1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN

43 977 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hiện Trạng Phân Bố Của Quần Thể Dừa Nước Tại Xã Cẩm Thanh, Thành Phố Hội An
Tác giả Ngô Thị Trà My
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Gia Thạnh
Trường học Trường Cao Đẳng Đức Trí
Chuyên ngành Công Nghệ Môi Trường
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Quảng Nam hệ sinh thái dừa nước có vai trò quan trọng đối với môi trường và sinh vật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng ngập mặn ở ven biển Cẩm Thanh ( Hội An) mất dần do việc khai thác nguyên liệu dừa nước một cách ồ ạt để phát triển làng nghề và đào ao nuôi tôm, cua, cá, đã tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm nước mặn vào đất liền diễn ra rất nhanh, thúc đẩy quá trình xói lỡ

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐỨC TRÍ KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG



NGÔ THỊ TRÀ MY

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÀ NẴNG, 2011

Trang 2

TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐỨC TRÍ KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG



NGÔ THỊ TRÀ MY

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: NGUYỄN THỊ GIA THẠNH

ĐÀ NẴNG, 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập tại trường em đã tiếp thu rất nhiều kiến thức và khóa luận này là thành quả của quá trình học tập và rèn luyện dưới sự dày công dạy bảo của Quý Thầy Cô Trường Cao đẳng Đức Trí Em xin gởi đến Quý Thầy Cô lời cảm

ơn chân thành, đặc biệt em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Gia Thạnh đã giúp em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn các chú trong Hội Nông Dân xã Cẩm Thanh đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm đề tài

Với thời gian thực tập hạn hẹp và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên không tránh khỏi những thiếu xót, em kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Quý Thầy cô.Cuối cùng em vô cùng cảm ơn gia đình đã động viên và tạo điều kiện hết sức để em hoàn thành khóa luận này

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn và kính chúc Quý Thầy cô sức khỏe và thành đạt

Đà Nẵng, ngày 14 tháng 5 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Ngô Thị Trà My

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Tên gốc

RNM Rừng ngập mặn

UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc

UBND Uỷ ban nhân dân

Trang 6

Bảng 1.1 Phân bố dân cư theo đơn vị thôn

Bảng 3.1 Biến động diện tích rừng Dừa nước ở xã Cẩm Thanh theo thời gianBảng 3.2 Độ mặn ở một số điểm

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ diễn biến diện tích dừa nước từ năm 1980 – 2010

Hình 3.2 Ranh giới hành chính xã Cẩm Thanh ở hạ lưu sông Thu Bồn và vị trí phân

bố của dừa nước

Hình 3.3 Hoa và quả Dừa nước

Hình 3.4 Chuyển diện tích rừng Dừa nước thành ruộng nuôi tôm

Hình 3.5 Khai thác thủy sản và rong câu từ rừng Dừa nước

Hình 3.6 Vật liệu xây dựng làm từ lá dừa nước

Hình 3.7 Nhà du lịch được làm từ Dừa nước

Hình 3.8 Khai thác hàu trong rừng Dừa nước

Hình 3.9 Vai trò môi trường của rừng Dừa nước đối với các rạn san hô ở Cù Lao Chàm

Trang 8

MỞ ĐẦU

Trải dài trên nhiều vĩ tuyến và có khí hậu thay đổi từ Bắc đến Nam, hệ sinh thái rừng Việt Nam, nhất là rừng ngập mặn (RNM) có tính đa dạng sinh học rất cao Rừng ngập mặn là hệ sinh thái có năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với các tác động của con người và thiên nhiên RNM không những cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, than, củi,… mà còn là nơi sống và ươm giống của nhiều loài hải sản, chim nước Ngoài ra, RNM còn có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông điều hòa khí hậu, hạn chế xói lỡ, mở rộng diện tích lục địa,…bảo vệ nơi sống của người dân ven biển trước sự tàn phá của gió mùa, bão, nước biển dâng Tuy nhiên, chiến tranh và sức ép dân số đã làm cho những thảm thực vật RNM ở Việt Nam suy thoái nghiêm trọng

Ở Quảng Nam hệ sinh thái dừa nước có vai trò quan trọng đối với môi trường

và sinh vật Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng ngập mặn ở ven biển Cẩm Thanh ( Hội An) mất dần do việc khai thác nguyên liệu dừa nước một cách ồ ạt

để phát triển làng nghề và đào ao nuôi tôm, cua, cá, đã tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm nước mặn vào đất liền diễn ra rất nhanh, thúc đẩy quá trình xói lỡ, gây ô nhiễm đất và nguồn nước [11] Đặc biệt, trong bối cảnh sự biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra nhanh chóng trên quy mô toàn cầu, trong khi Việt Nam được dự báo là một trong 5 quốc gia trên thế giới sẽ hứng chịu hậu quả nặng nề nhất do thảm họa này gây ra với những tác nhân được cho là chủ yếu đến từ phía biển Cũng theo các chuyên gia về môi trường, rừng ngập mặn đóng một vai trò tích cực trong việc góp phần giảm thiểu BĐKH cũng như những thiệt hại do BĐKH có thể gây ra, đồng thời tạo ra điều kiện tốt cho việc thích ứng với BĐKH, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên em

chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng phân bố của quần thể dừa nước tại xã Cẩm

Thanh, thành phố Hội An” nhằm nắm được các quy luật phát triển của các quần xã

sinh vật đồng thời chủ động điều khiển sự diễn thế theo hướng có lợi cho con người

Có biện pháp khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên từ rừng dừa nước

CHƯƠNG 1

Trang 9

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.2.1 Bảo tồn đa dạng sinh học cho đới biển ven bờ

Hệ sinh thái RNM chứa đựng mức đa dạng sinh học rất cao Nơi ở trong RNM phân hóa rất mạnh: trên không, mặt đất, trong nước với các dạng đáy cứng, đáy mềm, hang trong đất, những không gian chật hẹp trong bụi cây, bộ rễ, độ muối lại biến động thường xuyên Sinh vật sống trong RNM không những có số lượng loài đông

mà trong nội bộ mỗi loài còn có những biến dị phong phú dễ thích nghi với những nơi ở khác nhau, nguồn sống khác nhau và điều kiện sống biến đổi muôn màu Bởi vậy rừng ngập mặn là nơi lưu trữ nguồn gen giàu có và có giá trị Các khu RNM ở Châu Á bước đầu đã thống kê được 1918 loài sinh vật, trong đó vi khuẩn, tảo 100 loài, thực vật 208 loài, động vật không xương sống ở nước 491 loài, côn trùng và nhện 500 loài, động vật có xương sống 520 loài

RNM là nơi sống của nhiều loài tôm, cua, cá và cũng là bãi đẻ của chúng Đối với nhiều loài động vật trên cạn mà cuộc sống gắn liền với bãi triều thì RNM là nơi tập trung để kiếm thức ăn

1.1.2.2 Duy trì nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển các loài sinh vật

RNM hàng năm cung cấp một sản lượng rơi rụng khá lớn để làm giàu cho môi trường đất rừng và vùng cửa sông ven biển Ngoài các chất thải bã, xác chết của các loài động vật, lượng rơi rụng của bản thân cây rừng được đánh giá vào khoảng 8-20 tấn/ha, trong đó 79,7% là lá Những sản phẩm này một phần có thể sử dụng trực tiếp bởi một số ít loài động vật, một phần nhỏ nằm dưới dạng chất hữu cơ hòa tan cung cấp cho một số loài dinh dưỡng bằng con đường thẩm thấu Phần chủ yếu còn lại chuyển thành nguồn thức ăn phế liệu hay cặn vẩn để nuôi sống các loài động vật ăn mùn bã thực vật

1.1.2.3 RNM là nơi nuôi dưỡng ấu trùng, ấu thể các hải sản

Trang 10

RNM không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loài tôm sú, tôm biển xuất khẩu Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua,… có một hoặc nhiều giai đoạn bắt buộc phải sống trong các vùng nước nông, cửa sông có RNM Ví dụ

điển hình là vòng đời của loài tôm thẻ (Penaeus merguiensis) Loài tôm này có tập

tính đẻ ở biển, cách xa bờ chừng 12 km, do tác động của dòng nước và thay đổi của nước triều, sau khi trứng thụ tinh, ấu trùng chuyển vào vùng nước ven bờ, bơi dần vào cửa sông theo nước triều lên, thường tìm những vùng nước nông có giá bám như bụi cỏ, rễ cây,… sau đó đi sâu vào kênh rạch RNM Chúng sinh trưởng và phát triển

ở đó cho tới khi thành thục, thường từ 3 – 4 tháng Ở giai đoạn trưởng thành thì chúng lại bắt đầu di cư ra biển để đẻ RNM ở đây vừa là nơi bảo vệ vừa là nơi nuôi dưỡng con non

Với vai trò vừa là nơi bảo vệ, nuôi dưỡng con non, con giống vừa cung cấp thức ăn, RNM đóng góp một cách đáng kể vào sản lượng thủy sản

1.1.2.4 Nơi bảo tồn nguồn gen của các loài động vật trên cạn

RNM có vai trò quan trọng không kém gì rừng nội địa đồng thời là nơi lưu trữ những loài động vật quý hiếm mà trên cạn không có như cá sấu nước, hổ Bengal

Khu hệ động vật của RNM Việt Nam khá phong phú Một vài nghiên cứu ở rừng cấm Năm Căn ( Cà Mau) số lượng ếch nhái có 6 loài, bò sát 18 loài, chim 41 loài, động vật có vú 15 loài trong đó có nhiều loài thú lớn như lợn rừng, vượn, hổ, nai

và đông nhất và có giá trị là chim dao động từ 121 – 147 loài Ở nhiều nơi trong rừng ngập mặn không nhiều loài nhưng số lượng rất đông, tạo nên nhiều sân chim nổi tiếng Ở đây có rất nhiều loài chim quý hiếm của thế giới như già đẫy, hạc cổ trắng,

cò thìa, nhiều loài chim di cư từ phương bắc và còn có các loài chim được ghi vào sách đỏ của thế giới Ngoài các động vật trên thì RNM còn đa dạng và phong phú về các loài côn trùng

1.1.2.5 Giảm mạnh độ cao của sóng khi triều cường

Rừng ngập mặn trong trạng thái tốt sẽ làm giảm các lực tác động của bão và sóng thần, đồng thời cũng hấp thụ một phần lớn năng lượng của nước dâng và làm giảm thiểu thiệt hại do sóng thần gây ra Ở các nước Ðông Nam Á, nhờ sự tồn tại của vành đai bảo vệ bờ bao gồm các rạn san hô và rừng ngập mặn, nên những trận sóng thần trong lịch sử đã không gây nên những thiệt hại lớn về người và của Các trận sóng thần phải vượt qua rào chắn của các rạn san hô trước khi đạt tới bờ và tại đây chúng bị hấp thụ bởi một lớp dày đặc cây cối của rừng ngập mặn Những hàng cây thấp, mềm mại với bộ cành và rễ kéo dài từ mặt biển xuống lớp bùn cát đáy biển sẽ

Trang 11

hấp thụ năng lượng va đập ban đầu của sóng thần Khi vượt qua lớp này, sóng đi tiếp vào sẽ bị cản trở và triệt tiêu bởi hàng cây ngập mặn cao hơn.

Các nhà khoa học cho rằng sức phá hoại của sóng thần có độ cao 15m hầu như

sẽ bị tiêu tán hết khi vượt qua đới bờ nguyên sinh phát triển bao gồm san hô, cỏ biển

và rừng ngập mặn Những vành đai xanh bảo vệ này còn có một vai trò sinh tử trong giảm thiểu bồi lấp và xói lở bờ biển

1.1.2.6 Bảo vệ đê và hạn chế xâm nhập mặn

Hệ thống rễ dày đặc của các loài cây RNM có tác dụng rất lớn trong việc bảo

vệ đất ven biển và vùng cửa sông Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả sự công phá bờ biển của sóng, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng, giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất

Ví dụ: Ở huyện Thái Thụy – Thái Bình có hai tuyến đê số 7 dài 45,1 km, đê số 8 dài 41,5km bao quanh huyện Hầu hết hai tuyến đê này được xây dựng từ lâu đời, việc đắp đê chủ yếu bằng lao động thủ công nhưng cơn bão số 6 và số 7 năm 2005 đúng lúc triều cường sóng lớn nhưng các tuyến đê ở Thái Thụy không bị xói lở đó là nhờ dải RNM với diện tích 4.564 ha rừng với độ rộng 800 đến 1.300 mét Độ cao cây trung bình từ 2,5 đến 3 mét với các loài cây: sú vẹt, đước, trang

Khi RNM chưa bị phá thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm, phạm vi hẹp,

vì khi thủy triều cao nước đã lan tỏa vào trong những khu RNM có hệ thống rễ cây dày đặc đã làm giảm tốc độ dòng chảy, tán cây hạn chế tốc độ gió Nhưng hiện nay, hầu hết RNM ven biển đã bị phá để làm ruộng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đắp những dãy bờ lớn để làm đầm nuôi tôm quảng canh làm thu hẹp phạm vi phân bố của nước triều ở ven biển, cưả sông Do đó, nước mặn theo dòng triều lên được gió mùa

hỗ trợ đã vào sâu trong các dòng sông trong đất liền với tốc độ lớn, kèm theo sóng, gây ra xói lở bờ sông và các chân đê Nước mặn còn thẩm thấu qua chân đê vào đồng ruộng, làm năng suất bị giảm, thiếu nước ngọt, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt

1.1.2.7 Điều hòa khí hậu, tích tụ cacbon

Rừng ngập mặn có vai trò điều hòa khí hậu, Theo Blasco (1975) nghiên cứu khí hậu và vi khí hậu rừng, đã có nhận xét: các quần xã RNM là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt

Hệ sinh thái RNM giúp cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, điều hoà khí hậu địa phương (nhiệt độ, lượng mưa) và giảm thiểu khí nhà kính Theo Lê Xuân Tuấn và cộng sự, 2005, hàm lượng CO2 của nước ở trong rừng (7,38mg/l) thấp hơn nơi không

có rừng (7,63mg/l) Lượng cacbon tích tụ trên bề mặt đến độ sâu 100cm khoảng từ 71- 82 tấn cacbon/ha Nhờ các tán lá hút CO2 mạnh nên hàm lượng khí CO2 nơi có

Trang 12

rừng giảm mạnh, qua đó làm cho pH của nước phù hợp với điều kiện sống của thủy sinh vật

1.1.3 Thành phần của rừng ngập mặn

Theo Phan Nguyên Hồng (1999), khu hệ thực vật rừng ngập mặn Việt Nam bao gồm 47 họ thực vật Số lượng loài biến động theo từng vùng khác nhau: vùng ven biển Bắc Bộ có 52 loài, vùng ven biển Trung Bộ có 69 loài, vùng ven biển Nam

Bộ có 100 loài Trong khu hệ thực vật rừng ngập mặn có 5 họ thực vật giữ vai trò

quan trọng là họ Đước (Rhizophoraceae), họ Mắm (Avicemiaceae), họ Bần (

Sounerratiaceae), họ Đơn nem ( Myrsinaceae) và họ Dừa ( Palmae)

Khu hệ động vật rừng ngập mặn bao gồm một tập hợp các loài động vật không xương sống và có xương sống có nguồn gốc từ môi trường đất liền, biển và nước ngọt Ví dụ: Kết quả nghiên cứu ở rừng ngập mặn Cần Giờ ( Thành phố Hồ Chí Minh) cho thấy có 22 loài động vật sống nổi trên mặt nước, 114 loài động vật đáy bao gồm 34 loài giun, 51 loài giáp sát, 29 loài thân mềm, 137 loài cá, 9 loài lưỡng cư,

31 loài bò sát, 130 loài chim, 19 loài động vật có vú ( theo Vũ Trung Tạn, 1994 ; Phạm Đình Trọng, 1995 ; Lê Đức Tuấn, 1997) Trong các loài động vật thì tôm là loài động vật có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với rừng ngập mặn

1.1.4 Phân bố rừng ngập mặn

1.1.4.1 Phân bố rừng ngập mặn trên thế giới

Trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới

và một vài loài ở vùng á nhiệt đới Theo đánh giá của Hutchings và Seaneg (1987) thì diện tích RNM trên thế giới là 15.429.000 ha, trong đó 6.246.000 ha nằm ở vùng Châu Á nhiệt đới và Châu Đại Dương, 5.781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới

và 3.402.000 ha thuộc châu Phi

Trên phạm vi toàn cầu, Wash (1974) cho rằng sự phân bố địa lý của RNM trên thế giới chia thành hai khu vực chính là khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương bao gồm Nam Nhật Bản, Philippin, Đông Nam Á, Ấn Độ, bờ biển Hồng Hải, Đông Phi, Úc, NewZealand, các đảo phía Nam Thái Bình Dương kéo dài tới quần đảo Xamoa và khu vực Tây Phi – Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu Phi ở Đại Tây Dương, quần đảo Galapagos và Châu Mỹ, khu vực Ấn Độ - Malaysia được xem là trung tâm phân bố các loài ngập mặn Các vùng RNM phồn thịnh nhất ở Đông Nam Á bao gồm: Malaysia, Indonesia, Việt Nam

1.1.4.2 Phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam

Trang 13

Theo Phan Nguyên Hồng, hệ sinh thái rừng ngập mặn nước ta gồm có 77 loài cây ngập mặn thuộc 2 nhóm được phân chia theo các điều kiện môi trường và dạng sống khác nhau.

Nhóm 1 có 35 loài cây ngập mặn thuộc 20 chi của 16 họ, nhóm này thường được gọi

là cây ngập mặn “thực thụ”

Nhóm 2 có 42 loài thuộc 36 chi của 28 họ, nhóm này bao gồm các loài cây “gia nhập” Sự phân bố địa lí rừng ngập mặn khác nhau giữ miền Bắc với miền Nam Ở miền Nam có 69 loài trong khi ở miền Bắc chỉ có 34 loài Sự phân bố, độ nhiều của các loài thực vật ngập mặn ven biển Việt Nam cho thấy phần lớn đều nằm ở ven biển Nam Bộ, rồi đến Bắc Bộ và miền Trung

Theo Phan Nguyên Hồng thì RNM Việt Nam được chia thành 4 khu vực bao gồm: Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ mũi Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường

Khu vực III: Ven biển miền Trung từ cửa Lạch Trường đến mũi Vùng Tàu

Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến Hà Tiên

1.1.5 Tình hình RNM trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.5.1 Tình hình RNM trên thế giới

Trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới

và một vài loài ở vùng á nhiệt đới Theo đánh giá của Hutchings và Seaneg (1987) thì diện tích RNM trên thế giới là 15.429.000 ha, trong đó 6.246.000 ha nằm ở vùng Châu Á nhiệt đới và Châu Đại Dương, 5.781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới

và 3.402.000 ha thuộc châu Phi Tuy nhiên, tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu

và thời gian công bố của từng nước mà diện tích rừng ngập mặn có nhiều sai khác.RNM đang đối mặt với với nhiều thách thức như diện tích rừng ngập mặn trên thế giới liên tục suy giảm do các yếu tố của thiên nhiên và con người

Theo một báo cáo mới của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP)

và Hội bảo tồn thiên nhiên, trên toàn thế giới, các cánh rừng ngập mặn đang biến mất với tốc độ nhanh chóng: kể từ năm 1980, 1/5 rừng ngập mặn trên thế giới bị chặt phá Rừng ngập mặn được trồng ở các vùng biển nước mặn đang mất đi với tốc độ nhanh gấp 4 lần so với các loại rừng khác Chúng đang bị phá hủy chủ yếu cho mục đích nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và phát triển bờ biển trên toàn thế giới Theo báo cáo, thậm chí các rừng ngập mặn còn sót lại cũng đang bị suy thoái [10]

1.1.5.2 Tình hình RNM ở Việt Nam

Trang 14

Rừng ngập mặn ( RNM) tại Việt Nam được nghiên cứu từ rất lâu Trước chiến tranh Việt Nam có khoảng 400.000 hecta, ngày nay còn khoảng 200.000 hecta do rừng mới được trồng [2].

Theo Phan Nguyên Hồng thì rừng ngập mặn ở Việt Nam suy giảm diện tích do những nguyên nhân sau: chiến tranh hóa học, khai thác quá mức, nuôi tôm quảng canh,…Diện tích RNM ở Nam Bộ bị rải chất diệt cỏ trong chiến tranh là 159.200 ha Sau 20 năm phần lớn diện tích đã phục hồi, nhưng ở nhiều nơi sau khi rừng tái sinh, nhân dân địa phương lại tiếp tục chặt phá để làm đầm nuôi tôm

Theo thống kê của công ty Seaprodex (1987) từ 1981-1987 diện tích làm đầm nuôi tôm nước lợ từ 50000 ha đã lên 120.000 ha Minh Hải tỉnh có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất cũng là nơi rừng ngập mặn bị phá hủy nhiều nhất Trong vòng 8 năm từ 1983-1995 Minh Hải đã mất đi 66.253 ha rừng do việc làm đầm nuôi tôm, bình quân mỗi năm mất 8280 ha

1.1.6 Nguyên nhân suy thoái rừng ngập mặn

RNM Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng Dưới đây là một số nguyên nhân chính

1.1.6.1 Chiến tranh hóa học

Ở Việt Nam, RNM là những căn cứ quan trọng của hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Chính vì thế, mà quân đội Mỹ đã dùng bom đạn và chất độc hóa học, chất diệt cỏ và chất làm rụng lá cây với liều lượng cao để hủy diệt rừng Theo kết quả điều tra của viện điều tra quy hoạch rừng, đối chiếu với kết quả điều tra của một số địa phương, bước đầu tính ra được diện tích RNM Nam Bộ bị rải chất diệt cỏ là 159.200 ha

1.1.6.2 Khai thác quá mức

Miền Nam sau chiến tranh nhân dân ven biển trở về quê cũ cùng với sự di dân

ồ ạt từ nhiều nơi khác đến vùng RNM cùng với nhu cầu về xây dựng, củi, than đun nấu tăng Mặt khác, việc khai thác của ngành lâm nghiệp tăng hàng năm Có một thời gian nhân dân đua nhau làm các lò than gia đình đem ra các tỉnh khác bán đã phá hủy các khu rừng quí giá kể cả rừng mới trồng sau chiến tranh

1.1.6.3 Phá RNM để làm đầm nuôi tôm quảng canh

Do nhu cầu về tôm xuất khẩu lớn vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập

kỷ 90, ở hầu hết vùng ven biển, cửa sông nước ta, nhân dân và các cơ quan đã phá những khu rừng ngập mặn xanh tốt để làm đầm nuôi tôm quảng canh thô sơ Ở nhiều địa phương RNM đã biến mất còn lại các đầm tôm và đất hoang hóa

1.1.6.4 Phá RNM lấy đất sản xuất nông nghiệp

Trang 15

Do tăng dân số quá nhanh, thiếu lương thực nên nhiều địa phương đã phá RNM để lấy đất sản xuất nông nghiệp hậu quả là thiếu nước ngọt, năng suất cây trồng thấp hoặc không thu hoạch được.

Ví dụ: Vào đầu những năm 1960, tỉnh Quảng Ninh có chủ trương phá hơn 2.000 ha RNM tự nhiên ( ở xã Hải Lạng – Tiên Yên) đắp đê sản xuất nông nghiệp nhưng không có nước tưới buộc phải bỏ hoang sau chuyển sang nuôi thủy sản cũng không thành công

1.1.6.5 Phá rừng ngập mặn làm đồng muối

Do dân số tăng nhanh, thiếu việc làm nhân dân một số nơi đã phá RNM để làm ruộng muối, kể cả rừng phòng hộ như Thụy Nguyên, Kiến Thụy( Hải Phòng), Vĩnh Châu ( Sóc Trăng) Ở Minh Hải có 9,067 ha ruộng muối trải dài trên 59 km bờ biển, phần lớn là do phá rừng mắm phòng hộ ven biển để làm muối

Tuy nhiên, đất ngập mặn là đất rất mịn, các hạt sét cỡ 0,062 mm chiếm 50 – 70% do

đó mà khả năng thẩm thấu, bốc hơi nước kém Mặt khác, trầm tích có lượng sulphua cao, lớp mặt thường là 1,5 -2 %, lớp xám xanh ở dưới 2,5 -3,5% Đây là nguyên nhân cản trở quá trình hình thành muối Do nước triều ở các vùng RNM chứa nhiều phù sa,

độ đục lớn nên chất lượng muối kém Hậu quả là một số cơ sở sản xuất muối đã thất bại

1.1.6.6 Khai thác khoáng sản

Khi khai thác khoáng sản các xí nghiệp đổ phế thải xuống sông, biển, lấp các bãi lầy có cây ngập mặn sinh sống Việc xây dựng các cảng than ở Quảng Ninh đã phá hủy nhiều đám RNM và phá hủy các thảm cỏ biển và rạn san hô rất giàu động vật và hải sản sinh sống ở vùng ven bờ và biển nông

1.1.6.7 Qúa trình đô thị hóa

Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hóa của nước ta rất nhanh kéo theo diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp Điển hình ở thị trấn Năm Căn – Cà Mau chỉ sau 10 năm khi thị trấn chuyển đến địa điểm mới, dân số đã tăng lên 10 lần Các khu dân cư, khu công nghiệp đã phá những khu rừng mắm, đước xanh tốt

Việc xây dựng nhà máy, cảng, khu đô thị còn gây nhiều tác động đến môi trường như chất thải trong quá trình sinh hoạt, sản xuất đều thải vào nước làm ô nhiễm môi trường, các sinh vật bị chết hoặc bỏ đi nơi khác Ngoài ra còn gây xói lỡ bờ sông do hoạt động của tàu thuyền có máy lớn Nhiều khu rừng bần, sú, ô rô khá tốt đã bị xói

lỡ và trôi mất

1.1.6.8 Đắp đê, đập, làm đường xá.

Trang 16

Việc phát triển kinh tế vùng ven biển nhiều địa phương đã đắp đập, đường bộ nối các đảo với nhau, tuy có thuận lợi về giao thông nhưng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và tài nguyên RNM.

Xây dựng đập chắn, hồ chứa nước trên các sông đã phá hủy các bãi đẻ tự nhiên và đường di cư của một số loài các nước ngọt, nước mặn qua các cửa sông Nguồn chất dinh dưỡng trước đây chuyển ra các cửa sông bị giảm sút, lượng nước ngọt chuyển vào các khu RNM giảm đã ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sinh lý của các loài động thực vật nhất là vào mùa sinh sản Sự thay đổi dòng chảy lưu lượng trong sông kết hợp với tác động của gió nùa đông bắc đã đưa nước mặn vào sâu trong đất liền gây ra nhiễm mặn, mặt khác làm thay đổi quá trình bồi lỡ

1.1.6.9 Ô nhiễm môi trường

Hệ sinh thái RNM ở vùng cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng nặng nề của việc thải bừa bãi các chất rắn, chất lỏng trong sinh hoạt và công nghiệp Đặc biệt là ô nhiễm dầu đã và đang làm cho một số cây ngập mặn và sinh vật đáy chết

1.1.7 Tình hình nghiên cứu cây Dừa nước

Dừa nước (DN) phân bố rộng rãi trong RNM các nước châu Á và bờ biển

Đông Châu Phi Lá của chúng dài từ 3 – 9 mét, phần thân ngầm bò, ngắn với hệ thống rể chùm Dừa nước thường phân bố dọc theo các bờ sông thành những dãy dài, chúng rất cần chế độ ngập nước theo thủy triều

Người dân Bangladesh trồng dừa nước thành ruộng để dùng cho nhu cầu làm nhà

DN phát triển ở các vùng nước ngọt và nước biển nơi có tác động của thuỷ triều Nhiều dân tộc biết khai thác đa dạng các sản phẩm từ DN như chế tạo đường từ dịch chiết của buồng DN Đây là công nghệ rất lý thú ở vùng quê của Dawei Township (Thái Lan) Trong tiến trình chế tạo đường từ DN, trước tiên là cuống buồng DN sẽ được cắt, sau đó dùng ống tre hứng phía dưới cuống buồng quả qua 1 đêm để lấy nước nhựa từ cuống chảy ra Sáng hôm sau ống tre sẽ đầy nước dừa và được thu hoạch Nước quả này sẽ được lọc rồi đun sôi trong chảo rộng Khi sôi sẽ được vớt bọt

để làm nước đường sạch hơn Sau khi đun sôi 3 giờ, nước quả này sẽ keo lại, để nguội và thu được đường từ DN Cuối cùng các ống tre sẽ được rửa sạch và được xông khói để dùng cho việc thu thập nước quả DN vào ngày mai, và cứ lặp lại như vậy [2]

Các nghiên cứu riêng về dừa nước ở Việt Nam hiện vẫn còn rất ít

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đại (Viện Hải dương học, 2006) đánh giá tài nguyên đất ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn và đề xuất giải pháp bảo vệ, phục hồi Tác giả đã nghiên cứu vùng đất ngập nước (RNM, thảm cỏ biển) tại Hội An và một số địa phương lân cận như Duy Xuyên, Điện Bàn Tại Hội An, đã xác định RNM ở Hội An

Trang 17

chủ yếu là cây DN, ngoài ra cũng đã phát hiện ở vùng Cửa Đại một số loài cây ngập

mặn khác như Đước đôi (Rhizhophora apiculata Bl.), Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza (L.) Lamk.) hay Ráng Đại (Acrostichum aureum L) Tác giả cũng đề xuất giải pháp

xây dựng khu bảo tồn rừng dừa nước Cẩm Thanh và gắn kết công tác quản lý vùng đất ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn với khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

1.1.7.1 Giới thiệu rừng dừa nước tại một số vùng ở Việt Nam

 Rừng dừa nước tại bến tre

Bến Tre có một hệ thống sông rạch chằng chịt mang nước ngọt từ trên thượng nguồn ra biển, đồng thời lại chịu ảnh hưởng của thủy triều, nên các quần thể thực vật ven sông rạch thể hiện rõ nét ba vùng sinh thái tiêu biểu: vùng mặn, vùng lợ và vùng ngọt

Các rừng Mắm, Đước, Vẹt có nhiệm vụ ổn định và bảo vệ bờ biển, ven sông rạch Dừa nước và Bần có nhiệm vụ bảo vệ vùng cửa sông và hai bên bờ sông Dừa nước phát triển sau tập đoàn Đước - Vẹt trên vùng đất đã được ổn định, phát triển mạnh nhất ở vùng nước lợ, là cây chỉ thị của vùng này Dừa nước có lá dài 7 - 8m, mọc dày đặc hai bên bờ sông ở Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri, Mỏ Cày, Giồng Trôm Năm

2007, Bến Tre có khoảng 1.500ha Dừa nước, góp phần hạn chế sạt lở bờ sông và cố định các thành tạo trầm tích đang được hình thành Ngoài ra dừa nước cũng làm tăng thêm vẻ đẹp nổi trội trong du lịch ”sinh thái miệt vườn”

 Rừng dừa nước tại Kiên Giang

Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Kiên Lương nằm trong vùng đồng Hà Tiên ở tỉnh Kiên Giang là một vùng sinh cảnh hỗn hợp gồm các trảng cỏ, các vùng tràm gió

tái sinh và đầm dừa nước Nypa fruticans.

Vùng tràm gió tái sinh gồm các cây bụi có chiều cao từ 2 - 6 m Hệ thực vật

đầm lầy ưu thế bởi dừa Nước Nypa fruticans phân bố ở những vùng nước lợ.

 Rừng dừa nước tại Quảng Ngãi

Bao gồm 4 xã: Bình Phước, Bình Thạnh, Bình Chánh và Bình Dương thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Tại đây, dừa nước phân bố dọc theo sông Trà Bồng, cách cửa sông khoảng từ 2 - 7 km

1.2 Diễn thế sinh thái

Trang 18

Diễn thế sinh thái (tiếng Anh là Ecological Succession) là quá trình biến đổi

tuần tự của quần xã sinh vật qua các giai đoạn khác nhau, từ dạng (trạng thái) khởi đầu (hay tiên phong), được thay thế lần lượt qua các giai đoạn chuyển tiếp bởi các dạng quần xã tiếp theo và cuối cùng thường dẫn tới một quần xã tương đối ổn định hay trạng thái ổn định, tồn tại lâu dài theo thời gian Đó là trạng thái đỉnh cực

 Nguyên nhân

Nguyên nhân dẫn đến diễn thế sinh thái là sự tác động mạnh mẽ của ngoại cảnh lên quần xã, tác động của quần xã lên ngoại cảnh làm biến đổi mạnh mẽ ngoại cảnh đến mức gây ra diễn thế và cuối cùng là tác động của con người

 Các kiểu diễn thế:

Diễn thế nguyên sinh: Là diễn thế khởi đầu từ môi trường trống trơn hay xảy

ra trên một nền (giá thể) mà trước đó chưa hề tồn tại một quần xã sinh vật nào hoặc là chưa có bất kỳ một “mầm móng” của sinh vật xuất hiện trước đây

Nhóm sinh vật đầu tiên được phát tán đến đó hình thành nên quần xã tiên phong Tiếp đó là một dãy quần xã tuần tự thay thế nhau Khi có cân bằng sinh thái giữa quần xã và ngoại cảnh thì quần xã ổn định trong một thời gian tương đối dài Diễn thế nguyên sinh có thể xảy ra trên cạn hoặc dưới nước

Diễn thế thứ sinh (thứ cấp) xảy ra trên một nền (giá thể) mà trước đó từng tồn

tại một quần xã nhưng đã bị tiêu diệt

Diễn thế phân hủy: Đây cũng là kiểu diễn thế xảy ra trên một giá thể mà giá

thể đó dần dần biến đổi theo hướng bị phân huỷ qua mỗi quần xã trong quá trình diễn thế Diễn thế này không dẫn đến quần xã đỉnh cực

Nội diễn thế: Nội diễn thế là loại diễn thế được gây ra bởi động lực bên trong

của hệ sinh thái Trong quá trình diễn thế này, loài ưu thế của quần xã đóng vai trò chìa khóa và thường làm cho điều kiện môi trường vật lý biến đổi đến mức bất lợi cho mình, nhưng lại thuận lợi cho sự phát triển của một loài ưu thế khác, có sức cạnh tranh cao hơn thay thế

Ngoại diễn thế: Ngoại diễn thế là diễn thế xảy ra do tác động hay sự kiểm soát

của lực hay yếu tố bên ngoài

1.2.2 Diễn thế sinh thái rừng ngập mặn

Theo Nguyễn Hoàng Trí thì diễn thế sinh thái rừng ngập mặn là sự thay đổi nhanh chóng các nhân tố môi trường ở vùng cửa sông, ven biển do hoạt động của thủy triều và lưu lượng sông khiến cho đất bồi hoặc bị xói lỡ nhanh chóng đến sự phân bố của các loài và có sự thay thế loài này bằng loài khác Đối với các quần xã

Trang 19

rừng ngập mặn thì diễn thế xảy ra theo hai hướng tiến hóa và thoái hóa là hai quá trình nối tiếp xảy ra trên cùng một nơi.

Thông thường một bãi triều hình thành sẽ có các cây tiên phong cố định đất, giữ phù

sa và trầm tích lại, đất bùn ngày càng chặt hơn, độ ngập triều dài, lượng nước ngọt được tăng cường tạo điều kiện thuận lợi cho các loài đến sau sinh trưởng thuận lợi hơn, số loài phong phú dần lên Nhưng đến một mức phát triển nhất định lại nảy sinh

sự cạnh tranh về thức ăn, ánh sáng Những loài đến trước yếu hơn sẽ bị tiêu diệt dần

để cho các loài đến sau ưu thế phát triển Do đó mà ở các giai đoạn ổn định về sau các quần xã sẽ đơn giản hơn về thành phần loài và cấu trúc quần xã Trong giai đoạn cuối khi đất không còn ngập triều, bùn khô, pyrit ( Fe2S) bị oxy hóa thành axit sunphat thì diễn thế chuyển sang dạng thoái hóa do môi trường bị thay đổi không phù hợp với cây ngập mặn nữa

Giai đoạn sau đó diễn ra hết sức phức tạp tùy thuộc vào mức độ can thiệp của con người và thiên nhiên Ở các vùng đất thấp trũng về mùa mưa ngập nước ngọt, mùa khô thiếu nước thì quần xã tràm hình thành và phát triển Ở các khu đất trũng thấp bị ngập nước mặn thì xuất hiện thảm cỏ chịu mặn hoặc có nơi quần xã họ Dầu hình thành và phát triển RNM chuyển sang một thảm thực vật khác không giống tính chất của rừng ngập mặn

1.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Cẩm Thanh.

1.3.1.Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Xã Cẩm Thanh nằm về phía Đông Nam thành phố Hội An, cách trung tâm thành phố 3 km, có tổng diện tích tự nhiên 895,43ha, được chia thành 8 thôn Ranh giới xác định:

Phía Đông : giáp phường Cửa Đại

Phía Tây : giáp phường Cẩm Châu và phường Cẩm Nam

Phía Nam : giáp huyện Duy Xuyên

Phía Bắc : giáp phường Cẩm An

Địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng

Cẩm Thanh có địa hình khá phức tạp, thuộc dạng địa hình ven biển bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông, rạch chằng chịt Phần lớn diện tích đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn và loang lỗ

Khí hậu và thời tiết

Trang 20

Xã Cẩm Thanh mang tính đặc trưng của khí hậu ven biển

Nhiệt độ không khí trung bình: 25.60C

Nhiệt độ không khí thấp nhất : 10.50C

Nhiệt độ không khí cao nhất : 40.3 0C

Biên độ nhiệt ngày đêm: 9,30C

Tổng số giờ nắng trung bình trong năm: 2158 giờ

Lượng mưa trung bình / năm : 2069 mm

Lượng mưa trung bình lớn nhất trong năm: 3315 mm

Lượng mưa trung bình nhỏ nhất trong năm: 2212 mm

Tổng số ngày mưa trung bình trong năm: 120 ngày

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 Tổng lượng mưa trong khoảng thời gian này chiếm từ 70-75% tổng lượng mưa bình quân năm Tháng có lượng mưa lớn nhất

là tháng 10 và tháng 11, những tháng còn lại mưa ít và khô cạn

Gió Tây Nam: Thường xuất hiện từ cuối tháng 3 đến trung tuần tháng 9 thường mang lại thời tiết khô nóng, thịnh hành mạnh nhất của gió này vào các tháng 6,7,8

Gió Đông Nam: Vào các tháng 4,5,6

Mạng lưới thủy văn của xã Cẩm Thanh thuộc hệ thống Thu Bồn Với diện tích sông rạch chiếm 38,94 % diện tích tự nhiên của xã Ngoài ra còn hàng trăm ao, hồ lớn, nhỏ

Dân số

Trang 21

Bảng 1.1 Phân bố dân cư theo đơn vị thôn

( Nguồn UBND xã Cẩm Thanh, 2010)

1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

o Kinh tế

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước, nền kinh tế của xã Cẩm Thanh đã từng bước phát triển và hòa nhập vào nền kinh tế thị trường Một số ngành nghiệp chính như:

- Nuôi trồng và khai thác thủy hải sản: năm 2010 có 105 ha được đưa vào thả nuôi thủy sản với tổng giá trị nuôi trồng thủy sản đạt 8,774 tỷ đồng

- Trồng trọt và chăn nuôi: toàn xã có 113 ha sản xuất lúa và 15 ha sản xuất hoa màu

- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: ngành tranh tre dừa nước tiếp tục có bước phát triển, thị trường tiêu thụ ổn định, mang lại thu nhập khá cho một số hộ sản xuất và tạo việc làm cho một bộ phận lao động

- Dịch vụ - du lịch : là địa phương giàu tiềm năng về du lịch sinh thái, tuy nhiên cho đến nay việc khai thác và phát huy lợi thế này vẫn còn gặp nhiều khó khăn

Cơ cấu kinh tế của xã phát triển theo hướng nông – ngư nghiệp, dịch vụ - du lịch - thương mại, tiểu thủ công nghiệp trong đó lấy nuôi trồng thủy sản làm ngành kinh tế mũi nhọn

o Xã hội

Ngày đăng: 28/04/2013, 12:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Đại ( 2007), Đánh giá hiện trạng tài nguên đất ngập nước ( chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn ( Quảng Nam) và các giải pháp quản lý, bảo vệ, phục hồi, báo cáo đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng tài nguên đất ngập nước ( chủ yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn ( Quảng Nam) và các giải pháp quản lý, bảo vệ, phục hồi
2. Phan Nguyên Hồng(1999), Rừng ngập mặn Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
4. Hội Nông Dân xã Cẩm Thanh, Dự án phục hồi và bảo tồn rừng dừa nước Cẩm Thanh phục vụ du lịch sinh thái và phát triển bền vững, quỹ môi trường toàn cầu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phục hồi và bảo tồn rừng dừa nước Cẩm Thanh phục vụ du lịch sinh thái và phát triển bền vững
Tác giả: Hội Nông Dân xã Cẩm Thanh
Nhà XB: quỹ môi trường toàn cầu
5. Đoàn Thị Tâm(2010), Điều ta hiện trạng sử dụng tài nguyên sinh học trong rừng dừa nước và đề xuất một số phương pháp bảo tồn tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều ta hiện trạng sử dụng tài nguyên sinh học trong rừng dừa nước và đề xuất một số phương pháp bảo tồn tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An
Tác giả: Đoàn Thị Tâm
Năm: 2010
6. Võ Sĩ Tuấn(2003), Các hệ sinh thái biển chức năng hiện trạng sử dụng và những tác động, dự án khu bảo tồn biển Hòn Mun- khóa tập huấn quốc gia về quản lý khu bảo tồn biển, viện hải dương học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hệ sinh thái biển chức năng hiện trạng sử dụng và những tác động
Tác giả: Võ Sĩ Tuấn
Năm: 2003
7. Nguyễn Hoàng Trí( ), Sinh thái học rừng ngập mặn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học rừng ngập mặn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. Trần Thị Sinh, Nghiên cứu hiện trạng phân bố và đặc điểm sinh thái học của loài cây Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.) tại khu vực Trung Trung bộ, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng phân bố và đặc điểm sinh thái học của loài cây Dừa nước (Nypa fruticans Wurmb.) tại khu vực Trung Trung bộ
10. Trung tâm bảo tồn và phát triển tài nguyên nước, VRN tham gia thảo luận và đánh giá môi trường(2009), số 04- tháng 8 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VRN tham gia thảo luận và đánh giá môi trường
Tác giả: Trung tâm bảo tồn và phát triển tài nguyên nước, VRN tham gia thảo luận và đánh giá môi trường
Năm: 2009
11. Bộ nông nghiệp và phát triển Nông Thôn – chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác (2006), Chương: Hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam, Cẩm nang ngành lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương: Hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển Nông Thôn – chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác
Năm: 2006
13. “Rừng ngập mặn, vườn ương cá trong rạn san hô ”, http://vst.vista.gov.vn 14. Trần Hoài, “ Quảng Nam giữ lấy hệ sinh thái biển”,http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&cateID=53&id=63643&code=WF3AT63643 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam giữ lấy hệ sinh thái biển
Tác giả: Trần Hoài
15. PGS-TS Đinh Văn Ưu, “Rừng ngập mặn làm giảm thiểu tác hại của sóng thần”, Nguồn: nhandan.com.vn 11/8/200,http://www.huaf.edu.vn/diendan/viewtopic.php?f=115&t=9020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn làm giảm thiểu tác hại của sóng thần
16. “Một phần năm rừng ngập mặn trên thế giới đã mất trong vòng 30 năm qua”, http://giaiphapmoitruong.com/ban-tin/moi-truong-ban-tin/moi-truong-the-gioi/mot-phan-nam-rung-ngap-man-tren-the-gioi-da-mat-trong-vong-30-nam-qua Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một phần năm rừng ngập mặn trên thế giới đã mất trong vòng 30 năm qua
3. Lê Xuân Tuấn , Phan Nguyên Hồng, Trương Quang Học, Những vấn đề môi trường ven biển và phục hồi rừng ngập mặn ở Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Phân bố dân cư theo đơn vị thôn - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Bảng 1.1. Phân bố dân cư theo đơn vị thôn (Trang 21)
Bảng 3.1. Biến động diện tích rừng Dừa nước ở xã Cẩm Thanh theo thời gian - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Bảng 3.1. Biến động diện tích rừng Dừa nước ở xã Cẩm Thanh theo thời gian (Trang 26)
Hình 3.2 . Ranh giới hành chính xã Cẩm Thanh ở hạ lưu sông Thu Bồn và vị trí phân bố của - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Hình 3.2 Ranh giới hành chính xã Cẩm Thanh ở hạ lưu sông Thu Bồn và vị trí phân bố của (Trang 27)
Hình 3.3. hoa và quả Dừa nước - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Hình 3.3. hoa và quả Dừa nước (Trang 28)
Hình 3.7. Nhà du lịch được làm từ Dừa nước - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Hình 3.7. Nhà du lịch được làm từ Dừa nước (Trang 32)
Hình 3.6 . Vật liệu xây dựng làm từ lá dừa nước - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Hình 3.6 Vật liệu xây dựng làm từ lá dừa nước (Trang 32)
Hình 3.9. Vai trò môi trường của rừng Dừa nước đối với các rạn san hô ở - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Hình 3.9. Vai trò môi trường của rừng Dừa nước đối với các rạn san hô ở (Trang 33)
BẢNG CÂU HỎI ĐIỀU TRA KHẢO SÁT HỆ SINH THÁI  DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN - NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
BẢNG CÂU HỎI ĐIỀU TRA KHẢO SÁT HỆ SINH THÁI DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w