Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủnghĩa, trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng, là đại biểu tập trung cho trí tuệ dântộc, họ tham gia trực tiếp và
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: TRÍ THỨC VÀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM 7
1.1 TRÍ THỨC VỚI SựPHÁT TRIEN CỦA XÃ HỘI 7
1.1.1 Trí thức là gì? 7
1.1.2 V ai trò của trí thức với sự phát triển của xã hội 11
1.2 THỰC TRẠNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM 16
1.2.1 Về số lượng: 16
1.2.2 Về chất lượng 18
1.2.3 Về cơ cấu: 20
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC 24
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM VÀ NHŨNG YÊU CẦư ĐẶT RA CHO ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC 24
2.1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là một tất yếu lịch sử 24
2.1.2 Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với kinh tế tri thức 30
2.2 ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM LÀ MỘT TRONG NHŨNG NHÂN Tố Cơ BẢN CHO VIỆC THỰC HIỆN THÀNH CÔNG sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ DAT NƯỚC 37
2.2.1 Đội ngũ trí thức Việt Nam góp phần quan trọng trong xây dựng luận cứ khoa học cho dượng lối chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá 40
2.2.2 Đội ngũ trí thức Việt Nam tích cực tham gia vào việc tiếp cận và truyền bá tri thức khoa học, đường lối chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá 40
2.2.3 Đội ngũ trí thức với việc nâng cao dân trí 41
2.2.4 Đội ngũ trí thức Việt kiều với sự phát triển của đất nước 47
2.2.5 Đội ngũ trí thức với sự lãnh đạo của Đảng 48
Trang 2CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP cơ BẲN NHAM51 PHÁT HUY VAI TRÒ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 51
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ XÂY DỤNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC: 513.1.1 Đầu tư cho việc xây dựng đội ngũ trí thức là một trong những hướng
chính của đầu tư phát triển, cần được ưu tiên: 513.1.2 Trên cơ sở nâng cao mặt bằng dân trí, xây dựng đội ngũ trí thức đôngđảo về số lượng, phát triển về chất lượng: 523.1.3 Xây dựng đội ngũ trí thức phát triển ngang tầm với yêu cầu của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức là đòi hỏi khách quan cấp
bách, là nhiệm vụ của toàn xã hội, của bản thân người trí thức 533.2 GIẢI PHÁP: 563.2.1 Phát huy trí tuệ và năng lực, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọngdụng nhân tài: 563.2.2 Sử dụng và đãi ngộ đội ngũ trí thức tương xứng vổi cống hiến của họ: 58
3.2.3 Tự thân trí thức phải phấn đấu ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới: 603.2.4 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng gắn với tăng cường hiệu lực quản lý củaNhà nước đối với đội ngũ tri thức: 61
KẾT LUẬN 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt nam (tháng 4năm 2006) đã tổng kết toàn diện 20 năm đổi mới đất nước (1986-2006) và khẳngđịnh đường lối tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triểnkinh tế tri thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ vănminh
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra rất nhanh chóng, có tácđộng mạnh mẽ và toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Sự phát triển củacuộc cách mạng này đã tạo ra vận hội lớn cho tất cả các dân tộc vươn lên, đồngthời cũng đặt ra những thách thức cho mỗi nước trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế và
xã hội Và để sớm đưa nước Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, tiến tớihội nhập thành công trong bối cảnh toàn cầu hóa và kỉ nguyên công nghệ thôngtin; chúng ta cần phải tranh thủ mọi thời cơ, phát huy nội lực phấn đấu đạt mụctiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại Việc xây dựng đội ngũ tri thức sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển khoahọc và công nghệ, tạo nguồn lực nội sinh, nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủnghĩa, trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng, là đại biểu tập trung cho trí tuệ dântộc, họ tham gia trực tiếp và chủ yếu vòa nâng cao dân trí, đồng thời là lực lượngnòng cốt trong nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ,góp phần tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thức trong đấutranh giải phóng dân tộc cũng như trong hòa bình xây dựng đất nước Tuy nhiên,không phải mọi cấp, mọi người dân hay tất cả đội ngũ trí thức đều nhận thức được
Trang 4đầy đủ và sâu sắc vai trò của mình trong công cuộc đổi mới hiện nay Đây là mộtvấn đề cụ thể thuộc chính sách lớn của Đảng về phát huy nguồn lực con ngườitrong thời kỳ mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế.
Vì vậy để làm rõ hơn vai trò của đội ngũ trí thức là một nhân tố cơ bảntrong việc thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, em xin
chọn đề tài “Đội ngũ trí thức Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hoáy hiện đại
hóa đất nước” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu.
Tầm quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hóa đất nước đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, lý luận,các học giả ở nước ta
Đã có những bài viết, luận án đáng lưu ý như sau:
- Đỗ Mười - Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi với và xây dựng đấtnước Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995
- Nguyễn Thanh Tuấn: Đặc điểm và vai trò của đội ngũ trí thức trong sựnghiệp đổi mới đất nước, Luận án PTS triết học, Hà Nội, 1995
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tầng lớp trí thức Những định hướngchính sách Chủ nhiệm Phạm Tất Dong, 1999
- Dự báo nguồn nhân lực trẻ đáp ứng cho yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đạihóa TP Hồ Chí Minh đến năm 2015 Chủ nhiệm đề tài PTS Nguyễn Thành Phong
Cơ quan chủ trỡ Trung Tõm Phỏt Triển Khoa Học Và Cụng Nghệ Trẻ Thỏng7/1999
- Đảng với việc phát huy vai trò đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tác giả Vũ Tuyên Hoàng, 2000
Trang 5- Ngô Đình Xây: Những yêu cầu đối với trí thức trong sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hóa Tạp chí Cộng sản số 27-2002.
3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận.
+ Mục đích: Sáng tỏ thêm vấn đề đội ngũ trí thức là một nhân tố cơ bảntrong thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, Đưa ra một sốphương hướng giải pháp đế trí thưc Việt Nam thực hiện tốt vai trò của mình
+ Nhiệm vụ:
-Làm rõ khái niệm trí thức
-Khái quát đặc điểm và xu hướng biến đổi của trí thức Việt Nam
-Làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hóa đất nước
-Đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của tri thức Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
+ Khoá luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Khóa luận đã sử dụng và tham khảo số sách, báo, bài viết, luận án về vấn
đề trí thức
+ Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của khóa luận là: phân tích tổng hợp,quy nạp và diễn dịch, đi từ trừu tượng đến cụ thể
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
- Góp phần nhỏ vào nghiên cứu trí thức, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam
Trang 6- Từ những điểm rút ra trong khóa luận , có thể góp phần nhận thức một cách
rõ nét hơn vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihóa đất nước
6 Kết cấu:
Khóa luận gồm ba phần:
+Phần 1:MỞ đầu
+PHẦN 2:NỘI DƯNG: GồM 3 CHƯƠNG
- Chương 1: Trí thức và đội ngũ trí thức việt nam
- Chương 2: Vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hóa
-Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò đội ngũtrí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn cùng với các thầy cô đãgiúp đỡ em thực hiện thành công bản khoá luận này
Tuy đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi còn có sai sót, em mongtiếp tục nhận được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Trang 7TRÍ THỨC VÀ ĐỘI NGỦ TRÍ THỨC VIỆT NAM
1.1 TRÍ THỨC VỚI Sự PHÁT TRIEN CỦA XÃ HỘI
b) Có tính chất trí tuệ, nghĩa là lao động trí óc sáng tạo
Để làm sáng tỏ quan điểm Mác-xít về vấn đề trí thức, chúng ta cần tìm hiểumột số quan niệm hiện nay ở nước ta về vấn đề này
Thứ nhất’ Một quan niệm phổ biến hiện nay trong xã hội cho rằng: Trí thức
Sự khác biệt giữa những người lao động trí óc như trí thức và viên chức ở chỗviên chức hoạt động trong lĩnh vực hành chính - pháp lý Đội ngũ viên chức phục
Trang 8vụ việc vận hành thông suốt và thống nhất bộ máy hành chính Và do lao động của
họ không phải là lao động trí óc phức tạp nên không bắt buộc họ phải nâng caotrình độ, mặc dù xu hướng nâng cao trình độ học vấn ngày càng trở nên cần thiếttrong xã hội hiện đại
Còn trí thức là những người hoạt động sáng tạo những giá trị tinh thần (và cảvật chất) cho xã hội Do loại hình lao động trí óc phức tạp này mà bắt buộc họ phải
có trình độ học vấn cần thiết, ngày càng chuyên sâu Như vậy điều quan trọng đểphân biệt trí thức và viên chức là nội dung bản chất của lao động trí óc, là hàmlượng trí tuệ bên trong chứ không phải là những biểu hiện bên ngoài của lao độngtrí óc Cho nên về mặt lý luận lẫn thực tiễn khái niệm trí thức không đồng nhất vớilao động trí óc Chính vì thế V.I Lênin đã coi trí thức là “ đại biểu cho lao động tríóc” [17,372] chứ không phải gồm tất cả những người lao động trí óc
Thứ hai: Một quan niệm cũng khá phổ biến cho rằng cứ có trình độ đại học
trở lên thì được coi là trí thức Nhưng thực tế cho thấy không chỉ trong đội ngũ tríthức mà cả trong các giai cấp tầng lóp xã hội khác cũng có nhiều người có trình độhọc vấn đó Như vậy trình độ học vấn không phải là một tiêu chuẩn quyết định bảnchất đặc thù của đội ngũ trí thức
Thứ ba: Nếu như sự đồng nhất giữa trí thức và lao động trí óc là quá rộng và
thiên về hình thức lao động thì cũng phải kể đến một cực đối lập khác cho rằng, chỉnhững người có sức sáng tạo và có cống hiến cho xã hội mới là trí thức, ỏ đây doquá nhấn mạnh đến khía cạnh trí tuệ nên trong thực tế người ta không biết xếpnhững người mà ở các mức độ khác nhau hiện đang làm công tác sản xuất, truyền
bá, ứng dụng tri thức trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, kinh tế vàotầng lóp xã hội nào
Thứ tư: Một quan niệm mới được đề cập đến trong những năm gần đây coi
đội ngũ trí thức là một bộ phận của giai cấp công nhân Cơ sở để quan niệm này rađời là cho rằng thành phần xuất thân của dodọi ngũ trí thức hiện nay chủ yếu từ
Trang 9giai cấp công nhân và nông dân.
Trong tất cả các chế độ xã hội, trí thức đều cơ bản phục vụ cho giai cấpthống trị, chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị Theo V.I.Lênin “Trí thứckhông hợp thành một giai cấp độc lập về kinh tế mà là một tầng lóp xã hội xuấtthân từ nhiều giai cấp” và “Trí thức phản ánh và thể hiện sự phát triển của các lợiích giai cấp và các nhóm phản chính trị trong toàn bộ xã hội một cách có ý thứchơn cả, kiên quyết hơn cả, chính xác hơn cả” [16, 416]
Sự khác nhau cơ bản giữa công nhân và trí trí thức là ở chỗ trí thức sản xuấttruyền bá các tri thức khoa học, là chủ thể của tri thức đó Và hoạt động chủ yếu ởkhu vực sản xuất phi vật chất Trong khi đó công nhân không sản sinh ra tri thứckhoa học, không phải là chủ sở hữu của tri thức đó và hoạt động chủ yêú ở lĩnh vựcsản xuất vật chất
Như vậy khi phân tích các khái niệm về trí thức ở nước ta, chúng ta cần phảivận dụng định nghĩa của V.I Lênin về giai cấp để tiếp cận đúng đắn phạm trù tríthức V.I.Lênin “gọi là các giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khácnhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử,khác nhau về quan hệ của họ đối với nhũng tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong
tổ chức lao động xã hội Và như vậy là khác nhau về cách hưởng thụ và về phầncủa cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng” [18,18]
Ớ đây đặc biệt phải chú ý đến tiêu chuẩn đầu tiên là vị trí của mỗi giai cấp,tầng lớp xã hội trong hệ thống sản xuất xã hội Các biểu hiện như mối quan hệ đốivới tư liệu sản xuất, vai trò trong tổ chức lao động xã hội và cách thức hưởng thụđều là tiền đề quy định vị trí của các giai cấp hay tầng lóp trong xã hội
Vai trò của trí thức là sản xuất, truyền bá ứng dụng tri thức khoa học (chứkhông phải là tri thức kinh nghiệm hay tri thức thông thường) Từ bản chất xã hộiđặc thù này mà trí thức luôn tồn tại và phát triển như một tầng lóp xã hội độc lập
Trang 10tương đối trong một chế độ xã hội.
Như vậy qua những điều rút ra từ các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu vềphạm trù tri thức là:
1 Vị trí sản xuất, truyền bá ứng dụng tri thức khoa học (chứ không phải trithức kinh nghiệm hay tri thức thường ngày) trong hệ thống sản xuất xã hội
2 Do khoa học - công nghệ trở thành một yếu tố độc lập và xuất hiện ở tất cảcác thành phần khác nhau của lực lượng sản xuất xã hội và do hàm lượng trí tuệtrong sản phẩm hàng hóa và trong công tác lãnh đạo, quản lý ngày càng cao chonên trí thức có quan hệ gián tiếp và cả trực tiếp đối với tư liệu sản xuất
3 Quá trình xích lại gần nhau và phân hóa xã hội trong nền kinh tế thịtrường cũng sẽ không dẫn đến chỗ đồng nhất xã hội thành một bên là nhũng ngườilao động trí óc, một bên là những người lao động chân tay Quá trình này sẽ càngngày càng làm đa dạng hóa cơ cấu xã hội trong đó có đội ngũ trí thức Tính đặc thùcủa đội ngũ trí thức là ở chỗ các nhóm xã hội của nó gắn bó khăng khít với các giaicấp và tầng lóp xã hội khác Bởi vì ở mọi lĩnh vực sản xuất đều có hoạt động truyền
bá, ứng dụng tri thức khoa học
4 Đội ngũ trí thức có 6 chức năng xã hội là: nhận thức khoa học (lý luận),
dự báo khoa học; ứng dụng tri thức khoa học và triển khai công nghệ vào thực tiễn;giáo dục và đào tạo; chăm sóc y tế, chấn hưng văn hóa, tạo lập cơ sở lý luận và giảipháp công nghệ cho công tác lãnh đạo và quản lý
Nếu hoạt động trong lĩnh vực đòi hỏi trình độ cao đẳng hay đại học thì đókhông phải là đặc trưng duy nhất của tầng lớp này vì trong các giai cấp và tầng lớp
xã hội khác cũng có nhiều người có trình độ học vấn đó Đặc trưng quyết định nhấtcủa tầng lóp trí thức là sáng tạo khoa học và nghệ thuật trên cơ sở quan niệmriêng Trong quá trình lao động họ phải chủ quan hóa khách quan và khách quanhóa chủ quan để tạo ra sự chuyển hóa tri thức khoa học từ lượng thành chất và
Trang 11ngược lại nhằm khám phá, nhận thức ngày càng rộng và sâu hơn các quy luật tựnhiên, xã hội và bản thân con người Do không phải tất cả lao động đều nắm đượckiến thức chuyên môn một cách có hệ thống, nhất là ở các chuyên ngành khoa họchiện đại, cũng như không phải ai cũng nắm được đặc trưng cơ bản của phươngpháp nghiên cứu khoa học, sáng tạo văn chương, nghệ thuật cho nên trí thức là mộttầng lớp xã hội cần thiết cho mọi chế độ xã hội và độc lập tương đối trong mọi thờiđại.
Như vậy có thể hiểu, trí thức là một tầng lóp xã hội đặc thù, độc lập tươngđối, chuyên làm các nghề lao động trí óc phức tạp giàu tính sáng tạo và có học vấnchuyên môn cần thiết cho lĩnh vực hoạt động nào đó Từ đây chúng ta có thể đưa rađịnh nghĩa về trí thức” Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, chuyên lao động trí
óc phức tạp có trình độ học vấn và chuyên môn sâu, đại diện cho đỉnh cao trí tuệđương thời mà xã hội đạt được Trí thức là những người sáng tạo, phổ biến và ứngdụng trí thức vào đời sống xã hội, thúc đẩy nhanh sự phát triển xã hội và tiến bộ xãhội”
1.1.2 Vai trò của trí thức với sư phát triển của xã hôi
Tri thức,một mặt là một kết quả của tiến bộ xã hội, mặt khác, sự phát triểncủa trí thức đã góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, góp phần giải phóng con ngườikhỏi sự chi phối của những lực lượng tự phát trong tự nhiên và trong xã hội Điềukiện đầu tiên và cũng là tiền đề quan trọng đối với sự xuất hiện của tầng lớp tríthức là sản phẩm của sự phân công lao động trong xã hội do nhu cầu xã hội quyếtđịnh Trong tất cả các xã hội có đối kháng giai cấp, không kể một số phần tử tríthức gắn bó mật thiết với tầng lớp thống trị phản động và bảo thủ, nhìn chung, hoạtđộng của tầng lớp trí thức luôn luôn góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp thông qua 6 chức năng xã hội sau:
1 Sản xuất những tri thức khoa học, trong đó phải kể đến nhũng tư tưởng
Trang 12càng đúng hơn các quy luật tự nhiên, xã hội, tu duy và chính con người như mộtnhân cách.
2 Dự báo khoa học
3 Hoạt động ứng dụng tri thức khoa học nhằm biến khoa học thành lựclượng sản xuất trực tiếp trong quá trình phát triển không ngừng của lực lượng sảnxuất xã hội
4 Hoạt động giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng trí lực, chăm sóc và bồi dưỡngthể lực cho nhân dân
5 Kế thừa, tích lũy và phát triển các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật
V.V của dân tộc và nhân loại để ngày càng nâng cao đời sống tinh thần cho nhândân
6 Góp phần vào sự lãnh đạo quản lý xã hội, kinh tế bằng tri thức khoa học
và công nghệ.[1,35-36]
Trong lịch sử nhân loại, rõ ràng tri thức khoa học do những người trí thức sảnxuất cùng với kho tàng rộng lớn những tri thức kinh nghiệm, tri thức thường ngàycủa các tầng lớp nhân dân lao động khác nhau đã được vật chất hóa thành nhũngcông cụ sản xuất, và công nghệ sản xuất ngày càng hiện đại cùng những công trìnhkiến trúc và cơ sở hạ tầng để con người tác động và cải tạo thế giới tự nhiên Nhờ
đó, lực lượng sản xuất phát triển hơn, năng suất lao động cao hơn, sự phân công laođộng xã hội sâu sắc hơn Kết hợp tất yếu của sự phát triển ấy là sự chuyển biến của
xã hội lên một trình độ cao hơn Song, vai trò của tri thức đối với tiến bộ xã hộikhông chỉ thể hiện trong lĩnh vực sáng tạo ra của cải vật chất, mà còn cả trong lĩnhvực đời sống tinh thần Mặc dù trong các xã hội có áp bức, bóc lột, giai cấp thốngtrị thường lợi dụng khoa học, nghệ thuật để áp bức nhân dân về mặt tinh thần,
Trang 13nhưng cũng không cản được sự phát triển của khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dụctheo hướng dân chủ và nhân đạo Nghĩa là chúng góp phần tích cực vào việc xuatan bức màn tăm tối về trí tuệ, khắc phục tình trạng dốt nát và bệnh tật Văn hóa,khoa học và nghệ thuật thông qua những phương tiện thông tin đại chúng ngàycàng hiện đại đã giúp con người mở mang trí tuệ, giao lưu văn hóa và hấp thụnhững tinh hoa của nền văn minh nhân loại Tri thức khoa học và nghệ thuật mangnội dung tiến bộ, tình cảm cao đẹp đã góp phần làm cho đời sống tinh thần củanhân dân ngày càng thêm phong phú, trong sáng Những tư tưởng nhân văn, tiến bộkhông phải là kết quả tư duy tư biện của các trí thức tiên tiến, mà là sự phản ánhkhách quan đời sống xã hội hiện thực Chúng tạo ra cơ sở nhận thức mới, nhữngquan điểm mới trong quá trình cải tạo và phát triển không ngừng thế giới tự nhiên,
xã hội và cả bản thân con người Tất cả những cái đó khẳng định vai trò to lớn củatrí thức, các đại biểu sáng tạo của loài người đối với tiến bộ xã hội
Đương nhiên, trong sự tiến bộ của xã hội không phải lúc nào trí thức cũngthực hiện được đầy đủ các chức năng xã hội của mình Tầng lớp trí thức thường bịphân hóa và không thể không phụ thuộc vào giai cấp thống trị ở mức độ này haymức độ khác Trong những trường hợp ấy, giai cấp thống trị phản động và bảo thủthường lợi dụng một bộ phận trí thức cùng tri thức khoa học, nghệ thuật kìm hãm
và chống lại sự tiến bộ của xã hội ở đây, bản thân sự thoái bộ chứa đựng khả năngthúc đẩy sự tiến bộ và tồn tại như một sự quá độ, một bước lùi tạm thời hay mộtmặt đối lập của sự tiến bộ xã hội Như vậy, tiến bộ xã hội là quá trình phức tạp đầymâu thuẫn Sự tiến bộ xã hội không theo đường thẳng mà là qua đấu tranh của cácmặt đối lập, đấu tranh của các khuynh hướng khác nhau, trong đó mặt tiến bộ nàytrải qua quá trình lịch sử lại trở thành thoái bộ, làm tiền đề cho một xu hướng tiến
bộ mới ra đời và phát triển
Với quan niệm như vậy về tiến bộ xã hội, thì động lực đấu tranh giai cấp và
sự lôi kéo tầng lớp trí thức về chiến tuyến này hoặc chiến tuyến kia chỉ là biểu hiện
về mặt xã hội của mâu thuẫn giữa hai mặt: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
Trang 14giữa khoa học, nghệ thuật với chính trị, giữa văn hóa và phản văn hóa, V.V c Mác
đã từng lưu ý không nên hiểu khái niệm tiến bộ xã hội với một sự trừu tượng hóatầm thường Do đó, lý giải vai trò của trí thức đối với tiến bộ xã hội phải được quanniệm như một quy luật khách quan xuất phát từ tồn tại xã hội, từ sự mâu thuẫn giữacác mặt đối lập của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế, chính trị,khoa học, tôn giáo, V.V Chỉ có như vậy mới không có cái nhìn phiến diện về tríthức nói chung
Từ những phân tích đó cho thấy rằng, sự phát triển của đội ngũ trí thức hômnay là một kết quả thành công rất co bản của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởixướng và lãnh đạo Và đồng thời sự phát triển của đội ngũ trú thức đã góp phầnquan trọng vào những thành tựu bước đầu của đổi mới Trong đổi mới vai trò củađội ngũ trí thức thể hiện trên 3 khía cạnh sau:
Thứ nhất, tri thức khoa học và công nghệ do đội ngũ trí thức sản xuất cùng
với kho tàng rộng lớn những tri thức kinh nghiệm và cả tri thức thường ngày củacác tầng lóp nhân dân lao động đã được vật chất hóa thành những công cụ sản xuất
và công nghệ sản xuất ngày càng hiện đại Và cùng với chứng là những công trìnhkiến trúc và cơ sở hạ tầng để con người với trình độ học vấn và văn hóa ngày càngcao tác động và cải tạo thế giới tự nhiên Nhờ đó lực lượng sản xuất phát triển hơn,năng suất lao động cao hơn, sự phân công lao động xã hội sâu sắc hơn Và kết quảtất yếu của sự phát triển ấy là sự chuyển biến của xã hội lên một trình độ cao hơn
Thứ hai, vai trò của đội ngũ trí thức tất nhiên không chỉ thể hiện trong lĩnh
vực sáng tạo ra của cải vật chất, mà cả trong lĩnh vực đời sống tinh thần Côngcuộc đổi mới đang diễn ra nhanh chóng, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế và vănhóa không ngừng phát triển theo hướng dân chủ và nhân đạo Nghĩa là giờ đâythông qua việc đổi mới cơ chế quản lý, từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, và thông qua mở cửa, giao lưu với tất cả các nướctrên thế giới, V.V các lĩnh vực trên đã thực sự thâm nhập vào đời sống thực tiễn,
Trang 15khắc phục tình trạng nghèo nàn về trí tuệ, và văn hóa, nhất là ở nông thôn, miềnnúi Khoa học, công nghệ, giáo dục, nghệ thuật, văn hóa thông qua các phươngtiện thông tin đại chúng ngày càng hiện đại đã giúp nhân dân lao động ở mọi thànhphần kinh tế mở mang tri thức, giao lưu văn hóa, hấp thụ những tinh hoa văn hóanhân loại Nội dung tiến bộ và tình cảm cao đẹp theo tinh thần Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của những thông tin này đã góp phần làm cho đờisống tinh thần của nhân dân ngày càng phong phú và trong sáng.
Thứ ha, sự tiến bộ của đời sống vật chất và tinh thần phản ánh những bước
tiến về nhận thức và tình cảm của các tầng lớp nhân dân trong quá trình cải tạo vàphát triển không ngừng thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người Tất
cả những cái đó góp phần phát huy nội lực của cả dân tộc trong sự nghiệp xâydựng đất nước giàu mạnh và tự chủ tham gia quá trình toàn cầu hóa
Như thế là vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình giải phóng con người
và giải phóng xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảngkhông tách rời với vai trò của họ trong lĩnh vực sản xuất và vật chất và lĩnh vực đờisống tinh thần - văn hóa
Chính trong quá trình đổi mới của đất nước, cụ thể là trong xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, tầng lớp trí thức mới có nhiều khả năng để thực hiện đầy
đủ các chức năng xã hội của mình
Tuy nhiên,trong điều kiện kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập không phải
là không có những vấn đề kinh tế, chính trị, tư tưởng cản trở và gây nhiễu đối vớiviệc thực hiện chức năng xã hội của đội ngũ trí thức Chẳng hạn, trong âm mưu
“diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với công cuộc đổi mới của đấtnước ta, và trong điều kiện mở cửa, các phương tiện thông tin đại chúng củaphương Tây có lúc, có nơi gây ra sự dao động về tư tưởng, gây mất niềm tin ở một
bộ phận trí thức nhất định Hoặc trong điều kiện cạnh tranh lợi nhuận của cơ chế
Trang 16thị trường, nhiều khi do lợi ích kinh tế trước mắt nên một bộ phận trí thức khó cóthể hoặc không thể thực hiện được đầy đủ chức năng xã hội của mình.
Có thể một bộ phận nhỏ trí thức nào đó cũng bị ảnh hưởng mặt trái của mỏcửa và kinh tế thị trường, và do đó không tránh khỏi có những biểu hiện tiêu cực,như chuyển giao chất xám rởm cho sản xuất, cho giáo dục và đào tạo, gian lậntrong nghiên cứu khoa học, v.v
Tất cả những biến thái phức tạp đó đã và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thựchiện và nêu cao vao trò xã hội của đội ngũ trí thức Trong sự nghiệp đổi mới đấtnước, bản thân đội ngũ trí thức cũng đang đổi mới để từng bước trở thành”nhữngngười lao động xã hội chủ nghĩa” Cho nên cần phải khẳng định lại để kết luậnrằng, chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, được tuyên truyền và giác ngộ thế giới quanduy vật biện chứng mác xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, cũngnhư liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, con người tríthức nói riêng và đội ngũ trí thức nói chung mới thể hiện hết được vai trò xã hộicủa mình trên suốt chặng đường cách mạng trường kỳ và vẻ vang của dân tộc, nhất
là hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dângiàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2 THỰC TRẠNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM
1.2.1 Về sỏ lương:
Nguồn đào tạo trí thức nước ta hiện nay rất đa dạng, phong phú: phần lớn tríthức nước ta được đào tạo từ các trường cao đẳng, đại học trong nước theo nhiềuloại hình khác nhau (quốc lập, dân lập, bán công, đại học mở, đại học tại chức ).Ngoài ra, còn một bộ phận trí thức được đào tạo từ nước ngoài Bộ phận này có xuhướng ngày càng tăng lên do đường lối mở cửa của Đảng và Nhà nước ta Cùng với
sự phát triển của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, trí thức nước ta ngàycàng tăng lên về số lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Trang 17Theo báo Nhân dân ngày 12/12/1996, thì nước ta có khoảng 800 nghìn người
có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, trong đó gần 10 nghìn người là thạc sĩ, tiến sĩ
và tiến sĩ khoa học, chiếm khoảng 1,2% số người có trình độ đại học, cao đẳng.Con số này là một sự phát triển đáng kể, nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hóa và so với một số nước khác, thì còn thấp Hiện nay cứ
1 nghìn người dân nước ta mới có 11 người có trình độ cao đẳng, đại học, trong khi
đó ở các nước trong khu vực như: Philippin là 37, Singapo là 16, còn như Nhật Bản
là 71/1000
Đến hết năm 2003,nước ta có đội ngũ 800 giáo sư, 3000 phó giáo sư, 11.127tiến sĩ và 10 nghìn thạc sĩ, 1 triệu cán bộ tốt nghiệp đại học.Có hàng nghìn nhàkhoa học Việt Nam làm việc tại các trường đại học, các viện nghiên cứu, các trungtâm khoa học lớn trên thế giới.Vì vậy, mặc dù chỉ số GDP tính theo đầu người củaViệt Nam còn vào hàng thấp nhất thế giới, nhưng do có trình độ phát triển giáo dụctương đối cao, nên Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đã xếp ViệtNam là nước có chỉ số phát triển con người đứng thứ 101 trong 165 nước trên thếgiới được xếp hạng (11,63)
Đến năm 2004, chúng ta có hơn 10 ngàn giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩchiếm 2,3% lực lượng lao động xã hội Trong số đó, lĩnh vực khoa học - kỹ thuậtchiếm 15,4%, nhưng 67,5% cán bộ khoa học - kỹ thuật lại làm việc ở lĩnh vực phivật chất, chỉ có 32,7% là sản xuất kinh doanh Theo dự báo của Bộ Giáo dục vàĐào tạo, để có mức tăng trưởng 9 - 10% GDP, thì tốc độ gia tăng nguồn nhân lựckhoa học - kỹ thuật phải đạt 4 - 5%/năm, song thực tế đào tạo chỉ đạt 2 - 3%/năm.(12,45)
Trang 18Nguồn: Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Giáo dục Đào tạo)
Về bồi dưỡng nhân tài.hệ thống trường chuyên đã bồi dưỡng cho nhiều họcsinh tham dự nhiều kỳ học sinh giỏi quốc tế Số huy chương trong các kỳ thiOlympic do học sinh Việt Nam đoạt được ngày càng nhiều.Trong mấy năm qua, đã
có trên dưới 1.000 học sinh năng khiếu được đào tạo, bồi dưỡng thành thạc sỹ hoặctiến sỹ.Đây là lực lượng trí thức được đào tạo chuyên sâu, làm cơ sở cho việc xuấthiện nhiều nhân tài trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ cũng như lĩnh vựckinh tế
Gần đây, Đại học quốc gia Hà Nội đã mở “lóp đào tạo cử nhân khoa học tàinăng” với những ưu tiên về tuyển chọn sinh viên giỏi, về chế độ học bổng, về cán
Trang 19bộ giảng dạy để đào tạo nhân tài khoa học.(2,102)
Tuy nhiên, trí thức nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.Cho đến nay,trong đội ngũ trí thức nước ta có rất nhiều gương mặt điển hình, có nhiều đóng gópquan trọng cho đất nước Song nhìn tổng thể, thì trình độ chuyên môn và học vấncủa trí thức nước ta cũng còn nhiều hạn chế.Có thể nói đa số trí thức nước ta ngàynay được đào tạo theo cơ chế , bao cấp, phục vụ cho nền kinh tế kế hoạch hoá tậptrung, nên trình độ chuyên môn rất hẹp, thiếu trình độ kiến thức chung Trình độngoại ngữ và tin học của trí thức còn hạn chế, không đáp ứng yêu cầu mở rộng giaolưu và hợp tác quốc tế.Trí thức nước ta chưa có nhiều cơ hội và điều kiện tiếp cậnvới những thành tựu mới của các nước phát triển, nên thiếu kiến thức sâu ở nhiềulĩnh vực khoa học và công nghệ hiện đại
Chúng ta đang thiếu những người có chuyên môn và học vấn cao, đặc biệtchuyên gia về công nghệ, đội ngũ trí thức nước ta chí có 1,2% người có trình độsau đại học (trong khi đó ở nhiều nước phát triển tỷ lệ này là 25 đến 30%) Điềunày gây khó khăn lớn đối với việc thực hiện nhiệm vụ của trí thức trong giai đoạncách mạng mới Nhiều trí thức và các cơ quan khoa học đã nhanh chóng thích ứngđược với bước chuyển đổi của đất nước sang một nền sản xuất hàng hoá theo cơchế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như sự nghiệp đổi mới nói chung,nhưng vẫn còn một số chưa thoát khỏi được ỷ lại, vẫn thiếu năng động, chậm đổimới về tổ chức,., mặt trái của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng đến một bộ phận tríthức, đưa đến các biểu hiện tiêu cực, thực dụng tiếp tay cho các hiện tượng sảnxuất phi pháp (làm hàng giả, trốn thuế, cạnh tranh thiếu lành mạnh ), lãng phí và
cả tham nhũng
Ở nước ta hiện nay, hiện tượng “lãng phí chất xám” diễn ra khá nghiêmtrọng, nó được thể hiện qua nhiều hiện tượng trí thức bỏ nghề, làm trái ngành nghềđược đào tạo, không có đủ hoặc không đủ việc làm, sinh viên ra trường không cóviệc làm Sự lãng phí này không chỉ là lãng phí trong đào tạo một người trí thức mà
Trang 20còn là lãng phí trình độ học vấn, chuyên môn, kinh nghiệm đã tích lũy trong côngtác Sự lãng phí chất xám còn thể hiện ở sử dụng sản phẩm trí tuệ Nhiều đề tàinghiên cứu không thành công đã gây thiệt hại rất lớn cho Nhà nước Nhiều côngtrình không được đánh giá đúng mức, hoặc chậm đưa vào ứng dụng gây ra lãng phíchất xám vừa không kích thích tích cực cho trí thức.
Hiện tượng “chảy máu chất xám” cũng rất đáng lo ngại, đó là hiện tượngchuyển dịch địa điểm lao động của trí thức, thay đổi vị trí đầu tư chất xám mộtcách tự phát gây cản trở cho sự phát triển và kế hoạch chung của toàn bộ xã hội ởViệt Nam hiện tượng chảy máu chất xám diễn ra 0 khu vực kinh tế quốc doanhđến tổ chức sản xuất tư nhân từ các trường đại học, cao đẳng đến các đơn vị kinh tế
tư nhân, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi Trong đó chảymáu chất xám đáng lo ngại hơn cả là chảy ra nước ngoài, có thể bằng con đườnghợp pháp hoặc không hợp pháp dưới nhiều hình thức
tổ chức Đảng, đoàn thể, hiệp hội chiếm 67,3%
Đáng chú ý nữa là tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học so với laođộng nói chung cũng như có sư bất hợp lý giữa khu vực hành chính sự nghiệp vàđon vị sản xuất kinh doanh:
Khu vực hành chính sự nghiệp là 27,5%
Trang 21Khu vưc sản xuất kinh doanh 3,7%
Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài 11,1%
Các doanh nghiệp chí có vốn trong nước 8,6% [10,98]
- Xét theo vùng lãnh thổ thì cơ cấu đội ngũ trí thức có sự mất cân đối giữathành thị và nông thôn: tuyệt đại bộ phận trí thức có trình độ cao tập trung ở cácthành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nơi có nhiềuviện nghiên cứu, nhiều trường Đại học, nhiều doanh nghiệp lớn, nhiều cơ sở liêndoanh với nước ngoài, đó là nơi có nhu cầu sử dụng trí thức và có điều kiện làmviệc tốt hơn, thu nhập cao hơn, có đời sống vật chất và tinh thần phong phú hơn.Đặc biệt trí thức các dân tộc thiểu số, miền núi chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 2,5%)trong đó có 12 dân tộc chưa có người tốt nghiệp cao đẳng, đại học
Nếu xét theo độ tuổi, thì bộ phận trí thức đầu đàn, chuyên gia của nước tađang có hiện tượng “lão hoá” Trí thức có học hàm, học vị đều đã lớn tuổi, thế hệtrí thức trẻ chưa đáp ứng được sự thay thế đó Tuổi trung bình của trí thức có chứcdanh khoa học là 57,2 tuổi, trong đó giáo sư là 59,5 tuổi, phó giáo sư là 56,4 tuổi.[9, tr.103] Tuổi bình quân của cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan khoa học là 52,5tuổi, cấp trưởng là 55,0 tuổi; cấp phó là 50,9 tuổi Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo có tuổi từ
45 trở xuống chiếm 17,1%, tuổi từ 56 trở lên chiếm 39,2% Với cơ cấu tuổi tác nhưvậy từ nay đến năm 2010 sẽ xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng cán bộ có trình
độ cao
- Xét về lứa tuổi và giới tính, thì hiện nay số cán bộ có học vị Tiến sĩ và Phótiến sĩ dưới 30 tuổi chiếm 2%, dưới 40 tuổi chiếm 20%, từ 41 (50 tuổi chiếm 70%,trên 50 tuổi chiếm 8,5% Đặc biệt số tiến sĩ ở độ tuổi trên 50 chiếm 66% Với cơ
Trang 22cấu tuổi này đội ngũ cán bộ không có hiện tượng hụt hẫng giữa các thế hệ mà có
sự hình thành kế tiếp lẫn nhau Tuy nhiên, gần đây số cán bộ dưới độ tuổi 30 chiếm
tỷ lệ tương đối ít Điều đó phản ánh sự bão hòa việc làm trong các lĩnh vực khoahọc, công nghệ giáo dục đào tạo Phụ nữ chiếm hơn 37 % tổng số những người cótrình độ cao đẳng, đại học trở lên Song,tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học, cao đẳng vàtrên đại học có dấu hiệu giám sút, tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạo các ngành quá thấp,một số ngành có rất đông lao động nữ nhưng tỷ lệ cán bộ khoa học kỹ thuật lại quá
ít, ví dụ như cán bộ kỹ thuật nông - lâm nghiệp, tỷ lệ nữ chuyên gia có trình độ caorất thấp khoảng 15% Nguyên nhân là do chị em còn bị hạn chế nhiều do khó khăn
về giới tính, về đời sống gia đình hàng ngày [15,118]
Như vậy, việc phân tích đặc điểm lứa tuổi và giới tính cho phép đánh giáđúng được thực trạng của giới trí thức vì các chỉ số đó phản ánh cơ cấu và tính chất
tự nhiên của đội ngũ này Ngày nay sự chuyển đổi cơ chế từ tập trung bao cấp sang
cơ chế thị trường đã làm biến đổi cơ cấu tự nhiên của đội ngũ trí thức và khôngphải không gây ra những hụt hẫng về thế hệ, sự bất lợi cho nữ giới trong hoạt độngkhoa học kỹ thuật Vì thế nghiên cứu cơ cấu này sẽ góp phần tái xác lập sự ổn địnhhài hòa về thế hệ và giới tính trong quá trình phát triển của đội ngũ trí thức nước ta.Như vậy, từ nhiều góc độ khác nhau chúng ta thấy cơ cấu đội ngũ trí thứcđều có sự bất cập Điều này đòi hỏi trong những năm tới chúng ta phải có sự điềuchỉnh, khắc phục điều chỉnh họp lý nhằm làm cho trí thức đáp ứng được yêu cầuđòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
Như vậy, những hạn chế về số lượng, cơ cấu, trình độ hoặc nhũng mặt tráicủa trí thức là những cản trở trong việc thực hiện vai trò của trí thức nước ta trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Chính sách đối với trí thức trongthời gian qua cũng chưa hợp lý Việc thực hiện chủ trương đường lối chính sáchđối với trí thức cũng chưa triệt để còn nhiều thiếu sót và khuyết điểm làm hạn chếtài năng, sáng tạo của trí thức nước ta
Trang 23Do vậy, để bước vào thời kỳ mới: Công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước,đẩy mạnh nền kinh tế trí thức, Đảng và Nhà nước cần có những biện pháp thíchhọp để khắc phục những hạn chế và thiếu sót của đội ngũ trí thức, tạo điều kiện đểtrí thức phát huy những khả năng sáng tạo của mình để phục vụ cho Tổ quốc.
Trang 24CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGỦ TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐÂT NƯỚC
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆTNAM VÀ NHŨNG YÊU CÀU ĐẶT RA CHO ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
2.1.1Cỏng nghiệp hoá, hiên đai hoá đất nước ỉà mỏt tất yếu lich sử
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá là con đường phát triển tất yếu của tất cả cácnước và các dân tộc trên thế giới Để tiến lên một nền sản xuất hiện đại, tất cả cácnước đều phải thực hiện quá trình công nghiệp hoá Đây là quá trình tạo nên sựphát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ cả về sốlượng và chất lượng.Do đó, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một điều kiện cơ bản
để xây dựng cơ sở kinh tế cho xã hội mới
Chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước kém phát triển Con đường màdân tộc ta đang nỗ lực vượt qua để hướng tới lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là chưa
có tiền lệ trong lịch sử Qua thực tiễn bắt tay vào việc xây dựng chế độ xã hội mớitrong chặng đường đầu của thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhất là qua thành tựu
20 năm đổi mới(1986_2006), Đảng ta đã từng bước hoàn thiện hệ thống lý luận,nhận thức ngày càng sáng rõ mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa va bước đi, giải pháptrên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta Trong đó, công nghiệphóa, hiện đại hóa là đường lối nhất quán như sợi chí đỏ xuyên suốt mấy thập niên,liên tục được khẳng định và bổ sung qua các kỳ Đại hội của Đảng nhằm kiến tạocho được cơ sở hạ tầng của chế độ xã hội chủ nghĩa Nhất là hiên nay, trong kỷnguyên công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, thì mục tiêu: “Sớm đưa nước ta rakhỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
Trang 25thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.” như Đại hội X đã khẳng định,lại càng trở nên quyết liệt do đòi hỏi của thời đại mới.
Từ Đại hội VII, Đảng ta đã xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ỏnước ta là: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá ,hiện đại hoá , xâydựng nền kinh tế độclộc tự chủ , đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp , ưu tiên phát triển lựclượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xãhội chủ nghĩa "[3,24]
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề công nghiệp hoá,Người cho rằng, đối với một đất nước đi lên từ nông nghiệp là chủ yếu thì trước hếtphải phát triển nông nghiệp, phải công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Vậndụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về côngnghiệp hoá, hiện đại hoá vào thực tiễn nước ta, rút kinh nghiệm từ bài học khôngthành công của việc rập khuôn máy móc mô hình công nghiệp hóa ưu tiên pháttriển công nghiệp nặng những năm trước đổi mới trước đây Kể từ Đại hội Đảng VI(12/1986), Đảng ta đã đổi mới và từng bước hoàn thiện quan điểm về công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Quá trình hình thành quan điểm của Đảng ta về côngnghiệp hoá, hiện đại hoá là kết quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận, đổi mới
cơ chế quản lý nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Ngày 30-7-1994, Hội nghị lần thứ Bẩy của Ban chấp hành Trung ương Đảngchính sách Việt Nam (khoá VII) đã ra Nghị quyết số 07/NQ-HNTW về “phát triểncông nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóađất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới”, trong đó đã khẳngđịnh: “Mục tiêu lâu dài cuả công nghiệp hoá, hiện đại hóa là cải biến nước ta thànhmột nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mứcsống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng văn minh”.[3, 70]
Trang 26Tại hội IX Đảng ta lại khẳng định “ Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóangay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển Nâng cao hàm lượng tri thứctrong các nhân tố phát triển kinh tế_ xã hội từng bước phát triển kinh tế tri thức ởnước ta”.
Hệ thống quan điểm chỉ đạo việc triển khai công nghiệp hoá, hiện đại hóađất nước trong giai đoạn đó được xác định như sau:
-Công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
-Công nghiệp hoá, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thànhphần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước là chủ đạo, được vận hành theo co chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước
-Khoa học, công nghệ là nền tảng của công nghiệp hoá, hiện đại hóa Kếthợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiệnđại ở những khâu quyết định
-Nguồn lực con người là yếu tố co bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước Tăng cường kinh tế gắn với cảithiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa giáo dục, thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội, bảo vệ môi trường
Đen Đại hội X, Đảng đã có những nhận thức mới về bối cảnh mà côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta đang diễn ra Trước hết là những thuân lợi vàthời cơ.Trên thế giới,hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo; toàncầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang được đẩy nhanh Cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ nhất là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tiếp tục pháttriển theo chiều sâu, tác động rộng lớn đến co cấu và sự phát triển của kinh tế thếgiới.Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, hợp táctrong khu vực ngày càng mở rộng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho sự phát triểncủa mỗi quốc gia Ớ trong nước, chúng ta có được thuận lợi rất cơ bản là những
Trang 27thành tựu to lớn và những bài học kinh nghiệm sau 20 năm đổi mới.
Tuy nhiên, bên cạnh đó là thách thức và khó khăn mà đất nước ta phải đối
đầu:
'Xinh hình thế giới và khu vực vẫn chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp óhk àv
ết hnik hcí iợl ìv tệil tếyuq hnart hnạc cớưn cáC uầđ iốđ iảhp at cớưn tấđ àm năhkcớưn các àv oèhgn cớưn các iớv iạm gnơưht gnort nảc oàr các tặđ pắ hcác mìt àvcứhp nếib nễid nòc iớig ếht ảc áig àv ệt nềit ,hníhc iàt gnờưrt ỊhT nểirt táhp gnađcứs ,ỏhn ôm yuq ,pấht nểirt táhp ộđ hnìrt ở gnađ ết hnik nền cớưn gnort nòC pạt
ar tợưv aưhc ,cựv uhk gnort cớưn uềihn iớv os ax áhk uậh tụt nòc ,uếy hnart hnạctáhp ềv uầc uêy ihk gnort ;pấht pậhn uht óc nểirt táhp gnađ cớưn các móhn iỏhkcựv uhk ết hnik nền iớv pậhn iộh ềv uầc uêy ,hcáb pấc tấr gnữv nềb àv hnahn nểirt]581-481 ,5[."nơh gnộr uâs àv gnơưrt nẩhk gnàc yàgn iớig ếht àv
Tnrớc tình hình đó, Đảng ta đã nhận thức ra rằng trong toàn bộ sự nghiệpcông nghiệp hoá, khái niệm trung tâm là công nghệ mới Do vậy, bàn đến côngnghiệp hoá, trước hết, người ta hiểu rằng, công nghiệp hoá là quá trình trang bịhoặc trang bị lại công nghệ mới cho các ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là đốivới các ngành then chốt Yêu cầu làm chủ công nghệ mới, nhất là công nghệ cao,
là hết sức bức thiết Việc nhập công nghệ mới, làm chủ nó là biến công nghệ mớithành của mình đòi hỏi cần đến trình độ trí tuệ cao của người lao động Do vậy, lựclượng đi đầu trong việc tiếp cận với công nghệ mới nắm chắc nó, sử dụng nó phải
là những nhà khoa học công nghệ - những trí thức Khi khoa học và công nghệ trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trí thức là lực lượng sản xuất có vai trò nòngcốt trước yêu cầu nhập công nghệ mới, chuyển giao công nghệ đó cho công, nông.Công nghiệp hoá là quá trình làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế của xã hội Tỷtrọng GDP trong nông nghiệp sẽ giảm xuống, tỷ trọng trong công nghiệp và dịch
vụ sẽ tăng lên Sự chuyển đổi này sẽ dẫn theo hiện tượng cấu trúc lại lực lượng laođộng trong xã hội Sẽ có hàng chục triệu nông dân chuyển sang lao động công
Trang 28nghiệp; số nông dân còn lại sẽ trở thành những công nhân nông nghiệp hoặc nhũnglao động nông nghiệp được đào tạo chuyên môn cao dần, nắm trong tay nhữngcông nghệ mới Bản thân giai cấp công nhân cũng có những thay đổi, nhất là sựxuất hiện ngày càng nhiều công nhân cổ trắng Các nhân viên trong lĩnh vực dịch
vụ cũng được đào tạo cao hon trước, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ tri thức và
xử lý thông tin Quá trình trí thức hoá công, nông ngày càng mang tính tự giác vàngày càng đòi hỏi trí thức tham gia vào quá trình này đông đảo hơn, tích cực hơn.Công nghiệp hoá còn là một quá trình đẩy mạnh sự phát triển trong các lĩnhvực kinh tế - xã hội, chứ nó không chỉ đơn thuần bao hàm quá trình kinh tế - kỹthuật Sự phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở đây chủ yếu là quá trình đẩymạnh các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số và cải thiện đời sống nhândân, 1TLỞ rộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài trên cơ sởkhông ngừng nâng cao dân trí, nâng dần mức hưởng thụ văn hóa cho người laođộng v.v Lực lượng lao động chủ yếu để đẩy mạnh các quá trình kinh tế - xã hội
là đội ngũ trí thức chứ không phải ai khác Gần một triệu thầy giáo, mấy trăm ngànthầy thuốc, hàng chục vạn cán bộ khoa học và công nghệ cùng các nhà văn, nhàbáo và các nhà nghệ thuật sẽ phải tham gia vào quá trình này
Công nghiệp hoá là một quá trình mở cửa để chủ động hội nhập với thế giớihiện đại, giao lưu với các nền văn minh trên thế giới, tiếp thu những tinh hoa vănhoá nhân loại Đó là quá trình nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân Với chứcnăng bảo vệ, phát huy nền văn hoá dân tộc, trí thức phải giữ được bản sắc văn hoátruyền thống trong các hoạt động của xã hội Song, với chức năng truyền bá vănhoá, trí thức lại phải chọn lọc những giá trị mới mẻ, tiến bộ trong nền văn hoá củacác dân tộc trên thế giới, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại Đó là quá trìnhnâng cao trìnhđộ văn hoá cho nhân dân Với chức năng bảo vệ, phát huy nền vănhoá dân tộc, trí thức phải giữ được bản sắc văn hoá truyền thống trong các hoạtđộng của xã hội để đưa vào đời sống xã hội nước ta Có thể gọi đây là một trongnhững nhiệm vụ mà lực lượng trí thức phải thực hiện để hiện đại hoá nền văn hoá
Trang 29dân tộc mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc.
Tiếp theo các Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng đãkhẳng định đến năm 2020 phải phấn đấu xây dựng nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp Để đạt mục tiêu này, cần phải quán triệt những quan điểm sau đây:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học,công nghệ Đảng và Nhà nước có chính sách đầu tư khuyến khích, hỗ trợ phát triểnkhoa học và công nghệ
-Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải phát huy năng lực nộisinh về khoa học và công nghệ kết hớp với tiếp thu thành tựu khoa học và côngnghệ thế giới
-Xây dụng đội ngũ trí thức giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ýchí và hoài bão lớn, quyết tâm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp như mụctiêu về công nghiệp hoá, hiện đại hóa mà Đảng đã nêu trong Nghị quyết
Về mô hình công nghiệp hoá ở nước ta, quan điểm của Đảng như sau: Đảng
ta chủ trương không lặp lại những mô hình công nghiệp hoá cổ điển, mà tự tìm lấymột mô hình phù hợp với hoàn cảnh đất nước và điều kiện thế giới ngày nay Đểlàm được việc ấy, giáo dục và khoa học phải tạo ra những con người đủ kiến thức
và năng lực lựa chọn, thích nghi và sáng tạo công nghệ mới và hiện đại hoá nhữngcông nghệ truyền thống, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiềusản phẩm với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu trong nước
và xuất khẩu
Là một nước đi sau, nên việc Việt Nam nghiên cứu kinh nghiệm của cácnước đã công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, đặc biệt là kinh nghiệm củanhững nước có điểm xuất phát và những điều kiện gần giống nước ta là rất cầnthiết, đương nhiên cần tham khảo một cách có chọn lọc Một số báo cáo tham luận
đã khái quát kinh nghiệm chủ yếu của các nước Đông Nam Á như kinh nghiệm lựa
Trang 30chọn chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng vào xuất khẩu của Thái Lan;phát huy có hiệu quả vai trò của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế của In-đô-nê-xi-a; kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Phi-lip-pin qua đó, đã rút ramột số bài học kinh nghiệm đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đai hoá ởnước ta [14,86]
Không phải bây giờ chúng ta mới thực hiện công nghiệp hoá.Trước đâychúng ta cũng đã thực hiện công nghiệp hoá, nhưng chưa thành công do nhiềunguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân cơ bản là: Thứ nhất, không đi từ nôngnghiệp và công nghiệp nhẹ, mà đi thẳng ngay vào công nghiệp nặng; thứ hai, côngnghiệp hoá trong điều kiện nhận thức sai lầm cho rằng xây dựng quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa đi trước, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Chính quan
hệ sản xuất chưa phù hợp ấy kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Giờđây, trong điều kiện đổi mới về nhận thức, mỏ rộng giao lưu, hợp tác quốc tế vàtrình độ của lực lượng sản xuất ngày càng quốc tể hóa cao độ, chúng ta có đủ điềukiện để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đấtnước tiến từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
2.1.2 Đẩy manh công nghiệp hoá, hỉén đai hoá gần liền với kinh tẽ tri
thức
Gần đây nhất, tại Đại hội Đảng X, (tháng 4 năm 2006), trong bối cảnh mởcửa hội nhập với nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, Đảng ta tiếp tục xácđịnh: “tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế củanước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu
tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển mạnhcác Iigành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kếthọp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt nam với tri thức mới nhấtcủa nhân loại ” [Văn kiện X-tr87]
Trang 31Sau 20 năm đổi mới thế và lực của đất nước ta đó mạnh hơn nhiều, tuy "từngbước phát triển" nhưng một số thành phần của kinh tế tri thức như công nghệthông tin, in-tơ-net, điện thoại di động trong giai đoạn 2001 - 2005 đó phát triểnkhá nhanh Nhiều nước phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Phần Lan, Ân Độ biết kết hợp phát triển kinh tế tri thức đều đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao.
Do đó, tranh thủ thời cơ mà bối cảnh quốc tế tạo ra, kết hợp nội lực với các thuậnlợi bước đầu về phát triển kinh tế tri thức, Đảng ta đó đề ra đường lối: "Đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức"
Mặc dù nền kinh tế tri thức chỉ mới bắt đầu xuất hiện vào những năm 60-70của thế kỷ trước tại các nước công nghiệp phát triển cao Lúc đó tại những nướcnày công nghiệp hiện đại công nghệ cao đã chiếm tỷ trọng với số lao động tri thức
đã vượt trên 50% tống số lao động., nhưng có thể khẳng định rằng: trong thời đạingày nay, khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và trithức đã trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội củamọi quốc gia, dân tộc Vì thế, xét một cách tổng quát, kinh tế tri thức được coi làmột nấc thang cao hơn nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong quá trình phát triển của
xã hội loài người
Bởi kinh tế tri thức cho ta cơ hội để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụcấp bách, bức xúc, cũng như những nhiệm vụ cơ bản, lâu dài trong quá trình CNH,
HĐH, như: - Tạo việc làm xoá đối giảm nghèo; - Phát triển nông thôn, vùng sâu
vùng xa; -Đổi mới và phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ; - Chuyển dịch nhanh
cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao hiệu quá, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; - Đổi mới và phát triển các doanh nghiệp; - Đổi mới tổ choc quản lý, thực hiện Nhà nước của dân, do dân, vì dân, phát huy mọi khả năng của con người.[L LCT-1 l/2006-tr49]
Với đặc trưng và những tác động như trên, kinh tế tri thức còn hàm chứa một
Trang 32qua mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế để “đi tắt”, “đón đầu” trên con đường tăngtrưởng và phát triển, lấy tri thức làm nền tảng nhằm làm thu hẹp khoảng cách tụthậu so với các nước tiên tiến Trên thế giới đã có những điển hình thành công trongvấn đề này, như Hàn Quốc, từ một nước kinh tế kém phát triển, chịu hậu quả nặng
nề của chiến tranh, sau 40 năm đã trở thành một nước thành viên của OECD và dựkiến đến năm 2004 - 2005 Hàn Quốc sẽ hình thành siêu xa lộ thông tin nối kết 14triệu hộ gia đình Trung Quốc cũng là một nước kém phát triển, trong hơn 20 nămcải cách, mở cửa, đã có những bước khởi động tiếp cận kinh tế tri thức rất khảquan, nhất là phát triển công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và đã đạt đượcnhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa thế giới, một số nước đang phát triển, tuy chưa
có công nghiệp hiện đại, công nghệ cao nhưng biết chủ động hội nhập kinh tế,tranh thủ tiếp thu công nghệ cao trên cơ sở nguồn nhân lực thích hợp, thì vẫn cóthể bước đầu phát triển kinh tế tri thức
Nước ta, tuy còn ở trong nền kinh tế nông nghiệp và là nước đang phát triếnthu nhập thấp, nhưng biết phát huy đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có nănglực tiếp thu và ứng dụng các công nghệ cao, qua chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, vẫn có thể có cơ hội rút ngắn thời gian để tiến nhanh hơn Muốn vậy, phải đồngthời tiếp thu công nghệ cao của phát triển kinh tế tri thức và vận dụng ngay vàocông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong các lĩnh VỊTC cần thiết Ví dụ phát triển cácphần mềm hệ điều hành máy, có thế đem ứng dụng với sự điều chỉnh hợp lý, vàocác máy trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực tế cho thấy khi chúng ta phát triển công nghệ thông tin và truyềnthông, in-tơ-nét, mạng viễn thông kỹ thuật số, điện thoại di động , tức là pháttriển một số bộ phận của kinh tế tri thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại hóa, ởtrình độ cao, nhiều lĩnh vực của công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ
Do đó việc kết hợp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
Trang 34thức", các thành phần của kinh tế tri thức đã phát triển khá Theo kết quả đánh giáchỉ số kinh tế tri thức của Ngân hàng thế giới năm 2006 nước ta đạt mức 2.69/10,sang năm 2007 tăng thêm 15% và đạt 3.10/10, nghĩa là nền kinh tế nước ta đã hòaquyện các yếu tố của kinh tế tri thức tới 31% Với đà phát triển như hiện nay vàcao hơn, tới năm 2020 kinh tế tri thức với công nghiệp công nghệ cao hiện đại sẽtrở thành chủ yếu.
Đại hội Đảng X đã chỉ ra 4 yêu cầu cụ thể để gắn công nghiệp hoá, hiện đạihoá với kinh tế tri thức:
- Coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệphoá, hiện đại hoá
- Phát triển mạnh mẽ ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựanhiều vào tri thức
- Kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với trithức mới nhất của nhân loại
- Coi trọng cả sản lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bướcphát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xãhội.[5,88]
Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu trên thì chúng ta cần phải thực hiện cácgiải pháp sau đây:
Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy năng lựcsáng tạo tri thức ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội tiếp thu tri thứccủa thế giới toàn cầu hóa
Thực vậy, trong điều kiện chưa có đủ nguồn lực để phát triển kinh tế tri thứclên ngay trình độ cao, ta phải coi trọng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm