Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực tập tại Công ty Dulịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô, em đã có thời gian tìm hiếu về việc ápdụng hợp đồng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh du lị
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh du lịch là lĩnh vực có tiềm năng lớn trong cáchoạt động thương mại dịch vụ của Việt Nam Trong "Chiến lược pháttriển Du lịch Việt Nam 2001 - 2010", Thủ tưởng Chính phủ đã đề ra mụctiêu tống quát là phát triến du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọntrên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,truyền thống văn hoá lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước vàtranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm
du lịch có tầm cỡ của khu vục, phấn đấu sau năm 2010 du lịch Việt Namđược xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực.Một trong những biện pháp thực hiện chiến lược phát triển Du lịch ViệtNam là hoàn thiện dần hệ thống pháp luật quy định về các hoạt độngkinh doanh du lịch Trong đó, đế đảm bảo tính công bằng, minh bạchtrong hoạt động kinh doanh du lịch cần có những quy định chặt chẽ vềchế độ giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chứckinh doanh du lịch với các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực tập tại Công ty Dulịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô, em đã có thời gian tìm hiếu về việc ápdụng hợp đồng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch của đơn vị,
và lựa chọn đề tài chuyên đề: “Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ và thực tiễn áp dụng tại Công ty Du lịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô”
Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cúu các quy định pháp luật điều chỉnh việc giao kết vàthực hiện hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực kinh doanh du lịch;
- Tìm hiểu thực tế áp dụng họp đồng kinh doanh du lịch tại Công
ty Du lịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô;
Trang 2- Đe xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng họp đồng du lịch tại Công ty Du lịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô.Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm có 3chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về họp đồng dịch vụ trong lĩnh
vực kinh doanh du lịch
Chương 2: Thực tiễn áp dụng họp đồng dịch vụ tại Công ty Du
lịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô
Chưomg 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ tại Công ty Du lịch Dịch vụQuân khu Thủ đô
Trang 3CHƯƠNG 1
1.1 Hoạt đồng cung ứng dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
1.1.1 Khái quát về hoạt động cung ứng dịch vụ
1.1.1.1 Hoạt động thưong mại
Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hoá, dịch vụ, kiếnthức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trịnào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác nhưtrong hình thức thương mại hàng đối hàng Trong quá trình này, ngườibán là người cung cấp của cải, hàng hoá, dịch vụ cho người mua, đổilại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó
Theo Khoản 1, Điều 3, Luật thương mại 2005, “hoạt động thương mại là hoạt động nham mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng địch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Trong đó:
- Hoạt động mua bán là hoạt động thương mại, theo đó bên bán cónghĩa vụ giao hàng, chuyến quyền sở hữu hàng ho á cho bên mua và nhậnthanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng vàquyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận
- Hoạt động cung ứng dịchvụ là hoạt động thương mại, theo đómột bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanhtoán - gọi là bên cung ứng dịch vụ; bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) cónghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theotho ả thuận
Trang 4- Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội muabán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại,quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hộichợ, triển lãm thương mại.
- Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thươngnhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thươngnhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môigiới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại
Ngoài ra, Luật thương mại 2005 còn quy định chi tiết một số hoạtđộng thương mại cụ thể khác như gia công thương mại, đấu giá hànghoá, đấu thầu hàng hoá, dịch vụ, dịch vụ logistics, dịch vụ quá cảnh hànghoá qua lãnh thổ Việt Nam, dịch vụ giám định, cho thuê hàng hoá vànhượng quyền thương mại
Luật thương mại năm 1997 quy định dịch vụ thương mại gồmnhững hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa Cụ thế gồm dịch vụgiao nhận hàng hóa và dịch vụ giám định hàng hóa Trong đó, dịch vụgiao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụgiao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển,lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan
đế giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của ngườivận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là kháchhàng) Và người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấychứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa Còn giámđịnh hàng hóa là hành vi thương mại do một tố chức giám định độc lậpthực hiện đế xác định tình trạng thực tế của hàng hóa theo yêu cầu của cánhân, cơ quan, tổ chức
Trang 5Luật thương mại năm 2005 mở rộng khái niệm dịch vụ thương mại.Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, trong đó một bên (sau đâygọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bênkhác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là kháchhàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch
vụ theo thỏa thuận Như vậy, cung ứng dịch vụ là một hoạt động thươngmại do đó chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại và pháp luật có liênquan
Thực chất của hoạt động cung ứng dịch vụ là loại hoạt động kinhdoanh lấy công làm lãi, cung ứng các điều kiện đế đáp ứng các nhu cầutrong sản xuất kinh doanh và sinh hoạt xã hội như: bảo trì, bảo dường,sửa chữa máy móc, nhà cửa, tàu thuyền, may đo quần áo, các công tácvảo hiểm, công tác kiểm dịch, hướng dẫn triển khai áp dụng các tiến bộKH-KT vào sản xuất, lập các chương trình, phân tích tính toán, xử lý sốliệu, thử nghiệm, kiểm nghiệm sản phẩm, biên soạn tài liệu, hướng dẫn
kỹ thuật nghiệp vụ Đây là những hoạt động dịch vụ đang được phát triểnmạnh trong đời sống kinh tế xã hội của nước ta
1.1.2 Vai trò của hoạt động cung ứng dịch vụ trong nền kinh tế quốcdân
Hoạt động dịch vụ là loại hoạt động kinh tế rất quan trọng trongquá trình sản xuất kinh doanh Bên cạnh việc thường xuyên tham gia vàocác họp đồng mua bán, các doanh nghiệp luôn chú trọng tham gia vàocác quan hệ đế bảo đảm cung ứng những điều kiện cần thiết cho sảnxuất, vận tải, áp dụng tiến bộ KH-KT và công nghệ mới, tăng năng suấtlao động, cải tiến các dây chuyền sản xuất và phục vụ các nhu cầu sinhhoạt xã hội Trong thương mại truyền thống thì hoạt động mua bán hànghóa chiếm vị trí chủ yếu và quan trọng Nhưng ngày nay, hoạt động dịch
Trang 71.1.3 Mục tiêu và yêu cầu đối với hoạt động cung ứng dịch vụ trongnền kinh tế quốc dân
Qua khái niệm về hoạt động cung ứng dịch vụ ở trên cho thấy, hoạtđộng cung ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại, và cũng như mọihoạt động thương mại khác, cung ứng dịch vụ cũng nhằm mục đích sinhlợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội Mỗi doanhnghiệp có những phương thức sản xuất - kinh doanh với những ngànhnghề kinh doanh khác nhau Tuy nhiên mục đích cuối cùng của cácdoanh nghiệp vẫn là lợi nhuận Theo quan điểm trước đây, chỉ có hoạtđộng mua bán hàng hóa mới đem lại lợi nhuận cao Tuy nhiên cùng với
xu hướng phát triến của nền kinh tế, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay thì hoạt động cung ứng dịch vụ lại được coi là hoạtđộng đem lại tỷ suất sinh lợi cao, và ngày càng khẳng định được vai tròcủa nó trong nền kinh tế
Như vậy, mục đích của hoạt động cung ứng dịch vụ là tạo ra lợinhuận Đế đem lại lợi nhuận cao trong lĩnh vực này thì các doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ cần đảm bảo các yêu cầu:
- Tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động cung ứng dịch vụCác doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cần nắm vững các
quy định pháp luật về hoạt động cung cứng dịch vụ, trong đó LuậtDoanh nghiệp 1999 và Luật thuơng mại 2005 và các Nghị định hướngdẫn thi hạn 2 Luật trên là những văn bản liên quan trực tiếp, điều chỉnhcác hoạt động cung ứng dịch vụ hiện nay Đặc biệt là phải luôn cập nhậpthường xuyên các văn bản mới quy định về hoạt động cụ thế của doanhnghiệp
- Hoạt động cung ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại, do đóviệc tạo lợi nhuận trong lĩnh vực này cũng phải bảo đảm lợi ích của Nhà
Trang 8chính mình mà xâm phạm lợi ích của Nhà nước.
- Hoạt động cung ứng dịch vụ phải bảo đảm việc cung ứng kịp thờicác nhu cầu cần thiết cho xã hội Trong quá trình hội nhập kinh tế nhưhiện nay, yêu cầu các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cầnchú ý tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật, đế tạo ra những hoạt động dịch
vụ không ngừng đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước
1.2 Họp đồng kinh tế trong hoạt động cung ứng dịch vụ
Trong đời sổng xã hội, nhu cầu trao đối buôn bán gọi chung là giaodịch dân sự là nhu cầu tất yếu khách quan Đế điều chỉnh cũng như bảođảm tính hiệu lực của các giao dịch đó, những quy định pháp luật về hợpđồng ra đời và ngày càng chứng tỏ được vai trò đặc biệt quan trọng củamình Neu như sự an toàn của con người, tài sản được bảo đảm trên co
sở những quy định trong Bộ Luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trongthế giới kinh doanh lại phụ thuộc vào họp đồng Không những chế địnhhợp đồng là một công cụ pháp lý mà qua đó nhu cầu trao đổi, giao lưucủa người được thực hiện, các quyền và nghĩa vụ được bảo đảm, giúpcho luồng lun thông hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người,
xã hội và nền kinh tế Do vậy, họp đồng ngày càng được xác lập mộtcách phố biến hơn, thường xuyên hơn và trở thành một phần quan trọngtrong cuộc sống hàng ngày của chúng ta
Hợp đồng ra đời từ rất lâu và nó được tồn tại dưới nhiều hình thứckhác nhau như khế ước, thỏa thuận Tuy nhiên, họp đồng trong hoạtđộng kinh tế được quy định một cách cụ thể lần đầu tiên trong Pháp lệnh
Trang 9hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 Theo đó, họp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên giao kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đôi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ímg dụng tiến bộ khoa học công nghệ- kỹ thuật và các thỏa thuận khác cỏ mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của moi bên đế xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình.
Sau khi Ban hành Luật Thuơng mại (được Quốc hội khóa XI, kỳhọp thứ 7 thông qua ngày 14-6-2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2006), Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 hết hiệu lực Việc giao kết, thựchiện và các hoạt động khác có liên quan đến hợp đồng được quy địnhtheo Bộ Luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 Theo quy định củaNghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội khóa XI, kỳhọp thứ 7, về việc thi hành Bộ luật Dân sự và quy định của Luật Thươngmại, thì kế từ ngày 1-1-2006, trong quan hệ kinh doanh, thương mại vàcác hoạt động khác , khi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế, các tổ chức cá nhân ký kết hợp đồng thì không ghi “Hợp đồng kinhtế” hay “Hợp đồng Dân sự” như trước đây, chỉ cần ghi rõ tên hợp đồng
cụ thể như: Họp đồng mua bán hàng hóa hay mua bán tài sản, hợp đồnggia công, hợp đồng vận chuyến, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịchvụ Tùy theo quan hệ giao dịch giữa các bên, căn cứ vào phạm vi điềuchỉnh, đối tượng áp dụng, phạm vi áp dụng của Luật Thương mại và cácvăn bản pháp luật liên quan, các bên phải xác định được căn cứ để ký kếthợp đồng theo văn bản pháp luật nào (Luật Thương mại hay Bộ LuậtDân sự) và đây cũng là một trong những cơ sở đế Tòa án Nhân dân xemxét giải quyết tranh chấp họp đồng khi có yêu cầu của các bên
Trang 101.2.1.2 Khái niệm hợp đồng dịch vụ
Hoạt động cung ứng dịch vụ ngày càng được chú trọng hơn và bắtđầu được các nhà làm luật chú ý đến và đưa vào từng quy định cụ thểtrong luật Đe đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đãkhông ngừng hoàn thiện hệ thong pháp luật Trong đó, các quy định vềhoạt động thương mại cũng không ngừng được hoàn thiện hơn, phù họpvới điều kiện kinh tế thị trường và với xu hướng hội nhập Cụ thế, BộLuật dân sự 2005 ra đời thay thế Bộ Luật dân sự 1995, Luật thương mạinăm 2005 ra đời thay thế luật thương mại năm 1997 Với hai bộ luật mớinày, hoạt động thương mại được quy định một cách cụ thế hơn, tạo điềukiện thuận lợi cho các cá nhân, tố chức trong việc giao kết hợp đồng
Theo điều 518 Bộ Luật dân sự 2005 thì, “hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ímg dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ ”.
1.2.2 Đặc điếm của họp đồng dịch vụ
Họp đồng dịch vụ có các đặc điếm:
Thứ nhất, các bên trong quan hệ hợp đồng dịch vụ có địa vị pháp lý
bình đắng với nhau Việc bảo đảm bình đắng giữa các bên là một điềukiện kiên quyết để hình thành hợp đồng
Thứ hai họp đồng dịch vụ luôn thế hiện sự thỏa thuận giữa các bên
bình đẳng với nhau Đó là sự thỏa thuận về việc thực hiện một công việcnào đó của một bên đối với bên kia Quá trình hình thành họp đồng làquá trình các bên bàn bạc, thương lượng đế đi đến thỏa thuận Quá trìnhnày, các bên được tự’ do bày tở ý chí đế đi đến hợp đồng Hợp đồng thểhiện trung thành ý chí của các bên
Trang 11Hình thức của hợp đồng được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bảnhoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể tức là ghi nhận lại các điều màcác bên đã thỏa thuận Đối với những hợp đồng dịch vụ mà pháp luậtquy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.
Thứ ba, các bên trong hợp đồng dịch vụ luôn có quyền và nghĩa vụ
pháp lý nhất định Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng do các bên thỏathuận mà ra Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ đó phải không trái pháp luật,đạo đức xã hội, và được pháp luật công nhận và bảo vệ,
Cụ thể, chủ thế của họp đồng dịch vụ là người cung ứng dịch vụ(bên cung ứng dịch vụ) và người thuê dịch vụ (khách hàng) Trong đó:Bên thuê dịch vụ có các nghĩa vụ: cung cấp cho bên cung ứng dịch
vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết đế thực hiện công việc,nếu có thoả thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi; trả tiền dịch vụcho bên cung ứng dịch vụ theo thoả thuận; và có các quyền: yêu cầu bêncung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng,thời hạn, địa điếm và các thoả thuận khác; trong trường hợp bên cungứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên thuê dịch vụ cóquyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thườngthiệt hại Bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ : thực hiện công việcđúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điếm và các thoả thuận khác ;không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có
sự đồng ý của bên thuê dịch vụ; bảo quản và phải giao lại cho bên thuêdịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc;báo ngay cho bên thuê dịch vụ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ,phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc; giữ bímật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu
có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; bồi thường thiệt hại cho bên
Trang 12thuê dịch vụ, nếu làm mất mát, hu hỏng tài liệu, phương tiện được giaohoặc tiết lộ bí mật thông tin; và có các quyền: yêu cầu bên thuê dịch vụcung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện; được thay đối điều kiện dịch
vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ, mà không nhất thiết phải chờ ý kiếncủa bên thuê dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên thuêdịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên thuê dịch vụ; yêu cầu bên thuêdịch vụ trả tiền dịch vụ
Đặc điểm khác nhau cơ bản giữa hợp đồng dịch vụ và hợp đồngmua bán chính là đặc điếm của đối tượng hợp đồng Trong hợp đồngmua bán đổi tượng của nó là hàng hoá, còn trong hợp đồng dịch vụ đốitượng là một hoạt động cung ứng những nhu cầu nhất định, là một côngviệc cụ thế do các chủ thế hợp đồng xác định theo những yêu cầu củabên đạt dịch vụ
1.2.3 Phân loại họp đồng dịch vụ
Đây là một loại hợp đồng kinh tế đặc thù Việc giao kết và thực hiệncác hợp đồng dịch vụ phải theo những nguyên tắc, những quy địnhchung của pháp luật Nhưng do mồi loại hợp đồng dịch vụ có đặc điểmriêng, vì vậy căn cứ vào đối tượng của họp đồng có thể chia họp đồngdịch vụ thành những loại như:
- Hợp đồng dịch vụ thu công (sửa chữa, vận chuyển )
Trang 13Nhà nước có những quy định cụ thể điều chỉnh các hoạt động dịch
vụ chuyên biệt, nhưng nói chung việc giao kết và thực hiện hợp đồngdịch vụ phải tuân theo những quy định chung của pháp luật và các vănbản pháp luật hiện hành điều chỉnh hợp đồng kinh tế nói chung và hợpđồng dịch vụ nói riêng
1.3 Họp đồng dịch vụ trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
1.3.1 Hoạt động kinh doanh du lịch
Theo Pháp lệnh Du lịch 1999, du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định (Khoản
1, Điều 10) Hoạt động kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Khoản 7,
Điều 10)
Các ngành nghề kinh doanh du lịch gồm có:
- Kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế;
- Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch;
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
- Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác
Các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch phải tuân theo các quyđịnh của Pháp lệnh Du lịch 1999 và các quy định khác của pháp luật cóliên quan
Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổnghợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liênvùng và xã hội hóa cao; phát triến du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu thamquan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp
Trang 14phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động du lịch; bảo đảm pháttriển du lịch theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, giữ gìn vàphát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.
1.3.2 Pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ trong hoạt động kinhdoanh du lịch
Theo khoản 1 điều 3 Luật thương mại 2005 thì hoạt động thươngmại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằmmục đích sinh lợi khác Trong đó, cung ứng dịch vụ là một hoạt độngthương mại mà một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác
và nhận thanh toán, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bêncung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận
Như vậy, hoạt động cung ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại
do đó chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại và pháp luật có liên quan.Tùy từng lĩnh vực cụ thể như dịch vụ tư vấn, dịch vụ du lịch, dịch vụthiết kế, dịch vụ giám định chịu sự điều chỉnh của các quy định cụ thếkhác nhau Hoạt động kinh doanh du lịch là một loại dịch vụ hiện đangphố biến và đang được các cá nhân, tố chức, doanh nghiệp quan tâm
Họp đồng dịch vụ trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, cụ thế chịu sựđiều chỉnh của Luật thương mại 2005 và Bộ Luật dân sự 2005 Trườnghợp Điều ước quốc tế là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thànhviên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mạiquốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật thương mại, BộLuật dân sự thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế Các bên tronggiao dịch có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước
Trang 15ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quánthương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của phápluật Việt Nam.
Như vậy, hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn thiết kế trang trínội thất chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại, Bộ Luật dân sự, Điềuước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế có liên quan
1.3.3 Chế độ giao kết và thực hiện họp đồng dịch vụ trong lĩnh vụckinh doanh du lịch
1.3.3.1 Chế độ giao kết hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
Việc ký kết hợp đồng phải được xem xét trên các khía cạnh:nguyên tắc giao kết, căn cứ giao kết, chủ thể của hợp đồng, đối tượngcủa hợp đồng, hình thức và mục đích của hợp đồng, nội dung họp đồng
Cụ thể:
• Nguyên tắc giao kết họp đồng
Nguyên tắc giao kết họp đồng đó là những tư tưởng chỉ đạo đượcquán triệt trong những quy phạm pháp luật về hợp đồng, có tính chất bắtbuộc đối với các chủ thế trong khi tiến hành ký kết họp đồng Trong nềnkinh tế thị trường, việc giao kết hợp đồng, về nguyên tắc không còn là kỷluật của nhà nước, là nhiệm vụ của các tố chức, cơ quan và các đơn vịkinh tế nữa Đó là quyền tự’ do hợp đồng, một trong những nội dungquan trọng của quyền tự do kinh doanh
Theo điều 389 Bộ Luật dân sự, thì việc giao kết hợp đồng phải tuânthủ các nguyên tắc: tự do giao kết hợp đồng nhưng không được tráiphápluật, đạo đức xã hội; Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác,trung thực và ngay thẳng
Trang 16• Căn cứ giao kết hợp đồng
Căn cứ đế giao kết hợp đồng đó là: theo định hướng kế hoạch củanhà nước, các chính sách chế độ, các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiệnhành; căn cứ theo nhu cầu thị trường, đơn đặt hàng, đơn chào hàng củabạn hàng; căn cứ vào khả năng phát triến sản xuất kinh doanh, chức nănghoạt động kinh tế của đơn vị mình; căn cứ vào tính họp pháp của hoạtđộng sản xuất kinh doanh và khả năng bảo đảm về tài sản của các bêncùng ký kết họp đồng
• Chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia quan hệ hợp đồng bìnhđắng, tụ’ nguyện thoa thuận đế xác định những quyền và nghĩa vụ vớinhau Chủ thế của hợp đồng dịch vụ là các thương nhân Theo điều 6Luật thương mại 2005 thì thương nhân gồm tổ chức kinh tế được thànhlập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thườngxuyên và có đăng ký kinh doanh Đe trở thành thương nhân các cá nhân
từ đủ 18 tuối trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân tốhợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện đế kinh doanh thương mại theo quyđịnh của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì cơ quan nhànước có toàn quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trởthành thương nhân
Ngoài ra, chủ the của họp đồng dịch vụ có thế là chi nhánh củathương nhân nước ngoài Theo khoản 3 điều 19 Luật thương mại 2005thì Chi nhánh của thương nhân nước ngoài có quyền giao kết họp đồngtại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động quy định trong giấy phépthành lập chi nhánh và theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, chủ thể của hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn,thiết kế trang trí nội thất có thể là những chủ thế hạn chế Cụ thế đó là
Trang 17các hộ gia đình, tố hợp tác nếu có đủ điều kiện theo quy định của phápluật.Theo Luật hợp tác xã thì: hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các
cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện gópvốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên thamgia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sảnxuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần pháttriến kinh tế xã hội của đất nước Hợp tác xã hoạt động như một loạihình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm vềcác nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và cácnguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
Như vậy, một hợp tác xã, hay hộ gia đình có thế hoạt động tronglĩnh vực tư vấn, thiết kế trang trí nội thất và ký hợp đồng dịch vụ tronglĩnh vực này nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Thực tếcho thấy, rất nhiều hộ gia đình, hợp tác xã đã hoạt động và thành côngtrong lĩnh vực này
• Đổi tượng của hợp đồng
Đối tượng của họp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiệnđược, không bị pháp luật cấm, không trái với đạo đức xã hội Theo điều
75 Luật thương mại 2005, thưong nhân có quyền cung ứng các dịch vụsau: cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnhthổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sửdụng trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại ViệtNam và sử dụng trên lãnh thố nước ngoài; cung ứng dịch vụ cho ngườikhông cư trú tại Việt nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài
Đối với hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang trínội thất thì đối tượng chủ yếu của hợp đồng là tư vấn, thiết kế các sảnphâm Modun (tức là các sản phâm vách ngăn văn phòng)
Trang 18• Hình thức của hợp đồng
về hình thức của hợp đồng, theo điều 74 Luật thương mại, hợpđồng dịch vụ được thế hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lậpbằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quyđịnh phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó
Yêu cầu về hình thức hợp đồng dịch vụ như vậy tương đổi phùhợp với thực tiễn kinh tế xã hội hiện nay, khi mọi hình thức giao dịchthông qua các phương tiện kỹ thuật hiện đại mang tính trung gian nhưinternet, điện tử viễn thông đang rất phát triển Bên cạnh đó, sự pháttriển ngày càng đa dạng của các quan hệ quốc gia, quốc tế trong các lĩnhvực dân sự, thương mại, kinh tế đòi hỏi các hình thức giao lưu phải hếtsức thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả
• Mục đích của hợp đồng
Mục đích chủ yếu của hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn,thiết kế trang trí nội thất là nhằm thực hiện các công trình trang trí nộithất Cụ thế như: việc sản xuất các sản phẩm vách ngăn văn phòng, thựchiện tư vấn, thiết kế trang trí nội thất theo từng yêu cầu của đối tác,
• Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng dịch vụ đó là những thỏa thuận của cácbên Các bên có thể thỏa thuận về các nội dung chủ yếu (theo điều 402
Bộ Luật dân sự 2005 ) như:
+ Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làmhoặc không được làm;
+ Số lượng, chất lượng;
+ Giá, phương thức thanh toán;
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
Trang 19+ Quyền, nghĩa vụ của các bên;
1.3.3.2 Thực hiện hợp đồng dịch vụ trong hoạt động kỉnh doanh
da lịch
• Nguyên tắc thực hiện
Sau khi hợp đồng được ký kết và có giá trị pháp lý, các bên phảithực hiện nghĩa vụ phát sinh từ họp đồng Việc thực hiện các nghĩa vụhợp đồng cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Hợp đồngdịch vụ trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế trang trí nội thất là một loại họpđồng dân sự, do đó việc thực hiện hợp đồng dịch vụ này phải đảm bảocác nguyên tắc thực hiện họp đồng dân sự Cụ thể, theo điều 412 BộLuật dân sự 2005 thì việc thực hiện hợp đồng phải tuân theo các nguyêntắc: thực hiện đúng hợp đồng, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại,thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác; thực hiện một cách trungthực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậylẫn nhau; không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích côngcộng, quyền và lợi ích họp pháp của người khác
Nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng,
sô lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác thếhiện: bên cung ứng dịch vụ phải cung ứng các sản phẩm đúng theo quyđịnh trong hợp đồng như: về đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại,
Trang 20và thời hạn Bên thuê dịch vụ phải thanh toán đủ các chi phí nhận hàng
và thanh toán theo đúng phưong thức thanh toán quy định trong hợpđồng hay theo quy định cụ thể trong pháp luật
Nguyên tắc thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác
và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau, the hiện: trong quátrình thực hiện hợp đồng, các bên không được lừa dối nhau, không cungcấp các sản phẩm không đúng yêu cầu của hợp đồng, không sử dụngnhững thủ đoạn trái pháp luật để thực hiện hợp đồng.Các bên trong quan
hệ hợp đồng phải họp tác trên tinh thần cùng có lợi
Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợiích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thế hiện: việcthực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến quyền và lợi ích của nhànước, lợi ích công cộng Không vì việc thực hiện hợp đồng mà xâmphạm quyền và lợi ích của người khác, lợi ích nhà nước và lợi ích côngcộng
• Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
Bên cung ứng dịch vụ sau khi giao kết hợp đồng phải có nghĩa vụcung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan mộtcách đầy đủ phù họp những thỏa thuận như thực hiện công việc đúng sốlượng, chất lượng, thòi hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác Khôngđược giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có sựđồng ý của bên thuê dịch vụ Sau khi hoàn thành công việc, bên cungứng dịch vụ phải bảo quản và giao lại cho khách hàng những tài liệu vàphưong tiện được giao đế thực hiện dịch vụ Neu những thông tin, tàiliệu không đầy đủ, phưong tiện không bảo đảm đế hoàn thành công việcthì phải thông báo ngay cho bên thuê dịch vụ Trong thỏa thuận có yêucầu cần giữ bí mật về thông tin mà mình biết thì trong quá trình cung
Trang 21ứng dịch vụ phải giữ bí mật theo đúng thỏa thuận Trường hợp mất mát,
hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin thìphải bồi thường thiệt hại
Đế thực hiện tốt công việc của mình, bên cung ứng dịch vụ cóquyền yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cóliên quan Hoặc được thay đối điều kiện dịch vụ vì lợi ích của kháchhàng mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của khách hàng, nếu việc chờ
ý kiến sẽ gây thiệt hại cho khách hàng, nhưng phải báo ngay cho kháchhàng
Theo điều 82 Luật thương mại quy định về thời hạn hoàn thànhdịch vụ Cụ thế: bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành đúng thời hạn đãthỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp không có thỏa thuân về thời hạnhoàn thành dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành dịch vụtrong một thời hạn họp lý trên cơ sở tính đến tất cả các điều kiện và hoàncảnh mà bên cung ứng dịch vụ biết được vào thời điểm giao kết hợpđồng, bao gồm bất kỳ nhu cầu cụ thể nào của khách hàng có liên quanđến thời gian hoàn thành dịch vụ Trường hợp một dịch vụ chỉ có thếđược hoàn thành khi khách hàng hoặc bên cung ứng dịch vụ khác đápứng các điều kiện nhất định thì bên cung ứng dịch vụ đó không có nghĩa
vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điều kiện đó được đápứng
Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụvẫn chưa hoàn thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứngdịch vụ phải tiếp tục cung ứng dịch vụ theo nội dung đã thỏa thuận vàphải bồi thường thiệt hại, nếu có
Bên cạnh đó, khách hàng phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiềncung ứng dịch vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng Neu có yêu cầu
Trang 22cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện thì phải cung cấpkịp thời Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùngtiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng cónghĩa vụ điều phối hoạt động của bên cung ứng dịch vụ để không gâycản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào và phải trảtiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo như thỏa thuận trong hợpđồng.
Theo tinh thần điều 86 Luật thương mại 2005, khoản 3 điều 524
Bộ Luật dân sự 2005 thì trường hợp có thỏa thuận về giá dịch vụ, không
có thoa thuận về phương pháp tính giá dịch vụ và cũng không có bất kỳchỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định theo giácủa loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức cungứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán vàcác điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ
Khách hàng phải trả tiền dịch vụ tại thời điểm hoàn thành dịch vụ,nếu không có thỏa thuận khác Trường hợp dịch vụ được cung ứngkhông đạt được như thỏa thuận hoặc công việc không được hoàn thànhđúng thời hạn thì khách hàng có quyền giảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồithường thiệt hại
1.3.3.3 Sửa đôi, chấm dứt, huỷ bỏ họp đồng dịch vụ trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
Trang 23• Chấm dút họp đồng
Điều 525 Bộ Luật dân sự quy định: trong trường hợp việc thựchiện công việc không có lợi cho khách hàng thì khách hàng có quyềnđơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhưng phải báo ngay cho bêncung ứng dịch vụ biết trước một thời gian họp lý, khách hàng phải trảtiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng đã thực hiện và bồi thườngthiệt hại Neu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc thựchiện không đúng thỏa thuận thì bên cung ứng có quyền đơn phuongchấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Điều 424 Bộ Luật dân sự 2005 quy định, hợp đồng chấp dứt trongcác trường hợp:
+ Hợp đồng đă được hoàn thành
+ Theo thỏa thuận của các bên
+ Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thếkhác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhânhoặc chủ thế đó thực hiện
+ Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đon phuong chấm dứt thực hiện+ Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợpđồng không còn và các bên có thế thỏa thuận thay thế đốitượng khác hoặc bồi thường thiệt hại+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định
• Hủy bỏ họp đồng
Một bên có quyền hủy bỏ họp đồng và không phải bồi thườngthiệt hại khi bên kia vi phạm họp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đãthỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Trang 24Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết việchủy bỏ họp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồithường.
Khi hợp đồng bị hủy bở thì hợp đồng không còn có hiệu lực từthời điếm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếukhông hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả tiền
Và bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệthại
• Đon phương chấm dứt thực hiện họp đồng
Điều 426 Bộ luật dân sự 2005 quy định chi tiết việc đơn phươngchấm dứt thực hiện hợp đồng Cụ thể:
Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếucác bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Bên đơn phương chấmdứt hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợpđồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồngchấm dứt tại thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt các bênkhông phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Bên đã thực hiện nghĩa vụ cóquyền yêu cầu bên kia thanh toán Bên có lỗi trong việc họp đồng bị đơnphương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại
1.3.3.4 Các chế tài áp dụng khi vi phạm họp đồng, gây thiệt hại
Trong trường hợp vi phạm họp đồng mà một bên gây thiệt hại chobên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giaokết họp đồng, thì bên vi phạm có thế bị áp dụng một trong các chế tàisau, tùy theo mức độ vi phạm: buộc thực hiện đúng hợp đồng; phạt vi
Trang 25phạm; buộc bồi thường thiệt hại; tạm ngừng thực hiện hợp đồng; đìnhchỉ thực hiện họp đồng; hủy bỏ hợp đồng; các biện pháp khác.
Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trườnghợp: xảy ra trường họp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận; xảy
ra sự kiện bất khả kháng; hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗicủa bên kia; hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơquan quản lý Nhà nước có thấm quyền mà các bên không biết được vàothời điểm giao kết hợp đồng
Trong trường hợp bên vi phạm không chứng minh được hành vi viphạm của mình thuộc trường hợp miễn trách thì bị áp dụng các hình thứcchế tài trên Các hình thức này được quy định cụ thế trong điều297,300,302,307,308,310,312,Luật thương mại 2005
1.3.3.5 Tranh chấp và các hình thức giải quyết tranh chấp trong hợp đồng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch
Trường hợp, nếu các bên thực hiện đúng các điều khoản ghi tronghợp đồng thì tranh chấp xảy ra là một điều không thế có Trong trườnghợp nếu xảy ra tranh chấp, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ căn cứ vàovào điều khoản ghi trong hợp đồng và nhũng quy định của pháp luật đếxác định xem bên nào vi phạm, bên nào bị vi phạm Từ đó, đưa ra nhữngcách giải quyết có lợi nhất cho cả hai bên
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước chuyển từnền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan niêu bao cấp sang nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủđộng hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Các quan hệ kinh tế ngày càng
đa dạng, không những được thiết lập giữa các tố chức trong nước vàngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước Trong
Trang 26điều kiện như vậy, việc nảy sinh các tranh chấp là một điều không thếtránh khỏi Đặc biệt là trong việc thực hiện các họp đồng dịch vụ.
Các tranh chấp phát sinh chứng tỏ quan hệ làm ăn của các chủ thể
có vấn đề, tức là đã có bất công, có mâu thuẫn mà nếu không giải quyếtkịp thời thì quan hệ làm ăn của họ có thế bị phá vỡ Điều quan trọng làviệc giải quyết các tranh chấp đó hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí củacác bên, sự can thiệp của Nhà nước có thấm quyền hay trung gian chỉ làgiải pháp cuối cùng Các quan hệ làm ăn này đều dựa trên sự thỏa thuận
ý chí bình đắng của các bên chủ thể, các quan hệ làm ăn biến đối theo sựthay đối của thị trường, thời gian là tiền, nên các tranh chấp cũng cầnđược giải quyết nhanh chóng, kịp thời Do vậy, Nhà nước luôn khuyếnkhích các chủ thế trong quan hệ hợp động sử dụng các biện pháp tự giảiquyết với nhau, chỉ khi không giải quyết được thì có thế nhờ chuyên gia
có kinh nghiệm giải quyết hoặc thông qua trọng tài thương mại
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các bên tham gia quan hệthương mại, đầu tư và hợp tác vừa cạnh tranh với nhau nhằm mục đíchthu lợi nhuận tối đa cho mình, các tranh chấp xảy ra là một điều khôngthế tránh khỏi Trong điều kiện đó, việc giải quyết các tranh chấp phảibảo đảm: giải quyết nhanh, thuận lợi, hạn chế mức tối đa sự gián đoạncủa quá trình thực hiện hợp đồng, đảm bảo dân chủ trong quá trình giảiquyết tranh chấp, bảo vệ uy tín của các bên trên thương trường, bảo đảmyếu tố bí mật trong kinh doanh, đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệmột cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp của các bên
Trước yêu cầu đó, mục tiêu đặt ra là tạo ra nhiều phương thức giảiquyết tranh chấp khác nhau để các nhà kinh doanh có thể thực hiệnquyền tụ1 do của mình Đồng thời, bảo đảm các phương thức đó được xâydựng theo hướng từng bước phù hợp với thông lệ, tập quán quốc tế
Trang 27Thế chế kinh tế thị trường cho phép các chủ thế kinh doanh cóquyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật không cấm Xuấtphát từ quyền tự do kinh doanh, các chủ thể tự do thỏa thuận và đưa racác nguyên tắc xử sự, các chủ thể có những lựa chọn khác nhau cho hành
vi của mình trên co sở các quy phạm pháp luật mang tính tùy nghi, cácchủ thế có những hành vi và thỏa thuận mà pháp luật không dự liệunhững vẫn không bị xem là trái pháp luật Đứng trước góc độ Nhà nướcthì Nhà nước được quyền chủ động đưa các tranh chấp đó ra xét xử Tuynhiên, quyền tự do thỏa thuận của các chủ thế kinh doanh phù họp vớipháp luật là một quyền trong quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo
hộ Vì vậy, các chủ thế kinh doanh có quyền lựa chọn hình thức giảiquyết các tranh chấp nhằm bảo vệ lợi ích cho mình mà không chịu sự ápđặt ý chí của Nhà nước Theo quy định của pháp luật, các phương thứcđược sử dụng đế giải quyết tranh chấp gồm thương lượng, hòa giải, trọngtài, tòa án
Trong đó, thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp khôngcần đến vai trò của người thứ ba Đặc điểm cơ bản của thương lượng làcác bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, tìm các biện phápthích hợp và đi đến thoa thuận thống nhất Yêu cầu của quá trình thươnglượng là: đòi hỏi các bên phải có thiện chí, hợp tác và có đầy đủ những
am hiểu cần thiết về chuyên môn Ket quả của thương lượng là nhữngcam kết, thỏa thuận về những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ bế tắc hoặcbất đồng phát sinh mà các bên thường không ý thức được trước đó
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp một cách thân thiệnnhằm tiếp tục gìn giữ và phát triển các quan hệ kinh doanh trong mộtthời gian dài vì lợi ích chung của cả hai bên Các giao dịch thương mạingày càng gia tăng với tốc độ phức tạp ngày càng cao, việc các bên
Trang 28không chỉ đạt được thỏa thuận trong một tranh chấp, mà còn gìn giữ cácquan hệ làm ăn lâu dài là điều cơ bản và nhạy cảm với các nhà kinhdoanh Để đạt được mục tiêu này, các bên phải có được cơ hội để bộc lộ,giải tỏa, xóa bỏ những hiểu lầm, xác định các lợi ích nền tảng của mình
và những lĩnh vực có thể thỏa thuận để tìm ra giải pháp chung
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là hình thức giải quyết tranhchấp tại trung tâm trọng tài trong đó các bên tranh chấp sẽ lựa chọn trọngtài viên cho mình đế giải quyết tranh chấp Hai trọng tài viên được chọn
sẽ chọn một trọng tài viên làm chủ tịch hội đồng trọng tài đế giải quyếttranh chấp
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranhchấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danhquyền lực Nhà nước đế đưa ra phán quyết buộc các bên phải có nghĩa vụthi hành, trong trường hợp cần thiết có thế sử dụng sức mạnh cưỡng chế.Đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuốicùng đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi họ không thếgiải quyết thông qua cơ chế hòa giải, thương lượng hay không muốn lựachọn trọng tài để giải quyết tranh chấp
Theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2003 thì Tòa án có thẩmquyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanhthương mại với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồmimua bánhàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê,cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa,hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận chuyểnhàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổphiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảohiếm; thăm dò, khai thác;
Trang 29Phương thức giải quyết thông qua Tòa án hay Trung tâm Trọng tài
là những thủ tục giải quyết tranh chấp mang tính chất tài phán Trong đó,Trọng tài được coi là Tòa án tư trong việc giải quyết tranh chấp Thẩmquyền của Tòa án và Trọng tài đều là giải quyết tranh chấp trong kinhdoanh thương mại, tuy nhiên thủ tục tổ tụng của hai phương thức nàyđược tiến hành khác nhau Tòa án nhân danh quyền lực của Nhà nướctrong việc xét xử, còn trọng tài nhân danh ý chí tối cao của các bênđương sự Trong quá trình xét xử tại Tòa án, các bên không có quyền lựachọn Thẩm phán và Tòa án xét xử, còn trọng tài thì ngược lại, các bên cóquyền lựa chọn trọng tài viên, trung tâm trọng tài đế giải quyết tranhchấp của mình
Mỗi phương thức đều có những ưu thế cũng như những hạn chếcủa nó, do đó khi tranh chấp xảy ra các bên có thể thỏa thuận chọnphương thức giải quyết tranh chấp thích hợp nhất Đế tạo điều kiện chocác nhà kinh doanh, trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, thời gian
là vàng là bạc, do đó việc giải quyết tranh chấp cũng phải được tiến hànhnhanh chóng thuận lợi cho các bên
Trang 30CHƯƠNG 2: THựC TIỄN ÁP DỤNG CHÉ Độ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐÔNG DỊCH VỤ TẠI CÔNG TY DLDV QUÂN KHU THỦ ĐÔ 2.1 Tống quan về Công ty Du lịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
* Quyết định thành lập
Hàng trăm doanh nghiệp làm nhiệm vụ tạo nguồn thu cho ngânsách Đảng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làmcho hàng chục ngàn người Lợi nhuận của các doanh nghiệp ngày mộttăng, đóng góp một phần ngân sách cho Nhà nước, đồng thời tạo nguồnthu bổ sung vốn đế mở rộng sản xuất - kinh doanh cho các doanh nghiệpcủa Đảng Dưới sự chỉ đạo đó, Ban Thường vụ Thành uỷ Hà nội đã cónghị quyết chỉ rõ công tác tài chính Đảng có vị trí quan trọng trong thựchiện nhiệm vụ xây dựng Đảng là đảm bảo vật chất cho sự lãnh đạonhiệm vụ chính trị của toàn Đảng Bộ Cụ thế, việc đầu tư vốn cho sảnxuất - kinh doanh phải chú trọng vào thực hiện phưong hướng chính:kinh doanh bất động sản, quảng cáo, khách sạn kết hợp dịch vụ du lịchchủ yếu trên địa bàn Hà nội các doanh nghiệp làm kinh tế Đảng phảikinh doanh có hiệu quả, gương mẫu thực hiện đường lối chính sách củaĐảng, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước Thực hiện đúngđường lối chỉ đạo của Thường vụ Thành uỷ Hà nội, những năm qua cácDoanh nghiệp của Đảng Bộ Hà nội đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu đượcgiao, đóng góp ngân sách cho Nhà nước và một phần quan trọng chongân sách của Đảng Bộ Hà nội
Công ty Du lịch Dịch vụ Quân khu Thủ đô - ra đời theo Quyếtđịnh thành lập doanh nghiệp Nhà nước số 96 QĐ/UB ngày 14/1/1994
Trang 31của UBND thành phố Hà nội - nhằm đáp ứng mục tiêu bố sung ngânsách Đảng cho Thành uỷ Hà nội .
Trụ sở chính: Khách sạn ATS - 33B Phạm Ngũ Lão Hà nội
Ngành nghề kinh doanh:
+ Kinh doanh lữ hành nội địa, quốc tế; kinh doanh vận chuyểnhành khách;
+ Kinh doanh khách sạn, ăn uống;
+ Kinh doanh du lịch phục vụ khách trong và ngoài nước;
+ Tố chức các dịch vụ, thương mại;
+ Liên doanh, liên kết với các tố chức cá nhân trong và ngoài nước
đế mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
+ Kinh doanh rượu ngoại, thuốc lá ngoại;
sử dụng buồng phòng 75% Hàng năm có khoảng 10 nghìn lượt khách đâlưu trú tại khách sạn ATS
Nằm trong khuôn viên cây xanh là 2 toà nhà 4 tầng gồm 56 phòngvới đầy đủ tiện nghi hiện đại đạt tiêu chuẩn khách sạn 3 sao (Do Tổngcục Du lịch Việt nam cấp) Khách sạn ATS toạ lạc trên diện tích 2.500
m2 gần Hồ Gưom Bên cạnh đó là khách sạn ARMY 33C - Phạm Ngũ
Trang 32Lão; Nhà khách Bộ Quốc Phòng chuyên đón khách ngoại giao của ChínhPhủ Hệ thống liên hoàn 3 khách sạn trên cùng một đoạn phố Phạm NgũLão tạo cho khách sạn ATS có một thế mạnh đặc biệt:
Một là: An ninh cho khách và tài sản của khách, Khu vực Quân
khu Thủ đô có chế độ gác 24/24 giò Đoạn phổ Phạm Ngũ Lão không cónhiều ôtô đi lại nên rất yên tĩnh, tạo cho khách cảm giác thật là sảngkhoái, an toàn trong giấc ngủ sâu sau một ngày đi du lịch mệt mỏi
Hai là: Do cơ chế cạnh tranh đế tăng doanh thu, đạt đuợc các chỉ
tiêu giao nộp cho Ngân sách và cho cấp trên nên ở khách sạn ATS cómột phong cách chăm sóc khách thật sự chu đáo Khách đến ATS tựanhư là về chính nhà mình Mọi dịch vụ đầy đủ được phục vụ quý kháchnhư: giặt là quần áo, gửi thư ảnh, thư điện tử, mạng internets, xem tivivới đầy đủ các kênh quốc tế, giải trí hát karaoke, bế bơi nước mặn Neu khách muốn đi tham quan danh lam thắng cảnh của thủ đô Hà nộithì có đột ngũ hướng dẫn viên du lịch nhiều kinh nghiệm giới thiệu nhiệttình Các Tours lữ hành vệ tinh phối hợp nhịp nhàng tạo cho khách một
Chức năng chính của công ty bao gồm:
- Kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn phục vụ nhu cầu tiếpđón khách trong nước và quốc tế của các cơ quan thuộc khối Thành ủy
Hà Nội
Trang 33- Thực hiện các hoạt động thương mại, dịch vụ, chất lượng caotheo hợp đồng với khách hàng.
Nhiệm vụ
- Xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh và dịch vụ, pháttriển theo kế hoạch và mục tiêu chiến lược của công ty;
- Xây dựng ngân sách Đảng cho Thành úy Hà Nội;
- Thực hiện việc chăm lo và không ngừng cải thiện điều kiệnlàm việc, đời sống vật chất tinh thần, bồi dưỡng nâng cao trình độ vănhóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn cho cán bộ công nhân viên trongcông ty;
- Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường, giữgìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm tròn nhiệm vụ quốc phòng
Mối quan hệ giữa công ty với các cơ quan hữu quan
- Chấp hành pháp luật, thực hiện nghiêm túc các quy định củaChính phủ có liên quan đến công ty;
- Thực hiện quy hoạch, chiến lược phát triển công ty trong tổngthế quy hoạch, chiến lược phát triến ngành, lãnh thố của Nhà nước;
- Chấp hành các quy định về thành lập, tách, nhập, giải thể, cácchính sách về tố chức, cán bộ, chế độ tài chính, tín dụng, thuế, thu lợinhuận, các chế độ về kế toán, thống kê;
- Chịu sự kiếm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật, chủ trương,chính sách, chế độ của nhà nước tại công ty;
- Được đề xuất, kiến nghị về các giải pháp, cơ chế, chính sáchquản lý của Nhà nước đối với công ty
- Được quản lý và sử dụng vốn, tài sản, đất đai, vùng nước cácnguồn lực khác do Nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh vàphải bảo toàn, phát triến các nguồn lực đó
Trang 34- Đựơc hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá và các chế độ khác theoquy định của Chính phủ.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty Du lịch Dịch vụ QKTĐ
So' đồ 2.1: Co’ cấu tổ chức của Công ty DLDV QKTĐ
Đe đáp ứng được nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh trong ngànhkhách sạn bộ máy quản lý được sắp xếp bố trí khoa học, gọn nhẹ, phânđịnh chức năng rõ ràng
2.1.2.1 Hội đồng quản trị
Chịu trách nhiệm trong việc tố chức kinh doanh, quản lý quy trìnhlàm việc đồng thời kiếm tra giám sát mọi hoạt động các bộ phận trongtoàn khách sạn,kịp thời xử lý các tình huống cấp thiết xảy ra Quản lýtrực tiếp toàn diện đội ngũ các cán bộ công nhân viên tuyển chọn laođộng, xây dựng quy chế tiền thưởng hợp lí áp dụng trong khách sạn
Trang 352.1.2.2 Giám đốc
Giám đốc trực tiếp điều hành và quản lý công ty, xem xét các ýkiến đóng góp của các phòng,từ đó đề ra những chiến lược kinh doanhcho công ty Thông báo tình hình kinh doanh của công ty cho hội đồngquản trị Thực hiện so sánh các kỳ kinh doanh đế đề ra phương án kinhdoanh cho phù họp với tình hình cụ thế của khách sạn
- Chịu trách nhiệm điều hành và quản lý khách sạn;
- Quyết định đường lối hoạt động của khách sạn;
- Chịu trách nhiệm về mọi hoạt động cao nhất của khách sạn:
+ về nghiên cứu thị trường;
+ về quảng cáo Marketting du khách;
+ về giá cả,các dịch vụ khách sạn;
+ về các mối quan hệ trong khách sạn và các cơ sở kinh
doanh du lịch khác
Trưởng các bộ phận có trách nhiệm thực hiện các kế hoạch đã đặt
ra và chịu trách nhiệm trước Giám đốc
2.1.23 Phó giảm đốc
Phó giám đốc giúp việc Giám đốc điều hành và quản lý khách sạnhàng ngày chịu trách nhiệm quản lý phân viêc được phân.Phó giám đốctrực tiếp quản lý tố hành chính bảo vệ ,giám sát các hoạt động của tố vàchịu trách nhiệm trước giám đốc về kết quả hoạt động của tổ hành chínhbảo vệ
2.1.2.4 Phòng kế toán
Tham mưu cho Giám đốc công ty về lĩnh vực tài chính kếtoán,thực hiện kiếm tra,giám sát về việc thực hiện các chế độ chínhsách,các quy chế trong lĩnh vực tài chính theo quy định của Nhà nước và
Trang 36của công ty Thực hiện công tác hạch toán kế toán theo quy định củaNhà nước,đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của Công ty.
Ke toán trưởng có chức năng nhiệm vụ kiếm tra,cố vấn cho Giámđốc về tình hình tài chính cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh trongkỳ
Hai kế toán viên có chức năng nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt độngnhập,xuất của khách sạn,các khoản thu chi vơi mụ địch phòng chổng sựlãng phí tài sản Cung cấp các số liệu phục vụ hoạt động phân tích kếtquả sản xuất kinh doanh của khách sạn
2.1.2.5 Phòng kinh doanh
Là một bộ phận cực kỳ quan trọng không thiếu trong bất kì đơn vịnào.Trong công ty Dịch vụ Quân khu Thủ Đô,phòng kinh doanh có tráchnhiệm thay mặt Giám đốc quản lý,giám sát và điều hành các tổ lễ tân,tốbuồng,tô bếp,tố nhà hàng .Phòng kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽcủa Giám đốc,chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc về kết quả kinhdoanh trong kì của các tổ trên
2.1.2.6 Phòng hành chính-tông hợp
Phòng hành chính - tống hợp có chức năng nhiệm vụ
Nghiên cún đề xuất Giám đốc và triến khai thực hiện môhình tổ chức sản xuất kinh doanh đã được Công ty phê duyệt và tổ chứclao động trong khách sạn
Triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộcông nhân viên chức về nghiệp vụ chuyên môn
Xây dựng và tố chức kế hoạch lao động,tiền lương,lựa chọncác hình thức trả lương phù hợp,thanh toán tiền lương hàng tháng kịpthời đế khuyến khích sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Trang 372.1.2.7 Văn phòng du lịch
Phòng kinh doanh du lịch có chức năng nhiệm vụ :
+ Xây dựng chương trình và tố chức các tour du lịch cho khách dulịch lưu trú tại khách sạn,khách vãng lai (đặc biệt là khách quốc tế ) .Phòng kinh doanh du lịch vừa đóng vai trò tổ chức trực tiếp vừa làmhướng dẫn viên Khi khách đông,phòng có thể thuê thêm nhân viênhướng dẫn và phương tiện của nơi khác
+ Đưa đón khách ở sân bay,đặt vé,mua vé Cung cấp các thông tin
về kinh tế ,xã hội văn hóa,tuyến điếm mà khách sẽ thăm quan cho khách
+ Nghiên cứu các nhu cầu của khách hàng đế đưa ra các chươngtrình du lịch phù hợp.Chịu trách nhiệm trước giám đốc về kết quả kinhdoanh của phòng
2.1.2.8 Tổ lễ tân
a Chức năng
Là bộ phận tiếp xúc trực tiếp chủ yếu giữa khách sạn với kháchhàng.Đây là đầu mối liên hệ giữa khách du lịch với các bộ phận khác,cóvai trò định hướng tiêu dùng của khách khi đang lưu trú,thay mặt kháchsạn đáp ứng nhu cầu của khách.Ngoài ra còn là trung tam phối hợp mọihoạt động của các bộ phận khác trong khách sạn và giúp các bộ phậnhoạt động có hiệu quả
Bên cạnh đó,tố lễ tân còn có chức năng tham mưu cho giám đốccung cấp các hoạt động thông tin tù’ khách hàng đến ban ban lãnhđạo,giúp họ có thế điều chỉnh kế hoạch và hoạt động kinh doanh phù hợp
b Nhiệm vụ
Có nhiệm vụ đăng ký đặt phòng liên quan đến việc quản lý nhữngyêu cầu đặt phòng trước qua điện thoại,internet,fax
Trang 38Làm thủ tục check in và check out liên quan đến việc chàođón,đăng ký khách đến,quản lý khách đến,quản lý phòng hiện có,bố tríphòng,trao chìa khóa và làm thủ tục trả phòng cho khách khi họ rờikhách sạn.
Có nhiệm vụ thông tin liên lạc bao gồm cả việc quản lý thông tin,thu tù’ cà điện tín của khách đến và đi Nhân viên ở bàn đón tiếp cótrách nhiệm nhận thông tin và các yêu cầu tù' phía khách.Trao cho kháchcác thông tin về hoạt động ,dịch vụ của khách sạn nếu khách có yêu cầu
Hoạt động thu ngân của khách sạn bao gồm cả việc xác định tìnhtrạng nợ,đưa hóa đơn khi trả phòng và quản lý các khoản thanh toán củakhách ,thu tiền trả cho dịch vụ khách đã dùng của khách sạn
Nhân viên bộ phận đón tiếp cũng cần phải thống kê các hoạt độngđặt phòng và sử dụng phòng,duy trì các mối liên hệ với bộ phận quản lýtrong phòng và cân đối việc đặt phòng hàng ngày
c Tô chức nhân sự
Tố lễ tân bao gồm 6 nhân viên với 1 phụ trách bộ phận với 5 nhânviên lễ tân Phụ trách bộ phận lễ tân có trách nhiệm tố chức phân cônglao động,tham mưu cho Giám đốc về các hoạt động,thay mặt bộ phậngiao dịch ,ký kết văn bản của bộ phận
về trình độ chuyên môn ,các nhân viên trong tố lễ tân đều biết ítnhất một ngoại ngữ và tất cả các nhân viên đều qua các lớp chuyênngành du lịch và có bằng đại học hoặc trung cấp
Các nhân viên trong tổ lễ tân làm việc theo 3 ca,bảo đảm phục vụkhách hàng tốt nhất 24/24 :
Ca I: Từ 6h đến 14h
Ca II: Từ 14h đến 22h
Ca III: Từ 22h đến 6h sáng hôm sau