1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới

32 589 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 821 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tốc độ phát triển công nghiệp như ngày nay thì tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy kiệt chính vì thế mà rác hay CTR cũng là một loại tài nguyên đối với con người.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

1.Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới: 3

1.1.Nhu cầu về tái chế chất thải rắn: 3

1.2.Sự ra đời của ngành tái chế chất thải trên thế giới: 5

1.3.Vấn đề tái chế ở một số nước: 6

2.Tổng quan một số quy trình công nghệ thu hồi và tái chế chất thải: 10

1.4.Cộng nghệ tái chế các phế thải thông thường: 11

1.5.Một số quy trình công nghệ thu hồi và tái chế chất thải công nghiệp: 14

3.Hoạt động thu hồi và tái chế chất thải tại Việt Nam: 28

1.6.Các chính sách về luật, nghị định hỗ trợ của nhà nước về vấn đề tái chế chất thải: 28

1.7.Họat động thu hồi và tái chế chất thải tại việt nam: 29

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong xã hội công nghiệp ngày càng phát triển, CTR phát sinh trong từng giai đoạncủa quá trình sản xuất, từ khâu khai thác cho đến các khâu cuối cùng là thành sản phẩmphục vụ cho người tiêu dùng Sản phẩm sau khi sử dụng có thể được thu hồi và tái chếhoặc đổ bỏ Với tốc độ phát triển công nghiệp như ngày nay thì tài nguyên thiên nhiênngày càng suy kiệt chính vì thế mà rác hay CTR cũng là một loại tài nguyên đối với conngười Trong thứ bậc ưu tiên của công tác quản lý tổng hợp CTR thì tái chế là yếu tố xếpbậc thứ hai sau giảm thiểu tại nguồn, yếu tố tái chế là yếu tố quan trong làm giảm nhu cầu

sử dụng tài nguyên và giảm khối lượng CTR phải chôn lấp

Từ 6/2007 Việt Nam đã có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loạiđặc biệt (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13 đô thị loại II (thànhphố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thị xã), 631 đô thị loại V (thị trấn vàthị tứ) Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tíchcực đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích vềkinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chấtlượng môi trường và phát triển không bền vững Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đôthị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp Lượng chất thải rắn sinhhoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trungbình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng

mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thịtỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%),Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồngđều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thịloại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của cáctỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ giađình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đườngphố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ởcác đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫnvới CTRSH đô thị Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô

Trang 3

thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ

có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm)chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị

Bên cạnh những khó khăn nhất định trong việc triển khai các biện pháp kỹ thuật vàcông nghệ xử lý nước thải, khí thải thì chất thải rắn đang thực sự là một mối đe dọa lớnnhất đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng vì lượng thải ngày càng gia tăng đặc biệt

là chất thải nguy hại ngày càng phong phú về số lượng lẫn chủng loại.Tình trạng thu gom

và xử lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay cũng làmột trong những nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất,

vệ sinh đô thị và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan đô thị và sức khỏe cộng đồng

Tái chế CTR được xếp thứ tự ưu tiên thứ hai sau giảm thiểu tại nguồn trong hệthống quản lý CTR tổng hợp Ưu điểm của tái chế là tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, cungcấp nguồn nguyên liệu thứ cấp có giá trị cho công nghiệp, ngăn ngừa sự phát tán nhữngchất độc vào môi trường Hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng

để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất

- Tái chế vật liệu: bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ dòng rác,

xử lý trung gian và sử dụng vật liệu này để tái sản xuất các sản phẩm mới hoặc sản phẩmkhác

- Tái chế nhiệt: bao gồm các hoạt động khôi phục năng lượng từ rác thải

- Củng có thể coi hoạt động tái chế như hoạt động tái sinh lại chất thải thông qua: Táisinh sản phẩm chuyển hóa hóa học, chủ yếu dùng phương pháp đốt để thành các sản phẩmkhí đốt, hơi nóng và các hợp chất hữu cơ

- Tái sinh các sản phẩm chuyển hóa sinh học: chủ yếu thông qua quá trình lên men,phân hủy chuyển hóa sinh học, để thu hồi các sản phẩm như: phân bón, khí mêtan, protêin,các loại cồn và nhiều hợp chất hữu cơ khác

Trong bài cáo này chúng ta cùng tìm hiểu tổng quan về Công nghệ thu hồi và táichế vật liệu từ chất thải rắn và các vấn đề liên quan

1 Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới:

1.1 Nhu cầu về tái chế chất thải rắn:

Với thực trang tài nguyên, nhu cầu phát triển kinh tế đe dọa lên tài nguyên Sự rađời của tái chế xuất phát từ sức ép mạnh mẽ của xã hội Như sự phát triển không ngừng

Trang 4

của dân số, của công nghiệp hóa… Theo báo cáo Tình hình Dân số Thế giới 2010 củaLiên Hiệp Quốc, dân số Viê ̣t Nam hiê ̣n là 89 triê ̣u người và sẽ tăng lên 111,7 triê ̣u ngườivào năm 2050 Viê ̣t Nam hiê ̣n đứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới.Cuô ̣c Tổng điều tra dân số và nhà ở gần nhất của Viê ̣t Nam là vào năm 2009 và được Tổng

cu ̣c Thống kê công bố chính thức ngày 21 tháng 7 năm nay cho thấy bình quân mỗi nămdân số Viê ̣t Nam tăng 952.000 người.Mă ̣c dù dân thành thi ̣ hiê ̣n chiếm 30% tổng dân số ởViê ̣t Nam nhưng la ̣i đang tăng nhanh với tốc đô ̣ trung bình 3,4%/năm Khu vực miềnĐông Nam Bô ̣ là nơi có mức đô thi ̣ hóa cao nhất Nguyên nhân chính là do thi ̣ trường lao

đô ̣ng mở rô ̣ng Mâ ̣t đô ̣ dân số ở Viê ̣t Nam, theo Tổng cu ̣c Thống kê, có sự phân bố rấtchênh lê ̣ch và mức gia tăng không đồng đều Cu ̣ thể khu vực đồng bằng sông Hồng ở miềnBắc đông nhất trên cả nước (25 triê ̣u người) trong khi vùng Tây nguyên chỉ hơn 5 triê ̣ungười Mô ̣t số tỉnh như Nam Đi ̣nh, Thanh Hóa tỉ lê ̣ tăng dân số không đáng kể vì sốngười di cư vào các tỉnh thành phía Nam (chủ yếu là Thành phố Hồ Chí Minh) để làm ănsinh sống Ước tính trong năm năm 2004-2009 có tới 9,1 triệu người di cư Do những vấn

đề về dân số ngày càng cấp bách vì thế mà ngành tái chế ra đời như một giải pháp to lớnbảo vệ môi trường sống cũng như giải pháp cho sự khan hiếm tài nguyên

Tái sử dụng CTR là một giải pháp có nhiều ưu điểm như:

- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm nhu cầu sử dụng nguyên liệu thô cho sảnxuất

- Giảm lượng rác thải phải chôn lấp thông qua việc giảm đổ bỏ và giảm tác động môitrường

- Cung cấp nguồn nguyện liệu thứ cấp cho giá trị công nghiệp với chi phí thấp, đemlại hiệu quả kinh tế cho người tái chế

- Ngăn ngừa sự phát tán các chất độc hại vào môi trường và tránh phải thực hiện cácquy trình mang tính chất bắt buộc như tiêu hủy hoặc chôn lấp chất thải

- Tiết kiệm diện tích đất phục vụ cho bải chôn lấp (giảm thiểu khối lượng chất thải đivào BCL- BCL có thể kéo dài khả năng hoạt động) Có thể sử dụng diện tích BCL nhanhhơn do chôn lấp thành phần chất thải hữu cơ dễ phân huỷ sinh học riêng rẽ

Trang 5

- Một lợi ích là có thể thu lợi nhuận từ hoạt động tái chế; hoạt động tái chế lúc này sẽmang tính kinh doanh và vì thế có thể giải thích tại sao các vật liệu có thể tái chế được thugom ngay từ nguồn phát sinh cho tới khâu xử lý và tiêu huỷ cuối cùng.

- Khi có tái sinh tái chế chất thải lượng chất thải giảm trong các bãi chôn lấp - diệntích cần thiết cho BCL giảm đi- giảm nước rò rỉ sinh ra từ BCL Giảm thiểu lượng khí sinh

ra từ BCL do khối lượng rác giảm, đặc biệt giảm hàm lượng khí mêtan có khả năng gâyhiệu ứng nhà kính

1.2 Sự ra đời của ngành tái chế chất thải trên thế giới:

Trên thế giới, tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển đã xây dựng một chiến lượcquản lý chất thải mà trong đó chính sách thu hồi và tái sinh chất thải đóng vai trò tất yếutrong toàn bộ hệ thống Năm 1989, Liên Hiệp Châu Âu đã lãnh đạo hệ thống quản lý này

và ưu tiên thực hiện công tác ngăn ngừa phát sinh chất thải, thu hồi và giảm thiểu thải bỏcuối cùng

Tháng 8/1996 Liên Hiệp Châu Âu đã thông báo một chiến lược quản lý chất thảimới dựa trên hệ thống luật định quản lý chất thải của năm 1989, đó là việc tái sử dụng sảnphẩm và tái chế chất thải đóng vai trò ưu tiên nhất trong hệ thống, hỗ trợ cho việc đốt chấtthải nhằm thu hồi năng lượng Để đảm bảo nguyên tắc được thực hiện Liên Hiệp Châu Âuđẩy mạnh hoạt dộng sản xuất sạch, công nghệ sạch nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu chấtthải sinh ra trong quá trình sản xuất và nhất là ngăn ngừa việc phát sinh chất thải nguy hạibằng cách giới hạn hoặc nghiêm cấm sử dụng kim loại nặng trong quy trình sản xuất và sự

có mặt của nó trong sản phẩm cuối cùng, khuyến khích sử dụng các công cụ kinh tế liênquan đến việc ngăn ngừa chất thải phát sinh, phát huy việc áp dụng các phương pháp kiểmtoán môi trường và cấp nhãn môi trường

Thay vào đó Liên Hiệp Châu Âu đề nghị sự gia tăng hợp tác giữa các nước thànhviên nhằm giảm thiểu xuất nhập khẩu bất hợp lý và các họat động phát sinh chất thải nguyhại Điều này được xem như một phần của công tác quản lý chất thải, những nhà sản xuất

ở những nước này phải luôn tính đến khả năng tái sinh phế phẩm của mình như một mụctiêu được đặt ra đấu tiên trong kế hoạch thiết kế sản phẩm, sản xuất và mua bán…

Hệ thống quản lý này được nhiều quốc gia trên thế giới hưởng ứng và áp dụng choviệ quản lý chất thải rắn như: Pháp, Mỹ, Hà Lan, Đức

Trang 6

1.3 Vấn đề tái chế ở một số nước:

Trang 7

Singgapo: Những nước đang phát triển trong khu vực đã quan tâm từ rất sớm việc xử

lý chất thải rắn Singapore là một ví dụ điển hình Là một nước nhỏ, Singapore không cónhiều đất đai để chôn lấp rác như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý rác bằngphương pháp đốt và chôn lấp Cả nước Singapore có 3 nhà máy đốt rác Những thành phầnchất thải rắn không cháy được chôn lấp ở bãi rác ngoài biển Bãi chôn lấp rác Semakauđược xây dựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một đảo nhỏ ngoài khơi Singapore.Rác thải từ các nguồn khác nhau saukhi thu gom được đưa đến trung tâm phân loại rác Ởđây rác được phân loại ra những thành phần cháy được và thành phần không cháy được.Những chất cháy được được chuyển tới các nhà máy đốt rác còn những chất không cháy

được được chở đến cảng trung chuyển, đổ lên xà lan để chở ra khu chôn lấp rác Ở đây rácthải lại một lần nữa chuyển lên xe tải để đưa đi chôn lấp Các công đoạn của hệ thốngquản lý rác của Singapore hoạt động hết sức nhịp nhàng và ăn khớp với nhau từ khâu thugom, phân loại, vận chuyển đến tận khi xử lý bằng đốt hay chôn lấp Xử lý khí thải từ các

lò đốt rác được thực hiện theo qui trình nghiêm ngặt để tránh sự chuyển dịch ô nhiễm từdạng rắn sang dạng khí Xây dựng bãi chôn lấp rác trên biển sẽ tiết kiệm được đất đaitrong đất liền và mở rộng thêm đất khi đóng bãi Tuy nhiên việc xây dựng những bãi chônlấp rác như vậy đòi hỏi sự đầu tư ban đầu rất lớn Mặt khác, việc vận hành bãi rác phảituân theo những qui trình nghiêm ngặt để đảm bảo sự an toàn của công trình và bảo vệ môitrường

Hình 1.3: Bãi chôn lấp rác Semakau Singapore

Ở Thái Lan: sự phân loại rác được thực hiện ngay từ nguồn Người ta chia ra 3 loại

rác và bỏ vào 3 thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất độc hại Cácloại rác này được thu gom và chở bằng các xe ép rác có màu sơn khác nhau Rác tái sinh

Trang 8

sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại rác đểtách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái sản xuất Chất thải thực phẩm đượcchuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chếbiến phân vi sinh được xử lý bằng chôn lấp Chất thải độc hại được xử lý bằng phươngpháp đốt Một trung tâm xử lý rác hoàn thiện của Thái Lan bao gồm tất cả các đơn vị nóitrên (chẳng hạn trung tâm xử lý rác On-Nuch ở Bangkok) Ngoài ra Thái Lan còn kết hợpcác quá trình xử lý rác trên đây với phương pháp đốt Chẳng hạn lò đốt rác ở Phukhet cócông suất trên 250 tấn rác/ngày hoạt động kèm theo bãi chôn lấp rác nhỏ để chôn lấp tro vànhững chất không cháy được Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ.Ngoài những phương tiện cơ giới lớn như xe ép rác được sử dụng trên các đường phốchính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến các điểm tập kết Rác trênsông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của cơ quan quản lý môi trường Rác thải đượcthu gom và vận chuyển đến các trung tâm xử lý rác hằng ngày từ 18h00 tối hôm trước đến3h00 sáng hôm sau Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố

ít nhất 30km Kinh nghiệm của các nước điển hình trên đây cho chúng ta những ý tưởng

bổ ích trong qui hoạch và xử lý chất thải rắn Những yếu tố cơ bản cần được xem xét đểquyết định phương án xử lý chất thải rắn là thành phần chất thải, khả năng đầu tư và cáctiêu chí liên quan đến ô nhiễm môi trường

Hồng Kông: Kinh ngiệm thu hồi và tái sinh chất thải ở đây là một tiêu biểu hợp lý

cho các nước phát triển chậm nhưng lại mở rộng nhanh chóng ở nền kinh tế… Trongnhững năm 1990 sự chuyển đổi tái sinh từ chât thải công nghiệp và đô thị trở thành mộthọat động sản xuất khá phổ biến, nó cung cấp một lượng lớn nguyên liệu thô cho ngànhcông nghiệp tái sinh trong và ngoài nứớc Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Hồng Kông

đã xuất khẩu 1,6 triệu tấn vật liệu tái sinh vào năm 1995, ngành công gnhiệp tái sinh nộiđịa đã tăng lên 600.000 tấn chủ yếu là phế liệu giấy, kim loại và plastic Họat động xuấtkhẩu sản phẩm tái chế này đã đem về cho Hồng Kông 28 tiệu USD năm 1995 và chu cấpmột lượng dư cho trên 40% sản phẩm thải Một văn phòng cố vấn nghiên cứu về giảmthiểu chất thải rắn từ năm 1993-1995 cho biết: tái sinh phế liệu và thêu đốt chất thải rắn đểthu hồi năng lượng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược giảm thiểu chất thải tổng thể

Trang 9

NHẬT BẢN: là một trong những quốc gia có trình độ phát triển đứng vào hàng đầu

trên thế giới và vấn đề xử lý các chất thải công nghiệp cũng là một trong các công tácđược nhà nước quan tâm hang đầu Nhật Bản cũng là một trong các quốc gia đi tiên phongtrong việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp, và songsong việc này Nhật Bản cũng đã phát triển những công nghệ tái chế và tái sử dụng chấtthải

Theo con số thống kê của Nhật năm 2001: số lượng sản phẩm PET được thu hồi táichế khoảng 109.190 tấn(25%), 50% giấy phế liệu được thu hồi và tái chế, 100% các chaimiểng thủy tinh và 75% tổng lượng vỏ kim loại, đồ hộp được thu hồi và tái chế

Các họat động tái chế ở Nhật được hỗ trợ bởi các hệ thống lọc và các quy định liênquan đến viện quản lý chất thải như: luật tái chế vỏ hộp và bao bì được ban hành năm

1996, luật tái chế thiết bị điện năm 1998 Vào cuối những năm 1990, ở Nhật có khoảng

14000 nhà máy họat động trong lĩnh vực xử lý trung gian cũng như thực hiện việc tái chếcác loại chất thải công nghiệp

Ở Đức: từ đầu năm những năm 1991, Đức coi 3R- giảm thiểu, tái sử dụng và tái

chế chất thải là khái niệm quản lý chất thải tổng hợp và sau đó trở thành nguyên tắc trongcác chính sách và pháp luật củ Đức về quản lý chất thải Năm 1996, Đức đã ban hành luật

“quản lý và khép kín vòng tuần hoàn chất thải” quy định rõ các nghĩa vụ quản lý, tái chếchất thải an toàn và chất lượng cao Năm 2001, ngành công nghiệp giấy tái sử dụng tới80%, bao bì có thể tái sử dụng 61% Năm 2002, Đức ban hành luật quy định các hảng sảnxuất ô tô thu hồi xe cũ trong cả nước Theo ước tính, 85% xe cũ tính theo trọng lượng sẽđược thu hồi vào năm 2006 và tỷ lệ tái chế, tái sử dụng vật liệu của các xe cũ đạt 80%.Đức đặt mục tiêu tái chế và tái sử dụng xe cũ là 95% vào năm 2015

Trang 10

Hình 1: Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải ở Đức

2 Tổng quan một số quy trình công nghệ thu hồi và tái chế chất thải:

Trong xã hội công nghiệp ngày càng phát triển, CTR phát sinh trong từng giai đoạncủa quá trình sản xuất, từ khâu khai thác cho đến các khâu cuối cùng là thành sản phẩmphục vụ cho người tiêu dùng Sản phẩm sau khi sử dụng có thể được thu hồi và tái chếhoặc đổ bỏ Với tốc độ phát triển công nghiệp như ngày nay thì tài nguyên thiên nhiênngày càng suy kiệt chính vì thế mà rác hay CTR cũng là một loại tài nguyên đối với conngười Trong thứ bậc ưu tiên của công tác quản lý tổng hợp CTR thì tái chế là yếu tố xếpbậc thứ hai sau giảm thiểu tại nguồn, yếu tố tái chế là yếu tố quan trong làm giảm nhu cầu

sử dụng tài nguyên và giảm khối lượng CTR phải chôn lấp Công nghệ thu hồi và tái chếchất thải rắn thông thường: các chất thải rắn thường gặp chất thải rắn đô thị như nhựa,giấy, thủy tinh, kim loại màu, cao su…Tái chế là hoạt động thu hồi lại các thành phần cóthể sử dụng chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng cho các hoạt động và sản xuất Táichế vật liệu: bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ dòng rác, xử lýtrung gian và sử dụng vật liệu này để tái sản xuất các sản phẩm, mới hoặc sản phẩm khác.Hoạt động tái chế và thu hồi chất thải được thực hiện thông qua hệ thống thu gomchất thải rắn thao mạng lưới 3 cấp gồm: Người thu gom, đồng nát và buôn bán phế liệu.Công nghiệp thu hồi có 3 cấp được chia làm 6 nhóm nghề:

- Cấp thứ nhất: người đồng nát và người nhặt rác

- Cấp thứ 2: gồm những người thu mua đồng nát và người thu mua phế liệu từ ngườithu nhặt tại bãi rác, người đồng nát và người nhặt rác trên vỉa hè trong toàn thànhphố

Trang 11

- Cấp thứ ba: gồm những người buôn bán hoạt động kinh doanh với quy mô lớn hơn

ở nhiều địa điểm cố định và các đại lý thu mua

Việc chế biến lại chất thải để lấy lại một vật liệu thô sơ khai trước đây gọi là sự tậndụng lại phế thải và hiện nay được gọi là tái sinh Ở mức thấp nhất của nó và phần lớncách tiếp cận công nghệ, các vật liệu thải đòi hỏi phải được phân loại ngay tại nguồn bởichính người tiêu thụ Đây là mức tiếp cận lớn nhất bởi vì nó đòi hỏi phí tổn năng lượngnhỏ nhất

Đặc điểm của mỗi loại vật liệu tái chế khác nhau thì quy trình tái chế lại khác nhau

do tính khan hiếm của vật liệu hoặc do tính chất của vật liệu như nhôm phế liệu khi đưavào tái chế thì chất lượng của nó chỉ giảm 5% so với nhôm nguyên chất Có những vật liệukhi tái chế rất đơn giản như giấy hay thủy tinh còn có những quy trình tái chế vật liệu phứctạp hơn như sắt thép, nhựa, cao su…

1.4 Cộng nghệ tái chế các phế thải thông thường:

1.4.1 Tái chế nhựa:

Một điều cần lưu ý là nhựa tái sinh luôn giảm dần chất lượng Nói cách khác,không nên làm hũ sữa chua cũ thành hũ sữa chua mới Nhựa từ bao bì nguyên sinh đem đitái sinh thành loại sản phẩm khác, chứ không được dùng cho cùng một mục đính hai lần

Bước đầu tiên trong quy trình tái sinh nhựa là phân loại nhựa trong nhà máy táisinh Nhiều nơi chỉ tái sinh 1 loại nhựa duy nhất trong các loại nhựa được thu gom, vì thếđiều cần thiết đầu tiên là phân loại cơ bản như giấy, nhựa, kim loại Tiếp theo là phân loạinhựa và chọn lựa loại nhựa cần tái sinh

Sau khi phân loại, nhựa được bằm nhỏ thành miếng nhỏ hay vẩy nhựa (flakes) Tạigiai đoạn này, nhựa thường trộn lẫn với các chất bẩn, dính các nhãn bao bì… Vì thế cầnrửa sạch trong bồn nước, giúp nhựa sạch trước khi làm khô và đem đi nung chảy Khiđược nung chảy, nhựa được ép qua một máy đùn, một loại máy ép nhựa thành những sợinhư sợi bún hay những hạt nhỏ và được định hình thành hạt nhựa

Hạt nhựa này có thể đem đi bán cho các nhà sản xuất khác Ví dụ: hạt nhựa nàyđược kéo thành sợi để sản xuất những sản phẩm như vải len nhân tạo, làm thảm hay sảnphẩm giả gỗ dùng trong công nghiệp, xây dựng, hay làm ngói, gạch hoặc tấm lót sàn

Trang 12

Nhiều công ty có nhu cầu nhựa tái sinh có thể mua về hằng xe tải để phục vụ cho nhiềuứng dụng khác nhau.

1.4.2 Tái chế chai lọ thủy tinh:

- Sản phẩm để nguội được kiểm tra và đóng bao xuất xưởng, những sản phẩm khôngđạt tiêu chuẩn sẽ bị đập vỡ để nấu lại

Đặc điểm của ngành này là hao hụt nguyên liệu rất ít và không cần sử dụng chấtphụ gia trong quá trình tái chế

1.4.3 Tái chế giấy cacton

Theo kết quả điều tra cho thấy, giấy và các-ton chiếm 1,2% - 4,6% khối lượng dòngthải Đặc điểm của ngành này là giấy phế liệu không chỉ đuợc tái chế ở những tiểu thủcông nghiệp với những máy móc đơn giản, thủ công hoặc quy mô nhỏ mà còn ở những xíngiệp quy mô lớn Ưu điểm tiết kiệm tài nguyên rừng sử dụng làm nguyên liệu cho ngànhsản xuất giấy

a Họat động tái sử dung:

Chủ yếu là sử dụng những bao bì cacton bị loại bỏ để cắt, đóng lại thành những bao

bì có kích thướt nhỏ hơn, cung cấp cho những cơ sở sản xuất khác Phế liệu này thườngsạch sẽ và nguyên vẹn

Quy trình họat động rất đơn giản: phế liệu được phân loại, sắp xếp theo kích thướt,sau đó dược đưa vào bàn cắt theo yêu cầu của đơn đặt Cuối cùng được bấm lại thành cáchợp và xuất xưởng Máy móc thiết bị đơn giản bao gồm: bàn cắt, máy móc

b Họat động tái chế:

Đối với cơ sở nhỏ: phân loại phế liệu trắng, đen, nhuộm màu sau đó ngâm và tẩycho sạch rồi được lọc để lấy phầm bột giấy, sau đó trán lên những tấm phên và phơi nắng

Trang 13

cho khô Sản phẩm này thường có chất lượng kém, phần lớn bao gồm những mặt hàng nhưgiấy tiền vàng, bạc, giấy gói hàng…

Đối với cơ sở quy mô hiện đại: có thêm các máy nghiền thành bột và sử dụng cáctrục xeo giấy Các sản phẩm này có chất lượng cao hơn và sản lượng cũng nhiều hơn Sảnphẩm của các cơ sở này thuờng là giấy cuộn vàng, giấy bì cứng, giấy vệ sinh…

+ Phế liệu của ngành công nghiệp: nhôm, vỏ lon, hộp hỏng

+ Phế liệu dân dụng: vỏ lon bia, nước ngọt… phế liệu

- Nhóm b: sinh ra trong quá trình sản xuất, gia công kim loại, gồm các phế liệuluyện kim, phế liệu trong sản xuất khác, phế liệu sinh ra trong quá trình mạ, phủ tráng bềmặt

Quy trình tái chế: phân loại theo quy trình công nghệ tái chế: gồm hai loại:

- Nhôm cứng (chứa nhiều Silic): dung để đúc sản phẩm

Nhôm được làm sạch khỏi đất cát, bụi, vỏ nhựa, sắt thép, đồng, dầu mỡ bằng cácbiện pháp cơ học và hóa học

Hình 2: Quy trình tái chế nhôm từ phế liệu

Nhôm phế liệu Chuẩn bị liệu Nấu chảy Tinh luyện Đúc phoi

Trang 14

- Cán mỏng:

Cán phá: cán lần thứ nhất cho máng nhôm mỏng hơn

Cán mỏng: cán lần thứ hai theo độ dày mà sản phẩm cần Để tránh bị nứt nẻ nhôm,thường máng sẽ được hấp dẻo trước khi cán

- Cắt tròn: sau khi được cắt thành miếng nhôm sẽ được cắt tròn theo đuờng kính quyđịnh, phụ thuộc vào kích thước sản phẩm sản xuất Cán miếng tròn sẽ được chuyển sangkhâu lận thành sản phẩm (nồi, xoong, chảo, mâm…) còn rẻo thừa sẽ được tuần hoàn lai lònấu

- Lận: các miếng nhôm sau khi được cắt tròn sẽ được những người thợ có chuyênmôn tay nghề cao lận thành sản phẩm theo yêu cầu Say đó sẽ được đánh bóng để làm mất

đi dấu mờ của bụi nhôm, nâng cao tính thẩm mỹ

- Cán kéo sắt: sắt từ vựa phế liệu mua về bao gồm đủ mọi kích thướt và mỗi cơ sở sẽlựa chọn kích cỡ và quy cách phù hợp với máy móc của cơ sở mình Sắt phế liệu này đượcnung lên cho đỏ rồi đưa qua máy các để hình thanh những thanh sắt tròn

- Dập lon thiếc: nguồn phế liệu chủ yếu là từ các lon thiếc như lon sữa, lon nướcngọt, lon chứa các loại bột, thực phẩm…Các lon này được cơ sở thu mua từ các vựa, đượcphân loại và làm sạch, sau đó được cắt bỏ nắp để thành những tấm nhỏ Những tấm nàyđược đưa vào máy dập để tạo thành các lon mới với nhiều kích thước khác nhau tùy thuộcvào đơn đặt hàng

- Sản xuất đinh ốc vít: những phế liệu có kích thước vụn nhỏ sẽ được các cơ sở sảnxuất thành các loại đinh, ốc vít bằng máy dập, tiện…thị trường chủ yếu là các chợ kimloại

1.5 Một số quy trình công nghệ thu hồi và tái chế chất thải công nghiệp:

1.5.1 Tái chế cặn dầu do súc rửa tàu chở cặn dầu thô:

Trang 15

a.Tình hình súc rửa tàu chở dầu thô tại Việt Nam: các tàu chở dầu phải thực hiện vịệcsúc rửa sau một thời gian nhất định để đảm bảo sức chứa hiệu dụng và bảo đảm chất lượngsản phẩm Việc súc rửa đã có từ nhiều năm qua và tập trung tại các cảng lớn của Việt Namnhư: Hải Phòng, Vũng Tàu, Hạ Long…và có thể làm lãng phí một lượng lớn cặn dầu cóthể tận dụng được.

b Phương pháp xử lý ở nước ta: Tận dụng dầu cặn làm chất độn bê tông.Nguyên tắc: sử dụng dầu lẫn bùn làm chất phụ gia cho bêtông

c.Thu hồi dầu thô từ cặn dầu:

Cặn dầu thô từ kho chứa của công ty súc rửa tàu dầu được tập kết về xưởng và lưutrữ trong bể chứa (bê tông cốt thép có mái che) Sau đó cặn dầu đưa lên máy gia nhiệt(khỏang 70oC-80oC) bằng nhiều cách khác nhau nhằm hạn chế khả năng bay hơi các phầnnhẹ Cặn dầu bị gia nhiệt chảy qua máy lọc chân không và được lọc qua một lưới kim loại

Phần bã dầu sẽ được tách ra đem trộn với mạt cưa, trấu hoặc lõi ngô làm giảm độdẻo và được tiêu thụ nhờ các lò gạch, lò gốm đốt kèm với củi

Phần cặn dầu được đua qua thiết bị tách nước và nước sẽ tách khỏi dầu nhờ vào sựchênh lệch khối lượng riêng

1.5.2 Tái chế nhớt thải:

a Công nghệ tái chế nhớt thải

Hình 3: Sơ đồ công nghệ tái chế dầu công nghiệp

Công nghệ tái chế nhớt thải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu dầu nhớt đầu vào.Nhưng về cơ bản hệ thống dây chuyền bào gồm những thiết bị chính như sau:

Dầu thải

Lọc cặn bẩn

Lọc khung bản Bơm bánh răng

Bơm Dầu sạch

Bơm đẩy

Hóa chất

Hệ thống gia nhiệt

Trang 16

STT Thiết bị Số lượng

1 Thùng lắng sơ bộ (có trang bị hệ thống lưới lọc rác, cặn

bùn….)

01

Dầu thải được chế biến như sau:

- Lọc cặn bã (các chất rắn có kích thước lớn) qua bộ phận lưới lọc

- Chuyển dầu lên nồi nấu bằng bơm bánh răng và khuấy đều

- Lấy mẫu dầu, kiểm tra tỷ trọng, bản chất của dung dịch dầu, qua đó đánh giá để chohóa chất với nồng độ thích hợp (đã được tính toán cụ thể bằng phương trình phảnứng trung hòa)

o Nếu dầu có chứa nước: Khuấy và gia nhiệt nồi nấu đến nhiệt độ 120-1300C(kiểm tra hết nước bằng cách ngừng cung cấp hơi và quan sát nhiệt độ)

o Nếu dầu không có nước: khuấy và gia nhiệt đến nhiệt độ 80-900C

- Cho hóa chất và khuấy đều trong 30p

- Cân bột bentonite cho vào với nguyên tắc cân cụ thể như sau:

o Nếu dầu xấu: 10g dầu -cho vào 0,8-1g bột và có thể chia thành từ 2 đến

3 lần cho bột.

o Nếu dầu đẹp: 10g dầu -cho vào 0,5-0,7 g bột và có thể chia thành từ 2 đến 3 lần cho bột.

- Chia khối lượng bột theo tỷ lệ 1:2 hoặc 1:2:3… tương ứng với số lần cho vào.

- Chú ý: trong lúc thực hiện có thể phải linh hoạt khối lượng mỗi lần chia bột để cho mầu sắc của dầu phù hợp và chú ý tránh hiện tượng trào dâng dầu trong nồi.

- Sau khi cho bột vào thì khuấy, sau 30-45p lấy mẫu sản phẩm đem lọc qua giấy lọc

và kiểm tra mầu sắc dầu……

Thực hiện các bước trên đến khi nào mầu dầu đạt chuẩn

- Sau khi kiểm tra mầu dầu đã đạt chuẩn, tiến hành lọc ép qua hệ thống máy lọckhung bản đã được công nhân chuẩn bị sẵn

Ngày đăng: 28/04/2013, 12:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3: Bãi chôn lấp rác Semakau Singapore - Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới
Hình 1.3 Bãi chôn lấp rác Semakau Singapore (Trang 7)
Hình 1: Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải ở Đức - Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới
Hình 1 Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải ở Đức (Trang 10)
Hình 3: Sơ đồ công nghệ tái chế dầu công nghiệp - Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới
i ̀nh 3: Sơ đồ công nghệ tái chế dầu công nghiệp (Trang 15)
Sơ đồ sản xuất muối ăn gia súc từ muối phế thải - Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới
Sơ đồ s ản xuất muối ăn gia súc từ muối phế thải (Trang 22)
Hình 7: Sơ đồ mạng lưới thu gom chất thải tư nhân - Nhu cầu tái chế chất thải và sự ra đời của ngành tái chế trên thế giới
i ̀nh 7: Sơ đồ mạng lưới thu gom chất thải tư nhân (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w