Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, Trạm Thú y huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên, em tiến hành chuyên đề “Điều tra tình hình n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Lớp: K43 - CNTY
Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2011 - 2015 Giảng viên HD: TS Đỗ Quốc Tuấn
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được sự dạy bảo ân cần của các thầy cô giáo và đạt được những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, cũng như đạo đức, tưc cách của một người cán bộ khoa học kĩ thuật, giúp tôi vững bước trong cuộc sống sau này
Để hoàn thành bản chuyên đề thực tập tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân em luôn luôn nhận được sự hướng dẫn tỉ mỉ, của thầy
giáo hướng dẫn TS Đỗ Quốc Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em
hoàn thành khóa luận của mình
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú
y, các cô chú ở Trạm thú y huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên, cùng toàn thể thầy, cô giáo, bạn bè đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt bốn năm học tại trường
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú
y luôn mạnh khỏe, thành công trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Thị Xuân
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành một kĩ sư được xã hội chấp nhận, mỗi sinh viên khi ra trường cần trang bị cho mình vốn kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội Do vậy, thực tập tốt nghiệp là hết sức quan trọng giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen công việc Qua đó, sinh viên sẽ nâng cao trình độ, đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc khoa học, có tính sáng tạo, để ra trường phải là một cán bộ vững vàng lý thuyết, giỏi về tay nghề đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi – Thú y, Trạm Thú y huyện Phú Bình – tỉnh Thái
Nguyên, em tiến hành chuyên đề “Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng
ở lợn giai đoạn sơ sinh đến cai sữa của một số xã thuộc huyện Phú Bình và
áp dụng phác đồ điều trị”
Qua thời gian thực tập tại Trạm Thú y huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên, được sự giúp đỡ của Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo, cán bộ Trạm Thú y, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, cùng với sự cố gắng nỗ lực của bản thân mình, em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp trong thời gian qua và thu được một số kết quả nhất định
Do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế còn chưa nhiều nên bản chuyên đề của em còn gặp nhiều sai sót Em rất mong được sự góp ý kiến của các thầy cô giáo để bản chuyên đề của em được hoàn chỉnh hơn
Trang 5Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Kết quả phục vụ sản xuất 38
Bảng 4.2 Tỷ lệ lợn mắc bệnh phân trắng lợn con theo đàn và theo cá thể 39
Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuổi lợn 42
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 44
Bảng 4.5.Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tình trạng vệ sinh thú y 44
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng trong năm 2014 46
Bảng 4.7 Tỷ lệ biểu hiện triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh 48
Bảng 4.8 Kết quả điều trị lần 1 49
Bảng 4.9 Kết quả điều trị lần 2 50
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.1.1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
1.1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát tiển của lợn con theo mẹ 4
2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa 5
2.1.3 Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt 7
2.1.4 Đặc điểm về khả năng hình thành kháng thể miễn dịch ở lợn con 8
2.1.5.Các thời kì quan trọng của lợn con 9
2.2 Những hiểu biết về vi khuẩn E coli 10
2.2.1 Đặc điểm hình thái 10
2.2.2 Đặc điểm nuôi cấy 11
2.2.3 Đặc tính sinh hóa 11
2.2.4 Cấu trúc kháng nguyên 12
2.2.5 Độc tố 12
2.2.6 Sức kháng của mầm bệnh 13
2.3 Hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con 13
Trang 82.3.1 Nguyên nhân gây bệnh 13
2.3.2 Cơ chế sinh bệnh 16
2.3.3 Dịch tễ của bệnh 16
2.3.4 Đường truyền bệnh 17
2.3.5 Triệu chứng lâm sàng 18
2.3.6 Bệnh tích 19
2.3.7 Phòng bệnh 19
2.3.8 Trị bệnh 21
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU25 3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp theo dõi 25
3 4.2 Phương pháp đánh giá kết quả điều trị 26
3.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 27
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Nội dung, phương pháp, kết quả phục vụ sản xuất 28
4.1.1 Nội dung phục vụ sản xuất 28
4.1.2 Phương pháp tiến hành 28
4.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 29
4.2 Kết quả nghiên cứu 39
Trang 94.2.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo đàn, cá thể 39
4.2.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuổi lợn 42
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 43
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tình trạng vệ sinh thú y 44
4.2.5 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tháng 45
4.2.6 Tỷ lệ triệu chứng của bệnh phân trắng lợn con 48
4.3 Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn 49
Phần 5: KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
1.1.1 Tính cấp thiết của Đề tài
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam là một nghề có từ lâu đời và giữ vai trò hết sức quan trọng trong phát triển nông nghiệp Thịt lợn chiếm từ 70 - 80% tổng
số thịt cung cấp ra thị trường Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn của nước ta phát triển rất mạnh cả về số lượng về chất lượng Nhu cầu giống lợn
có chất lượng cao của xã hội ngày càng tăng nhanh chóng Nhiều cơ sở chăn nuôi lợn tập trung và các hộ gia đình đã chú ý phát triển chăn nuôi lơn nái để tăng số lượng con giống, đáp ứng nhu cầu của chăn nuôi lợn thịt Tuy nhiên, việc sản xuất lợn con giống còn gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều, làm giảm chất lượng con giống
Trong cuộc đời của loài lợn, dịch bệnh xuất hiện đồng thời tương ứng với từng giai đoạn phát triển, ở mỗi giai đoạn mức độ nghiêm trọng của bệnh dịch với sức khoẻ của lợn lại biểu hiện không rõ lúc nặng lúc nhẹ Song đáng lưu ý là giai đoạn lợn con theo mẹ, ở giai đoạn này bộ máy tiêu hoá của lợn con chưa phát triển hoàn thiện, hơn nữa sức đề kháng với bệnh tật lại kém, nên lợn rất dễ mắc bệnh về đường tiêu hoá, tiêu biểu là bệnh lợn con ỉa phân trắng Hậu quả từng bệnh này gây ra với đàn lợn đó là: Lợn con gầy gộc, chậm lớn ống tiêu hoá bị tổn thương, tỷ lệ sống thấp từ đó dẫn đến số lượng, chất lượng con giống giảm, khiến cho năng xuất lợn thịt giảm đáng kể Với " Lợn ỉa phân trắng" đây là bệnh truyền nhiễm thông thường xảy ra với đàn lợn con theo mẹ, gây ỉa chảy ở một số con hoặc cả đàn Bệnh xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân như chất lượng sữa mẹ không tốt, thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, vệ sinh chuồng trại kém, thiếu nguyên tố vi lượng sắt, một số Serotyp thuộc họ Salmonella nhưng xét riêng nguyên nhân vi khuẩn học thì
các Serotyp vi khuẩn E.coli có khả năng sản sinh ra độc tố đường ruột (Enteroxigenie E.coli - Etec) đã đang được coi trọng và là một trong số các
Trang 11nguyên nhân thường gặp và quan trọng nhất gây bệnh lợn con ỉa phân trắng giai đoạn từ 1-3 tuần tuổi Để đóng góp phần nào nghiên cứu tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi, đồng thời tìm ra loại thuốc điều trị có hiệu quả cao Bệnh phân trắng lợn con là bệnh rất phổ biến trong chăn nuôi lợn giống ở nước ta Nếu không được phòng trị kịp thời, bệnh phân trắng ở lợn con có thể gây ra tỷ lệ chết cao, thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, làm giảm nghiêm trọng chất lượng con giống và là nguyên nhân làm giảm năng suất của lợn trong giai đoạn nuôi thịt
Thực tế qua nhiều năm cho thấy đàn lợn con bệnh phân trắng là rất phổ biến và gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi Vì vậy việc điều tra tình hình nhiễm bệnh là rất cần thiết để kịp thời đưa ra các biện pháp điều trị nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại cho ngành chăn nuôi
Trước tình hình thực tế và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y
và thầy giáo hướng dẫn, trong phạm vi chuyên đề này, tôi tiến hành đề tài:
“Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến cai sữa của một số xã thuộc huyện Phú Bình và áp dụng phác đồ điều trị”
1.1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nắm được tình hình nhiễm bệnh phân trắng trên đàn lợn con nuôi tại
một số xã của huyện Phú Bình
- Chẩn đoán và đưa ra một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng trên đàn
lợn con nuôi tại một số xã của huyện Phú Bình
- Có cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi và giúp đỡ người chăn nuôi có những định hướng và kế hoạch trong phát triển chăn nuôi lợn
1.1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
1.1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về hiệu quả của thuốc trong điều trị bệnh phân trắng lợn con, góp phần xây dựng và đề xuất trong việc sử dụng trong quá trình phòng và trị bệnh phân trắng lợn con
Trang 12Kết quả của đề tài là cơ sở phục vụ cho nghiên cứu học tập của sinh viên những khóa sau
1.1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn giúp các cơ sở và người chăn nuôi
áp dụng để điều trị bệnh phân trắng lợn con đạt hiệu quả cao, giảm thiệt hại
về kinh tế trong ngành chăn nuôi
Trang 13
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tên đề tài: “Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn giai
đoạn sơ sinh đến cai sữa của một số xã thuộc huyện Phú Bình và áp dụng
phác đồ điều trị”
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát tiển của lợn con theo mẹ
Theo Lê Huy Liễu (2002) [21], khi nghiên cứu về sinh trưởng ta không thể không đề cập đến quá trình phát triển Sự phát dục của gia súc là quá trình tăng thêm, hoàn chỉnh thêm về chức năng của từng cơ quan, bộ phận để cơ thể có thể phát triển sinh trưởng và phát dục, là 2 mặt của quá trình phát triển của cơ thể Hai mặt này không có ranh giới, có phát dục đồng thời có sinh trưởng và ngược lại
Lợn con ở giai đoạn này có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh
So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi trọng lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 - 14 lần
Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn con rất mạnh, lợn con sau 20 ngày tuổi, mỗi ngày cần tích lũy 9 - 14 gram protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích được 0,3 - 0,4 gram/1kg khối lượng cơ thể (Hà Thị Hảo và Trần Văn Phùng, 2003) [8] Điều đó cho thấy, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con cao hơn lợn trưởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein Mặt khác, ta biết lợn con trong thời
kỳ này chỉ tích luỹ nạc là chính Vì vậy, tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn trưởng thành
Trang 14Tác giả Nguyễn Khánh Quắc và Cs (1993) [27], cho biết: Các thành phần trong cơ thể lợn thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần theo tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều Hàm lượng lipit tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi Hàm lượng protein cũng tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định Hàm lượng khoáng có biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21 - 56 ngày tuổi giảm không đáng kể
2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa được hoàn thiện, chủ yếu là sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già
Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc
20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 5 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non có quan hệ đến khả năng tiêu hóa cellulose khá cao trong thức ăn bổ sung Vì vậy, lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi
Cơ quan tiêu hoá của lợn phát triển hơn các cơ quan khác, khi còn trong bào thai, bộ máy tiêu hoá đã phát triển đầy đủ, song dung tích còn bé Ở miệng lợn mới sinh những ngày đầu, hoạt tính amylaza trong nước bọt cao Men amylaza chủ yếu tiêu hoá thức ăn bột đường còn lại, thức ăn xuống dạ dày tiêu hoá tiếp
Trang 15Dạ dày tiết ra các dịch vị, các men tiêu hóa, khi thức ăn xuống dạ dày,
cơ trơn co bóp nhào trộn thức ăn, cùng với đó các men tiêu hóa được thêm vào thức ăn Men tripsinogen nhờ tác dụng của HCl chuyển thành tripsin có tác dụng thủy phân protit, peptit Dịch vị tiêu hóa trong dạ dày lợn là khác nhau: ở lợn con bú sữa dịch vị tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, trong khi đó ở lợn trưởng thành lượng dịch vị ban ngày tới 62%, ban đêm chỉ 38%
Theo Nguyễn Thiện và Cs (1998) [31], thì hàm lượng HCl của lợn con
là 0,05 - 0,15%, ở lợn 90 ngày tuổi là 0,2 - 0,25%, lợn trưởng thành 0,35 - 0,40% Số lượng và chất lượng thức ăn tốt sẽ làm tăng tính ngon miệng, dịch
vị tiết ra nhiều, tỷ lệ tiêu hóa cao Ban đêm tỷ lệ tiêu hóa cao hơn ban ngày, ban ngày dịch vị lại tiết ra nhiều hơn
Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và Cs, 1986) [4] Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này được gọi là hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con Vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây nhiều bệnh đường tiêu hóa ở lợn con (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [9]
Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra Dịch ruột cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ
dạ dày, như vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao xuống từ dạ dày Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu
Trang 16hóa chưa triệt để Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải, hấp thu lại nước và chất khoáng Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột già từ 12 - 16 giờ Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein được tiêu hóa Các chất không tiêu hóa hết được các vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc như crezol, phenol… Các sản phẩm này được hấp thu vào máu và được giải độc ở gan, phần cặn bã đi vào kết tràng, được tạo thành khuôn phân
và được thải ra ngoài
2.1.3 Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa cân bằng Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân:
- Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt hoạt động kém vì vỏ đại não phát triển chưa hoàn chỉnh, năng lực phản ứng còn yếu, dễ bị ảnh hưởng khi khí hậu bên ngoài thay đổi đột ngột
- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên thân lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt để chống rét hạn chế và khả năng giữ nhiệt kém
- Do diện tích bề mặt cơ thể lợn so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên dễ bị mất nhiệt khi thời tiết thay đổi
Trong bào thai, dinh dưỡng chuyển qua hệ tuần hoàn nhau thai, khi đẻ nguồn dinh dưỡng đó mất đột ngột Vì vậy, trong vòng 30 phút đầu tiên, thân nhiệt lợn con giảm đột ngột từ 38,9 - 39,10C xuống còn 36,7 - 37,10C Sau khi
đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau thân nhiệt ổn định Nếu 4 giờ sau đẻ, lợn con mới được bú sữa đầu thì phải mất 18 - 24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường
Trang 17Các kết quả nghiên cứu của Cù Xuân Dần và Cs (1996) [3] về lợn con trong những năm qua đều cho thấy thân nhiệt của lợn nội từ khi mới đẻ đến khi cai sữa là:
Tuổi (ngày) Thân nhiệt (0C)
Sơ sinh 38,30C ± 0,6
10 (ngày tuổi) 39,60C ±1,0
20 (ngày tuổi) 39,70C ±0,9
30 (ngày tuổi) 39,30C ±0,6
Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 380C, sau 10 ngày tăng lên 39,5
- 39,70C và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 10C
Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi và tuổi của lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp, thân nhiệt lợn con hạ xuống càng nhanh, tuổi của lợn con càng ít thân nhiệt hạ xuống càng nhiều Do lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh, nhất là bệnh ỉa phân trắng
Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65 - 70%
2.1.4 Đặc điểm về khả năng hình thành kháng thể miễn dịch ở lợn con
Theo Trần Văn Phùng và Cs [25] cho biết: Vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh dường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng lợn con Do đó, để hạn chế bệnh đường tiêu hóa ta có thể kích thích vách tế bào tiết ra HCl tự do sớm hơn, bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl
tự do có thể được tiết ra từ 14 ngày tuổi
Trang 18Ở lợn con mới đẻ, trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể nhưng lượng kháng thể tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ
Do vậy, khả năng miễn dịch của lợn con hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa đầu của mẹ
Theo Phùng Ứng Lân (1996) [20], lợn con mới đẻ ra trong máu không
có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu tăng lên một cách nhanh chóng, sau 3 –
4 tuần lại giảm, đến 5 – 6 tháng nó lại tăng lên và đạt đến chỉ số bình thường
là 65 mg γ -globulin/ 100 ml máu
Lợn con hấp thụ γ - globulin bằng con đường ẩm bào, 24 giờ sau khi được bú sữa đầu hàm lượng globulin trong máu đạt tới 20,3 ml/100 ml máu Sau 24 giờ, sự hấp thụ globulin kém dần hàm lượng γ - globulin trong máu lợn tăng lên chậm hơn Do đó, lợn con càng được bú sữa đầu càng sớm càng tốt
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein chiếm tới 18 – 19%,trong đó lượng γ - globulin chiếm số lượng khá lớn 30 – 35%, globulin
có tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của lợn con
Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu trong 20 ngày đầu lợn không có kháng thể.Vì vậy, những lợn không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém và tỉ lệ chết cao
2.1.5.Các thời kì quan trọng của lợn con
Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt lợn con
dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Trang 19Thời kỳ 3 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ sau khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi từ bú sữa mẹ đến cai sữa hoàn toàn Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp nên giai đoạn này nếu chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ
bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hoá, hô hấp
2.2 Những hiểu biết về vi khuẩn E coli
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, giống Escherichia Trong số các vi khuẩn hiếu khí trong đường tiêu hoá của
động vật thì E coli chiếm tỷ lệ nhiều nhất, khoảng 80%
Escherichia coli còn có tên khoa học là Bacterium coli commune, hay Bacilus coli communis do bác sỹ nhi khoa Đức Escherich phân lập từ phân
của trẻ em bị tiêu chảy năm 1885
2.2.1 Đặc điểm hình thái
Hình thái: E coli là một trực khuẩn ngắn, hình gậy, hai đầu tròn, trong
khi cơ thể động vật có hình cầu, kích thước 2 - 3 x 0,6 µm những loại này thường gặp trong canh khuẩn già Trực khuẩn thường đứng riêng lẻ, đôi khi
xếp thành chuỗi ngắn Phần lớn E coli di động có lông ở quanh thân, nhưng
một số không thấy di động
Khi nhuộm Gram thì thấy vi khuẩn bắt màu Gram (-), có thể bắt màu sẫm ở hai đầu Vi khuẩn không sinh nha bào, lấy vi khuẩn từ các khuẩn lạc nhầy để nhuộm thì có thể thấy giáp mô, khi soi tươi thì không thấy được
Trang 202.2.2 Đặc điểm nuôi cấy
Theo Nguyễn Quang Tuyên (1993) [34], trực khuẩn E coli hiếu khí và
yếm khí tùy tiện, mọc trên môi trường dinh dưỡng bình thường Chúng có khả năng sinh sản thậm chí cả ở trong nước sinh lý, mọc ở nhiệt độ 15 - 160C nhưng thích hợp nhất là 370C Độ pH thích hợp nhất là 7,2 - 7,4 Chúng có thể tồn tại ở môi trường toan tính hoặc kiềm tính
Trong môi trường dinh dưỡng đặc như thạch thịt pepton, qua 18 - 24 giờ bồi dục trong tủ ấm 370C, chúng mọc thành những khuẩn lạc ẩm ướt, ánh màu xám trắng, có kích thước trung bình dạng tròn, mặt khuẩn lạc hơi lồi lên,
có nếp nhăn, bề mặt bóng Từ xanh xám, giữa đục xám để vài ba ngày sau khuẩn lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra
Trong môi trường nước thịt, khuẩn lạc phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy, màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt Canh trùng có mùi hôi thối, khi lắc mạnh, cặn tan đều trong môi trường Ngoài ra còn có một số biến chủng của chúng tạo trên bề mặt môi trường một màng mỏng
Trên môi trường gelatin, vi khuẩn mọc theo vết cấy trên mặt ống thành một lớp bựa xám
Nuôi cấy trên môi trường levin: E coli mọc thành khuẩn lạc có màu
tím thẫm hoặc đen
2.2.3 Đặc tính sinh hóa
Trực khuẩn E coli có biểu hiện các đặc tính sinh hóa rất rõ rệt Trực
khuẩn đường ruột lên men lactoza tạo axit và sinh hơi như các đường: glucoza, mannit, duxit, sachroza Phần lớn chúng tạo thành indol làm vón sữa, kết quả dương tính với phản ứng methyrot, không mọc trên môi trường axit, không phân hủy ure, không làm rữa gelatin, làm vón sữa, làm xanh methylen trong sữa
Trang 212.2.4 Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn E coli được chia thành 3 nhóm kháng nguyên là O, H, K
- Kháng nguyên O là kháng nguyên thân, chịu nhiệt khi đun ở 1000C trong 2 giờ 30 phút vẫn giữ được kháng nguyên, khả năng ngưng và kết hợp
- Kháng nguyên H: là kháng nguyên không có tính chịu nhiệt cao, vì vậy khi đun ở nhiệt độ 1000C trong 2 giờ 30 phút thì tính kháng nguyên, khả năng ngưng kết, kết tủa đều bị phá hủy Tất cả các kháng nguyên O khác nhau
thuộc E coli đều có một loại type kháng nguyên tốt
- Kháng nguyên K: Là kháng nguyên bề mặt (hoặc kháng nguyên vỏ, hoặc kháng nguyên bao) chúng có 3 loại được ký hiệu là L, B, A
+ Kháng nguyên L: Không chịu được nhiệt, bị phân hủy ở nhiệt độ
1000C/1 giờ Trong điều kiện đó, kháng nguyên mất khả năng ngưng kết, kết tủa và không giữ được tính kháng nguyên
+ Kháng nguyên B: Là kháng nguyên chịu được nhiệt, bị phá hủy với nhiệt độ 1000C/1 giờ, nhưng khác với kháng nguyên L khi bị đun kháng nguyên B chỉ bị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết tủa Kháng nguyên này rất đặc hiệu cho các type trong các nhóm trực khuẩn đường ruột
+ Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ chịu được nhiệt, không bị phá huỷ khi đun sôi ở 1000C, nhưng khi đun sôi trong thời gian 2 giờ 30 phút thì kháng nguyên bị phá huỷ
2.2.5 Độc tố
Theo Lý Thị Liên Khai (2001) [12], vi khuẩn E coli tạo ra 2 loại độc tố
là nội độc tố và ngoại độc tố:
- Ngoại độc tố: là chất không chịu được nhiệt dễ bị phá hủy ở nhiệt độ
560C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố chưa thành công, mà chỉ có thể phát hiện
Trang 22canh trùng của những chủng mới phân lập được Khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây hoại tử
- Nội độc tố (là độc tố có trong tế bào vi khuẩn, chỉ được giải phóng ra
ngoài môi trường khi tế bào vi khuẩn bị chết, bị dung giải hoặc bị phá vỡ): là yếu
tố gây độc chủ yếu của trực trùng đường ruột, chúng có tế bào vi khuẩn và gắn vào trong tế bào vi khuẩn một cách chặt chẽ Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: như phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học, chiết xuất bằng axit trichoxetic, phenol dưới tác dụng của enzym
2.2.6 Sức kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao, ở 600C E coli chết
trong vòng 15 phút và chết ngay ở nhiệt độ 1000C Trong đất và nước, E coli chỉ
sống được vài tháng Các chất tiêu độc như: axit phenol, formol, crezin, vôi,
axit nồng độ thường dùng cũng làm E coli bị chết rất nhanh Chúng có độ nhạy cảm với nhiều loại kháng sinh
Khi thử nghiệm phòng và trị bệnh E coli dung huyết cho lợn con ở
Thái Nguyên và Bắc Giang, Nguyễn Thị Kim Lan (2004) [13] đã kết luận: Vi
khuẩn E coli phân lập từ lợn bệnh rất mẫn cảm với kháng sinh Amikacin,
kém hơn với Doxycycline, không mẫn cảm với Ampicilin và Cefuroxime
Như vậy, khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và vi khuẩn đường ruột nói riêng luôn luôn thay đổi, nó phụ thuộc vào từng địa phương, loài động vật, thời điểm kháng sinh đồ khác nhau, cho kết quả khác nhau
Khi điều trị bệnh muốn đạt hiệu quả cao ta phải xác định độ mẫn cảm của vi khuẩn đối với từng loại kháng sinh khác nhau bằng kỹ thuật kháng sinh
đồ, tránh tính kháng kháng sinh
2.3 Hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con
2.3.1 Nguyên nhân gây bệnh
Trang 23Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [1], bệnh phân trắng lợn con thường xảy ra với lợn con từ 2 - 30 ngày tuổi
Do nhiều nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn tiết dịch nên chất đạm trong sữa là cafein không được tiêu hóa khi bị thải ra ngoài nên phân có màu trắng
Do khẩu phần ăn của lợn mẹ thiếu chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin
A Nên sau khi sinh sữa mẹ thường thiếu chất, lợn con bị suy dinh dưỡng, màng nhầy của ruột không được bảo vệ nên rất dễ bị cảm nhiễm với vi trùng
Colibacille, Salmonella gây bệnh tiêu chảy
Do thay đổi đột ngột khẩu phần ăn của lợn mẹ trong thời kỳ cho con bú hoặc sữa mẹ quá nhiều lợn con bị dư chất đạm không tiêu hóa được, trôi
xuống ruột già, ở đó có một số vi khuẩn như E coli sử dụng, phân hủy chất
đạm, sản sinh ra một số độc tố gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy
Do thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao, làm cơ thể lợn con mất cân bằng giữa sản nhiệt và truyền nhiệt Do đó, sẽ tiêu hao năng lượng của cơ thể để chống lạnh Nếu lạnh kéo dài thường xuyên, đường huyết
sẽ giảm xuống đột ngột, gây rối loạn cơ năng tiết dịch và nhu động của dạ dày, ruột dẫn tới rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy
Do thiếu các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Co vì trong thực tế lợn con muốn phát triển bình thường một ngày cần cung cấp 7 - 10 mg Fe, nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp 1 mg Fe/ngày, như vậy cần bổ sung thêm 6 - 9 mg Fe mỗi ngày
Do lợn mẹ bị một số bệnh khác như viêm tử cung, viêm vú, bị nhiễm độc và nhiễm trùng kế phát, lợn con bú phải sẽ bị tiêu chảy
Lợn mẹ trước khi sinh bị nhiễm bệnh thương hàn (mặc dù điều trị đã khỏi), nhưng khi có thai vi trùng xâm nhập qua màng nhau vào thai, lợn con đẻ ra bị nhiễm vi trùng nên gây tiêu chảy
Theo Erwyn R Miler (2001) [6] cũng nêu ra một số nguyên nhân gây bệnh:
một số các yếu tố môi trường và ký chủ ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm E coli ở
lợn sơ sinh Dạ dày và ruột của lợn con nhanh chóng bị tràn ngập vi trùng,
Trang 24ngay sau khi sinh, rất nhiều trong số chúng “bất hại” nhưng nếu xuất hiện với
số lượng lớn E coli lợn con có thể bị nhiễm bệnh sau khi sinh
Số lượng lớn E coli thường hiện diện ở ngay môi trường nếu ẩm ướt,
bẩn và thông thoáng kém Tuy nhiên, nguồn nhiễm bệnh quan trọng nhất là
lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E coli Những con này sẽ thải ra tới 1 tỷ
E coli/1cc phân lỏng
Trong các tài liệu của các tác giả Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, (1995) [18]; Nguyễn Huy Hoàng (1996) [11]; Phạm Sỹ Lăng và Cs (2003) [19]; Trương Lăng (2004) [17] cũng có nhận xét chung về nguyên nhân gây bệnh nhưng chủ yếu do 2 nguyên nhân chính là do vi khuẩn và các nguyên nhân không phải vi khuẩn
Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu, làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh; thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh lợn con phân trắng
Theo Đào Trọng Đạt và Cs (1995) [5], bệnh lợn con phân trắng do E coli
gây ra, là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ vài giờ
Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E coli gây ra
Số lượng lớn E coli thường hiện diện ở ngay môi trường nếu ẩm
ướt, bẩn và thông thoáng kém Tuy nhiên, nguồn nhiễm bệnh quan trọng
nhất là lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E coli Những con này sẽ thải ra tới 1 tỷ E coli/1cc phân lỏng
Nhiệt độ có thể là ảnh hưởng môi trường quan trọng nhất làm lợn khỏe lên Lợn con mẫn cảm lớn với cái lạnh và yếu tố strees này làm giảm sức đề
kháng của lợn với các bệnh kể cả E coli
Sử An Ninh (1993) [24], cho biết: Nguồn gốc sinh ra bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố
Trang 25stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri…
2.3.2 Cơ chế sinh bệnh
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [29], khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao, tạo điều kiện cho các
vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể chết
2.3.3 Dịch tễ của bệnh
Đây là bệnh rất phổ biến ở lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn mới sinh đến 28 ngày tuổi Có con mắc ngay sau khi sinh 2 - 3 giờ và một số con mắc muộn hơn khi đã 4 tuần tuổi Bệnh có thể mắc một vài con hoặc cả đàn
Cách phòng bệnh trong chăn nuôi ít tốn phí mà có hiệu lực nhất là dựa vào công tác vệ sinh, đó là làm cho gia súc và các nguyên nhân gây bệnh cách
xa nhau Để có các biện pháp vệ sinh tốt cần tìm hiểu biết dịch tễ của bệnh
Theo Hoàng Văn Tuấn (1998) [33] qua điều tra tình hình dịch bệnh và bệnh tiêu chảy ở lợn tại một trại giống hướng nạc trong 3 năm 1995, 1996,
1997, cho thấy:
- Tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh ở lợn con theo mẹ (dưới 45 ngày tuổi) qua các năm là: 25,12 và 15% Trong đó, tỷ lệ chết do tiêu chảy chiếm 67,67 và 80% trong số lợn chết
- Ở lợn cai sữa (45 - 65 ngày tuổi): tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh là 15,18 và 12% Trong đó, tỷ lệ chết do tiêu chảy chiếm 32,52 và 38% trong số lợn chết
Đào Xuân Cương (1981) [2] cho biết, bệnh có thể phát triển quanh năm, nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè, sau nhiều trận
Trang 26mưa to, gió lớn, khí hậu thay đổi đột ngột, tỷ lệ mắc của bệnh có thể tăng lên đến 100%, tỷ lệ chết đến 30 - 40%
Trương Lăng và Xuân Giao (1999) [15] cho biết, ở nước ta, lợn con mắc bệnh tiêu chảy rất phổ biến trong các cơ sở chăn nuôi, tỷ lệ mắc bệnh từ
25 - 100%, tỷ lệ tử vong trên 70%, bệnh hầu như quanh năm, nhiều nhất ở cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè Điều kiện phát bệnh thường thấy:
- Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển nhiều
- Tỷ lệ mắc bệnh ở các cơ sở chăn nuôi miền trung du, miền núi ít hơn, thời gian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng
- Chuồng nền đất, sân chơi rộng rãi, hạn chế nhiều sự phát triển của bệnh
- Đất ở đồi núi, trung du (mà lợn con có thể gặm ăn được) là một điều kiện để ngăn ngừa bệnh, vì đất đồi có nhiều nguyên tố vi lượng bổ sung cho
sự thiếu hụt của thức ăn
- Chuồng trại nơi trũng, ướt tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
2.3.4 Đường truyền bệnh
Theo Lê Văn Năm và Cs (1998) [23], nguồn lây bệnh nhiều nhất các nái chờ phối (96,9%), ít nhất là nái chửa kỳ II (45%) Trong các trường hợp này lợn
con bị nhiễm E coli từ những ngày đầu tiên sau khi đẻ và đến giai đoạn sau cai
sữa giảm còn 76% Lợn ốm sau khi chữa khỏi trở thành vật mang trùng
Trong các trường hợp này, lợn con bị nhiễm E coli ngay từ những
ngày đầu tiên sau khi mới đẻ và đến giai đoạn cai sữa giảm xuống còn 67,5%, tất nhiên, sau cai sữa lợn con ốm khỏi sẽ trở thành vật mang bệnh, bởi vậy người ta bố trí chuồng nái đẻ và lợn nuôi vỗ béo cách ly nhau
Mầm bệnh cũng có thể được truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm E coli sang lợn con khi còn là bào thai Thực tế đã chứng minh, bệnh E coli không
những xuất hiện vào những ngày đầu tiên mới đẻ mà còn vào những giờ đầu
Trang 27tiên sau khi sinh Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh cả bào thai ngay từ khi còn trong bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra là con vật bệnh
Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc kịp thời đề xuất những biện pháp nhằm phòng trừ có hiệu quả ngay từ khi con vật còn trong bụng
mẹ (Đào Trọng Đạt và Cs 1995) [5]
Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [22] cho biết, khả năng gây bệnh ở các vi khuẩn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: lợn con mới sinh chưa có hệ thống phòng vệ hoàn chỉnh, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ chưa phù hợp, chuồng trại ẩm ướt, vệ sinh kém, không thông thoáng, thiếu sắt
và một số vitamin A, PP, B5 Bội nhiễm vi khuẩn Salmonella cholelasuis, Staphylococus, Clostridium virus, cầu trùng, giun, sán, cùng những tác nhân
gây bệnh cho lợn con trong giai đoạn này Sau khi bám dính vào thành ruột non, vi khuẩn tăng sinh và sản sinh độc tố hướng ruột, những độc tố này tác động trực tiếp lên tế bào thượng bì ruột non gây ra rối loạn chức năng như: không hấp thu được các chất dinh dưỡng, mất nước của các chất điện giải quan trọng dẫn đến các triệu chứng lâm sàng, tiêu chảy trầm trọng mất nước, giảm thể tích máu
2.3.5 Triệu chứng lâm sàng
Lợn con bị nhiễm E coli có biểu hiện yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân
nhiệt tăng nhẹ, tiêu chảy nhiều, mất nước, suy nhược, đôi khi có nôn mửa Phân lúc đầu có thể táo, sau đó ỉa lỏng, có thể sền sệt ở các bệnh do giun sán, phân lỏng hoặc vọt cần câu, màu trắng, vàng, xanh nhạt màu hạt đậu, có lẫn bọt khí Vì mất nước nhiều nên lợn ốm bị khát nước dẫn đến rối loạn dinh dưỡng trong cơ thể, bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung
quanh hậu môn, 2 chân sau rúm lại
Nguyễn Hữu Vũ và Cs (2003) [38], cho biết, lợn bị tiêu chảy có biểu hiện phân có màu trắng ngà đến vàng nhạt, mùi thối khắm, tanh, lông xơ xác,
Trang 28gầy tóp, chân đi lảo đảo không định hướng, đuôi và hậu môn luôn dính phân Bệnh tiến triển theo 2 thể:
- Thể quá cấp tính: lợn chết nhanh, từ khi phát hiện triệu chứng ăn ít đến khi chết trong vòng từ 6 - 20 giờ, lợn bỏ ăn hoàn toàn, ủ rũ, đi lại siêu vẹo, loạng choạng Ho nhiều, nước mũi đặc nhầy như mủ Phần rìa tai, mõm tím tái, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh, thở nhanh Phân lỏng màu trắng lầy nhầy như cứt cò, có mùi tanh, khắm đặc trưng Trước khi lợn chết thường có những cơn co giật ở chân
- Thể cấp tính: thường chết chậm hơn (2 - 4 ngày sau khi phát hiện triệu chứng đầu tiên) Bệnh có thể kéo dài 7 - 10 ngày tuổi, lợn con vẫn bú nhưng giảm dần đi Phân có màu trắng đục, trắng vàng, nhiều con mắt có dử và vàng thâm xung quanh Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị không kịp thời thường chết sau một tuần bị bệnh Lợn con từ 45 - 50 ngày tuổi vẫn còn bú mẹ nhưng bị phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn, lợn có ỉa phân trắng nhưng hoạt động vẫn bình thường, ăn, đi lại nhanh nhẹn, phân thường đặc hoặc nát với màu xám Lợn có thể khỏi, tỷ lệ chết thấp, nếu kéo dài lợn gầy sút, còi cọc chậm lớn
2.3.6 Bệnh tích
Những lợn khi chết mổ khảo sát thấy trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc sữa chưa tiêu, mùi khó ngửi Trong ruột rỗng, chứa đầy hơi, niêm mạc ruột già bị tổn thương rất rõ, hạch lâm ba ruột sưng màu đỏ sẫm Gan nhão, hơi sưng Túi mật sưng, xuất huyết, dịch mật biến đổi màu Phổi thường ứ máu, đôi khi có hội chứng sưng phổi nhẹ Cơ tim nhão, lách không sưng nhưng
bị teo
Bên cạnh những triệu chứng bệnh tích chung thì tùy theo những nguyên nhân khác nhau lại có những biểu hiện bệnh tích khác, dẫn đến tiêu chảy ở vật nuôi Xác lợn chết gầy, bụng hóp, những lợn chết qua đêm phần bụng thường
có màu đen do quá trình hoại tử gây nên
2.3.7 Phòng bệnh
Trang 29Phòng bệnh là cách chủ động để giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh về tiêu chảy gây ra Các biện pháp phòng xoay quanh các vấn đề môi trường, vật
chủ và mầm bệnh
- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng
Theo Sử An Ninh (1993) [24], biện pháp phòng tiêu chảy trước hết là hạn chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực Khắc phục những bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng nuôi
Theo Phạm Khắc Hiếu và Cs (1998) [10], lợn con sau khi đẻ ra cần được sưởi ấm ở nhiệt độ 340C trong tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 300C Như vậy sẽ tránh được stress lạnh ẩm
Để cho đàn gia súc non khoẻ mạnh, điều cần thiết trước tiên là nuôi dưỡng, chăm sóc thật tốt lợn nái giống khi mới chưa đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng bổ sung đầy đủ các loại vitamin, nguyên tố vi lượng cần thiết (Đào Trọng Đạt và Cs, 1995) [5]
Thiết kế chuồng đẻ về kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng… cũng rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng
- Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Tạ Thị Vinh (1994) [37] đã công bố kết quả chiết tách thành công chế phẩm γ - globulin từ huyết thanh ngựa để phòng bệnh lợn con tiêu chảy
Phan Thanh Phương, Đặng Thị Thuỷ (2008) [26], đã công bố kết quả
phòng bệnh bằng kháng thể E coli được chiết tách từ lòng đỏ trứng gà dạng bột
Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình (2002) [7], các tác giả đã nghiên cứu
3 chế phẩm: E coli sữa, Cl.pepsingen toxid dùng cho nái chửa và Baderin EBC (E coli Baderin và cl.pepsingen toxid) dùng cho lợn con để phòng và trị
bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con
- Phòng bệnh bằng vắc xin
+ Dùng vắc xin để phòng bệnh Vắc xin được chế từ các chủng E coli
gây bệnh phân trắng ở lợn con, phân lập ở các địa phương thuộc các serotyp sau: O143, O147, O141, O149, O129, O115, O8,… Vắc xin chế dạng vô hoạt dung
Trang 30tiêm cho lợn mẹ 1 - 2 lần trước khi đẻ Lợn mẹ được miễn dịch sẽ truyền miễn dịch cho lợn con (miễn dịch thụ động) qua sữa, nhất là sữa đầu để chống
đỡ với các chủng E coli gây bệnh Hiệu quả đạt 60%
+ Vắc xin E coli dạng uống Cùng được chế tạo từ các chủng E coli
gây bệnh, phân lập từ các địa phương dùng cho lợn uống 3 - 4 lần sau khi đẻ Vắc xin có tác dụng phòng bệnh đạt tỷ lệ 70%
Ngoài ra có thể dùng thuốc nam để phòng bệnh: hái khoảng 200 gam cây nhọ nồi cho lợn mẹ ăn sống hoặc nấu chín cùng thức ăn, cứ 2 - 3 ngày 1 lần Như vậy, lợn con sẽ không bị ỉa phân trắng
2.3.8 Trị bệnh
Theo Bùi Thị Tho (2003) [32], đã đưa ra nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh để tránh tác dụng phụ và hạn chế hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn như sau:
- Tiến hành làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh mẫn cảm
- Dùng đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều lượng, theo kinh nghiệm cho thấy khi sử dụng kháng sinh phải dùng liều cao ngay từ đầu, không dùng liều tăng dần, do vi khuẩn có khả năng kháng thuốc, nếu dùng 1 loại kháng sinh nào đó trong 3 - 5 ngày mà không đem lại hiệu quả thì cần tiến hành ngay kháng sinh đồ chọn kháng sinh khác nhạy cảm hơn
- Phối hợp kháng sinh: Phối hợp kháng sinh làm tăng hiệu quả sử dụng nhưng khi phối hợp cần lứu ý tính tương kị và tính hiệp đồng giữa các kháng sinh
Điều trị bằng kháng sinh: Khi sử dụng kháng sinh cần tiến hành làm kháng sinh đồ
Điều trị bằng Đông được: Theo Trương Lăng (2004) [17], có thể điều trị theo bài thuốc sau:
Tô mộc: 500 gam
Ngũ bột tử: 300 gam
Trang 31Hai thứ sắc đặc trộn lẫn vào thức ăn cho lợn ăn Nếu dùng viên tô mộc (do dược phẩm sản xuất), cũng trộn với thức ăn theo liều: 2 viên/ngày/con đối với lợn dưới 1 tháng tuổi và 3 viên/ngày/con đối với lợn từ 1 - 2 tháng tuổi Cho ăn từ 3 -
4 ngày, tỷ lệ khỏi 85 - 90%
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh phân trắng lợn con được chú ý theo dõi từ những năm 1959 tại cơ
sở chăn nuôi tập trung
Theo Lê Văn Tạo và Cs (1993) [28], đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh
của các chủng E coli gây bệnh, chọn chủng E coli để chế tạo vắc xin chết
dưới dạng cho uống Vắc xin dùng cho lợn con đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3 - 5 ngày Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ 30 - 35% so với đối chứng
Theo Trần Văn Tường, Nguyễn Quang Tuyên (2000) [36], cho rằng:
Tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn E coli Dựa vào cấu trúc kháng nguyên người ta xác định được vi khuẩn E coli gồm 28 type, trong đó có 8
chủng hay gây bệnh là O55B5, O111B4, O86B5, O26B6, O127B8, O128B12, 145 và 408
Theo Nguyễn Như Thanh và Cs (2001) [30], thì bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân
gây bệnh chủ yếu là E coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus
Lê Văn Năm và Cs (1998) [23], cho rằng: bệnh tiêu chảy ở lợn con chủ
yếu là do trực khuẩn E coli gây ra Ngoài ra, còn một số yếu tố khác như thiết
lợn chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đúng kỹ thuật, bất lợi về thời tiết
Theo tác giả Trương Lăng (2000) [16], cho biết: Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng từ 25 - 100%, tỷ lệ chết trên 70%
Trang 32Theo Lý Thị Liên Khai (2001) [12], đã phân lập và xác định độc tố ruột
của các chủng E coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn Tác giả cho rằng các chủng
K88 sinh độc tố ruột LT và ST; K99 và 987P sinh độc tố ruột ST trở nên rất độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm; gây tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ, phổ biến ở 1 đến 2 tuần tuổi
Trần Thị Hạnh và Đặng Xuân Bình (2002) [7], công bố lợn con theo
mẹ phân lập được E coli và Cl perfigens ở hầu hết các cơ quan phủ tạng, trong đó sự có mặt của E coli luôn chiếm một tỷ lệ cao và rất phổ biến, vi khuẩn yếm khí Cl Perfigens chỉ được phát hiện ở gan và ruột non với một tỷ
lệ khá cao Khi sử dụng các chế phẩm E coli - sữa Cl Perfringens - toxid trong
quy trình phòng bệnh tiêu chảy lợn con, kết quả bước đầu cho thấy có tác dụng
và hiệu quả rất rõ rệt
Trịnh Quang Tuyên (2005) [35], qua nghiên cứu cho rằng tỷ lệ nhiễm
vi khuẩn môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và liên quan đến tình
hình dịch bệnh của đàn lợn Trong đó E coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%, Staphylococcus spp 29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3%
đến 41,3% Giảm xuống khi cơ sở chăn nuôi được cải tạo chuồng trại và nguồn nước cấp
Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) [9], nhất con phải bú sữa đầu để giúp lợn con có sức đề kháng chống bệnh tật Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là chất chủ yếu giúp lợn con có sức đề kháng Vì thế cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu
và đảm bảo toàn bộ số lợn con trong đàn được bú hết sữa đầu của lợn mẹ
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con
Trang 33Theo Laval A (1997) [14], khi nghiên cứu về bệnh tiêu chảy và nguyên
nhân gây bệnh, ông cho rằng: Salmonella choleraesuis, Salmonella typhymurium
là hai tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa và vỗ béo
Theo Purvis G.M và Cs (1985) [41], cho rằng phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn
Theo Fairbrother J.M và Cs (2005) [40], Escherichia coli là một trong
những nguyên nhân quan trọng nhất của tiêu chảy sau cai sữa ở lợn.Một số yếu tố, chẳng hạn như sốc sau cai sữa, thiếu các kháng thể có nguồn gốc từ sữa của lợn nái và thay đổi chế độ ăn uống, góp phần làm tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh
Akita và Cs (1993) [39], đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng
đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy cho lợn con