1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây

104 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ thị 36/CT/TƯ của Bộ Chính trị – BCH trung ương Đảng Khoá VIII ngày 25-4-1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nhấn mạn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Môi trường ngày nay đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, được sự quan tâm của toàn thế giới Hiện tại cuộc sống của chúng ta đang bị ảnh hưởng rất lớn của sự ô nhiễm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Đặc biệt, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và cả Việt Nam, môi trường đang bị huỷ hoại nghiêm trọng, gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt

của nguồn tài nguyên (như ô nhiễm không khí,môi trường sinh thái, nguồn

nước sạch…), làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của con người

và sự phát triển bền vững của đất nước

Một trong những nguyên nhân chính là do ý thức trách nhiệm của con người đối với môi trường còn chưa đúng đắn

Từ đó, một vấn đề bức thiết được đặt ra trước mắt chúng ta là phải tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, đặc biệt là việc tổ chức công tác GDMT trong các trường THPT

Tại nguyên tắc 19 trong tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về “Môi trường con người” họp tại Stockholm - 1972 đã nêu: “Việc Giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”

Trong những năm gần đây, nội dung GDMT được tích hợp, lồng ghép

ở các môn học ở trường THPT như: Sinh học, Địa lý, GDCD Ngoài việc giảng dạy lồng ghép, tích hợp với một thời lượng còn ít trong chương trình, một số trường THPT đã tiến hành hoạt động ngoại khoá theo các chủ đề có liên quan đến tình hình môi trường ở địa phương như: Nước uống, năng lượng

sử dụng trong gia đình, Bioga, rừng nhiệt đới, môi trường sinh thái, rác thải sinh hoạt và một số vấn đề khác như V.A.C, Tết trồng cây, chương trình xanh hoá nhà trường và các cuộc thi tìm hiểu về môi trường

Trang 2

Kết quả giáo dục bảo vệ môi trường chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Các nhà trường THPT là mhững đơn vị giáo dục có tổ chức chặt chẽ,

có kế hoạch, có đội ngũ giáo viên được đào tạo bậc đại học, có đối tượng là hàng ngàn học sinh tuổi vị thành niên cần được giáo dục toàn diện, có nội dung và phương pháp phù hợp sẽ góp phần tạo nên một lực lượng xã hội hùng hậu tham gia bảo vệ môi trường trên phạm vi các cộng đồng dân cư trong mỗi địa phương và trên phạm vi toàn quốc

Để đạt được mục tiêu giáo dục và đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, để đảm bảo cuộc sống cho con người và sự phát triển bền vững của đất nước Giáo dục môi trường trở thành một yêu cầu thiết yếu của nhà trường nhằm tăng cường hiểu biết của học sinh đối với thế giới tự nhiên

và đời sống xã hội

Đặc biệt là tăng cường hiểu biết về mối quan hệ, tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở thế hệ trẻ thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn và hành động đúng đắn bảo vệ môi trường

Vì những lý do nêu trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Một số

biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây”.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT Huyện Thạch Thất, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường ở các trường THPT, đồng thời phát huy ảnh hưởng của giáo dục trong nhà trường đến các địa bàn mà nhà trường đang cư trú

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình quản lý hoạt động giáo dục ở các trường THPT huyện

Thạch Thất - tỉnh Hà Tây

Trang 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp quản lý hoạt động GDMT ở các trường THPT

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Việc quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT

huyện Thạch Thất –tỉnh Hà tây chưa được chú trọng đúng mức Do đó, hiệu

quả giáo dục môi trường chưa cao,nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của giáo viên, học sinh và một bộ phận còn hạn chế Nếu đề ra và thực hiện một số biện pháp quản lý chặt chẽ, hợp lý thì hiệu quả công tác giáo dục môi trường sẽ được nâng lên

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

5.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về GDMT và quản lý hoạt động GDMT ở trường THPT

5.2 Tìm hiểu thực trạng giáo dục môi trường và các biện pháp quản lý hoạt động GDMT ở các trường THPT Huyện Thạch thất –Tỉnh Hà tây

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDMT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động GDMT ở các trường THPT Huyện Thạch Thất

6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu hoạt động GDMT trong những năm gần đây tại trường THPT Phùng Khắc Khoan và 3 trường THPT khác trong huyện: THPT Thạch thất, BC Thạch Thất và trường THPT Hai Bà Trưng về phương pháp giảng dạy,tổ chức dạy lồng ghép,tích hợp nội dung GDMT trong các môn học: Địa

lý, Sinh vật, Hoá học, GDCD,kỹ thuật và công tác tổ chức ngoại khoá, hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ đề GDMT…

7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

+ Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:Nghiên cứu,phân tích,tổng hợp các văn bản,tài liệu có liên quan để tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài

+ Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động giáo dục,tham quan

Trang 4

CSVC,trang thiết bị dạy học, dự giờ ….nhằm rút ra những nhận xét,đánh giá

về hoạt động GDMT ở các trường THPT huyện Thạch Thất

+ Các phương pháp điều tra viết:

Sử dụng phiếu điều tra nhằm thu thập những thông tin về hoạt động giáo dụcmôi trường và quản lý hoạt động này trong các trường THPT huyện Thạch Thất tỉnh Hà tây.Qua đó, tham khảo thêm một số ý kiến của đội ngũ cán bộ,giáo viên tham gia hoạt động GDMT

+ Phương pháp chuyên gia : Tiếp xúc trực tiếp với các chuyên gia,giáo viên và hiệu trưởng để tìm hiểu về quản lý hoạt động GDMT của các trường THPT huyện Thạch Thất

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục,tổng kết các hoạt động giáo dục môi trường,rút ra các bài học cần thiết phục vụ cho việc xác định các biện pháp GDMT ngày càng hiệu quả

+ Phương pháp xử lý kết quả bằng toán thống kê: sử dụng toán thống kê

để sử lý số liệu phục vụ cho việc phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu

CHƯƠNG 1

Trang 5

LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG THPT

1-1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Vài nét về sự phát triển GDM T

Môi trường đã và đang là vấn đề gay gắt của toàn nhân loại,khi mà con người càn phải đối mặt trược tiếp với sự ô nhiễm môi trường,sự cạn kiệt về tài nguyên.Vì vậy bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu,con người phải phối hợp hành động nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục,ngăn chặn sự ô nhiễm môi trường,sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự phát triển bền vững cho mọi thế hệ

Lần đầu tiên trong lịch sử,năm 1948,tại Pa- ri,trong cuộc họp của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên,thuật ngữ “Giáo dục môi trường ”(GDMT) đã được sử dụng

Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết đẻ hiểu và đánh giá được

sự quan hệ tương tác giữa con người,nền văn hoá,thế giới vật chất bao quanh, GDMT đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ qui tắc ứng xử với vấn

đề liên quan tới đặc tính môi trường

Tại nguyên tắc 19 trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về “ môi trường con người “ tại Stockholm,ngày 5/6/1972 đã nêu: “ Việc giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường ”.Từ đó,ngày mùng 5 tháng 6

hàng năm trở thành “Ngày môi trường thế giới

Ngay sau đó,7 chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) cùng với tổ chức văn hoá,khoa học, giáo dục LHQ( UNESCO)

đã thành lập chương trình giáo dục môi trường Quốc tế (I E E P) và đã

Trang 6

đưa ra nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn GDMT.

Từ sau Hội nghị Belgrate10-1975 chương trình giáo dục môi trường quốc tế bắt đầu triển khai và có khoảng 60 quốc gia đã đưa GDMT vào các trường học

Tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất Rio -92 (Brazil), vấn đề GDMT lại được khẳng định và đã đưa vào chương trình nghị sự 21 về “ Giáo dục, đào tạo môi trường và những nhận thức của công chúng” với yêu cầu:

“Đưa khái niệm về môi trường và phát triển kể cả khái niệm dân số vào tất

cả các chương trình giáo dục ”

Tại nhiều quốc gia, giáo dục môi trường được đưa vào dạy như một môn học chính khoá Cũng có nhiều nước lại đưa vào như môn học tự chọn.Tuy nhiên, nếu chỉ học trên lớp vẫn chưa đủ cần phải có kinh nghiệm của cuộc sống và thực tế vì Nhận thức và hành động còn có khoảng cách

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vai trò của cô giáo, thầy giáo là hết sức quan trọng trong việc giáo dục BVMT ở tất cả các bậc học.Vì vậy việc trang

bị kiến thức về giáo dục BVMT cho giáo viên ở tất cả các cấp học,được các quốc gia quan tâm đặc biệt

Ngay từ thập kỷ 70 Giáo dục môi trường đã được đưa vào hệ thống Giáo dục THPT ở nhiều nước trên Thế giới như: Trung Quốc, Phần Lan, Bỉ, Đức, Mêhicô, Mỹ, Liên Xô cũ (Nga),và nhiều các quốc gia khác …

1.1.2 Giáo dục môi trường ở Việt nam:

- Năm 1962, Bác Hồ đã khai sinh “Tết trồng cây” Cho đến nay phong

trào trồng cây càng phát triển mạnh mẽ Năm 1991 Bộ GD&ĐT đã có chương trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo và bảo vệ môi trường (1991-1995)

-Thông qua việc thay sách giáo khoa (Cải cách giáo dục năm 1992), các tác giả đã chú trọng đến việc đưa nội dung GDMT vào nội dung giảng dạy cho học sinh,trước hết ở các môn Sinh, Địa,Hoá,kỹ thuật NN

Trang 7

- Từ năm 1995,dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Việt nam (VIE 95/041) của Bộ GD&ĐT do UNDP tài trợ nhằm vào các mục tiêu cơ bản:

+ Hỗ trợ xây dựng một bản chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia

về GDMT tại Việt nam

+Tăng cường năng lực của Bộ GD&ĐT trong việc truyền đạt những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên

+ Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp tiểu học và trung học

Những chủ đề về giáo dục môi trường không chỉ được lồng ghép vào những môn học có liên quan đến môi trường như:, địa lý, hoá học, mà cả các môn khác như giáo dục công dân, đạo đức, thẩm mỹ học,văn học

- Nội dung kiến thức về giáo dục môi trường được đưa vào gồm: Mối quan hệ của con người với tự nhiên, vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục, luật pháp bảo vệ môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.Nội dung GDMT được gắn liền với điều kiện địa lý, truyền thống, lịch sử văn hóa của các dân tộc Khối kiến thức học sinh được trang bị ngoài những giờ học trên lớp học sinh còn được tham gia các chương trình ngoại khoá theo các chủ đề có liên quan đến tình hình môi trường ở địa phương như: nước uống, năng lượng sử dụng trong gia đình, Bioga, rừng nhiệt đới, môi trường sinh thái, rác thải sinh hoạt, và một số các vấn đề khác như: VAC, Chương trình xanh hoá nhà trường , Tết trồng cây, các cuộc thi tìm hiểu về môi trường: Viết truyện, chụp ảnh , quay băng hình VIDEO,vẽ tranh

1-2 Lý luận chung về giáo dục môi trường

1-2-1 Khái niệm về môi trường

- Môi trường theo nghĩa rộng là tập hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội nhân tạo,có quan hệ mật thiết tác động qua lại với nhau và qua đó ảnh hưởng đến cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của con người và giới tự nhiên

Môi trường có vai trò đặc biệt đối với cuộc sống và chất lượng cuộc

Trang 8

sống của con người.Con người cần có không khí trong lành để thở, cần có nước sạch để uống và sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày,cần có những điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất nhân tạo để sống, làm việc, nghỉ ngơi.Con người cần có một môi trường văn hoá lành mạnh, văn minh để hình thành và phát triển nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần Những đặc trưng về môi trường gắn liền với vị trí và điều kiện địa lý, truyền thống lịch sử văn hoá,xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong cộng đồng thế giới.

1-2-2 Khái niệm về giáo dục môi trường

- Ngày nay cộng đồng quốc tế hiểu một cách đầy đủ là giáo dục môi trường như một quá trình thường xuyên để tạo cho con người ý thức về môi trường, những giá trị và tri thức, kỹ năng, những khả năng cho phép họ giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và tương lai cũng như đáp ứng nhu cầu của bản thân họ mà không làmphươnghại đến thế hệ mai sau

1-2-3 Vai trò và ý nghĩa của giáo dục môi trường cho học sinh

Đối với giáo dục đào tạo: “ Một trong những quan điểm chỉ đạo chiến lược là Phát triển giáo dục và đào tạo gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế –Xã hội, những tiến bộ khoa học-công nghệ,và cũng cố quốc phòng, an ninh trong đó có nhu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Chỉ thị 36/CT/TƯ của Bộ Chính trị – BCH trung ương Đảng Khoá VIII

ngày 25-4-1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nhấn mạnh những giải pháp cơ bản

để thực hiện các mụch tiêu bảo vệ môi trường là: "Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân"

Với tinh thần đó GDMT là một nhiệm vụ, một nội dung quan trọng

Trang 9

và cấp bách của hệ thống Giáo dục -Đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay

và chiến lược giáo dục môi trường, là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển GD-ĐT nước ta giai đoạn 2001-2010

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của đất nước.Trong quá trình phát triển, con người không chỉ khai thác thiên nhiên mà còn phải giữ gìn bảo vệ môi trường tự nhiên,tạo lập môi trường nhân tạo phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và sản xuất, dịch vụ, xây dựng mối quan hệ cộng đồng tốt đẹp, bảo đảm lợi ích lâu dài cho các thế hệ hôm nay và mai sau

Trong khi xây dựng các triết lý, đạo lý,hệ tư tưởng xã hội con người không chỉ lấy cuộc sống của mình mà còn lấy chính môi trường sống làm đối tượng suy ngẫm.Nhờ đó mà hình thành, làm phong phú thêm ý thức hệ và các quan niệm của con người về môi trường

Đất nước ta có hàng ngàn năm văn hiến Về mặt tinh thần người Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều hệ tư tưởng triết lý, nhiều tín ngưỡng khác nhau, trong đó phần lớn dân cư chịu ảnh hưởng của Đạo Phật, Triết lý phật giáo khuyên mọi người làm việc thiện, sống thanh bạch, hoà đồng với thiên nhiên, tránh sự cám dỗ của nhu cầu cuộc sống đời thường, sống cần kiệm

Trong ý thức truyền thống người Việt nam quan niệm con người và vũ trụ là một Thuyết “THIÊN ĐịA – NHÂN HỢP NHẤT” chủ trương đưa con người hoà đồng với thiên nhiên,với môi trường ,xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ dại của dân tộc,danh nhân văn hoá thế giới là hiện thân của sự kết hợp những truyền thống văn hoá quý báu của dân tộc Việt nam với tư tưởng tiến bộ của thời đại.Người sống giản dị hoà đồng với thiên nhiên Ngay từ năm 1960 Người phát động phong trào Tết trồng cây để giữ gìn và làm đẹp môi trường sống

Trong thời đại ngày nay vấn đề giữ gìn và bảo vệ môi trường càng cần được phát huy bởi vì việc xác định đúng đắn vai trò của môi trương đối với

Trang 10

cuộc sống con người, xây dựng mối quan hệ hài hoà giữa con người và tự nhiên, giữa con người với con người trong xã hội hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững là xu hướng chung của toàn nhân loại.

Bước vào thiên niên kỷ mới, nhờ những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nhân loại đang đứng trước những triển vọng tốt đẹp, đồng thời cũng đang phải đối mặt với những thử thách lớn lao, đặc biệt là những thách thức về môi trường Môi trường tự nhiên đã bị khủng hoảng nặng nề

Đó là sự biến đổi về khí hậu, suy giảm lư\ợng và chất tài nguyên nước.Suy thoái đất, sa mạc hoá,và nổi cộm là tình trạng ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học Những vấn đề trên được khẳng định phần lớn dều do chính con người gây ra

Là một bộ phận của cộng đồng thế giới, nước ta đang và sẽ phải đương đầu với nhiều thách thức lớn về môi trường trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá như:

-Dân số tiếp tục tăng, Theo dự báo dến năm 2010 dân số nước ta đạt

100 triệu người (tăng 24 triệu so với năm 1999) trong khi tài nguyên giảm,sức ép cả về tài nguyên và môi trường

- Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thúc đâỷ việc đô thị hoá, mở rộng các nhu cầu về hoạt động sản xuất,dịch vụ Do đó làm tăng nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu dẫn đến tăng nguy cơ ô nhiễm,cạn kiệt tài nguyên

- Quá trình toàn cầu hoá và ảnh hưởng của các vấn đề môi trường toàn cầu như biến đổi khí hậu, an toàn và vệ sinh thực phẩm,các bệnh lây nhiễm v.v…sẽ có tác động mạnh đến vấn đề môi trường và phát triển bền vững ở nước ta

- Công tác quản lý môi trường ở nước ta hiện nay còn yếu kém, nguồn đầu tư còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc bảo vệ

Trang 11

môi trường trong thời kỳ mới – công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Trên cơ sở đánh giá hiện trạng môi trường trong những năm gần đây

và xu thế diễn biến môi trường trong thời gian tới, báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 của Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường đã đề

ra 8 vấn đề môi trường cần ưu tiên giải quyết một cách triệt để, cấp bách là:

- Tàn phá rừng tự nhiên, xuống cấp chất lượng rừng

- Suy giảm đa dạng sinh học cạn,sinh học nước

- Thoái hoá môi trường đất

- Ô nhiễm môi trường nước

- Ô nhiễm bụi, chì, SO2 trong không khí

- Bão , lụt, lũ quét, hạn hán xảy ra thường xuyên

- Xử lý và thải bỏ chất thải rắn

- Vấn đề nước sạch và vệ sinh nông thôn

Những vấn đề trên có liên quan trực tiếp đến mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế –xã hội trong đó ngành Giáo dục -Đào tạo với gần 24 triệu học sinh, sinh viên đang sống và học tập trên mọi miền đất nước

1-2-4 Giáo dục môi trường trong chương trình giáo dục phổ thông

Hệ thống giáo dục quốc dân từ Mầm non đến Đại học với mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo đến tận từng thôn, ấp rộng khắp mọi miền đất nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục môi trường

Với một hệ thống tổ chức chặt chẽ,liên tục giữa các bậc học,ngành học, việc tổ chức và quản lý công tác giáo dục môi trường trong hệ thống giáo dục quốc dân một cách có khoa học ,mục tiêu, nội dung và phương phps phù hợp sẽ góp phần tạo nên một lực lượng hùng hậu tham gia bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc cũng như ở từng địa phương

Thông qua các hoạt động giáo dục môi trường trong và ngoài nhà trường, chính khoá hay ngoại khoá mỗi cơ sở giáo dục - đào tạo dều XANH - SẠCH - ĐẸP sẽ trở thành trung tâm văn hoá ,khoa học và bảo vệ

Trang 12

môi trường trên địa bàn của mình và là hạt nhân tổ chức công tác bảo vệ môi trường ở các cộng đồng dân cư.

“Để đạt được mục tiêu giáo dục -Đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp,trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc, có đầy đủ các phẩm chất và năng lực của công dân,đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc “- Điều 2- Luật Giáo dục -1998, giáo dục môi trường trở thành một yêu cầu thiết yếu của nhà trường nhằm tăng cường hiểu biết của học sinh đối với thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, đặc biệt là tăng cường hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động

1.3 Quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở trường THPT

1.3.1 Khái niệm quản lý và quản lý nhà trường

1-3-1-1 Khái niệm về quản lý

* Quản lý là gì?

Quản lý là phân công, điều hành, phối hợp hài hòa giữa các thành viên với công việc và nguồn lực trong cơ quan ,trong cộng đồng để hoàn thành một cách hiệu quả các nhiệm vụ,các mục tiêu,các kế hoạch đã được đưa ra

Xét trên phương diện hoạt động của một tổ chức thì:

“ Quản lý là tác động có mục đích,có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung, là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục đích mục tiêu dự kiến ”

Hoặc:

“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng ,có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (Người bị quản lý) nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.”

Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức và điều khiển ) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu của tổ chức đã đề ra

Trang 13

Như vậy quản lý là tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) và những nhân tố liên quan trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả cao.

Tóm lại, để quản lý một cách khoa học đòi hỏi nhà quản lý phải có những hiểu biết khoa học về đối tượng quản lý,về môi trường Những năng lực quản lý còn phụ thuộc vào khả năng vận dụng một cách khôn khéo và có hiệu quả các qui luật, sử dụng các phương pháp thích hợp vào tình hướng cụ thể Do đó quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật

- Chỉ đạo, chỉ huy ( Leading )

- Kiểm tra ( Controling )

- Thông tin ( Information)

Mô hình đó người ta viết tắt là: P O L C I

Trang 14

Mô hình này người ta viết là: D P O L C I Per

Mô hình này nêu bật ý nghĩa quyết định trong mọi khâu của quá trình quản lý con người

* Mô hình 4 yếu tố là mô hình có 4 yếu tố sau đây:

Mô hình này nêu lên vai trò quan trọng của việc thực hiện (Doing) Đối với nhà quản lý là vấn đề tổ chức thực hiện Tất nhiên để tổ chức thực hiện cần phải biết rõ mục đích, những việc cụ thể gì, và làm bằng phương pháp nào:

A

P

C

D

Trang 15

bản của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định và cũng như quy luậy của quá trình giáo dục và sự phát triển tâm lý của học sinh.

Theo M Mechiti Zade nhà lý luận Xô-viết về quản lý giáo dục: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức,phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục,đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng ”

Như vậy, qua các khái niệm trên ,ta có thể hiểu quản lý giáo dục là tác động có hệ thống,có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản

lý ở các cấp khác nhau đến tận cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống giáo dục Từ Bộ GD-ĐT đến trường học, đơn vị giáo dục nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của Quản lý giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em

Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý văn hoá tinh thần Quản lý giáo dục bao gồm quản lý vĩ mô - quản lý hệ thống giáo dục và quản

lý hệ thống vi mô- quản lý trường học

Quản lý giáo dục bao giờ cũng phải được định hướng tới những mục đích, mục tiêu nhất định Mục đích tổng quát của sự nghiệp giáo dục chính

là mục đích tổng quát nhất của quản lý Giáo dục

Quản lý giáo dục trong xã hội hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là để thực hiện mục đích phát triển nhân cách cho người học

Theo nghị quyết TƯ 2,hệ thống muc tiêu quản lý giáo dục bao gồm:

- Đảm bảo quyền học sinh vào học các ngành học, cấp học, lớp học đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn

Trang 16

- Đảm bảo chỉ tiêu chất lượng và hiệu quả đào tạo.

- Phát triển tập thể sư phạm: đủ và đồng bộ,nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ và đời sống giáo viên

- Xây dựng, sử dụng và bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho Dạy và Học

- Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng , Đoàn, Đoàn thể quần chúng để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục -Đào tạo

- Phát triển và hoàn thiện các mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội để

để làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ

Các mục tiêu được thực hiện theo từng cấp và tạo thành một hệ thống mục tiêu phân cấp,mục tiêu của cấp dưới chủ yếu chi phối của mục tiêu cấp trên

Các mục tiêu có liên quan với nhau, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau

Để đạt được mục tiêu quản lý giáo dục cần phải thực hiện tốt các chức năng quản lý giáo dục như:

Kế hoạch hoá, Tổ chức, chỉ đạo (Chỉ huy điều hành), Kiểm tra đánh giá Cũng cần phải tính đến quan hệ của mục tiêu với các yếu tố khác của hệ thống quản lý giáo dục như: nội dung, phương pháp, chủ thể, đối tượng , hình thức, điều kiện, môi trường, quy chế và bộ máy tổ chức quản lý giáo dục - đào tạo

Có như vậy mới làm cho quá trình quản lý giáo dục vận động hợp quy luật, tạo ra sự phát triển đồng bộ và toàn diện,đạt tới chất lượng tổng thể và bền vững.Để giáo dục thực sự là động lực thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của hệ thống giáo dục

Hệ thống giáo dục là một phân hệ của hệ thống xã hội, hệ thống giáo dục bao gồm các thành tố của mình:

+ Từ góc độ quản lý:

Hệ thống giáo dục theo đặc trưng thứ bậc như: Giáo dục toàn xã

Trang 17

hội ↔ Bộ GD-ĐT ↔ Sở GD-ĐT ↔ Phòng GD-ĐT ↔ Trường.

+ Từ góc độ tồn tại:

Hệ thống giáo dục bao gồm: cơ sở vật chất thiết bị, quy trình sư phạm tổng thể,các định hướng giáo dục (Chính sách, đường lối)

các yếu tố quản lý con người: Giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý

Đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống giáo dục đó là sự chuẩn bị cho xã hội những thành viên sáng tạo hay là: Đặc trưng tái tạo xã hội thông qua sự hoạt động trong tương lai của con người được đào tạo hôm nay

* Đối tượng của quản lý giáo dục là một hệ thống xã hội gồm 4 thành

tố ;

+ Tư tưởng (quan điểm, đường lối, chính sách, chế độ, nội dung, phương pháp, tổ chứcgiáo dục)

+ Con người (Giáo viên, học sinh, cán bộ, nhân viên)

+ Quy trình (Dạy và Học diễn ra trong không gian và thời gian)

+ Vật chất (trường ,sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc Dạy

và Học )

* Quan hệ của quản lý giáo dục

+ Quan hệ trong quản lý giáo dục là quan hệ ở tầng bậc cơ bản nhất

là quan hệ giữa con người (Chủ thể quản lý) với con người (Khách thể quản

lý ) trong hoạt động sư phạm

+ Các tầng bậc cao hơn của quản lý giáo dục bao gồm các quan hệ chủ thể quản lý ↔ Hoạt động sư phạm ↔ các yếu tố bên ngoài ↔ khách thể quản lý

Từ sự phân tích trên có thể nói quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của quản lý xã hội, quản lý giáo dục là quản lý cả một hệ thống,Mối quan hệ chủ thể – khách thể, quản lý giáo dục là quản lý của sự quản lý, quản lý cả chính bản thân mình

Trang 18

Quản lý giáo dục là mô hình tư duy,mô hình lý tưởng sẽ đạt tới trong năm học Đó cũng là nhiệm vụ, chức năng cần phải thực hiện trong quá trình vận hành của hệ thống cho đến khi kết thúc hoạt động và mục tiêu đó thường được cụ thể hoá trong bản kế hoạch năm học.

1.3.1.3 Quản lý nhà trường

* Khái niệm

Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích ,có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho học sinh hướng theo quan điểm giáo dục của Đảng - thực hiện được mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề cao, biết

tự chủ, năng động sáng tạo ,có đạo đức cách mạng,tinh thần yêu nước,yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện, có sức khoẻ và năng lực chuyên môn sâu sắc,có ý thức, có khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

Quản lý xã hội về thực chất là tổ chức khoa học lao động của toàn xã hội.Hai vấn đề cơ bản trong tổ chức khoa học lao động là phân công lao động

và hợp tác lao động.Trình độ phân công và hợp tác lao động phản ánh trình độ phát triển kinh tế- xẫ hội,nói đúng hơn là trình độ phân công và hợp tác lao động phụ thuộc vào trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất

* Nội dung quản lý nhà trường

Trong nhà trường hiệu trưởng quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo chế độ thủ trưởng, hiệu trưởng là người phụ trách cao nhất của trường

và chịu trách nhiệm về các hoạt động trong nhà trường.Đồng thời trong nhà trường còn có chế độ tập thể, là chế độ làm việc của các ban, các hội đồng,…

để góp ý kiến, tư vấn giúp thủ trưởng xem xét, quyết định đối với những vấn

đề quan trọng trong nhà trường

Nguyên tắc kết hợp quản lý theo nghành với quản lý theo địa phương

Trang 19

và vùng lãnh thổ đối với công tác giáo dục.

Nghành giáo dục trong cả nước là một hệ thống gồm nhiều hệ thống con, thống nhất với nhau về mục tiêu,kế hoạch đào tạo.Việc quản lý theo nghành là tất yếu ở nhiều mặt như chương trình, sách giáo khoa, đánh giá kết quả Tuy nhiên, mỗi nhà trường, sở GD&ĐT đều tồn tại trong mối quan hệ gắn bó với môi trường kinh tế –xã hội ở địa phương nhằm giải quyết các điều kiện hoạt động và đời sống của đơn vị mình.Có sự kết hợp giữa nhà trường,gia đình, xã hội,giữa nhà nước và nhân dân.do vậy,để giáo dục địa phương phát triển phù hợp với mục đích chung,phải có sự kết hợp giữa quản

lý theo nghành và quản lý theo địa phương sao choi đảm bảo vai trò chủ đạo của quản lý theo nghành và phát huy tính chủ động,sáng tạo của địa phương

1.3.2 Quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở trường THPT

1.3.2.1 Các chủ trương,chính sách của Chính phủ và Bộ giáo dục và đào tạo về GDMT:

+ Về chủ trương: Bộ GD-ĐT đã ban hành một số văn bản liên quan đến GDMT sau:

- Thông tư liên bộ số 228/LB ngày 13-5-1991 giữa Bộ GD-ĐT và Bộ Lâm nghiệp về hướng dẫn thực hiện chỉ thị số 106/CT của Chủ tịch Hội đồng

bộ trưởng

- Quyết định số 3288/QĐ-BGD-ĐT –KHCN ngày 2-10-1998 về việc phê duyệt văn bản chính sách và chiến lược thực hiện Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt nam

- Công văn số 12054/THPT ngày 22-12-1998 v/v Hướng dẫn thực hiện giáo dục môi trường trong các trường THPT

- Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ

tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”

Các văn bản trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức,triển

Trang 20

khai các hoạt động Giáo dục môi trường ở các cơ sở GD-ĐT trong hệ thống giáo dục quốc dân trong thời gian vừa qua.Tuy nhiên để đáp ứng tốt yêu cầu tăng cường công tác GDMT ở nhà trường phổ thông trong giai đoạn mới (2001-2010) hệ thống các văn bản pháp quy về GDMT cần được tiếp tục bổ sung hoàn thiện, đặc biệt là các văn bản về chính sách và chiến lược thực hiện GDMT trong nhà trường phổ thông.

1.3.2.2 Nội dung GDMT ở trường THPT

Giáo dục môi trường được đưa vào trường THCS và trường THPT từ năm học 1979-1980 Hai hội thảo quốc gia về GDMT vào các ngày 4-6-1982 và 26,27- 9-1995 đã đánh dấu các bước phát triển về GDMT trong trường THPT trong cả nước

+ Nội dung GDMT dần dần được quan tâm xem xét trong quy trình xây dựng chương trình môn học,biên soạn sách giáo khoa,tài liệu hướng dẫn ở bậc trung học

+ Ở bậc THPT :

Có nhiều môn liên quan đến GDMT như: Vật lý, hoá học, Địa lý,sinh học, GDCD Đặc biệt môn Địa lý, sinh học có một số bài , một số chương thậm chí cả một phân môn có thể lồng ghép, tích hợp toàn phần với nội dung GDMT Tuy nhiên không mang tính bắt buộc tuỳ thuộc vào khả năng của giáo viên

+ Thực hiện phong trào xanh hoá nhà trường:

- Trồng cây xanh

- Xây dựng vườn trường

- Xây dựng bồn hoa , cây cảnh

để hưởng ứng phong trào xây dựng nhà trường Xanh- Sạch -Đẹp

+ Bộ GD-ĐT tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu về môi trường thường xuyên,đa dạng

Trang 21

+ Tổ chức những cuộc thi Văn nghệ, thi vẽ,làm báo,viết truyện, múa hát theo chủ đề môi trường và bảo vệ môi trường.

Các nhà trường, là các đơn vị giáo dục cần được tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học như:

- Tranh ảnh, Tài liệu,Tạp chí,thông tin mới về môi trường

- Trang bị các thiết bị nghe nhìn, TV, băng hình về môi trường, BVMT

- Các dụng cụ BVMT như thùng rác, khẩu trang,dụng cụ chăm sóc cây ngoài ra các nhà trường cần tổ chức cho học sinh cắm trại, ngoại khoá , dã ngoại để học sinh được tiếp xúc với môi trường tự nhiên nhiều hơn và trực tiếp tham gia vào việc bảo vệ môi trường

+ Nội dung GDMT trong chương trình bậc học THPT đều có thể tích hợp,lồng ghép nội dung GDMT vào nhiều môn học trước hết là:

Sinh vật, Địa lý, kỹ Thuật, GDCD, văn học

Sau ây ta có th l p b ng th i lđ ể ậ ả ờ ượng kh i ki n th c GDMT ố ế ứ được tích

h p trong các môn h c b c THPT nh sau:ợ ọ ở ậ ư

Mẫu số: số tiết môn học

1.3.2.3 Con đường GDMT ở trường THPT

Nhà trường có sứ mệnh hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinhthực hiện

Trang 22

các vai trò xã hội của mình,cung cấp kiến thức,kỹ năng,giá trị về môi trường

và BVMT để học sinh trở thành những thành viên có ích cho xã hội.Mặc dầu một phần những điều này,học sinh có thể thu nhận ở gia đình trong sinh hoạt

xã hội, qua các phương tiện truyền thông v.v nhưng nhà trường có trách nhiệm thực hiện việc giáo dụcmột cách có hệ thống,có tổ chức cho những công dân tương lai Chìa khoá cho tương lai nằm trong sự giáo dục thế hệ trẻ ngày nay, trong đó tất yếu phải có GDMT

Giáo dục môi trường ở trường THPT có tính đặc trưng, ở Việt nam chúng ta chưa có bộ môn GDMT riêng mà chỉ diễn ra bằng 2 cách thức.Đó

là sự lồng ghép,tích hợp các nội dung về GDMT trong một số tiết học của các môn học như:

Sinh vật, Vật lý, Hoá, Địa lý, Kỹ thuật nông nghiệp, Văn, GDCD…Cách thức thứ 2 là thông qua các hoạt động độc lập như:tuyên truyền,

cổ động, hội thảo, ngoại khoá, cắm trại, tham quan, du lịch, tổ chức thi vẽ tranh, thi tìm hiểu có nội dung về môi trường và bảo vệ môi trường

1.3.3 Quản lý hoạt động GDMT trong nhà trường THPT

Ở nước ta việc GDMT trong nhà trường phổ thông bắt đầu từ năm 1981 cùng với việc thực hiện chương trình cải cách giáo dục và hình thức cho đến nay,nội dung GDMT ở nước ta không cấu thành một môn học riêng như ở một số nước, mà được tích hợp vào một số môn mà đối tượng nghiên cứu có quan hệ gần gũi với môi trường

Cho nên việc quản lý hoạt động GDMT trong nhà trường cũng phải xác định một cách khá rõ nét:

- Đó là quản lý hoạt động dạy học: tuân thủ theo các địa chỉ của chương trình có các nội dung GDMT trong sách giáo khoa các cấp học và các khối lớp,và đặc biệt chú ý về phương pháp giảng dạy,sử dụng đồ dùng dạy học…

- Đó là quản lý các hoạt động độc lập ( hoạt động ngoài giờ lên lớp ) như:

Trang 23

Ngoại khoá, tham quan, du lịch,cắm trại…

Về phương pháp giảng dạy các giờ học có nội dung GDMT các môn học thường được sử dụng các phương pháp sau:

* Phương pháp tích hợp:

Tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức GDMT và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong bài học

Có 2 loại hình tích hợp:

+ Hình thức lồng ghép: ở hình thức này một số kiến thức môn học cũng chính là kiến thức GDMT được đưa vào chương trình và sách giáo khoa theo các mức độ khác nhau

Các kiến thức GDMT này có thể chiếm cả chương, một bài trọn vẹn,một đoạn,thậm chí 1 câu trong 1 bài học

+ Hình thức liên hệ:

Hình thức này các kiến thức GDMT không được nêu rõ trong sách giáo khoa, không dựa vào kiến thức bài học.Người giáo viên có thể bổ sung các kiến thức đó bằng cách liên hệ các kiến thức GDMT vào bài giảng trên lớp dưới hình thức các ví dụ khi phân tích bài học một cách hợp lý

Do nội dung GDMT được tích hợp trong các môn học như đã nêu trên nên công tác quản lý của người hiệu trưởng về GDMT cũng được xem như một

bộ phận của quản lý chuyên môn,với tỷ lệ hoạt động lên lớp và ngoại khoá đặc trưng cho GDMT

+ Hoạt động quản lý (GDMT) này của cán bộ quản lý nhà trường là hoạt động chủ đạo,quan trọng trong quá trình dạy học Quản lý hoạt động dạy họcGDMT cũng giống như quản lý các bộ môn khác bao gồm:

Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học có nội dung GDMT, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, quản lý hồ

Trang 24

sơ chuyên môn, quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về phương pháp soạn,giảng những giờ học có nội dung GDMT.

1.3.3.1 Quản lý việc thực hiện chương trình (có lồng ghép GDMT)

Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của nhà trường.Chương trình là văn bản pháp quy nên Cán bộ quản lý phải nắm vững để chỉ đạo và quản lý giáo viên thực hiện nghiêm chỉnh

Việc nắm vững chương trình dạy học là điều kiện để quản lý thực hiện chương trình dạy học bao gồm các phần sau:

- Nắm vững nguyên tắc cấu tạo chương trình có nội dung GDMT của cấp học

- Nắm vững phương pháp dạy học đặc trưng và các hình thức dạy học cuả từng môn học

- Nắm vững kế hoạch dạy học của từng môn học, từng khối lớp trong cấp học

- Vận dụng các hình thức dạy học khác nhau,kết hợp giữa các hình thức dạy học trên lớp, ngoài lớp, thực hành,tham quan,thi tìm hiểu, thi sáng tác tranh, viết báo, viết truyện về môi trường và bảo vệ môi trường …một cách hợp lý

- Dạy đủ các tiết học có nội dung GDMT và coi trọng tất cả các môn học theo phân phối chương trình của Bộ GD-ĐT,các văn bản hướng dẫn có nội dung GDMT

1.3.3.2 Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp các tiết học có nội

dung GDMT

Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viên cho giờ lên lớp Tuy chưa dự kiến được hết các tình huống trong quá trình lên lớp nhưng soạn bài thực sự là lao động sáng tạo của từng giáo viên,thể hiện sự suy nghĩ, quan điểm của giáo viên về việc lựa chọn nội dung GDMT có trong tiết học,phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng học

Trang 25

sinh và đúng với yêu cầu của chương trình.

Cán bộ quản lý kiểm tra việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên bao gồm các nội dung sau:

+ Đầu năm học:

- Kiểm tra kế hoạch giảng dạy của giáo viên về nội dung GDMT, các yêu cầu về tài liệu giáo khoa, đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo,chi phí cần thiết cho việc thực hành

- Hàng tháng kiểm tra việc thực hiện chương trình,sinh hoạt tổ chuyên môn

về việc chuẩn bị giờ lên lớp cho nội dung trên

- Hàng tuần thực hiện kiểm tra việc thực hiện phiếu báo giảng trước và lập phiếu báo giảng mới đầy đủ

- Giao cho phó hiệu trưởng chuyên môn, hoặc tổ trưởng chuyên môn kiểm tra công việc đã quy định: Giáo án, hồ sơ sổ sách,sử dụng đồ dùng dạy học,thực hành …

1.3.3.3 Quản lý giờ lên lớp của giáo viên

- Giờ lên lớp của giáo viên là phản ánh toàn bộ những gì họ đã tích luỹ được đồng thời cũng là lúc thể hiện tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của giáo viên Cán bộ quản lý không thể quản lý trực tiếp nhưng phải tìm biện pháp để giáo viên tự kiểm soát được giờ lên lớp của họ với thời lượng, phương pháp tích hợp,lồng ghép trong bài học những nội dung đã qui định có nội dung GDMT

- Yêu cầu của hiệu trưởng trong việc quản lý giờ lên lớp của giáo viên, xây dựng và tổ chức giờ lên lớp một cách kế hoạch và thực tế để đánh giá giờ giảng dạy của giáo viên, đánh giá thi đua, nhưng điều quan trọng hơn là tạo

cơ sở để giáo viên tự đánh giá kết quả công việc của mình và phấn đấu vươn lên

- Tiêu chuẩn giờ lên lớp phản ánh trình độ thực tế của giáo viên trong từng giai đoạn Vì vậy cần thấy rõ sự vận động của các tiêu chuẩn làm cho nó ngày

Trang 26

càng phù hợp,tiến bộ hơn.

- Do tính chất quản lý gián tiếp, hiệu trưởng cần xây dựng một hệ thống

nề nếp về giảng dạy GDMT, tạo cho giáo viên hình thành một thói quen tự giác,nghiêm túc trong mọi giờ dạy có nội dung GDMT được tích hợp hay lồng ghép

1.3.3.4 Quản lý giờ lên lớp của giáo viên, việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học theo hướng tích hợp nội dung GDMT

Chỉ đạo quy trình dạy học thông qua việc dự giờ và phân tích tính sư phạm bài học để từ đó đề ra những quyết định đúng đắn và chức năng trung tâm của người hiệu trưởng Là nét đặc thù của quản lý trường học, và chất lượng dạy học và Giáo dục được thực hiện chủ yếu và cơ bản trong hệ thống các bài học ở tất cả các môn học trong đó có nội dung GDMT

Yêu cầu của hiệu trưởng:

- Phải nắm vững lý luận dạy học nói chung và lý thuýết bài học nói riêng,nắm vững một số quan điểm khi phân tích bài học

- Nắm vững các giai đoạn và công việc trong từng giai đoạn khi dự giờ và phân tích sư phạm bài học Từ khâu chuẩn bị dự giờ và quan sát trực tiếp bài học,giáo viên và cán bộ quản lý phân tích bài dạy đặc biệt là những giờ học

1.3.3.5 Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trong quy chế hoạt động của nhà trường hiện nay việc kiểm tra để biết được mức độ thu nhận kiến thức chung cũng như kiến thức GDMT mà các em

Trang 27

lĩnh hội được

Trong những giờ học, việc vận dụng kỹ năng của học sinh vào thực tế bảo vệ môi trường mà trước hết là vệ sinh trường,lớp, cá nhân và ý thức tham gia các hoạt động độc lập là việc làm đã được quy định Hiệu trưởng phải nắm vững được tình hình giáo viên,thực hiện việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh về những điểm sau:

- Lịch kiểm tra từng tháng, từng học kỳ nhằm điều hoà số bài kiểm tra trong từng thời điểm một cách hợp lý về nội dung GDMT

- Thực hiện đúng chế độ kiểm tra,tiêu chuẩn cho điểm đánh giá thực hiện đúng các quy định về cho điểm, sửa điểm …như mọi môn học khác trong sổ điểm, học bạ

- Thực hiện đầy đủ nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về đánh giá xếp loại học sinh.Đánh giá học sinh công bằng,chính xác

- Trong quá trình thực hiện,hiệu trưởng cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đối tượng như: Phó hiệu trưởng chuyên môn, tổ trưởng và giáo viên – yêu cầu họ lập kế hoạch kiểm tra đánh giá nhận thức của học sinh về kiến thức môi trường và Bảo vệ môi trường một cách đầy đủ theo yêu cầu của chương trình, đồng thời hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra,xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chất lượng dạy học GDMT trong nhà trường

1.3.3.6 Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên

Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là phương tiện phản ánh quá trình quản lý

có tính khách quan và cụ thể giúp hiệu trưởng nắm chắc hơn,cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên Hồ sơ chuyên môn là một trong những điều kiện trước tiên của hoạt động quản lý Dạy và Học trong nhà trường

Theo điều lệ trường THPT ban hành quyết định số 22/2002/QĐ_BGD-ĐT ngày 17-1-2000 thì hồ sơ của giáo viên bao gồm:

Trang 28

- Giáo án (có trình bày rõ nội dung và phương pháp GDMT)

- Sổ dự giờ thăm lớp

- Sổ chủ nhiệm ( đối với GVCN)

- Sổ kiểm diện và ghi điểm

- Sổ công tác

- Sổ báo giảng

Trong quá trình quản lý, hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể yêu cầu của từng loại hồ sơ,cùng với phó hiệu trưởng chuyên môn và tổ trưởng thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức để kịp thời điều chỉnh những sai sót có thể xẩy ra trong quá trình giảng dạy lồng ghép,tích hợp nội dung GDMT

1.3.3.7 Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng giáo viên

Quản lý và sử dụng giáo viên là một yêu cầu, một nhiệm vụ một tiêu chuẩn không thể thiếu được trong quá trình quản lý nhà trường, thể hiện ở 2 nội dung:

+ Sử dụng đội ngũ giáo viên:

Phân công hợp lý trong chuyên môn phù hợp với năng lực chuyên môn trên cơ sở có chú ý đến điều kiện năng lực giảng dạy và tổ chức các hoạt động ngoại khoá của từng giáo viên trong trường

+ Bồi dưỡng giáo viên về nội dung và phương pháp giảng dạy nội dung GDMT:

- Bồi dưỡng thường xuyên theo chương trình của Bộ GD-ĐT

- Bồi dưỡng tại trường

- Bồi dưỡng theo chuyên đề GDMT

- Bồi dưỡng cho cán bbộ Đoàn và giáo viên trẻ có năng lực để thường xuyên tổ chức các hoạt động GDMT độc lập

- Tự bồi dưỡng

Quản lý việc sử dụng bồi dưỡng giáo viên có vai trò quan trọng,có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng giáo dục giáo dục của nhà trường, vì vậy

Trang 29

hiệu trưởng phải có chương trình,kế hoạch và chủ động trong việc bồi dưỡng giáo viên nhằm từng bước nâng cao trình độ và năng lực sư phạm cho giáo viên về GDMT và bảo vệ môi trường.

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quản lý nhà trường vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật đòi hỏi người quản lý phải nắm vững những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý và quản lý giáo dục, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt trong điều kiện thực tế của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra

Trong công tác quản lý giáo dục nói chung thì quản lý giáo dục môi trường trong nhà trường đối với hiệu trưởng là một việc làm hết sức quan trọng,góp phần đào tạo một cách toàn diện cho thế hệ trẻ và còn đạt được kết quả trước mắt và cả lợi ích lâu dài ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của

xã hội trong tương lai

Với ý nghĩa đó, Chương 1 là nền tảng lý luận để tìm hiểu thực trạng việc quản lý GDMT của hiệu trưởng trong các trường THPT huyện Thạch Thất, nhằm đề xuất một số biện pháp về quản lý hoạt động GDMT, góp phần đẩy mạnh hoạt động GDMT trong nhà trường THPT thời gian tới

CHƯƠNG 2

Trang 31

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDMT TRONG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN THẠCH THẤT –TỈNH HÀ TÂY

2-1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện

Thạch Thất

2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên

Huyện Thạch Thất là một trong 14 huyện, thị xã của tỉnh Hà Tây thuộc vùng trung du đồng bằng Bắc bộ

Diện tích gồm 11.948.536 ha (~15km²)

Địa hình của huyện gồm hai khu vực:

-Vùng đồng bằng:gồm các xã nằm ngoài phía bắc sông Tích giang-Vùng bán sơn địa: gồm các xã nằm trong phía Nam sông Tích

Địa giới hành chính của huyện Thạch Thất cách thủ đô Hà Nội khoảng

30 km về phía tây, nằm giữa và cách thị xã Hà Đông và Sơn Tây không quá

xa, do vậy sự ảnh hưởng về giáo dục ở các trung tâm chính trị, văn hoá nhìn chung có nhiều thuận lợi

Thạch thất là một miền đất cổ có hệ sinh thái hết sức đa dạng, phong phú: có miền đồng bằng phì nhiêu - đất đai màu mỡ có thể trồng được nhiều loại cây trồng có những địa phương nằm trên những đồi gò cao cây cối rậm rạp

Có nhiều gỗ quý, có luỹ tre bao quanh các làng mạc có hệ thống sông,ngòi thoát nước Quanh năm có nguồn nước trong sạch điều hoà.Nhưng

đó là những hình ảnh của những năm của thập kỷ 60,70 Giờ đây tất cả những điều kiện về môi trường có từ ngàn xưa đã bị phá vỡ ; không còn nguyên vẹn vì cơ chế thị trường với nền kinh tế đa thành phần,xu thế công nghiệp hoá đang phát triển mạnh ở nơi đây

Chúng tôi nhận thấy những nguyên nhân chủ yếu là:

Trang 32

- Công tác GDMT của chính quyền các cấp, của các nhà trường còn yếu.

- Nhận thức của người dân và hành động bảo vệ môi trường còn kém

- Cán bộ quản lý các nhà trường cũng chưa tự nâng cao nhận thức về công tác quản lý hoạt động GDMT trong nhà trường

Tất cả các cấp, các đơn vị đến người dân chưa nhận thức đúng, đủ và chưa có được hành động đúng để biết sống vì môi trường và BVMT

2.1.2 Tình hình kinh tế,văn hoá- xã hội

2.1.2.1 Về kinh tế:

Huyện Thạch Thất có 19 xã và 1 thị trấn Theo thống kê năm 2001, toàn huyện có 143.400 người, nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông là chính, ngoài ra còn sống bằng nghề truyền thống ở một số địa phương: nghề mộc, nghề cơ khí, nghề mây, tre, giang đan, nghề xây dựng nhà ở và các công trình Một bộ phận các hộ sống bằng nghề kinh doanh buôn bán,các hoạt động dịch vụ, du lịch.Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã và đang huỷ hoại môi trường do ý thức của con người

Ví dụ: Môi trường nước bị ô nhiễm nặng nề, các con sông nhỏ, các con ngòi phải chứa và lưu chuyển một khoản nước thải sản xuất và sinh hoạt của một khu vực có mật độ dân cư quá cao

Chất thải của sản xuất thủ công và công nghiệp như: Mạ xuya –a nua, nước tẩy kim loại bằng A-xit …chính quyền không quản lý được nguồn nước thải, kiến thiết xây dựng nhà ở không có quy hoạch chặn đứng nhiều nơi thoát nước truyền thống

Môi trường không khí cũng bị ô nhiễm nặng nề: bụi và tiếng ồn là 2 chỉ tiêu vượt mức TCVN (tiêu chuẩn Việt nam) trong một số làng nghề truyền thống cũng như trên các tuyến đường giao thông chính trong huyện

2.1.2.2 Tình hình văn hoá - xă hội

Thạch Thất là môt vùng quê có những kiệt tác về kiến trúc và điêu khắc như ( Chùa Tây Phương), cũng là một địa phương có truyền thống hiếu học

và khoa bảng

Trang 33

Thời phong kiến có 29 người đỗ đại khoa, hàng trăm người đỗ trung khoa.Ngày nay, nhân dân huyện Thạch Thất vẫn phát huy được truyền thống của ông cha có nhiều người thành đạt trên các lĩnh vực đời sống xã hội đã và đang góp sức mình vào sự nghiệp chung của đất nước.

2.2 Tình hình giáo dục THPT của huyện Thạch Thất

2.2.1 Đôi nét về tình hình giáo dục ở huyện Thạch Thất:

Trong những năm gần đây, tình hình phát triển giáo dục ở huyện Thạch Thất vào loại tốt trong 14 huyện thị của tỉnh Hà Tây Toàn huyện có hơn 50.420 học sinh các cấp và 2.526 giáo viên (cả hợp đồng) với hệ thống các cấp học đồng đều:Giáo dục mầm non,giáo dục tiểu học và THCS ở khắp các

xã và thị trấn,toàn huyện có 21 trường THCS và 4 trường THPT với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên đạt chuẩn

Giáo dục -Đào tạo huyện Thạch Thất tiếp tục phát triển về qui mô và đa dạng hoá các loại hình trường lớp, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân.Đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi năm 2000,trung học cơ

sở năm 2001,chất lượng giáo dục được giữ vững và từng bước nâng cao.Chất lương giáo dục toàn diện và giáo dục hướng nghiệp,dạy nghề phổ thông có nhiều tiến bộ

Số học sinh thi đạt giải Quốc tế, quốc gia,học sinh giỏi cấp Tỉnh,học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng tăng hàng năm Giáo dục mầm non được quan tâm.Đã có 13 trường đạt chuẩn quốc gia ở cấp học mầm non,tiểu học và THCS

Đội ngũ giáo viên và quản lý giáo dục được bổ xung và thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao trình độ theo hướng đạt và vượt chuẩn quốc gia.Đặc biệt là công tác Xã hội hoá giáo dục ở huyện Thạch Thất được tiến hành và phát triển tốt trong nhiều năm qua.Các cấp uỷ Đảng và chính quyền các địa phương quan tâm và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất :trường lớp, trang thiết bị dạy học, tạo điều kiện thuận lợi cho GD-ĐT phát triển.Các cơ quan, các đơn vị và đặc biệt là nhận thức trách nhiệm của nhân dân đối với sự

Trang 34

nghiệp giáo dục địa phương tăng lên rõ rệt.

Giải thưởng giáo dục mang tên danh nhân văn hoá quê hương Trạng Bùng -Phùng Khắc Khoan của UBND huyện Thạch Thất đã động viên,thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua học tập của học sinh và thi đua dạy tốt của giáo viên trong toàn huyện Hàng năm UBND huyện Thạch thất thường chi

khoảng 60 triệu đồng làm phần thưởng cho học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và cấp Tỉnh

2.2.2 Quá trình phát triển các trường THPT ở huyện Thạch Thất

- Trước năm 1965: ở huyện Thạch Thất chưa có trường cấp III nào.Từ năm học 1966 trường phổ thông cấp III Thạch Thất chính thức được thành lập

và là ngôi trường cấp III duy nhất ở huyện Thạch Thất

- Đến năm học 2005-2006, trải qua 39 năm xây dựng và phát triển,toàn huyện đã có 4 trường THPT (3 trường công lập và 1 trường bán công) với tổng số 145 lớp học và 7850 học sinh

Trong những năm gần đây,đặc biệt từ khi có Nghị quyết Hội nghị TƯ 2 khoá VIII,bậc THPT đã có những chuyển biến quan trọng và thực hiện có hiệu quả ở một số chương trình như lớn như : Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giáo viên.,xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết bị dạy học,đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục,chỉ đạo phối hợp tổ chức các phong trào và các cuộc vận động ….đã từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh THPT Chất lượng giáo dục biểu hiện qua việc xếp loại học lực và hạnh kiểm: (Tính chung cả 3 trường THPT)

CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP

Trang 35

+ Đội ngũ hiệu trưởng, hiệu phó các trường THPT huyện Thạch thất:

Trình độ nghiệp vụ

Trình độ cao cấp LLCT

Từ 50 Tuổi

41-Trên 50 tuổi

Đã học nghiệp vụ quản lý

Chưa học NVQL

Nhìn chung số hiệu trưởng,hiệu phó đều đạt chuẩn.Số hiệu trưởng,hiệu phó được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục là 100% Hầu hết các hiệu trưởng có nhiều năm công tác quản lý có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo, tâm huyết với nghề,và có lòng say mê công việc.Trong đội ngũ cán bộ là hiệu phó được đào tạo thạc sỹ (có khoảng 45 % số Hiệu trưởng, hiệu phó đã học,và một số đang theo học cao học quản lý GD Điều đó cho thấy công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý rất được quan tâm và chắc chắn đó là một trong những nhân tố tích cực góp phần thúc đẩy sự phát triển của bậc học

Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường THPT ở huyện Thạch thất còn bộc lộ những điểm yếu,nhất là về mặt nghiệp vụ quản lý đối với một

số Phó hiệu trưởng mới lên thay mà chưa qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ

Trang 36

quản lý GD Do đó thiếu cơ sở lý luận nên thường bị động, phiến diện,hiệu quả công tác không cao-mất nhiều thời gian mới có thể làm quen được với công việc.

Trong công tác quản lý đặc biệt là quản lý công tác GDMT còn gặp nhiều khó khăn

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDMT ở các trường THPT huyện Thạch Thất

Trong những năm qua,được sự quan tâm của Bộ, Sở GD-ĐT Hà tây, đội ngũ cán bộ quản lý,nhất là hiệu trưởng các trường THPT đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, tuy ở các mức độ khác, nhau nhưng cơ bản đã trang

bị những cơ sở lý luận cần thiết giúp cho hiệu trưởng quản lý tốt hơn những hoạt động trong nhà trường

Trên thực tế, những thành tích giáo dục của bậc học THPT những năm gần đây vẫn được ổn định và phát triển.Tuy nhiên, so với yêu cầu vẫn bộc lộ những yếu kém:

Nặng về quản lý hoạt động Dạy và Học các môn học hàn lâm,chưa chú trọng giáo dục toàn diện cho học sinh,chưa mấy trường đã thực sự quan tâm đến các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thiếu nhạy bén đối với các vấn đề nảy sinh từ thực tế địa phương mà biểu hiện rõ nét nhất là quản lý công tác GDMT

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn dân Đặc biệt là thế hệ trẻ –chủ nhân tương lai của đất nước Hơn nữa ý thức, hành vi, trách nhiệm bảo vệ môi trường phải được giáo dục từ khi các em mới bước vào nhà trường Vì vậy, quản lý GDMT là một cấu thành của quản lý giáo dục của người hiệu trưởng, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Nghiên cứu thực trạng quản lý GDMT của hiệu trưởng trường THPT,trong phạm vi đề tài này tập trung những vẫn đề sau:

* Thực trạng nhận thức của hiệu trưởng về :

Trang 37

+ Vai trò,vị trí của GDMT trong trường THPT.

+ Vai trò,vị trí của quản lý GDMT trong trường THPT

* Thực trạng quản lý hoạt động GDMT của hiệu trưởng trường THPT gồm:+ Thực trạng quản lý hoạt động dạy của thầy

+ Thực trạng quản lý các hình thức GDMT

+ Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ GDMT

* Thực trạng quy trình quản lý GDMT của hiệu trưởng trường THPT:

Để nghiên cứu về thực trạng quản lý GDMT của hiệu trưởng trường THPT nói trên, tôi đã tiến hành khảo sát các đối tượng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, kết quả khảo sát được thống kê thành các bảng và đánh giá như sau:

+ Mức độ nhận thức:rất quan trọng,có quan trọng,không quan trọng.Kết quả được đánh giá bằng tỉ lệ phần trăm

+ Mức độ đánh giá:rất tốt,tốt,chưa tốt.Kết quả được đánh giá bằng tỉ lệ phần trăm

+ Mức độ ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động:rất tốt(R),tốt(T),có ảnh hưởng (C),trung bình(TB),không tốt(K) tương ứng với cácgiá trị là 4,3,2,1,0

và được kí hiệu tương ứng là G4,G3,G2,G1,Go

Giá trị của mức độ trung bình là:

GMĐTB = (i 0 4)Gi

5

= →Σ

Si (i=0 >4) là số người trả lời tương ứng với các mức độ.

SiGi: tổng giá trị ở mỗi mức độ

Trang 38

Giá trị trung bình: G TB = (i 0 4)

(i 0 4)

SiGiSi

2.3.1 Thực trạng nhận thức của CBQL trường THPT về GDMT và

quản lý GDMT.

+ Nhận thức về vai trò, vị trí của GDMT trong nhà trường THPT

Khi được hỏi về tầm quan trọng của GDMT trong nhà trường THPT, kết quả thu được: Rất quan trọng chiếm 75 %, quan trọng chiếm 25 %

Như vậy 100% cán bộ quản lý các trường THPT được nghiên cứu đều cho rằng GDMT có tầm quan trọng nhất định trong nhà trường Điều đó đã phản ánh đúng sự đòi hỏi của thực tế trong trường học khi mà CSVC ngày càng được khang trang hơn, các phong trào vệ sinh trường lớp phát triển mạnh, điều kiện và nhu cầu sinh hoạt của học sinh ngày càng cao…

Sự chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp, sự quy hoạch đô thị,làng nghề …đòi hỏi có sự cải thiện môi trường trên phạm vi toàn huyện đã tác động mạnh mẽ đến nhân dân nói chung và đến đội ngũ hiệu trưởng trường THPT nói riêng

Nhận thức trên còn được thể hiện qua quan điểm của các hiệu trưởng đối với các nội dung GDMT

Trang 39

Bảng 1: Nhận thức của hiệu trưởng,hiệu phó về GDMT

Mức độ quan trọng

Thứ bậc

Quan trọng

Í t quan trọng K.quan trọng

không đứng đắn về môi trường

Trang 40

* Nhận thức về vai trò,vị trí quản lý GDMT trong trường THPT

Qua khảo sát cán bộ quản lý trong trường THPT,tất cả đều có nhận thức đúng đắnvề vai trò, vị trí quản lý công tác GDMT trong trường THPT

Về mặt kiến thức thì một số bài học ở một số bộ môn cũng chính là nội dung GDMT Hơn nữa,quản lý các hoạt động,trong đó có hoạt động GDMT là một trong những nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp.Vì vậy, quản lý GDMT là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ quản lý trong các trường học nói chung,đặc biệt ở các trường THPT Để tìm hiểu nhận thức của cán bộ quản lý về các yếu tố tác động đến công tác GDMT trong nhà trường hiện nay,tôi đã tiến hành khảo sát trên những tiêu chí sau:

Bảng 2: Đánh giá của hiệu trưởng,hphó về các yếu tố tác động đến công tác GDMT

5 Tinh thần trách nhiệm của BGH về chỉ đạo

Kết quả điều tra cho thấy:

Tất cả các hiệu trưởng,hiệu phó đã nhận thức được rằng công tác GDMT trong nhà trường hiện nay chịu sự tác động quan trọng cuả các yếu tố chủ quan thuộc về tinh thần trách nhiệm,kiến thức, năng lực của giáo viên, các cán bộ quản lý trong đó có cả các biện pháp quản lý của Ban Giám hiệu

Ngày đăng: 13/01/2016, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhận thức của hiệu trưởng,hiệu phó về GDMT - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 1 Nhận thức của hiệu trưởng,hiệu phó về GDMT (Trang 39)
Bảng 2: Đánh giá của hiệu trưởng,hphó về các yếu tố tác động đến công tác  GDMT - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 2 Đánh giá của hiệu trưởng,hphó về các yếu tố tác động đến công tác GDMT (Trang 40)
Bảng 8: Nội dung quản lý của hiệu trưởng  về việc phân tíchtính  sư phạm giờ dạy - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 8 Nội dung quản lý của hiệu trưởng về việc phân tíchtính sư phạm giờ dạy (Trang 48)
Bảng 9: Nội dung quản lý của hiệu trưởng về hoạt động kiểm tra, đánh giá - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 9 Nội dung quản lý của hiệu trưởng về hoạt động kiểm tra, đánh giá (Trang 49)
Bảng 15: Kết quả tìm hiểu  nội dung quảm lý CSVC phục vụ GDMT - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 15 Kết quả tìm hiểu nội dung quảm lý CSVC phục vụ GDMT (Trang 56)
Bảng 16: Kết quả tìm hiểu mức độ thực hiện các biện pháp quản lý của hiệu - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 16 Kết quả tìm hiểu mức độ thực hiện các biện pháp quản lý của hiệu (Trang 57)
2. Hình thức của hoạt động - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
2. Hình thức của hoạt động (Trang 94)
Bảng 3:  Thực trạng quản lý hoạt động dạy của thầy - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy của thầy (Trang 96)
Bảng 4. Các phương pháp chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDMT của hiệu trưởng - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 4. Các phương pháp chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDMT của hiệu trưởng (Trang 97)
Bảng 6: Nội dung quản lý cuả hiệu trưởng về việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên. - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 6 Nội dung quản lý cuả hiệu trưởng về việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên (Trang 98)
Bảng 7: Nội dung quản lý của hiệu trưởng về việc dự giờ lên lớp. - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 7 Nội dung quản lý của hiệu trưởng về việc dự giờ lên lớp (Trang 99)
Bảng 8: Nội dung quản lý của hiệu trưởng  về việc phân tích sư phạm giờ dạy. - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 8 Nội dung quản lý của hiệu trưởng về việc phân tích sư phạm giờ dạy (Trang 99)
Bảng 11:Nội dung quản lý của HT về việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên: - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 11 Nội dung quản lý của HT về việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên: (Trang 101)
Bảng 14: Hiệu quả của các hình thức GDMT - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 14 Hiệu quả của các hình thức GDMT (Trang 101)
Bảng 15: Kết quả tìm hiểu  nội dung quảm lý CSVC phục vụ GDMT - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch thất, tỉnh Hà Tây
Bảng 15 Kết quả tìm hiểu nội dung quảm lý CSVC phục vụ GDMT (Trang 102)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w