtlượng và hạ giá thành sản phẩm, củng cố và duy trì sức cạnh tranh, uy tín trênthương trường Tuy nhiên ở trên thực tế việc đầu tư đe phát triến công nghệcủa các DNNN sau CPH còn gặp nhiều khó khăn, không chỉ là vấn đề khảnăng tài chính mà còn cả những vấn đề về cơ chế đầu tư của doanh nghiệp vàkhả năng vận hành máy móc thiết bị, ứng dụng đựơc những tiến bộ khoa học -
Trang 15kỹ thuật vào trong sản xuất - kinh doanh của cán bộ nhân viên doanh nghiệp.Lượng vốn tăng thêm do cố phần hóa chưa phải là đủ lớn đẻ có thế mua bất
cứ công nghệ tiên tiến nào, đồng thời việc sử dụng số vốn đó vẫn phải tuântheo các quy định của nhà nước hay các co quan đại diện sở hữu nhà nướctrong khi các quyết định của họ không phải lúc nào cũng kịp thời và chính xác Mua được các công nghệ tiên tiến là việc khó nhưng sử dụng nó một cáchhiệu quả cũng khó khăn không kém Với trình độ cán bộ nhân viên được đàotạo từ rất lâu rồi , không có điều kiện tiếp cận với các tiến bộ công nghệ thìviệc vận hành chúng là rất khó khăn, không đạt hiệu quả như mong muốn Dovậy phải có chính sách đào tạo cán bộ trẻ, cho họ đi tu nghiệp ở những nướctiên tiến đế họ làm quen với công nghệ mới, giúp cho việc vận hành hiệu quảhơn
1.3 Nhân tố ảnh hưỏmg đến tiến trình cố phần hóa
1.3.1 Định giá doanh nghiệp
CPH là một chiến lược đúng đắn , tuy nhiên đế cố phần hóa thành côngchúng ta phải tính đến một vấn đề rất quan trọng là giá trị doanh nghiệp Xácđịnh đúng giá trị doanh nghiệp sẽ làm minh bạch vấn đề sở hữu , vốn , tránhthất thoát tài sản công vào tay những cá nhân tham nhũng , góp phần quyếtđịnh đấy nhanh tiến độ CPH .Việc định giá của các DNNN ở Việt nam cònchứa đựng nhiều bất cập , gây thất thoát vốn rất lớn cho Nhà nước .Theo quyđịnh hiện hành, có hai cơ chế định giá được phép áp dụng là thành lập Hộiđồng định giá hoặc thuê công ty tư vấn định giá độc lập Thành viên của Hộiđồng định giá là cán bộ đại diện của nhiều cơ quan quản lý Nhà nước khácnhau, ví dụ như Sở Tài chính, Sở KH-CN, Uỷ ban Nhân dân V.V., vì thế ýkiến đánh giá của họ không phải bao giờ cũng thống nhất và có thế bịnghiêng về những mục tiêu quản lý riêng Do đó, định giá theo cơ chế này
Trang 16thường không phản ánh được giá trị “thực tế” của DNNN Hơn nữa, mâuthuẫn về quyền lợi giữa DNNN với các cơ quan quản lý nhiều khi làm choviệc định giá chậm được thống nhất Việc sử dụng công ty tư vấn độc lập đểđịnh giá tuy tỏ ra có hiệu quả hơn nhưng vẫn còn những hạn chế trong việcxác định giá trị tài sản vô hình như thương hiệu hay lợi thế kinh doanh Hơnnữa, hầu hết các công ty tư vấn độc lập của Việt Nam vẫn chưa đủ kinhnghiệm và trình độ đế định giá các DNNN lớn và phức tạp.
1.3.2 Đối tác chiến lược
Một số chuyên gia nhận định, trong bối cảnh nhiều đối tác chiến lượcsau khi mua cố phần với giá ưu đãi đã bán ra với mục đích kiếm lời trước mắtnhờ chênh lệch giá , Chính phủ đã phải quy định giá mua cô phần của đối tácchiến lược không thấp hơn giá đấu bình quân, điều này đã giảm bót động cơcủa những nhà đầu cơ ngắn hạn Tuy vậy, về lý thuyết nhà đầu tư chiến lượcdài hạn cam kết hồ trợ DN về công nghệ, đào tạo nhân lực nhưng phải muavới giá như đối tượng khác là thiếu hấp dẫn, có thể làm giảm động lực của họ.Đặc biệt đối tác chiến lược nước ngoài nhận thấy chính sách khuyến khíchgóp vốn có phần giảm sút so với trước đây, nên chần chừ quyết định đầu tư,thậm chí bỏ hẳn ý định đầu tư vào doanh nghiệp
Một khó khăn khác là không ít DN yếu kém trong việc định hướng pháttriến do trình độ quản lý thấp Do không có định hướng rõ ràng làm choniềm tin của các nhà đầu tư về tương lai doanh nghiêp không khả quan nênkhông hấp dẫn nhà đầu Đối với đối tác lớn đặc biệt là các nhà đầu tư nướcngoài, khi nhìn thấy DN khó phát huy thế mạnh của mình, họ sẽ từ bỏ ý địnhtrở thành cố đông chiến lược
Không tìm được đối tác chiến lược tức là rất hạn chế trong việc tiếp cậnkhoa học công nghệ hiện đại , tiếp cận với nguồn vốn dồi dào Do vậy rấtkhó khăn đế thực hiện CPH cũng như giải quyết nhưng vấn đề hậu CPH
Trang 171.3.3 Nợ xấu
Đen nay không có số liệu chính thức nào về dư nợ vốn vay của cácDNNN tại các tổ chức tín dụng đặc biệt là các Ngân hàng thương mại(NHTM) nhưng chắc chắn là rất lớn Chỉ tính riêng các Tổng công ty xâydựng công trình giao thông thuộc bộ Giao thông vận tải đã có sổ dư nợ tới12.300 tỷ đồng mà chủ yếu là nợ xấu , đã được các NHTM xử lý dự phòng rủi
ro Các DNNN làm ăn kém hiệu quả , nợ xấu ngân hàng kéo dài không đượccác ngân hàng cho vay nên càng thiếu vốn và làm ăn không có hiệu quả .Rấtnhiều các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ đã phải vay nợ với số dư nợrất lớn , nhưng giờ đây theo chính sách nhà nước đặt ra phải tiến hành CPH ,phải bán cố phần cho các cá nhân tố chức Tuy nhiên cho dù có đối mới thìnhững khoản nợ ấy vẫn phải trả cho chủ nợ , điều này làm cho những ngườimuốn mua cổ phần không muốn mua nữa vì họ sợ rằng nguồn vốn mà họ gópvào công ty thông qua mua cổ phần phần lớn là đế trả nợ , không dùng chomục tiêu đầu tư kinh doanh ,như vậy tương lai công ty sẽ không khả quan tức
là những đồng vốn mà họ bở ra không hiệu quả .Như vậy tiến trình cố phầnhóa sẽ bị chậm lại rất nhiều
1.3.4 Hành lang pháp lý và tính nhất quán trong chỉ đạo thực hiện
Hành lang pháp lý còn thiếu minh bạch, thiếu nhất quán, thiếu tính ốnđịnh hay thay đôi và chưa có sự đồng bộ.Việc sắp xếp, cơ cấu lại DNNN chưađược thực hiện theo một để án tổng thể kết hợp giữa ngành và địa bàn mà lạiđược thực hiện theo tùng đề án của từng bộ, ngành, địa phương, tống công tynên còn có sự chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, giữa doanh nghiệptrung ương và doanh nghiệp địa phương trên cùng một địa bàn
Các doanh nghiệp được trao nhiều quyền tự’ chủ nhưng chưa có cơ chếgiám sát hiệu quả nên dẫn đến việc triến khai các chính sách còn tuỳ tiện,thiếu minh bạch Chưa có những quy định về công tác kiểm tra, xử lý vi
Trang 18phạm trong việc sắp xếp, đối mới doanh nghiệp và CPH Hiệu lực quản lýcủa bộ máy nhà nuớc còn thấp; công tác kế toán, kiếm toán còn nhiều yếukém, chua bảo đảm phục vụ một cách hữu hiệu công tác quản lý, kiểm tra,giám sát.
Cổ phần hóa các tổng công ty sẽ dẫn tới việc thành lập các tập đoànkinh tế lớn đa nghành đa lĩnh vực Trong khi đó lại chua hình thành khungpháp luật đầy đủ hướng dẫn cho việc hình thành và quản lý đối với tập đoàn,
do vậy cản trở đáng kể tới tiến trình cổ phần hóa các Tổng công ty
1.4 Điều kiện thúc đẩy cổ phần hóa
Đẩy nhanh quá trình CPH các DNNN trong thời gian tới đang còn rấtnhiều những thách thức, khó khăn Đế thúc đấy CPH theo người viết cần phảitác động tới bốn yếu tố sau:
Thứ nhất : Nhà nước phải có những biện pháp chiến lược mới cho quátrình CPH vì các DNNN là đối tượng CPH trong thời gian tới có những điếmkhác với các doanh nghiệp đã được CPH trước đây.Quy mô các doanh nghiệpsắp CPH rất lớn , đóng vai trò rất quan trọng với nền kinh tế
Trang 19Hạn chế sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, cần tạo
ra CO' chế thông thoáng hơn cho họ chang hạn như cho phép họ nắm giữ tỷ lệ
cố phần cao hơn trong các DNNN Bên cạnh đó tạo điều kiện đế thu hút vàgắn kết giữa hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chiến lược với sự phát triển củadoanh nghiệp CPH
Thứ hai: Thay đối nhận thức của DN ,tổng điều tra đánh giá hiệu quảthực tế các doanh nghiệp sau CPH đế rút ra những kinh nghiệm về thành công
và chưa thành công của các doanh nghiệp Qua đó làm cho mọi doanh nghiệp
từ ban quản lý cho tới nhân viên thấy được lợi ích rõ ràng, những bài học cụthế từ CPH Điều này sẽ có tác động làm thay đối nhận thức, tạo những hiểubiết tốt hơn, tù’ đó tạo niềm tin và động lực tù' bên trong của doanh nghiệp.Đồng thời có chiến lược hỗ trợ một cách có hiệu quả về đào tạo nâng caonăng lực trước, trong và sau CPH
Thứ ba : vấn đề hành chính , nhanh chóng thực hiện những biện phápgiải quyết dứt điếm những vướng mắc hiện nay về vấn đề đất đai, tài sản vànhững vướng mắc về lao động Đặc biệt cần sớm chấm dứt trên thực tế khôngphải chỉ trên giấy tờ, văn bản sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất là các DNNN đã CPH Điều nàyrất quan trọng và sẽ là một nhân tố thúc đấy doanh nghiệp tiến hành CPH cóhiệu quả Chúng ta cũng cần sớm hoàn thiện và tạo những điều kiện thuận lợi
để doanh nghiệp có thể áp dụng tốt trình tự tiến hành CPH và cơ chế định giádoanh nghiệp mới, không gặp khó khăn tiếp cận thị trường chứng khoán Mởrộng hơn nữa đối tượng tham gia CPH đế có những cổ đông mạnh, họ sẽ làmột trong những tác nhân quan trọng nhất đảm bảo cho sự ốn định và thànhcông trong kinh doanh của doanh nghiệp sau CPH
Thứ tư : Giải quyết tốt những mâu thuẫn xảy ra trong quá trình thựchiện CPH Như đã biết CPH có những mục tiêu cơ bản là : huy động vốn,
Trang 20thay đối cơ chế quản lý, và quan trọng hơn thay đối bản chất doanh nghiệpthông qua thay đối hình thức sở hữu nhằm tìm được một mô hình làm ăn hiệuquả nhất Hiểu được mặt tốt của cổ phần hóa, đặt ra mục tiêu rất đúng, nhưngmặt khác cách làm của chúng ta hiện nay lại lộ ra ba mâu thuẫn gây cản trởkhông nhỏ tới tiến trình CPH
Mâu thuẫn thứ nhất: mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn trong tư duy Ta đãphải công nhận những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thường làm ănkhông hiệu quả, thua lỗ năm này qua năm khác Muốn nó tốt lên, muốn tàisản nhà nước không mất đi, không còn cách nào khác là phải cải cách, vì phầnlớn của chiếc bánh to còn hơn cả chiếc bánh nhỏ Cải cách bao nhiêu kiểu rồi,tù’ tự’ chủ tài chính , cải cách cơ chế làm việc , cơ chế trả lương Tuy nhiênhiệu quả đều không như mong muốn Cuối cùng qua thực tiễn các nước trênthế giới cũng như ở Việt nam đã nhận ra , việc đổi mới DNNN phải lấy thayđối hình thức sở hữu làm nền tảng tức là cổ phần hóa mới đem lại sự chuyếnbiến sâu sắc nhất và mạnh mẽ nhất, từ đó đem lại hiệu quả cao nhất và bềnvũng nhất
Nhưng dù cố phần của nhà nước đang được bán cho những cá nhân,những tổ chức của một nhóm cá nhân nhưng chúng ta lại muốn rằng cố phầnhóa không phải tư nhân hóa Vậy cố phần hóa là chuyển quyền sở hữu củanhà nước sang ai? Làm sao đế CPH mà hoàn toàn không phải là tư nhân hóa?Chỉ có cách bán cố phần cho các công ty nhà nước khác mới không là tư nhânhóa, bởi vì vẫn chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là nhà nước Neu như thế thìcũng không khác trước là mấy , vấn đề vẫn chưa được giải quyết tận gốc .Neu không có một phần tư nhân hóa , túc không gắn chặt lợi ích doanhnghiệp với lợi ích của nhà quản lý , không có cơ chế kiếm tra kiếm soát trongnội bộ công ty trên cơ sở tự’ giác cao tất yếu sẽ không đạt hiệu quả nhưmong muốn Chúng ta nên nên thừa nhận trong cố phần hóa có một phần là
Trang 21tư nhân hóa, tất nhiên cũng không hoàn toàn là tư nhân hóa .Nhà nước vẫnphải giữ một tỷ lệ cố phần phù họp tùy theo tùng nghành và vai trò của tùngdoanh nghiệp cổ phần nhằm đảm bảo sự ổn định của cả nền kinh tế , tránh xảy
ra sự chi phối của tư nhân làm lũng đoạn thị trường Do không nhất quántrong quan điểm nên quá trình cổ phần hóa vẫn còn chậm , gượng gạo, nhiềunơi không thống nhất cách làm, dẫn đến tình trạng có địa phương hô hào vềchủ trương nhưng khi tiến hành cô phần hóa thì lại hạn chế
Có thời điểm ta chỉ cho những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, yếu kém cổphần hóa, còn những công ty có lãi thì không tiến hành ,một phần vì chưanhận ra nguyên nhân của sự yếu kém là xuất phát từ chính doanh nghiệp Từ
sự yếu kém trong điều hành quản lý, sự thiếu động lực lao động sáng tạo dođược nhà nước bao cấp Như vậy là không hiếu rõ vì sao lại tiến hành CPHmột cách sâu sắc mà chỉ biết rằng thua lồ là CPH còn không thua lỗ thì thôi.Đen nay nhiều nơi vẫn bị ảnh hưởng tâm lý này Nghịch lý này khiến tínhtoàn dân trong cổ phần hóa như Chính phủ đề ra không đảm bảo vì khôngphải ai muốn mua cô phần của Nhà nước cũng được trong khi về bản chất tàisản nhà nước chính là tài sản của toàn dân
Mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn thứ hai là chúng ta muốn cổ phần hóa đếtăng vốn cho doanh nghiệp nhưng lại giới hạn quyền góp vốn của người dânvới tỉ lệ cố định ở mức thấp Còn rất nhiều doanh nghiệp không nhạy cảm về
an ninh quốc phòng, cũng không thuộc ngành ngân hàng, nhưng các cơ quanchủ quản doanh nghiệp hoặc bản thân ban lãnh đạo doanh nghiệp vẫn khôngcho bán quá 49% vốn đế giữ quyền lãnh đạo và những lợi ích hẹp hòi trướcmắt
về bản chất sở hữu nhà nước là của toàn dân , DNNN thuộc sở hữu nhànước nên nó cũng là sở hữu toàn dân và Nhà nước được nhân dân giao choquản lý Thực lực này không phải đế phân bổ rải ra khắp nơi, chi phối tất cả
Trang 22các vấn đề trong xã hội, mà chỉ nên tập trung phân bố ở một số điếm quantrọng theo định hướng của Nhà nước ,còn lại là tận dụng nguồn vốn trong dân
cư Việc định hướng không có nghĩa là phải nắm, nhất là nắm thật nhiều đếnmức chi phối hoàn toàn, Neu ta muốn định hướng tiến tới một nền kinh tế trithức thì phải tập trung nguồn lực đầu tư cho ngành công nghệ cao như côngnghệ thông tin, công nghệ điện tử ,ô tô chứ không phải hô hào, rồi vẫn giữchặt vốn đế nắm chi phổi hoàn toàn các doanh nghiệp không phải then chốt,không đóng vai trò động lực cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóanhư mía đường , bông sợi Như thế nguồn lực sẽ phân tán , không pháthuy được hiệu quả như mong muốn Neu biết tập trung nguồn vốn vào nhữngngành then chốt, đáp ứng đủ nhu cầu tiếp cận công nghệ tiên tiến , nhu cầunghiên cún sản phấm mới .thì sức mạnh của các doanh nghiệp đó sẽ lớn lênmột cách nhanh chóng Thà giữ cổ phần ở ít công ty nhưng vốn hóa của nólớn còn hơn là giữ ở nhiều công ty làm ăn kém với mức chi phối Trong khi
đó cách làm hiện tại của ta, cứ quyết tâm giữ cổ phần chi phối ở hầu hết cácdoanh nghiệp, nếu cứ giữ cố phần chi phối đế rồi giá trị cổ phần ấy nó khôngtăng lên thậm chí còn giảm đi thì chi phối đế làm gì? Đó là thất thoát khống lồtiếp theo bởi vì đầu tư vốn của nhà nước không hiệu quả, không sinh lời theothời gian Nhà nước cũng là một nhà đầu tư, dùng tiền của nhân dân đầu tư dovậy phải có trách nhiệm với những đồng tiền đó .Do vậy phải tìm biện pháphiệu quả nhất, có lợi nhất cho tài sản của Nhà nước, của nhân dân
Mâu thuẫn thứ ba: cũng tù' thói quen muốn giũ' cố phần chi phối nênchúng ta tạo nên mâu thuẫn thứ ba cổ phần hóa đặt ra mục tiêu thay đối cơchế quản lý nhưng thực tế, với cách nắm giũ' cố phần chi phối thì doanhnghiệp sau CPH cơ bản vẫn giữ lại toàn bộ CO' chế điều hành cũ, bởi quyềnlãnh đạo vẫn thuộc về nhà nước ,đế rồi những cá nhân được nhà nước trao choquyền quản lý tùy quyền quyết định mọi vấn đề mà ít quan tâm hay không cần
Trang 23quan tâm tới ý kiến của những cổ đông nhỏ lẻ Như vậy thì cổ phần hóakhông thay đối được bản chất doanh nghiệp , đó không khác gì một cách huyđộng vốn từ cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế cho DNNN sử dụng màthôi.Trường hợp này hầu như toàn bộ ban lãnh đạo cũ của doanh nghiệp vẫngiữ nguyên, cố phần hóa rồi nhưng cơ chế trông chờ, mệnh lệnh hành chính
đã hằn bao nhiêu năm có thay đối được thì cũng chỉ là tí chút Trong khi đó,chỗ dựa (là Nhà nước) không còn được như trước , nên nhiều công ty cố phầnhóa xong còn thua lỗ và yếu kém hơn trước Như vậy thì dù cố đông có năngđộng, có đặt mục tiêu cao bao nhiêu, tình hình doanh nghiệp vẫn không thế cóbước ngoặt quyết định
Trước đây ta đế cho doanh nghiệp tự' định giá, rồi sau đó là tạo ra hộiđồng định giá, cố nghĩ rằng với bản lĩnh chính trị người ta sẽ không mócngoặc tham nhũng, nhưng thực tế không được như vậy Ớ không ít doanhnghiệp người ta đã định giá không đúng và thấp hơn rất nhiều so với thực tế ,như vậy những cán bộ không trong sạch sẽ mua được nhiều cổ phần với giáthấp và hưởng lợi một cách bất chính , trong khi đó nhà nước thu về được ítvốn hơn gây thất thoát rất lớn Bên cạnh đó chúng ta vẫn qui định phải bán giá
ưu đãi cho người lao động, cho lãnh đạo doanh nghiệp một phần quá lớn, giá
đã thấp hơn thực tế rồi còn ưu đãi nữa thì nhà nước thu về lại càng ít nữa Việclàm đó hoàn toàn mang tính đạo đức ,việc đắt rẻ không phải trong phạm trùđạo đức mà nó là khái niệm của thị trường Chúng ta đang sống trong nềnkinh tế thị trường nên phải chấp nhận những quy luật của thị trường chứkhông nên theo ý muốn chủ quan Mong muốn cổ phần hóa không phải tưnhân hóa nên chúng ta dành một lượng đáng kế cố phiếu đế bán ưu đãi chocông nhân Đấy là việc tốt nhưng thực tế nó có đồng nghĩa với việc chuyến sởhữu nhà nước cho tập thế công nhân không, hay nó đang là cơ hội cho nhiều
kẻ tham ô, lũng đoạn? Thực tế nếu công nhân nắm được cổ phần thì đó chỉ là
Trang 24tỉ lệ cực nhở, không đáng kế Tiếng là 10-20% nhưng những công nhân lẻ loiliệu có thế đòi được quyền mua công bằng? Qua 1-2 năm, thậm chí chỉ vàitháng, chỉ còn rất ít người giữ được “quyền làm chủ” của mình qua việcchiếm giữ cố phiếu Hoặc là cố phiếu đó được bán tự do, hoặc chính nhữngngười lãnh đạo doanh nghiệp mua, mở đường cho cá nhân nào đấy, có thể làchính lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước sở hữu công ty.Cơ chế và cách quản lý
cố phần hóa như thế thì không thế không thất thoát Người ta có thế định giáthấp doanh nghiệp, thậm chí giấu tịt một khoản vốn tương đối mà không aibiết Vì vậy nên ngay cả những công ty nhỏ khi “lên sàn” giá cũng thườngtăng gấp nhiều lần là chuyện bình thường và tất nhiên được lợi là rất ít cánhân trong khi thiệt hại thuộc về nhà nước và người lao động doanh nghiệp đó
1.5 Nhũng vấn đề cần chú ý khi thực hiện cố phần hóa
Nội dung cốt lõi của đường lôi đốỉ mới của đảng và nhà nước ta là pháttriển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trườngđịnh hướng XHCN với mục tiêu làm cho đất nước giàu mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh Với cơ chế thông thoáng hơn đã thúc đấy sự ra đờicủa hàng trăm nghìn doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cố phần tư nhân, hàng trăm nghìn trang trại, củng cố kiện toàn và sự
ra đời của hàng chục nghìn họp tác xã bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước
Sự xuất hiện các thành phần kinh tế khác là phù hợp với điều kiện hoàn cảnhmới
Qua hơn 20 năm sau thời kì đối mới các thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh đã khắng định được vai trò to lớn của mình đối với nền kinh tế Đãxuất hiện những tập đoàn kinh tế với năng lực tài chính hùng mạnh , trình độquản lý cao, dây chuyền sản xuất hiện đại hơn hẳn các doanh nghiệp nhànước Trong khi đó các doanh nghiệp nhà nước thì phần lớn làm ăn thua lồ,
Trang 25kém năng động, khó lòng đảm đương được vai trò chủ đạo trong nền kinh tếquốc dân Đứng trước tình hình đó Chính phủ đã đây mạnh đối mới các doanhnghiệp nhà nước mà quan trong nhất là thúc đấy quá trình cổ phần hóa Đẩymạnh cổ phần hóa là một chiến lược đúng đắn cần phát huy ít nhất là trongthời điểm hiện tại Tuy nhiên, trong quá trình cổ phần hóa có một số vấn đềcần chú ý :
Thứ nhất: cố phần hóa nhưng việc định giá doanh nghiệp phải theo giáthị trường trên cơ sở đấu giá công khai, minh bạch để hình thành giá trị thịtrường của doanh nghiệp Tránh tình trạng bán tống, bán tháo làm thất thoáttài sản của Nhà nước, của toàn dân - thành quả của bao nhiêu năm xây dựng
và phát triến
Thứ hai: cố phần hóa đế đa dạng hóa sở hữu vốn tại doanh nghiệp, tránh
tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, để rồi hình thành các tỉ phú trên cơ sở tàisản của Nhà nước Đối với nước ta trước đây cần tránh tình trạng cổ phần hóanhư đã xảy ra đối với khách sạn Phú Gia mà tổng giá trị doanh nghiệp cònthấp hơn cả giá đất, chưa kế vị trí đắc địa hay thương hiệu của các doanhnghiệp này cần tránh tình trạng tư nhân hóa trong thời kỳ đầu của nước Nga
đế rồi mới chỉ sau mười lăm năm chuyển từ cơ chế phân phối bình quân sang
cơ chế thị trường mà tổng tài sản của các tỉ phú đã chiếm tới một phần tưGDP của cả nước
Thứ ba: cổ phần hóa để người lao động tại doanh nghiệp có vị thế mới làtrở thành cổ đông - chủ sở hữu một phần vốn của doanh nghiệp - có quyềntham gia vào việc quyết định đối với doanh nghiệp Việc dành một lượng cổphiếu un đãi cho người lao động trong doanh nghiệp là cần thiết và do đượcđịnh giá theo giá thị trường nên thị giá sẽ đủ lớn, cũng không có sự chênhlệch lớn về giá cả sẽ giảm bớt việc "bán lúa non", việc mua vét của một số cánhân, dẫn đến tình trạng người lao động trở thành trắng tay, hoàn toàn trở
Trang 26thành người làm thuê, còn một số cá nhân sẽ thâu tóm quyền lực của công tysau khi đã mua vét các cố phiếu của người lao động "bán lúa non".
Thứ tư: khắc phục tình trạng bình mới, rượu cũ, tức là doanh nghiệp đãchuyển sang công ty cổ phần, nhưng bộ máy nhân sự vẫn không được đổimới, vẫn những người kém năng lực lãnh đạo làm cho doanh nghiệp hoạtđộng không khác trước là mấy Vai trò làm chủ, quyền giám sát , bày tở ýkiến của các cố đông và người lao động bị hạn chế
Thứ năm: khắc phục tình trạng phân biệt đối xử của các ngành các cấpđối với những doanh nghiệp nhà nước sau cố phần hóa với những doanhnghiệp nhà nước chưa cổ phần hóa còn do các bộ/ngành chủ quản, tỉnh/thànhphố (thậm chí còn phân cấp cho sở/ngành) chủ quản theo kiếu con nuôi, con
đẻ Tình hình trên đòi hỏi cần khấn trương xóa bỏ cơ chế bộ/ngành chủ quản,tỉnh/thành phố chủ quản
Thứ sáu: tránh nóng vội ,CPH một cách không tính toán Neu ép cổphần hóa nhưng doanh nghiệp không đạt được mục tiêu, tài sản của Nhà nước
bị bán rẻ thì không nên ép, nhất là về mặt dư luận Neu có, chỉ có thế ép cácdoanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kèm theo đó là một sổ cơ chế như buộc người quản lý bãi nhiệmnếu doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả Neu làm được như vậy, người quản
lý sẽ phải tự’ tìm kiếm phương thức sản xuất kinh doanh hiệu quả mà mộttrong số đó là cố phần hóa
Thứ bảy: cổ phần hóa cũng phải đi kèm cải cách thị trường liên quan,cho phép người chủ sở hữu mới vận hành có lãi, đồng thời, đảm bảo lợi íchcông chúng được bảo vệ Ví dụ cố phần hóa ngành thép cần phải cho họ môitrường làm ăn thuận lợi như cho phép khai thác những mỏ quặng với giá rẻ ,thông thoáng hơn trong việc định giá thép trên thị trường ,tạo điều kiện kinhdoanh bình đẳng với các doanh nghiệp khác chưa CPH Tuy nhiên bên cạnh
Trang 27đó phải có những quy định bắt buộc đế không làm ảnh huởng xấu tới môitrường , tới người lao động
Để thúc đẩy quá trình CPH các DNNN chúng ta có thể thực hiện nhiềuchiến lược khác nhau Trong quá trình CPH chúng bắt gặp nhiều mâu thuẫnđối kháng nhau như mâu thuẫn trong chính doanh nghiệp, mâu thuẫn giữachính phủ và doanh nghiệp , giữa doanh nghiệp đã CPH với doanh nghiệpchưa CPH, giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh Lý thuyết tròchơi ( LTTC) là một lý thuyết nghiên cứu rất rộng lớn trong đó có nghiên cứucách giải quyết các mâu thuẫn giữa các chủ thể khác nhau , nhằm tìm ra mộtkết cục tốt nhất cho các bên Chúng ta sẽ sử dụng LTTC đế giải quyết các vấn
đề xảy ra trong quá trình CPH cũng như hậu CPH nhằm tìm cách thúc đâytiến trình CPH theo kế hoạch mà chính phủ đề ra
1.6 Lý thuyết trò choi (LTTC)
1.6.1 Định nghĩa
Lý thuyết trò chơi hay lý thuyết tương tác chiến lược là lý thuyết nghiêncứu các tình huống chiến lược trong đó mỗi người chơi tham gia sử dụnglogic lựa chọn các hành động khác nhau đế cố gắng đem về cho mình lợi íchtốt nhất
Tên gọi trò chơi cũng được bắt nguồn tù’ những trò chơi nhiều ngườitham gia như: cờ vua , cờ vây, nhưng sau đó được mô hình hóa lên để giảiquyết các vấn đề trong đời sống như : cạnh tranh hợp tác , đấu giá , mặc cả ,bầu cử , xung đột chiến trạnh
Trò chơi ở đây không phải dựa vào may rủi thuần túy mà đòi hỏi mỗingười chơi phải sử dụng đầu óc đế phân tích , suy xét dựa trên suy luận logic
Trang 28người phản ứng với các kích thích Tức là hành động của mỗi người chơikhông được lập trình bất biến tù' trước mà nó phụ thuộc vào các hành độngcủa những người chơi còn lại , quyết định có thể thay đổi khi các kích thíchthay đối Không có gì là bất biến !
Biểu diễn dạng chuẩn của một trò chơi n đấu thủ là chỉ rõ các không gianchiến lược Sl,S2,S3, Sn của các đấu thủ và các hàm thu hoạchul,u2,u3, un của họ ta kí hiệu trò chơi này là G={Sl, Sn ; ul, un}
1.6.2 Lịch sử ra đời
Mầm mong của LTTC xuất hiện từ rất lâu Nhúng thảo luận đầu tiênđược biết đến trong một lá thư của Jame waldegrave vào năm 1713 Trong đótác giả đã đưa ra một lời giải cho một chiến thuật hỗn họp cho một trò chơiđánh bài hai người chơi
Tuy nhiên nó chưa thực sự được mở rộng nghiên cứu Phải đến khi xuấthiện tác phẩm “ Nghiên cứu về những định luật toán học của lý thuyết tài sản”của Cournot vào năm 1838 thì những phân tích mở rộng về lý thuyết trò chơimới được phát triến Tuy nhiên đế tồn tại như một nghành khoa học thực sựthì phải đến năm 1928 khi John von Neumann xuất bản một loạt bài báo công
bố những công trình nghiên cứu dưới dạng toán học
Đen năm 1950 John Nash đã phát triển lý thuyết riêng của mình hướngtới việc lựa chọn các chiến thuật tối ưu cho các trò chơi có nhiều người chơi.Điểm tối ưu đó là cân băng Nash nổi tiếng Vào năm 1965 Selten giới thiệukhái niệm lời giải của các cân bằng lý tưởng của các trò chơi con và hoànthiện cân bằng Nash
Trong những năm 1970 LTTC được ứng dụng rộng rãi vào sinh học nhò'kết quả các công trình của Smith và chiến lược tiến hóa bền vững của ông
LTTC đã có quá trình phát triển lâu dài và ngày càng hoàn thiện đế giảinhiều vấn đề của đời sổng xã hội Nó đã trở thành công cụ đế nghiên cứunhiều lĩnh vực từ khoa học chuyên nghành như sinh học , chính trị học , tinhọc cho tới môn khoa học tổng quát là Triết học
LTTC cũng có thể giúp chúng ta tìm hiếu nghiên cứu động cơ của hành
vi , lý do quyết định hành vi của các nguời chơi khi tham gia vào trò chơi.Chang hạn như: vấn đề kí kết các văn kiện hợp tác tác trong quan hệ thươngmại , khó khăn trong cải cách các xí nghiệp quốc doanh , tại sao nạn thamnhũng lan tràn ở một số quốc gia
LTTC có vai trò to lớn trong đời sống , nắm bắt được LTTC sẽ giúpchúng ta giải quyết được nhiều vấn đề trong cuộc sống cũng như nâng caonhận thức của mỗi cá nhân .Bài viết này sẽ dùng LTTC giải thích cô phần hóa(CPH) là một xu thế tất yếu , cũng như chỉ ra một số ứng dụng của nó vàomột số vấn đề liên quan tới CPH
1.6.3 Biếu diễn trò choi
Dạng chuẩn tắc :
Mỗi trò chơi được biếu diễn dưới dạng một ma trận mà ma trận này cóthế biểu diễn sự có mặt của mỗi người chơi , của tập hợp các chiến lược màmỗi người chơi lựa chọn và kết quả tương ứng với mỗi người chơi khi sửdụng các chiến lược trong không gian chiến lược của mình Có hai cách biếudiễn trò chơi là ở dạng chuẩn tắc vào ở dạng mở rộng
Trang 29Cách biểu diễn này làm một ma trận cho biết thông tin về các đấu thủ ,chiến lược và kết quả
Ở ví dụ trên là trò chơi gồm hai đấu thủ A và B Mồi người đều có haichiến lược lần lượt là A1,A2 và Bl, B2 kết quả trò chơi được ghi ở các ô Chẳng hạn , nếu đấu thủ A chọn chiến lược AI và đấu thủ B chọn chiến lượcB2 thì kết quả là A nhận được 4 điếm còn B nhân được 6 điểm.Trò chơi biếudiễn dưới dạng chuân tắc là mỗi người chơi hành động một cách đồng thờihoặc hành động khi không biết về hành động của những người chơi khác
Dạng mở rộng :
Cách biểu diễn dạng này là một sơ đồ hình cây Mỗi đỉnh biểu diễn mộtđiếm mà mỗi người chơi có thế lựa chọn Tên người chơi ghi ở cạnh đỉnh ,các đoạn thắng đi ra tù’ đỉnh đó biếu diễn các hành động có thế của người chơi
đó Kết quả được ghi ở đáy cây
Ớ ví dụ trên là trò chơi gồm hai đấu thủ A và B Đấu thủ A có thể lựa chọn bachiến lược là 1,2,3 ứng với mồi chiến lược của A thì B có hai chiến lược
A
Trang 30Trong trò chơi dạng chuẩn n đấu thủ G={Sl, ,Sn ; ul, un} các chiếnluợc ( sl*, ,sn*) là một cân bằng Nash nếu đối với mỗi đấu thủ I, si* là mộtphản ứng tốt nhất của đấu thủ I trước các chiến lược đã cho đối với n-1 đấuthủ còn lại ( sl*, ,si-l*,si+l*, sn*) :
ui ( sl*, ,si-1 *,si*,si+l*, ,sn*)>=ui (sl*, ,si-1 *,si,si+1 *, sn*)với mọi chiến luợc khả thi si thuộc Si nghĩa là si* là nghiệm của bài toánmax ui ( sl *, ,si-l*,si,si+l *, ,sn*)
Bằng các công thức toán học ta có thể chứng minh rằng có thể tồn tại
ủng dụng :
Có thế nói cân bằng Nash là trạng thái tốt nhất mà tất cả mọi người chơiđều có phản ứng tối ưu trước một hoàn cảnh nhất định và ai cũng thỏa mãn.Trong một trò chơi có thể có nhiều cân bằng Nash Cân bằng Nash thườngđược dùng đế phân tích dự đoán diễn biến cũng như kết cục của mỗi cuộcchơi bởi đó là trạng thái có xác suất xảy ra cao nhất do bất cứ người chơi sángsuốt nào cũng hướng tới Tuy nhiên cân bằng Nash chỉ đúng khi những giảthiết của trạng thái đó xảy ra Trên thực tế không phải lúc nào trò chơi cũng ởtrạng thái cân bằng Nash vì mỗi người chơi có thế hành động không khônngoan Tuy có một số hạn chế nhưng cân bằng Nash vẫn được sử dụng rộngrãi đế giải thích rất nhiều các vấn đề của đời sống