Bởi hoạt động dạy học không chỉ nhằm giúp họcsinh lĩnh hội những tri thức khoa học, và hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng mà còn nhằm giúp họ lĩnh hội tri thức về chính bản thân hoạt đ
Trang 1Lời cảm ơn
Đề tài này được hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa cùng sự giúp đỡ của các bạn sinh viên của lớp sư phạm kỹ thuật công nghiệp khóa 2009-2013.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sư phạm Kỹ thuật trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ
em trong suốt thời gian bốn năm học qua.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Lê Văn Giáo, người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và nhiệt tình giúp đỡ cho em hoàn thành đề tài Tuy nhiên, do kiến thức bản thân và thời gian thực hiện hạn chế nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được
sự chỉ bảo, góp ý thêm của các thầy, cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin kính chúc các thầy, cô giáo lời chúc tốt đẹp và lời cảm ơn chân thành nhất!
Huế, tháng 5 năm 2013
Sinh viên Hoàng Thị Quỳnh
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển ngày nay, tri thức đóng vai tròđặc biệt quan trọng Và dạy học chính là cách hữu hiệu nhất giúp thế hệ trẻ lĩnhhội tri thức, hình thành kỹ năng đáp ứng yêu cầu của xã hội Để dạy học có thểphát huy vai trò của mình, cần quan tâm đồng bộ đến các thành tố của nó, từ mụctiêu dạy học, nội dung dạy học đến phương pháp, phương tiện dạy học Sự quantâm này cần hướng đến người học như là trung tâm của hoạt động dạy học.Chính vì vậy, xác định phương pháp dạy học như là một thành tố của hoạt độngdạy học có nghĩa không chỉ đề cập đến phương pháp dạy của thầy mà còn baogồm phương pháp học của trò Bởi hoạt động dạy học không chỉ nhằm giúp họcsinh lĩnh hội những tri thức khoa học, và hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
mà còn nhằm giúp họ lĩnh hội tri thức về chính bản thân hoạt động dạy học.Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp giảng dạy là một trongnhững yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượnggiáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học rất được dư luận quan tâm Báochí và các cơ quan truyền thông đã mở nhiều cuộc trao đổi xoay quanh vấn
đề này Đó cũng là những tín hiệu đáng mừng, nó phản ánh chủ trương mạnhdạn xã hội hóa giáo dục và quyết tâm đổi mới giáo dục ở nước ta, trong điềukiện khách quan đã chín muồi: Phải dạy học trong môi trường dân chủ, đadạng hóa, đa phương hóa để có được khâu đột phá về mặt đào tạo chuyên sâunguồn nhân lực
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Conngười và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trongthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá”, “coi phát triển giáo dục và đào tạokhoa học và công nghệ là nền tảng và là động lực của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hoá”, do đó, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo làvấn đề mang tính cấp thiết, là giải pháp quan trọng nhất để nền giáo dục ởnước ta trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 có thể tiến kịp với sự phát triển củakhoa học trên thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Trang 3Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâmđầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ X đã xác định việc đầu tư cho giáo dục cũng có nghĩa là đầu tưcho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho nguồn nhân lực có chất lượng caonhằm đưa nước ta thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dụcViệt Nam đã có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên, để đáp ứng nhucầu ngày càng cao của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏigiáo dục đại học cần có sự đổi mới toàn diện và sâu sắc Một trong những giảipháp quan trọng là nhanh chóng đổi mới phương pháp dạy học đại học Điều
40 của Luật giáo dục 2005 nêu rõ:
“Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọngviệc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu,phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện chongười học tham gia nghiên cứu, thực hành, ứng dụng”
Để đào tạo ra lớp người đáp ứng được yêu cầu đó, đổi mới phươngpháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạocủa học sinh, sinh viên (phương pháp dạy học tích cực) là cấp thiết hiệnnay Một công cụ hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy học tích cực là côngnghệ thông tin (CNTT) - một phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệuquả trong dạy học
Đồng thời trong xã hội hiện nay, với sự phát triển nhanh chống và vượtbậc của khoa học - công nghệ, kéo theo vốn tri thức của nhân loại cũng tănglên đáng kể Để bắt kịp được với thời đại, người giáo viên phải cung cấp chohọc sinh một vốn kiến thức cần thiết và phù hợp Nhưng vấn đề đặt ra làtrong khi lượng kiến thức đã tăng lên nhưng quỹ thời gian dạy học khôngthay đổi Vì vậy, đòi hỏi người giáo viên phải có phương pháp giảng dạy cóhiệu quả để khắc phục được vấn đề đó
Cũng như tất cả các môn học khác ở nhà trường THPT, môn Công nghệcũng là một môn học mang tính chất trừu tượng Muốn cho học sinh nắm bắt
Trang 4được nội dung bài học thì trong quá trình truyền đạt kiến thức, người giáoviên phải vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp đồng thời cần có sự hỗtrợ của các phương tiện dạy học để kích thích tư duy của học sinh Phần vẽ
kỹ thuật trong môn Công nghệ 11 là một phần điển hình, nội dung các bàihọc khá trừu tượng, yêu cầu tư duy cao Khi giảng dạy phần này thì ngườigiáo viên phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học, trong đó việc sử dụng cácphần mềm vẽ kỹ thuật có tác dụng rất to lớn trong việc hình thành tư duy chohọc sinh Nó không chỉ tăng tính trực quan mà còn thực hiện được việc ứngdụng CNTT tin trong dạy học, phù hợp với xu thế của thời đại; ứng dụngthành tựu của khoa học công nghệ trong dạy học mà còn nhằm nâng cao chấtlượng học tập của học sinh và hiệu quả giáo dục Đó cũng chính là lý do tôi
lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Khai thác và sử dụng phần mềm engineer 2001 trong dạy học Vẽ kỹ thuật Công nghệ 11 THPT”.
Pro-2 Mục tiêu của đề tài
Khai thác và sử dụng phần mềm Pro-engineer 2001 dạy học một số kiếnthức trong phần vẽ kỹ thuật Công nghệ 11
3.Giả thuyết khoa học
Nếu khai thác và sử dụng phần mềm Pro-engineer 2001 vào dạy họcphần vẽ kỹ thuật Công nghệ 11, sẽ góp phần kích thích hứng thú học tập củahọc sinh qua đó nâng cao hiệu quả dạy hoạch Công nghệ ở trường phổ thông
4 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng CNTT trong dạyhọc Công nghệ theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Nghiên cứu khai thác và sử dụng của phần mềm Pro-engineer 2001 vào
vẽ một số vật thể dạy phần vẽ kỹ thuật Công nghệ 11
Phân tích nội dung chương trình phần “vẽ kỹ thuật” Công nghệ 11.Nghiên cứu phần mềm Pro-engineer 2001
Khai thác sử dụng phần mềm Pro-engineer 2001 vẽ các vật thể hỗ trợdạy học vẽ kỹ thuật
Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể với các vật thể đã được vẽ
Trang 55 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học Công nghệ 11 ở trường phổ thông, trong đó đi sâukhai thác và sử dụng phần mềm trong dạy học Công nghệ
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào phần “Vẽ kỹ thuật” Công nghệ 11
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp thực tiễn
8 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, nghành công nghệthông tin cũng đang phát triển một cách rầm rộ, kéo theo sự ra đời của nhiềuphần mềm Trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựuđáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile, SketchPad/Geomaster SketchPad,Maple/Mathenatica, ChemWin, LessonEditor/VioLet
Trong thời gian gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu đưa công nghệ thôngtin vào dạy học nhằm nâng cao hiệu quả quá trình dạy học ở trường phổ thông
hiện nay Chẳng hạn tác giả Phan Anh Gia Vũ với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học cho chương trình động học và động lực học lớp 10 phổ thông trung học”; Ngô Thị Phương Chi đã nghiên cứu đề tài : “Khai thác và sử dụng phần mềm Electronic Workbench vào mô phỏng các mạch khuếch đại công suất và ứng dụng vào dạy học môn công nghệ 12” Tác giả Nguyễn Thùy Dung đã khai thác và sử dụng phần mềm
Violet vào hỗ trợ dạy học chương động cơ đốt trong, thể hiện trong đề tài :
“Khai thác và sử dụng phần mềm Violet vào dạy học chương động cơ đốt trong Công nghệ 11 THPT ” Các tác giả đã sử dụng các phần mềm nhằm
mô phỏng các hiện tượng, các quá trình, cũng như hoạt động của các máymóc thiết bị để hỗ trợ quá trình dạy học môn Công nghệ, theo hướng tích cựchóa hoạt động nhận thứac của học sinh Các đề tài nghiên cứu đều khẳng địnhvai trò quan trọng của công nghệ thông tin nói chung và các phần mềm nóiriêng trong đổi mới phương pháp dạy học môn Công nghệ ở THPT
Trang 6Phần vẽ kỹ thuật Công nghệ 11 cũng có nhiều phần mềm hỗ trợ như:AutoCad (hãng AutoDesk – Mỹ), Solidwork, Cimatron (Nhật – Israel),MasterCAM (Mỹ), DENFORD (Anh)
Chúng ta đã biết CAD xuất hiện vào trước năm 1960, với tư cách là công
cụ vẽ (Drafting Tool) Vì vậy, trước đây nó được gọi là "cây bút chì điện tử" (Electronic Pencil) Cho đến những năm 80 của thế kỷ trước, vẽ vẫn là chức năng cơ bản của các phần mềm CAD Các công cụ vẽ không ngừng được cải tiến, được bổ sung thêm các tiện ích, khiến cho công việc vẽ được tiến hành
nhanh chóng hơn, chính xác hơn và giúp cho việc quản lý, trao đổi tài liệu
thiết kế được dễ dàng hơn Với chức năng vẽ thì theo tên gọi ban đầu, CAD chỉ là công cụ trợ giúp vẽ trên máy tính (Computer Aided Drafting)
Pro-engineer 2001 của PTC là một phần mềm tích hợp có ba nhóm chứcnăng chính đó là: nhóm chức năng thiết kế (CAD), nhóm chức năng phân tích(CAE), nhóm chức năng sản xuất (CAM) Có thể vẽ được những chi tiết máy
và vật thể có cấu tạo phức tạp được xem ở chế độ 3D rỏ nét
9 Cấu trúc khóa luận
Ngoài Mục lục và Tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận gồm các phần sau:
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng công nghệ
thông tin trong dạy học Công nghệChương II : Khai thác phần mềm Pro-engineer 2001 hổ trợ dạy trong học
phần vẽ kỹ thuật công nghệ 11Chương III : Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức trong phần
“vẽ kỹ thuật” Công nghệ 11
Phần kết luận và đề nghị
Trang 7Việc sử dụng các bài giảng có ứng dụng CNTT không những thực hiện chủ
đề của năm học do Nghành Giáo dục đưa ra mà còn góp phần nâng cao chấtlượng và hiệu quả giảng dạy, góp phần rút ngắn quãng đường tiếp cận nội dungbài giảng một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất
Việc sử dụng đúng cách các tiết dạy có ứng dụng CNTT có những ưuđiểm sau:
Đối với giáo viên:
Triển khai bài giảng và cụ thể hóa nội dung bằng các hình ảnh, âmthanh hoặc các siêu liên kết phù hợp,chings xác sẽ giúp học sinh dễ nhậnbiết, dễ hiểu
Có nhiều thời gian để hướng dẫn học sinh khai thác sâu những kiến thứctrọng tâm
Đối với học sinh:
Dễ hiểu, dễ ghi nhớ và khắc sâu kiến thức bằng những hình ảnh, âm thanhminh chứng cho nội dung kiến thức
Trang 8Bớt tư duy trừ tượng, đơn giản hóa cách tiếp nhận kiến thức.
Đối với tiết học:
Gây hứng thú, tạo không khí sôi nổi, hào hứng cho học sinh, tiết học được
hổ trợ các âm thanh hình ảnh động sẽ bớt đi nhàm chán, khô khan
1.1 Tích cực hóa hoạt động nhận thức hóa trong dạy học trường THPT
1.1.1 Tính tích cực
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồntại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tựnhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một trongnhững nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục
Trước hết, tích cực ở đây được hiểu theo nghĩa là hoạt động, chủ động; tráinghĩa với thụ động chứ không hàm ý trái nghĩa với tiêu cực và tích cực ở đây lànói đến tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với đối tượng nhậnthức Trong tâm lí học, tích cực nhận thức đặc trưng trong quá trình thay đổi liêntục bên trong của các mô hình tâm lí trong cấu trúc của hoạt động nhận thức củachủ thể nhằm cải tạo khách thể theo mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra
Tích cực nhận thức được biểu hiện ở: khả năng định hướng tới mục tiêu đềra; hứng thú với nhiệm vụ được giao; sự tập trung chú ý và cố gắng cao về hoạtđộng trí tuệ cũng như hành động vật chất; có ý trí khắc phục khó khăn để hoànthành nhiệm vụ; khả năng linh hoạt trong giải quyết các vấn đề nảy sinh tronghọc tập…
Tích cực nhận thức trong học tập liên quan trước hết với động cơ học tập.Động cơ học tập là cái mà vì nó khiến người ta học tập (trí tò mò, ham hiểu biết,muốn làm vừa lòng người thân, muốn được tôn trọng, muốn được khẳng địnhmình…)
Tính tích cực học tập về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọnghiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức.TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập.Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và
tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tưduy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách
Trang 9học tập tích cực, độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động
cơ học tập
Như vậy, tính tích cực trong học tập của HS là một trạng thái hoạt động của
HS được xuất hiện khi HS có động cơ, mục đích học tập đúng đắn, rõ ràng; cónhu cầu học và cảm thấy hứng thú thú trong học tập
Tính tích cực nhận thức trong học tập có các cấp độ từ thấp đến cao:
+ Bắt chước, cố gắng làm theo các mẫu hành động đã được quan sát
+ Tìm tòi, độc lập giải quyết vấn đề, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau.+ Sáng tạo, tìm ra giải pháp mới, độc đáo, hiệu quả
1.1.2 Các dấu hiệu của tính tích cực nhận thức của HS
- Sự tập trung chú ý vào nhiệm vụ học tập
- Khả năng định hướng nhanh vào mục tiêu học tập
- Có các biểu hiện của sự hứng thú học tập
- Tự giác thực hiện nhiệm vụ học tập
- Độc lập hành động
- Hăng hái tham gia trao đổi, thảo luận; chủ động nêu vấn đề, câu hỏi vàsẵn sàng bày tỏ suy nghĩ, quan điểm của mình
- Khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
1.1.3 Cơ sở khoa học của tích cực hoá hoạt động của HS
Tính tích cực nhận thức là cơ sở cho tính độc lập và tính sáng tạo Đó làmục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học Chính vì thế, từ xưa tới nay đã cónhiều công trình nghiên cứu và công bố kết quả về vấn đề này
Nội dung của các môn học bao giờ cũng liên quan đến các công việc,hành động và thao tác kĩ thuật
Do đó, trong thiết kế bài dạy cần phải quan tâm đến việc phân tích vàvận dụng cấu trúc của hoạt động
Đặc điểm của hoạt động học tập
Từ các đặc điểm hoạt động, đòi hỏi mỗi chủ thể (HS) phải liên tiếp thựchiện các hoạt động, thao tác kĩ thuật cụ thể (thao tác trí tuệ hoặc động tác vậtchất) theo một trình tự quy trình nào đó để đạt tới những mục tiêu nhiệm vụ
Trang 10xác định Do đó cần phải tính đến sự chuyển hoá giữa các yếu tố vật lý bênngoài (hoạt động, hành động, thao tác) với các yếu tố tâm lí bên trong (động
cơ, mục đích, phương tiện) của hoạt động
Kiểu dạy học tập trung vào GV tác động cản trở tính tích cực học tập.Tồn tại lớn nhất trong dạy học hiện nay, như đã nói ở trên là sự ngự trịcủa kiểu dạy học tập trung vào GV, làm cho HS luôn ở trong trạng thái thụđộng; ghi nhớ máy móc những tri thức mặc định, có sẵn trong giáo trình.Hậu quả là HS khó thích ứng, hoà nhập được với thực tiễn đang hàng ngàyvận động và phát triển
1.1.4 Những dấu hiệu đặc trưng của các dạy học tích cực
- Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động của HS
Nghĩa là HS được và phải tham gia vào quá trình “làm ra” và “khámphá lại” những tri thức cần học một cách tự giác, tự lực dưới sự hướng dẫncủa GV
- Dạy và học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học
Rèn luyện phương pháp tự học hơn là truyền thụ, tiếp thu tri thức;nghĩa là coi tri thức là điều kiện là phương tiện cho việc rèn luyện phươngpháp tự học (mục tiêu cuối cùng của dạy học)
- Tăng cường tính tự lực của cá nhân
HS đồng thời chú trọng sự hợp tác, tương tác giữa các cá nhân trong nhóm,
lớp; nghĩa là quan tâm đến mục tiêu hợp tác, chung sống với cộng đồng
- Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS:
Nghĩa là làm cho HS luôn tự ý thức được, khẳng định được kết quả, mụctiêu hành động của mình
1.1.5 Các biện pháp tích cực hoá HS trong dạy học ở trường THPT
Để tích cực hoá HS cần có những điều kiện nhất định (mục tiêu, chươngtrình, cơ sở vật chất, phương thức kiểm tra - đánh giá….) Ở đây chỉ bàn đến mộtyếu tố và ở mức độ cơ bản; đó là người dạy có thể và cần phải làm gì và làm nhưthế nào để tích cực hoá HS trong dạy học
Một trong những cơ sở của tích cực hoá HS là lý thuyết hoạt động trongtâm lý dạy học – cho rằng con người phát triển trong hoạt động và thông qua
Trang 11hoạt động Do đó HS phải học trong hoạt động và bằng hoạt động Luận điểmkhoa học là:
Mỗi một nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhấtđịnh (đó là những hoạt động đã được tiến hành trong quá trình hình thành và vậndụng nội dung đó) Phát hiện được những hoạt động tiềm tàng trong một nộidung là cụ thể hoá được mục tiêu dạy học nội dung đó, chỉ ra được cách kiểm traviệc thực hiện những mục tiêu này; đồng thời vạch ra một con đường để HS tựchiếm lĩnh nội dung đó và đạt được những mục tiêu dạy học khác Cho nên điềucăn bản của PPGD là khai thác được những hoạt động tiềm tàng trong nội dung
để đạt được mục tiêu dạy học tương ứng với nội dung đó Như vậy, về mặtkhách quan có thể phân tích nội dung dạy học theo quan điểm hoạt động làm cơ
sở cho việc xác định PPGD Quan điểm hoạt động trong PPGD có thể được triểnkhai theo các bước như sau:
- Cho HS thực hiện và tập luyện những hoạt động và hoạt động thành phầntương thích với nội dung và mục tiêu dạy học
- Gợi động cơ cho các hoạt động hay hoạt động ở thành phần hành độnghọc tập
- Dẫn dắt HS chiếm lĩnh tri thức đặc biệt là tri thức phương pháp như làphương tiện kết quả hoạt động
- Phân bậc hoạt động , phân tích hoạt động thành các yếu tố thành phần đểlàm căn cứ điều khiển quá trình hoạt động
Khác với thuyết hành vi trong dạy học, ở đây cần chú ý đến mục đích, động
cơ, đến tri thức PP, đến trải nghiệm thành công ; nhờ đó đảm bảo được tính tựgiác, tích cực của chủ thể
1.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
1.2.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn
"Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT phải nhìn nhận vấn đề mộtcách rộng rãi và linh hoạt theo ba hướng: phát triển năng lực nội sinh của ngườihọc, đổi mới quan hệ thầy trò, đưa công nghệ hiện đại vào nhà trường." [10].Cần đặt ra cho HS nhiệm vụ tìm tòi mâu thuẫn, các hiện tượng, những vấn
đề, mối liên hệ mới cần phát hiện "tạo cho HS sự thành công" hiện nay GVkhông chỉ dạy kiến thức mà còn phải dạy cho HS cách học Thông qua đó các
Trang 12em không chỉ biết tái hiện mà còn biết sáng tạo theo suy nghĩ của mình thôngqua kiến thức được tiếp nhận.
1.2.1.1 Về mặt lý luận
- Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, rèn luyện tính tích cực, tư duy sángtạo của người học đã trở thành chủ trương của Đảng và nhà nước Đổi mớiphương pháp dạy học là vấn đề được quan tâm hàng đầu và cũng là một vấn đềbức xúc đối với tất cả các cấp học, bậc học ở nước ta hiện nay
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 khẳng định quan điểm định hướng choviệc phát triển giáo dục và yêu cầu: “Phát huy tính độc lập suy nghĩ và sáng tạocủa HS, sinh viên, để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và taynghề” [3]
Từ những trích dẫn trên có thể khẳng định rằng quan điểm phát huy tínhtích cực, độc lập và sáng tạo là một nội dung trọng tâm của chính sách giáo dục
và quan điểm chỉ đạo giáo dục Việt Nam Những quan điểm chỉ đạo này đượcđặt ra cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông cũng như đào tạo đại học, xuấtphát từ những yêu cầu của xã hội, nhằm làm cho giáo dục đáp ứng được yêu cầungày càng cao của xã hội trong việc đào tạo con người Để thực hiện được nhữngquan điểm chỉ đạo này cần vận dụng những tri thức khoa học giáo dục, trước hết
là những quan điểm và PPGD tích cực
- Đòi hỏi của xã hội tính quy định của XH đối với GD, biểu hiện cụ thể ởcác quy định trong Luật Giáo Dục, Nghị quyết/ Chỉ thị của Đảng, Quốc hội, Nhànước và của Ngành về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông…
- Sự phát triển không ngừng của KH và CN làm cho nội dung môn họcngày càng gia tăng cả về chiều rộng và chiều sâu, xuất hiện mâu thuẫn với thờigian và điều kiện dạy học cụ thể (đội ngũ GV, cơ sở vật chất, quản lí chất lượngđào tạo ở trường THPT…)
1.2.1.2 Về mặt thực tiễn
- Tâm lí xã hội, thi cử làm cho HS không quan tâm học
- Đội ngũ GV dạy học chưa được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thứctheo chương trình và SGK một cách bài bản Từ thói quen thuyết giảng, không ítngười chỉ “chạy” theo khối lượng kiến thức có trong sách giáo khoa, không quan
Trang 13tâm đến việc tìm ra những biện pháp tác động đến quá trình nhận thức của HS.Đây là thói quen, cũng là rào cản của GV khi đổi mới PPGD Bản chất của việcdạy học là làm cho HS chủ động tiếp thu, dễ hiểu, dễ nhớ kiến thức HS tiếp thukiến thức không phải chỉ thông qua kênh nghe, kênh nhìn mà còn phải đượctham gia thực hành ngay trên lớp hoặc được vận dụng, trao đổi thể hiện suy nghĩ,chính kiến của mình.
- PPGD của phần lớn GV bộ môn hiện nay là hướng vào người dạy, HSluôn bị ở trong trạng thái thụ động, phải ghi nhớ máy móc những tri thức mặcđịnh, có sẵn trong giáo trình, do đó chưa đáp ứng được mục tiêu của chươngtrình, SGK mới cũng như yêu cầu của xã hội
Kết quả của các nghiên cứu, tìm hiểu giáo án/kế hoạch dạy và học của GVtrường THPT cho thấy:
+ Mục đích – yêu cầu của bài học đều được xác định cho người dạy và diễnđạt không rõ ràng, khó đánh giá (thường dùng các hoạt động từ mang tính quátrình như: Cung cấp, trang bị, giới thiệu, hình thành, rèn luyện, góp phần giáodục KTTH – HN…; nắm vững, thấm nhuần,…)
+ Giáo án đều được thiết kế theo nội dung (theo dàn bài trong giáo trình,bài giảng, minh hoạ là chính)
+ Ít thể hiện sự tương tác giữa các thành tố của hệ thống dạy – học (hỏi đáp kiểu tìm tòi, phát hiện; thảo luận, nhận xét, cho HS tự đọc giáo trình và trảlời câu hỏi hoặc tóm tắt nội dung theo hiểu biết của mình…)
-+ Chưa kết hợp được sự đánh giá của GV với tự đánh giá của HS, đánh giácủa GV cũng mới chỉ thể hiện ở cuối bài (trong bước củng cố bài) chưa kết hợpvới đánh giá quá trình
Nguyên nhân của tình trạng trên có thể có nhiều, trong đó một trong cácnguyên nhân khách quan là chương trình và nội dung bài dạy quá dài, GV sợcháy giáo án Hơn nữa, nội dung này lại được trình bày khá đầy đủ, cặn kẽ vàtường minh trong giáo trình; các câu hỏi/ bài tập cũng chỉ ở mức đòi hỏi HS nhớlại nội dung đó là trả lời hoặc giải quyết được Thành thử HS chưa cần cố gắng
và nghị lực cao trong hoạt động trí tuệ hoặc thể lực Quá trình đó kéo dài làmcho HS không có hứng thú học tập Nghĩa là các em bị lâm vào trạng thái họctập thụ động, thờ ơ với môn học
Trang 141.2.2 Sự cần thiết đổi mới PPDH
Sự cần thiết đổi mới PPDH được tác động bởi những yếu tố sau:
Sự bùng nổ thông tin trên phạm vi toàn cầu, cùng sự phát triển của côngnghệ điện tử bắt đầu từ phương Tây, tạo áp lực thúc đẩy đổi mới phương phápdạy học Theo G Anderla, dẫn theo Thái Văn Hào [2008: 112], “kể từ thập niên
60 của thế kỷ XX, kiến thức khoa học của nhân loại chỉ cần khoảng thời giandưới 7 năm để tăng gấp đôi Và khoảng thời gian ấy ngày càng được thu ngắnlại” và “kể từ 1995, trung bình tối thiểu mỗi ngày có ít nhất 4000 tựa sách khoahọc không chỉ được phát hành mà còn được bổ sung vào thư mục ở các thư việncủa các đại học và trung tâm nghiên cứu” Qua hơn hai thập niên mở cửa hộinhập, những thành tựu vuợt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông phươngTây đã tạo điều kiện để Việt Nam nhanh chóng thiết lập kết nối với hệ thốngtruyền thông quốc tế qua nhiều kênh khác nhau Theo đó, một lượng tri thứckhổng lồ của nhân loại đã chuyển vào nước ta, tạo áp lực lớn cho ngành giáo dục
và toàn xã hội Trong tình hình ấy, phương pháp dạy học theo lối “lấy thầy làmtrung tâm” đã bộc lộ những hạn chế trong việc cung cấp tri thức cho người họcnói chung và cho thế hệ trẻ nói riêng Một yêu cầu bức thiết đặt ra là phải đổimới phương pháp dạy học Và phương pháp dạy học mới phải phục vụ tốt choviệc tiếp thu có hiệu quả tri thức nhân loại Những thành tựu về mặt lý luận củangành tâm lý giáo dục đã củng cố cho lý luận dạy học hiện đại và thúc đẩy đổimới phương pháp dạy học, chuyển nghiên cứu tâm lý người dạy sang nghiên cứutâm lý người học lẫn người dạy
Ngành tâm lý giáo dục khơi dậy nhiều vấn đề mới, cần phải giải quyếttrong quá trình dạy và học [Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), 2006: 139]: “Quátrình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của ngườigiáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạtđộng nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.” Ởđây vài trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người dạy được đặc biệt coi trọng
Xu hướng nghiên cứu liên ngành và những thành tựu của nó cũng cónhững tác động trực tiếp đến phương pháp dạy học mới
Trang 15Phương pháp dạy học truyền thống dựa trên hệ thống các tiêu chí cơ bảngồm: nguồn tri thức và đặc điểm tri giác thông tin Hệ thống này gồm các nhómphương pháp sau:
- Nhóm các phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ: phương pháp thuyếttrình, phương pháp vấn đáp, phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu
- Nhóm phương pháp dạy học trực quan: phương pháp trực quan, phươngpháp minh hoạ, phương pháp biểu diễn thí nghiệm
- Nhóm phương pháp dạy học thực hành: phương pháp luyện tập, phươngpháp thực hành thí nghiệm
Thành tựu liên ngành tâm lý học, công nghệ thông tin, khoa học quản lí,…tạo ra hệ thống tiêu chí mới trong phương pháp giảng dạy hiện đại Theo hướngnày, khái niệm dạy và học cũng được nhận thức lại
Những thành tựu của công nghệ mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc thựchiện đổi mới phương pháp dạy học
Những phương thức dạy học có sự hỗ trợ của kỹ thuật điện toán trong giảngdạy đã đạt hiệu quả hơn so với những phương thức đã có từ trước Một sốphương pháp dạy học có sự trợ giúp của công nghệ mới như:
- Dạy với sự trợ giúp của máy tính (CBT: computer-based training hayCBI: computer-based instruction);
- Dạy học dựa trên công nghệ web (WBT: web-based training) Phươngpháp này sử dụng gắn với phương pháp đào tạo trực tuyến (on-line learning).Cũng từ nguyên do này mà cụm từ “on-line” được dùng với nghĩa tương đươngvới internet
- Dạy học dựa trên công nghệ internet (IBT: internet-based training)
Mô hình Chủ thể
trung tâm
Vai tròngười học Công nghệTruyền thống Người thầy Thụ động Bảng/ TV/radio
projector
(*) Mô hình kiến thức được xem là kết quả của quá trình xử lí thông tin
Bảng 1: Các mô hình dạy học từng được áp dụng
Trang 161.2.3 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng được thể chế hoá trongluật giáo dục 12/98 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của từnglớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụngkiến thức vào thực tế; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tậpcho HS.”
Hiện nay, các trường THPT đang thực hiện chương trình & sách giáo khoađổi mới Đổi mới phương pháp dạy học có nhiều vấn đề đặt ra, trong đó dạy họctheo hướng tích cực và tương tác là một định hướng trọng tâm, là vấn đề cốt lõicủa đổi mới dạy học hiện nay
Xét về mặt hình thức, phương pháp dạy học là cách thức, con đường, hệthống và trình tự các hoạt động mà GV sử dụng để tổ chức, chỉ đạo và hướngdẫn HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã định
Từ những đổi mới về mục tiêu chương trình, kế hoạch dạy học đã nêu trên,PPGD cần được đổi mới theo hướng sau:
+ Tăng cường trực quan, thực hành trong mỗi giờ học Đối với các bài học
lý thuyết, GV hướng dẫn cho HS quan sát, phân tích những hình minh hoạ,những số liệu dẫn chứng được trình bày trong SGK và các bảng biểu, hạn chếkiểu dạy chay Khi tổ chức cho HS thực hành, GV cần liên hệ các kiến thức vớithực hành hướng dẫn các thao tác chuẩn xác theo đúng qui trình, thực hiện đầy
đủ các bước trong qui trình hướng dẫn, tổ chức giờ thực hành theo hướng tạođiều kiện cho HS hoạt động thực hành một cách tự giác, tích cực, sáng tạo
+ Trong các giờ học, GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức cho HSthu nhận kiến thức, hình thành kỹ năng thông qua việc tổ chức giờ học dướinhiều hình thức tích cực như thảo luận theo nhóm, tổ; học trên lớp; học ngoàithực tế, kết hợp học kiến thức với rèn kỹ năng, lý thuyết với thực hành thínghiệm, làm việc với sách giáo khoa… chú trọng hướng dẫn những vấn đề cótính hành dụng cao để HS có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học giảiquyết các vấn đề trong sản xuất hoặc trong cuộc sống hàng ngày
Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp hiện nay là làm thế nào để phát huyđược tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập, chống lại thói quen
Trang 17học tập thụ động đang tồn tại phổ biến hiện nay Nói cách khác là phải tích cựchoá hoạt động học tập của HS Cơ sở pháp chế của định hướng trên là dựa vàomục tiêu giáo dục phổ thông; yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổthông trong luật giáo dục cũng như Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mớichương trình giáo dục phổ thông nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế, tăngcường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học vv…
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào
đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ đểhọc sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợcủa các phương tiện nghe – nhìn
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câuhỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của
sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểubiết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cảlớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáptìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống nhưngười tự lực phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, họcsinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ
tư duy
1.2.4.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranhgay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực
Trang 18tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinhdoanh Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết nhữngvấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộngđồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt nhưmột mục tiêu giáo dục và đào tạo.
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giảiquyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết
+ Lập kế hoạch giải quyết
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra
+ Phát biểu kết luận
+ Đề xuất vấn đề mới
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thựchiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kếtquả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn
đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khicần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinhphát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giảipháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùngđánh giá
Trang 19Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mìnhhoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánhgiá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.
Các mức Đặt vấn
đề
Nêu giảthuyết
Lập kếhoạch
Giải quyếtvấn đề
Kết luận,đánh giá
1.2.4.3 Phương pháp hoạt động nhóm
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích,yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủđịnh, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giaocùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗingười một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tíchcực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thànhviên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua vớicác nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tậpchung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm
có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếunhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:
Trang 20- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm.
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
• Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ cácbăn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới, bằngcách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết củamình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thànhquá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thànhviên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên,phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gianhạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đãkhá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần nhớ rằng, trong hoạt độngnhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng củaphương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chứclao động.Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổchức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt độngnhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới
1.2.4.4 Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định
Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành viđạo đức và chính trị – xã hội
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm củacác vai diễn
Trang 21Cách tiến hành có thể như sau:
- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định
rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
- Các nhóm lên đóng vai
- Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai:
+ Vì sao em lại ứng xử như vậy ?
+ Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử ? Khi nhận được cáchứng xử ( đúng hoặc sai )
- Lớp thảo luận, nhận xét : Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưaphù hợp ? Chưa phù hợp ở điểm nào ? Vì sao ?
- Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống
Những điều cần lưu ý khi sử dụng:
- Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để khônglạc đề
- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia
- Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai
- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt
- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, khôngloại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp
- Phân loại ý kiến
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý
Trang 22- Đổi mới dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS cònđang gặp một số khó khăn, trở ngại như cách nghĩ, cách làm của chúng ta hiệnnay chưa phù hợp (quan niệm về mục tiêu, nhiệm vụ dạy học: dạy kiến thức làchính hay dạy cách học là chính? Nếu coi trọng đồng thời cả hai thì giải quyếttâm lí ngại cháy giáo án như thế nào? Quan niệm về kỉ luật, trật tự trong lớp họcvới việc tổ chức các hoạt động và thảo luận? Cách dạy, cách học phổ biến hiệnnay; cách kiểm tra, đánh giá trong giáo dục; lớp học quá đông, cơ sở vật chấtchưa đáp ứng mục tiêu đề ra ).
Cũng như GV, đối với HS việc chuyển từ thói quen, cách học thụ độngsang cách học chủ động, tích cực, độc lập và sáng tạo phải là một quá trình Quátrình đó không dễ thực hiện được ngay nhưng nó phải được định hướng và khởiđầu từ phía người dạy
1.2.5 Những đóng góp của phương pháp dạy học vào chất lượng dạy học
PPDHHĐ có nhiều ưu thế hơn so với phương pháp dạy học truyền thốngtrong quá trình truyền thụ và tiếp nhận tri thức Điều này có thể xác định bằngphương pháp so sánh (Bảng 2)
Phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp dạy học hiện đại
- Người dạy truyền thụ áp đặt
- Người dạy chủ yếu thuyết trình,
giảng giải
- Người học thụ động, chờ cung
cấp thông tin, kiến thức
- Kiến thức người học có được
nhờ học bài, đọc sách (giới hạn trong
bài học và sách giáo khoa)
- Không hoặc chỉ kết hợp ở mức
độ thấp công nghệ dạy học
- Người dạy thúc đẩy sự tìm tòi
- Người dạy nêu vấn đề, gợi ý giải quyết vấn đề
- Người học chủ động, tự tìm tư liệu,tích luỹ kiến thức
- Kiến thức người học có được thôngqua tự tìm tòi, phát hiện từ nhiều nguồn khác nhau
- Kết hợp ở mức độ cao các công nghệ dạy học hiện đại
Bảng 2: Đối chiếu PPDHHĐ với phương pháp dạy học truyền thống
Trang 23Dạy (teaching) theo quan điểm giáo dục hiện đại, không chỉ là việctruyền thụ kiến thức, cung cấp thông tin đơn thuần mà chính là giúp chongười học tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng và bồi dưỡng cảmxúc PPDHHĐ vẫn kế thừa lý thuyết dạy học truyền thống ở chỗ phải thựchiện 4 đòi hỏi cơ bản:
- Có mục tiêu cụ thể được xác định dựa trên nhu cầu của người học;
- Có sự thiết kế chiến lược phù hợp với nhu cầu và thuộc tính của ngườihọc, kể cả phương thức đánh giá về hiệu quả và chất lượng dạy học;
- Có các phương tiện dùng để dạy học, tức cơ sở vật chất và công nghệdạy học;
- Có khả năng xác thực, chứng nhận, đánh giá kết quả học của người học
Kiến thức mà người học thu nhận qua PPDHHĐ được nâng lên về số lượng
và chất lượng Về số lượng, lượng thông tin giáo viên chuẩn bị cho bài giảngbằng PPDHHĐ bao giờ cũng đầy đặn và chu đáo hơn Đây là ưu điểm nổi bậtcủa PPDHHĐ Trong thời gian hữu hạn, làm chủ lượng tri thức và cung cấp trithức phù hợp với đối tượng là yêu cầu bắt buộc để các tiết giảng có chất lượng
Xu hướng tăng các môn học do yêu cầu khách quan của thực tiễn xã hội đã dẫnđến việc tính toán sát sao thời lượng cho từng môn học Vì vậy, nếu không vậndụng tốt, chứ đừng nói đến việc không sử dụng, các phương pháp trongPPDHHĐ thì khó đạt mức đánh giá trên hài lòng của người học
Về chất lượng, PPDHHĐ giúp người dạy chuyển tải kiến thức đến ngườihọc bằng nhiều kênh, trong đó kênh nghe kết hợp kênh nhìn sẽ giúp người họcđược khắc sâu kiến thức và nhớ lâu hơn PPDHHĐ còn đòi hỏi cả thầy lẫn tròphải kịp thời tiếp nhận, ứng dụng những thành tựu của thế giới bằng cách sửdụng các thiết bị hỗ trợ hữu hiệu, đặc biệt là bằng các công nghệ hiện đại nhưmạng internet, điện thoại di động vào trong dạy và học Vì vậy, kiến thức traođổi, thu nhận luôn được cập nhật, bảo đảm tính hiện đại trong dạy học đồng thờitừng bước góp phần hình thành ở người học thói quen sử dụng các thành tựu củacông nghệ tiến tiến vào mục đích học tập, tích luỹ tri thức
Quan điểm dạy học mới còn hướng người học vào sự chuẩn bị cần thiết đểhoà nhập cộng đồng một cách tốt nhất Để thực hiện được điều này, không còn
Trang 24cách nào khác là làm cho người học tự mình tìm kiếm, bổ sung tri thức, tự mìnhhoàn thiện kĩ năng sống và cảm hứng làm việc
Theo quan điểm mới, học (learning) là quá trình người học tự biến đổi mìnhbằng cách thu thập và xử lý thông tin lấy từ môi trường chung quanh Học là quátrình con người thu nhận tri thức, kỹ năng mới nhằm nâng cao hiệu suất lao động
và chất lượng sống
Như vậy, khái niệm dạy và học theo xu hướng mới đã vượt ra ngoài cáchnghĩ thông thường là truyền và nhận tri thức Lối suy nghĩ giản đơn rằng học lànhằm vào mục đích được cấp bằng và người dạy có nhiệm vụ chuyển tải nhữngnội dung để đạt được chuẩn kiến thức của tấm bằng được cấp đã không còn phùhợp trong cuộc sống hiện đại Dạy và học hiện đại nhằm đào tạo những conngười có tri thức, có kỹ năng, có khả năng làm việc đồng thời còn phải biết cáchsống chung với cộng đồng (learn to live together)
Phương pháp dạy học Việt Nam trong thời gian qua đã có chuyển hướngmạnh mẽ để đi đến hiện đại hoá, quốc tế hoá Đó là kết quả của quá trình vậnđộng tích cực của nhiều ngành khoa học Là một hệ thống các phương pháp dạyhọc mới có sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ hiện đại nhằm phát huy tính tíchcực trong nhận thức của người học, PPDHHĐ tạo ra một cuộc cách mạng sưphạm, phá vỡ khuôn mẫu dạy học cứng nhắc vốn đã tồn tại một thời gian dài ởnước ta
PPDHHĐ tạo điều kiện để mọi người có thể cùng tham gia, để cả xã hội cóthể học tập, nó cho phép mở rộng không gian và thời gian dạy và học: dạy vàhọc bất cứ khi nào có thể, dạy và học ở bất cứ nơi nào có thể, dạy và học bằngbất cứ phương tiện nào có thể
PPDHHĐ nhằm tạo tiền đề để người học tiến tới tự học, tự đào tạo; từngbước góp phần xây dựng môi trường xã hội học tập trong đó mỗi cá nhân phải tựhọc tập suốt đời
1.3 VAI TRÒ CỦA CNTT TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynhđảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu củaCNTT CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động
Trang 25mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin và hiểnnhiên cũng tác động mạnh mẽ trực tiếp đến giáo dục.
- CNTT là một công cụ, phương tiện DH hiện đại hỗ trợ GV tổ chức,hướng dẫn HS học tập, góp phần tích cực vào đổi mới PP, nâng cao chất lượngmôn học
- CNTT là nguồn kiến thức đa dạng và cần thiết đối với cả GV và HStrong quá trình dạy – học
- Ứng dụng CNTT trong DH là một biện pháp quan trọng giúp HS tìmhiểu sâu rộng kiến thức
- Ứng dụng CNTT kết hợp với lời giảng sinh động trong DH góp phầnquan trọng vào giáo dục tư tưởng, tình cảm và thái độ cho HS
- Ứng dụng CNTT trong DH có ý nghĩa tích cực vào phát triển khả năngquan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ Trên cơ sở đó, giúp các em nhớ
kỹ, hiểu sâu bài học, hình thành mối liên hệ giữa thời gian, không gian, liên hệđược kiến thức cũ với kiến thức mới, liên hệ được với các hiện tượng thực tếtrong cuộc sống
CNTT luôn được đề cao trong công cuộc đổi mới giáo dục như là một mônhọc cũng như là một công cụ quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học Cácnhà hoạch định chính sách rất tập trung vào đổi mới giáo dục, trước hết như mộtchính sách để đáp ứng nhu cầu của xã hội tri thức toàn cầu về nguồn nhân lực cótrình độ Lý do nhằm phát triển kinh tế dẫn đến việc tập trung tập huấn các kỹnăng CNTT và xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT để đẩy mạnh công nghiệp hóa &hiện đại hóa đất nước Trong bối cảnh của phong trào trường học thân thiện, họcsinh tích cực (chỉ thị 40), vai trò của CNTT là hỗ trợ quá trình đổi mới giáo dụcnhằm tạo ra một xã hội học tập sáng tạo Các hướng dẫn của Bộ GD & ĐT gửicho Sở GD & ĐT đều khuyến khích giáo viên áp dụng CNTT vào dạy học Họctập điện tử (e-learning) và xây dựng, sử dụng bài giảng điện tử được hướng tớinhư là kết quả cuối cùng của ứng dụng CNTT trong giáo dục
1.4 VAI TRÒ CỦA PHẦN MỀM TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC
PMDH là một phương tiện dạy học quan trọng, ở cấp độ cao hơn so vớicác phương tiện dạy học trực quan khác, tạo điều kiện để thực hiện những đổi
Trang 26mới căn bản về nội dung, phương pháp dạy học nhằm hình thành ở học sinh cácnăng lực làm việc, học tập và thích ứng được với môi trường xã hội hiện đại.Trong thời đại xã hội phát triển với tốc độ chóng mặt như hiện nay, việcdạy học không chỉ hạn chế trong các giờ học tại nhà trường mà có thể học tậpdưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV hoặc tự học tập tại nhà qua hệ thốngInternet.
Việc sử dụng các PMDH không chỉ giúp GV thực hiện tốt hơn chươngtrình đại trà mà còn cho phép thực thi cách thức dạy học mới có khả năng đápứng yêu cầu tự tìm kiếm kiến thức, rèn luyện kĩ năng của bất kì người học nào,vào bất cứ lúc nào, theo nội dung tuỳ chọn ở mức độ phù hợp với khả năng, ýmuốn phù hợp với khả năng và điều kiện của từng cá nhân
PMDH có thể hiển thị thông tin dưới dạng văn bản, ký hiệu, đồ thị, bản
đồ, hình vẽ, ảnh chụp, phim đèn chiếu, phim hoạt hình, đoạn phim, Với cáchình thức hoạt động đơn giản như bấm phím, di chuyển và kích chuột để lựachọn và ra các lệnh theo chủ định, HS sẽ rất hứng thú khi thấy yêu cầu củamình đề ra được thực hiện liền ngay tức thời, điều này có tác dụng kích thíchhứng thú rất mạnh mẽ trong hoạt động tự học Những hình ảnh đẹp, rõ ràng,nhiều màu sắc sinh động, kèm theo các đoạn văn bản, giọng nói nhạc đệm tácđộng đồng thời hoặc kế tiếp nhau lên các giác quan giúp cho HS tự thao tác taylàm, mắt thấy, tai nghe, trí óc suy nghĩ trong khi học và luyện tập, nhờ đó dễdàng hiểu rõ, nắm vững kiến thức và đạt được các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết.PMDH cũng cho phép giáo viên lựa chọn các tài liệu trực quan cần cho từngphần của bài học và sử dụng chúng rất thuận tiện trong giảng dạy
Với những PM "mở" GV có thể tự mình xây dựng, thiết kế những bàigiảng, bài tập để làm tư liệu giảng dạy Các tài liệu trong PM có thể sao chép
ra đĩa mềm hay in ra giấy một cách dễ dàng, ít tốn kém, tiết kiệm được nhiềuthời gian và công sức chuẩn bị để tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động tựhọc của HS
PMDH có thể giúp HS tự tìm kiếm tri thức mới, tự ôn tập, luyện tậptheo nội dung tuỳ chọn, theo các mức độ nông sâu, tuỳ thuộc vào năng lựccủa bản thân
Trang 27Như vậy, việc sử dụng PMDH làm phương tiện dạy học các môn học,giúp cho việc học tập của HS như là một công cụ hỗ trợ cho việc dạy và họcnhằm góp phần rèn luyện kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp, độc lậpgiải quyết các vấn đề, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin nhằm góp phần củng
cố tư tưởng học suốt đời cho tất cả mọi người Phát triển rộng rãi việc ứngdụng CNTT trong nhiều môn học, mọi trường học, mọi cấp học và mọi ngànhhọc thông qua các loại PM khác nhau (PMDH, tự học, PM kiểm tra đánh giá )dẫn đến việc xây dựng nội dung và phương pháp đào tạo thích hợp, phát triểnviệc kiểm tra đánh giá trong một môi trường giàu thông tin
Nhiều phần mềm đã ra đời và được ứng dụng trong dạy học như MSPowerpoint, Solidwork, Multisim… được nhiều người quan tâm Mỗi phầnmềm có một vai trò nhất định
Hiện nay các trường THPT đều được trang bị máy vi tính và máy chiếu
Do đó, việc sử dụng phần mềm trong dạy học không còn là khó khăn điềuđáng chú ý là ta thiết kế mạch cho phù hợp với nội dung dạy học Khi đóviệc sử dụng các phần mềm sẽ góp phần tích cực vào quá trình dạy học, đổimới PPDH cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng đượcyêu cầu đề ra trong thời kỳ hội nhập với thế giới
Việc sử dụng bài giảng có sử dụng phần mềm với những hình ảnh độnglàm cho người học dễ dàng tiếp thu, khắc sâu kiến thức và tăng hứng thú họctập Thông qua tiết dạy này giáo viên có nhiều thời gian để đặt câu hỏi gợi
mở, tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học
Trong những phần mềm được sử dụng trong phần vẽ kỹ thuật Công nghệ
11 như AutoCad (hãng AutoDesk – Mỹ), Solidwork, Cimatron (Nhật – Israel),MasterCAM (Mỹ), DENFORD (Anh) thì phần mềm Pro-engineer 2001 cónhững tính năng nổi bật trong việc hỗ trợ dạy học phần vẽ kỹ thuật như các chitiết được thiết kế dưới dạng tham số, có thể dễ dàng điều chỉnh, việc tạo bề mặt3D dễ dàng nhờ các công cụ rất mạnh như advanced, cuver có thể tạo ra hìnhdáng bất kì
Pro/engineer là phần mềm khổng lồ, được ứng dụng vào hầu hết các lĩnhvực trong ngành cơ khí Nhờ những ưu điểm nổi bật: giá thành bản quyền rẻ, tài
Trang 28liệu nhiều, các phiên bản mới giao diện đẹp dễ sử dụng nên được nhiều ngườihọc và sử dụng… Đây là phần mềm có dao diện rộng, nhiều tính năng nổi trội vàứng dụng rộng rải Như vậy phần mềm Pro-engineer cũng là một trong nhữngphần mềm góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinhtrong học tập Với những ứng dụng nỗi trội trên thì Pro-engineer sẽ được nhiềungười biết đến và sử dụng trong tương lai.
Trang 29Chương 2 KHAI THÁC PHẦN MỀM PRO-ENGINEER 2001 HỔ TRỢ DẠY HỌC TRONG PHẦN VẼ KỸ THUẬT MÔN
CÔNG NGHỆ 112.1 Tổng quan về phần mềm pro - engineer 2001
2.1.1 Khái niệm
Pro-engineer (Pro/E)là một bộ phần mềm CAD/CAE/CAM ứng dụng chủyếu vào ngành cơ khí: thiết kế, láp ráp, phân tích, mô phỏng, thiết kế khuôn mẫu,gia công… Pro/E được thiết kế dưới dạng các modul rời, tùy vào nhu cầu sửdụng mà người dùng sẽ lựa chọn các modul phù hợp
Pro-engineer được Chua Shun Yuan cho ra đời vào năm 1988, tạo mộtbước ngoặt lớn trong ngành cơ khí khi đưa ra khái niệm Parametric Modeling
Từ 1988 đến 1997, Pro-enngineer phát triển từ bản 1.0 đến 19.0 rồi chuyển sangPro/E 2000i (1999) > Pro/E 2000i2 (2000) > Pro/E 2001.Đến khoảng 2002 thìchuyển sang phiên bản Pro/E Wildfire 1.0 > Pro/E Wildfire 2.0 (2004), Pro/E 3.0(2006)…
2.1.2 Hướng dẫn cài đặt
2.1.2.1 Yêu cầu
- Phải có đĩa DVD cài chương trình Pro-engineer 2001
- Pro-engineer 2001 chỉ có thể chạy trên máy đã có card mạng
- Tắt các trình diệt virus trước khi cài đặt trước khi cài
- Máy của bạn phải có cấu hình tương đối mạnh
2.1.2.2 Hướng dẫn cài đặt
- Cho đĩa DVD vào ổ đĩa
- Sau khi đưa đĩa vào, một biểu tượng xuất hiện với thông báo cho biếtđang khởi động chương trình cài đặt
Trang 30Sau đó cửa sổ PTC Setup – Pro/ENGINEER Release 2001 (2001150) xuấthiện với các tùy chọn, yêu cầu bạn khai báo sản phẩm cần cài đặt.
Nhấp chọn và nhớ lưu tham số trong PTC HostID Trong máy cài đặt này ta có tham số sau 00-06-7B-04-B1-26
Nếu không thấy cửa sổ PTC Setup – Pro/ENGINEER Release 2001(2001150) xuất hiện thực hiện các bước sau:
Trên màn hình Window nhấp chuột phải vào nút Start (ở góc trái bên dướimàn hình) sau đó chọn Explore từ cửa sổ mới mở (Nếu không thấy nút Start hãynhấp Ctrl + Esc)
Trong cửa sổ Explore nhấp chọn ổ đĩa CD-ROM
Trang 31Kéo thanh trượt bên phải cửa sổ Explore xuống để thấy được fileSETUP.EXE Sau đó, nhấp đúp vào file SETUP.EXE.
Cửa sổ PTC Setup – Pro/ENGINEER Release 2001 (2001150) xuất hiệngiống như cửa sổ khi máy chạy tự động Auto Run
Lúc này bạn nhấp vào biểu tượng Minimize nằm ở góc trên bên phải cửa sổ
để thu nhỏ cửa sổ này lại
Trở về cửa sổ Explore tạo thư mục mới có tên PTC trong ổ cứng Nhấpchuột phải vào cửa sổ Explore sau đó chọn New > Folder
Thư mục mới xuất hiện với tên New Folder Đổi lại tên thư mục này làPTC Sau đó nhấp chuột phải vào thư mục Crack trên đĩa CD cài đặt như hình
Trang 32Một danh sách gồm 5 files xuất hiện.
Copy 5 files này vào thư mục PTC vừa tạo bằng cách: Trong cửa sổExplore tại thư mục PTC nhấp chuột phải và chọn lệnh Paste trong cửa sổ mớixuất hiện
Sau đó nhấp đúp vào file MAKELIC để tạo file license.dat
Sau khi file license.dat được tạo
Nhấp chuột phải vào file license.dat và chọn Open With trong danh sáchcửa sổ mới mở (hay nhấp đúp vào file license.dat)
Cửa sổ Caution xuất hiện cảnh báo với nội dung cho biết:
“Những files này được sử dụng cho hệ điều hành và nhiều chương trình khác.Việc chỉnh sửa file này có thể gây nguy hiểm tới hệ thống máy tính của bạn”
Trang 33Nếu muốn mở file, nhấp chọn Open With Nếu không muốn mở file nhấpchọn Cancel.
Ở đây ta nhấp chọn Open With để mở file
Cửa sổ Windows xuất hiện yêu cầu chọn chương trình có thể đọc được filenày Nhấp chọn Select the program from a list sau đó nhấp OK
Hộp thoại Open With xuất hiện với danh sách các chương trình cho bạnchọn Ở đây ta chọn chương trình Notepad sau đó nhấp OK
Nên đánh dấu chọn vào ô vuông Always use the selected program to openthis kind of file để trong các lần sau khi gặp file có định dạng tương tự chươngtrình sẽ không hỏi nữa Nhấp chọn OK để tiếp tục
Có thể chọn chương trình WordPad hay Microsoft Office Word sau đónhấp OK nếu trên máy không có chương trình Notepad
Trang 34Lúc này xuất hiện nội dung file license.dat được mở từ chương trìnhNotepad.
Cập nhật số card mạng (00-06-7B-04-B1-26) ở File Setup , bạn thay đổi giátrị như hình
Sau khi bạn thay đổi số card mạng xong nhấp chuột chọn File > Save để lưu lại
Trang 35Trở về cửa sổ PTC Setup – Pro/ENGINEER Release 2001 (2001150).
Nhấp chọn ô PTC Help và Pro/ENGINEER, sau đó nhấp Next Cửa sổWindows Installer Options xuất hiện Chọn OK
Sau khi nhấp OK xuất hiện thông báo trên nền màu xanh yêu cầu bạn chờ
Cửa sổ Windows Installer xuất hiện
Sau đó là cửa sổ Pro/ENGINEER 2001 (2001150) Setup xuất hiện, chọnNext để tiếp tục
Trang 36Trong cửa sổ Pro/ENGINEER 2001 (2001150) Setup chọn đường dẫn chothư mục cài đặt trên đĩa cứng Ở đây ta chọn chọn đường dẫn mặc định, tiếp theonhấp Next.
Xuất hiện hộp thoại Select Installation Type, chọn Typical sau đó nhấp Next
Chọn Complete nếu muốn cài đặt toàn bộ các ứng dụng của Pro
Chọn Custom nếu muốn chọn các ứng dụng theo ý
Nhấp Next để tiếp tục
Nhấp Next để tiếp tục, một vệt sáng màu xanh lan dần từ trái sang phải chobiết máy đang cài đặt (Install)
Trang 37Sau khi máy Install xong xuất hiện hộp thoại Specify License Server, chọnLocked license file (no server running) sau đó chọn đường dẫn tới fileLicense.dat.
Nhấp vào biểu tượng mở file bên cạnh khung License file path như hình:
Hộp thoại Select File xuất hiện, chọn đường dẫn như hình sau đó nhấp OK
Hộp thoại Specify License Server xuất hiện Nhấp OK để tiếp tục Cửa sổUpdating System xuất hiện:
Trang 38Khi thông báo Pro/ENGINEER 2001 has been successfully installed xuấthiện, nhấp chọn Finish.
Cửa sổ PTC.Setup - Pro/ENGINEER Release 2001 (2001150 xuất hiện,chọn đường dẫn mặc định như hình sau đó nhấp Next
Hộp thoại Warning xuất hiện, nhấp OK
Tiếp tục nhấp OK trong cửa sổ mới
Hộp thoại Install files xuất hiện, chọn Yes
Trang 39Hộp thoại PTC Setup-Pro/ENGINEER Release 2001(2001150- InstallationProgress xuất hiện, bạn chờ một lúc vì lúc này máy đang cài đặt phần trợ giúpbằng tiếng Anh (Ptc help).
Khi nút Next hiện sáng nhấp chuột chọn Next Khi thông báo InstallationComplete xuất hiện nhấp Next để tiếp tục
Hộp thoại Installation Complete xuất hiện thông báo cho biết “Các tác vụcài đặt đã thực hiện, bạn có muốn thoát khỏi trình cài đặt hay không? Chọn Yes
Máy không đủ bộ nhớ, chọn độ phân giải màn hình và tần số quét quá lớn
Có Virus trong máy
Windows XP bị lỗi cần cài đặt lại, trong một số trường hợp cần phảiFdisk lại ổ cứng sau đó cài lại Windows XP và Pro Engineer 2001 chương trìnhmới chạy
Trang 40_ Một cửa sổ màu xanh nước biển.
_ Một thanh standard toolbar.
_ Một thanh menu toolbar.
3_ Tạo thư mục làm việc trong ổ cứng :
_ Chọn MY COMPUTER chọn ổ đĩa D chọn FILE NEW FOLDER rồi đổi tên thư mục New Folder thành PROE.
_ Chọn File Working Directory chọn thư mục D:\PROEà OK.
_ Vậy là tất cả các bài tập mà bạn làm trong suốt buổi làm việc sẽ được lưu
trong thư mục D:\PROE của bạn.