CƠ SỞ THỰC TIỄN: Việc áp dụng phương pháp trò chơi để gây hứng thú vào giờdạy LTVC chính là việc giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mêhọc tập tạo không khí sôi nổi cho một giờ học.. t
Trang 1Mỗi mụn học cú một sắc thỏi riờng Phõn mụn luyện từ và cõutuy bản chất là cung cấp vốn từ (từ ngữ) và học về cõu (ngữ phỏp)song trong sỏch giỏo khoa khụng đưa ra “những kiến thức đúngkhung cú sẵn” mà là “hệ thống cỏc bài tập” Học sinh (h/s) muốnlĩnh hội tri thức khụng thể khỏc là thực hành giải tất cả cỏc bài tậptrong sỏch giỏo khoa Vậy một giờ Luyện từ và cõu ( LTVC ) ở lớp
2 được tiến hành ra sao ?
Thực tế cho thấy mỗi giỏo viờn đều tớch cực đổi mới phươngphỏp dạy học, song giờ LTVC ở lớp 2 diễn ra vẫn cũn trầm lắng.Tục ngữ cú cõu “Phong ba bóo tỏp khụng bằng ngữ phỏp Việt Nam”thực chẳng ngoa Tuy chưa phải học những kiến thức sõu rộng nhưngvới hệ thống bài tập cũng dễ làm h/s mệt mỏi nếu giỏo viờn khụng cú
sự thay đổi linh hoạt cỏc hỡnh thức tổ chức dạy học
Đối với h/s lớp 2, ở lứa tuổi này, cỏc em cũn mang đậm bảnsắc hồn nhiờn, sự chỳ ý chưa cao Bờn cạnh học là hoạt động chủđạo thỡ nhu cầu chơi, nhu cầu được giao tiếp với bạn bố … vẫn tồntại và cần thoả món Nếu người giỏo viờn biết phối hợp nhịp nhànggiữa học mà chơi, chơi mà học thỡ h/s sẽ hăng hỏi, say mờ học tập
và tất yếu kết quả của quỏ trỡnh dạy học cũng đạt tới đỉnh điểm Dạyhọc bằng phương phỏp trũ chơi là đưa học sinh đến với cỏc hoạtđộng vui chơi giải trớ cú nội dung gắn liền với bài học Trũ chơitrong học tập cú tỏc dụng giỳp h/s thay đổi hoạt động, chống mệtmỏi, tăng cường khả năng thực hành kiến thức của bài học, phỏt huyhứng thỳ tạo thúi quen độc lập, chủ động và sự sỏng tạo của h/s…
Trũ chơi học tập là hỡnh thức học tập thụng qua trũ chơi Trũchơi học tập khụng chỉ nhằm chơi vui giải trớ mà cũn nhằm gúpphần củng cố tri thức, kỹ năng học tập của cỏc em Với cỏc đặc
Trang 2điểm riêng, trò chơi mở ra cho h/s tiểu học một khả năng phát triểnlớn Các em được tiếp cận hoàn cảnh chơi, nhiệm vụ chơi, hoạtđộng chơi … Từ đó các em lĩnh hội các tri thức sống động về thực
tế cuộc sống xung quanh và tri thức khoa học Bởi “chơi” là đượcsống hết mình và khác với hoạt động học Các thành tích học tập cơbản phụ thuộc vào bản thân các em còn sự thắng thua trong trò chơimang tính ngẫu nhiên Các em tham gia chơi với hy vọng chiếnthắng và để khẳng định chính mình Bên cạnh đó trò chơi tạo chobản thân các em sự thư giãn thoải mái, vui vẻ
Áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy phân môn LTVC làđưa học sinh vào hoạt động vận dụng Học sinh phải thể hiện chủđộng, sáng tạo để phát hiện điều cần học Nó làm bớt đi sự căngthẳng khô khan không còn sự tẻ nhạt; đem đến sự sôi nổi, ham mê,hấp dẫn, say sưa tìm hiểu khám phá và lĩnh hội tri thức trong mỗigiờ học Thành công của việc sử dụng trò chơi trong học tập là gópphần đạt được mục tiêu giờ học Bởi vậy để đảm bảo cho sự thànhcông việc sử dụng trò chơi thì nội dung trò chơi phải gắn với mụctiêu bài học, luật chơi rõ ràng đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, điềukiện - phương tiện tổ chức trò chơi phong phú, chơi đúng lúc, đúngchỗ, đồng thời phải kích thích sự thi đua giành phần thắng giữa cácđội tham gia
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Việc áp dụng phương pháp trò chơi để gây hứng thú vào giờdạy LTVC chính là việc giáo viên khơi dậy hứng thú, niềm say mêhọc tập tạo không khí sôi nổi cho một giờ học Điều đó đòi hỏi giáoviên phải xác định rõ yêu cầu đạt Trên cơ sở đó xác định cần đưatrò chơi vào lúc nào, bài tập nào ? Nếu giáo viên không tổ chức tốtthì trò chơi không gặt hái được kết quả như mong muốn mà còn bịphản tác dụng gây sự mất trật tự trong giờ học
Thực tế ở trường tiểu học nơi tôi đang công tác có 4 lớp 2,trong quá trình dạy học mỗi giáo viên đều tích cực đổi mới phươngpháp để đạt hiệu quả giờ dạy cao nhất Song qua dự giờ, thăm lớp,tôi nhận thấy có giờ dạy đã tổ chức đến 3 hoạt động khác nhau màkhông khí giờ học vẫn trầm lắng H/s ít tích cực, không sôi nổi chủđộng tìm tòi phát hiện kiến thức Bên cạnh đó, có giờ dạy giáo viênlạm dụng ba trò chơi học tập vào giảng dạy Kết quả là cả một giờhọc không khí lúc nào cũng tràn ngập tiếng reo hò, tiếng cười, song
vì chính trạng thái tâm lý bị kích thích quá ngưỡng làm cho sự nhận
Trang 3thức của h/s khụng đạt hiệu quả như mong muốn Học sinh khụngnắm được kiến thức trọng tõm của bài Chớnh vỡ vậy việc giảng dạycỏc bài tập trong tiết LTVC ở lớp 2 được tiến hành ra sao để h/s chủ
động, hào hứng lĩnh hội tri thức Xuất phỏt từ lý do trờn, tụi đó đi
sâu tìm hiểu, học hỏi và nghiên cứu ra " Kinh nghiêm dạy LTVC bằng phương phỏp trũ chơi ”.
II Mục đích nghiên cứu:
Qua đề tài này, tôi muốn góp phần vào việc nâng cao chất lợngdạy- học phân môn Luyện từ và câu lớp 2 Đồng thời cũng góp phầntạo cho học sinh tâm lí thoải mái, từ đó gây hứng thú học tập chocác em
III Đối tợng nghiên cứu:
Học sinh lớp 2C
IV Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt đợc mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ là:
- Điều tra thực trạng việc dạy và học phân môn Luyện từ vàcâu lớp 2
1 Đặc điểm nội dung sỏch giỏo khoa phõn mụn LTVC ở lớp 2:
Luyện từ và cõu là tờn mới của phõn mụn Từ ngữ ngữ phỏp.Cỏch gọi này cũng phản ỏnh một sự chuyển đổi khỏ căn bản củasỏch giỏo khoa Tiếng việt Đú là sự chỳ trọng rốn kỹ năng, hơn làcung cấp cho học sinh những kiến thức, những khỏi niệm lý thuyết
Ở lớp 2, toàn bộ chương trỡnh sỏch giỏo khoa khụng cú một tiết lý
Trang 4thuyết nào, h/s tiếp thu kiến thức và rèn kỹ năng hoàn toàn thôngqua hệ thống các bài tập.
Về mức độ yêu cầu của nội dung luyện từ trong sách; họckhoảng 300 đến 350 từ mới (kể cả thành ngữ và tục ngữ thuộc cácchủ điểm: học sinh, bạn bè, trường học, thầy cô ông bà, cha mẹ, anh
em, các con vật nuôi, các mùa trong năm, chim chóc, muông thú,sông biển, cây cối, Bác Hồ, nhân dân) Thực chất các từ này bổsung cho vốn từ về thế giới xung quanh gần với các em và vốn từ vềchính bản thân các em; H/s còn nhận biết được ý nghĩa chung củatừng lớp từ (từ chỉ người, vật, sự vật, từ chỉ hoạt động trạng thái, từchỉ đặc điểm, tuy nhiên chưa yêu cầu h/s hiểu các khái niệm danh
từ, động từ, tính từ) Ngoài ra h/s được nhật biết nghĩa một số thànhngữ tục ngữ, làm quen với cách giải nghĩa thông thường, nhận biếttên riêng và cách viết hoa tên riêng
Nội dung luyện câu chủ yếu yêu cầu h/s nói viết thành câu trên
cơ sở những hiểu biết sơ giản Thay vì học kiến thức lý thuyết cácthành phần chính của câu, các kiểu câu h/s lớp 2 được hướng dẫn
đặt câu theo kiểu Ai (con gì, cái gì) là gì ? Ai (con gì, cái gì) làm gì? Ai (con gì, cái gì) như thế nào ? Thay vì học các kiến thức lý
thuyết về trạng ngữ h/s lớp 2 được học cách đặt câu và trả lời câu
hỏi: Khi nào ? ở đâu ? Vì sao ? Nhận biết các dấu kết thúc câu kể,
câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than)
và dấu phẩy đặt ở trong câu để tách ý Ở đây, sách không yêu cầuh/s biết các khái niệm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, câu kể, câu hỏi,câu cầu khiến, câu cảm mà chỉ yêu cầu h/s hiểu đó là các bộ phận đểtạo câu; hiểu ý nghĩa của câu như thế nào thì thích hợp với một dấukết thúc câu ấy
Như vậy, kiến thức trong bài LTVC chủ yếu là rèn kỹ năngdùng từ, đặt câu Bên cạnh đó, sách gi¸o khoa có cung cấp một sốthuật ngữ như: từ trái nghĩa, cụm từ, câu … Nhưng không đòi hỏih/s phải nắm được định nghĩa, thông qua hàng loạt hình ảnh biểutượng ở các dạng bài tập khác nhau Xét theo mục đích của bài tập,sách có các loại bài tập LTVC như sau:
Bài tập nhận diện từ và câu
Bài tập tạo lập từ và câu
Bài tập sử dụng dấu câu
Trang 5Vậy hướng dẫn h/s giải các bài tập LTVC ra sao, giờ dạy họcnhư thế nào để có hiệu quả cao Tôi đã tiến hành nghiên cứu vàkhảo sát học sinh lớp 2C ( Lớp tôi chủ nhiệm )
2 Khảo sát:
Bµi: Từ chỉ sự vật Câu kiểu: Ai là gì ?
Đề bài (thời gian 6 phút):
Bài 1: (6 điểm): Viết 2 từ chỉ người, 2 từ chỉ con vật, 2 từ chỉ
đồ vật
Bài 2: (4 điểm): Xếp các từ sau thành câu hợp nghĩa:
Em, ngoan, là, học sinh
Kết quả thu được như sau:
đi Hiệu quả quá trình dạy học cha cao
3 Phân tích nguyên nhân :
1 Về phía giáo viên:
* Giáo viên chưa coi trọng phương pháp trò chơi trong việcdạy phân môn LTVC Bắt đầu vào giờ học, giáo viên thường yêucầu các em làm việc như một “cỗ máy” không có sự thư giãn
Ví dụ trong tiết tôi dự giờ ở trên:
Tiết 3: Từ chỉ sự vật Câu kiểu: Ai là gì?
Bài 1: Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối…) được
vẽ dưới đây:
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài
Trang 6- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát từng bức tranh (trongsách giáo khoa tr 26) -> trả lời miệng tên gọi chỉ người, vật… ứngvới mỗi bức tranh (thứ tự từng học sinh)
- Lớp nhận xét, chữa bài
- Giáo viên chốt kiến thức về từ chỉ sự vật có trong bài
Bài 2: Tìm các từ chỉ sự vật có trong bảng sau:
Giáo viên treo bảng phụ chép bài 2
- Yêu cầu cả lớp tìm từ - ghi vở Một học sinh lên bảng gạchchân các từ chỉ sự vật
- Một số học sinh đọc đáp án trong vở
- Lớp nhận xét bài trên bảng, bổ sung
- Giáo viên chữa bài trên bảng
- Học sinh chữa vở (nếu sai hoặc còn thiếu)
- Giáo viên chốt kiến thức
Bài 3: Đặt câu theo mẫu dưới đây:
Ai (hoặc cái gì, con gì) là gì ?
Bạn Vân Anh là học sinh lớp 2A
- Giáo viên ghi mẫu lên bảng phân tích mẫu
- Học sinh thảo luận nhóm
- Nhiều nhóm báo cáo trước lớp Giáo viên nhận xét, sửa ý,câu…
- Học sinh làm bài vào vở - giáo viên chấm, chữa bài
- Giáo viên chốt kiến thức
Như vậy ba hoạt động với các hình thức tổ chức khác nhaunhưng không khí giờ học vẫn diễn ra một cách nặng nề vì học sinhphải làm việc không chút thư giãn
* Cũng có trường hợp giáo viên quá làm dụng phương pháptrò chơi vào dạy học dẫn đến cả một giờ, học sinh luôn trong tâmtrạng phân kích thái quá Mặt khác do giáo viên tổ chức không
“khéo” làm cho sự cổ vũ mạnh mẽ quá mức cần thiết Tất cả nhữngđiều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mạch kiến thức trong bài vànhững lớp ở xung quanh Ví dụ: Khi dạy bài: Từ chỉ sự vật Câukiểu Ai là gì?:
Trang 7- Giáo viên đưa vào bài tới 3 trò chơi Riêng trò chơi ở bài tập
1 giáo viên chia lớp thành hai nhóm để thi đua, mỗi nhóm 8 họcsinh nối tiếp tham gia Các thành viên còn lại cổ vũ Do vậy tiếng
“Cố lên” ầm cả những lớp xung quanh
* Giáo viên chưa nắm bắt được biện pháp tổ chức trò chơi họctập trong giờ LTVC có hiệu quả Thông thường, giáo viên cho họcsinh chơi theo hình thức (4 - 5 h/s) mà các học sinh được tham dự làhọc sinh khá giỏi Sau khi thu được kết quả của yêu cầu trò chơigiáo viên chốt lại kiến thức V× thÕ, bài thi có đến 1/3 số học sinhkhông nắm được kiến thức vì đó là những học sinh trung bình, h/syếu (đối tượng cổ vũ trong trò chơi)
2 Về phía học sinh:
Do đặc điểm tâm lý của lứa tuổi nên khả năng chú ý, tập trungcòn yếu, tính kỷ luật chưa cao dễ mệt mỏi Nếu phương pháp dạyhọc của giáo viên đơn điệu, bài giảng khô khan sẽ tạo sức ì, sự mệtmỏi cho học sinh
II BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1 Về nhận thức của giáo viên:
Giáo viên cần nhận thức rõ vai trò của việc tạo hứng thú hiệuquả trong giờ dạy bằng phương pháp trò chơi trong quá trình dạyhọc ở Tiểu học nói chung và dạy LTVC ở lớp 2 nói riêng Phải nắmbắt được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Hiểu rõ mục tiêu củatừng bài, từng đơn vị học và toàn bộ chương trình phân môn LTVC
ở lớp 2
2 Về nội dung:
Mỗi tiết LTVC có từ 3 đến 4 bài tập với các yêu cầu khácnhau Giáo viên cần xác định rõ mục đích yêu cầu cần đạt của mỗibài là gì ? Kiến thức trọng tâm của bài ? Từ đó giáo viên có thểchọn trò chơi thích hợp với nội dung bài và thiết kế các hình thứcdạy học hài hoà, sinh động
Sau đây là một số trò chơi có thể áp dụng để tổ chức cho h/sgiải các bài tập trong tiết LTVC một cách hào hứng, hiệu quả đồngthời gây hứng thú trong giờ học
a Nhóm 1: Các trò chơi được vận dụng vào giải các bài tập
trong giờ LTVC:
Trang 8(1) Trò chơi: Tìm nhanh các từ cùng chủ đề:
- Mục đích: Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh
và rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh
- Cách chơi:
+ Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm (A - B) (h/s bằng nhau).+ Sau khi giải thích nghĩa từ dùng để gọi tên chủ đề (giáo viênhoặc h/s giải thích), giáo viên nêu yêu cầu: Tìm nhanh các từ cùngchủ đề
+ Luật chơi: Giáo viên chỉ định một học sinh ở nhóm A nóiđược từ theo yêu cầu Rồi h/s A1 chỉ 1 bạn bất kỳ B1, h/s B1 nóinhanh từ tìm được rồi chỉ bất kỳ A2 nêu tiếp … Cứ như vậy cho tớihết lớp
Trường hợp bạn bị chỉ định không nêu được từ theo yêu cầuhoặc nói từ trùng lặp sẽ nói “chuyÓn” để bạn khác cùng nhóm (đứngcạnh) tiếp sức, mỗi lần như vậy nhóm nào có h/s nói “chuyển” thìnhóm đó bị (trừ) 1 điểm phạt, nhóm nào nhiều điểm phạt là nhóm bịthua
- Trò chơi được áp dụng ở các bài:
Bài 1: (Tuần 7 - 59/TV2 - I) Kể tên các môn học ở lớp 2
Bài 2 (Tuần 10 - trang 82) Kể thêm các từ chỉ người trong giađình họ hàng mà em biết
Bài 1 (Tuần 13 - trang 108) Kể tên những việc em đã làm ở nhàgiúp cha mẹ
Bài 2 (Tuần 15 - trang 122) Tìm những từ chỉ đặc điểm củangười và vật
Bài 2 (Tuần 26 - trang 74) Kể tên các con vật sống ở dướinước Mẫu: tôm, sứa, ba ba …
Bài 1 (Tuần 28 - trang 87) Kể tên các loài cây mà em biếttheo nhóm:
a Cây lương thực, thực phẩm Mẫu: lúa
b Cây ăn quả Mẫu: cam
c Cây lấy gỗ Mẫu: xoan
d Cây bóng mát Mẫu: bàng
Trang 9đ Cây hoa Mẫu: cúc
Bài 1 (Tuần 30 trang 104) Tìm những từ ngữ:
a Nói lên tình cảm của Bác Hồ với thiếu nhi
Mẫu: thương yêu.
b Nói lên tình cảm của thiếu nhi với Bác Hồ
Mẫu: biết ơn
Bài 2 (tuần 33 - trang 129) Tìm thêm những từ ngữ chỉ nghềnghiệp khác nhau mà em biết
Mẫu: thợ may.
(2) Trò chơi: Ghép nhanh tên cho sự vật
- Mục đích: + Ghép nhanh từ với đồ vật, hình vẽ tương ứng
+ Có biểu tượng về nghĩa của từ
- Chuẩn bị: + Tranh ảnh, đồ vật thật theo yêu cầu bài: 3 bộ
+ Thẻ ghi tên các tranh ảnh, đồ vật thật: 3 bộ + Nam châm hoặc băng dính
- Cách chơi:
+ 3 nhóm chơi/lần (mỗi nhóm 4 - 8 h/s tuỳ vào sốlượng tranh ảnh có trong bài)
+ Các tranh (ảnh, đồ vật) xếp thành 3 nhóm+ Luật chơi: Khi giáo viên nêu yêu cầu: Ghépnhanh tên cho các sự vật thì h/s cùng tiếp sức thi đua gắn thẻ vào đồvật (ảnh, tranh) tương ứng Nếu nhóm nào gắn đúng, nhanh nhất lànhóm thắng cuộc
- Trò chơi được vận dụng ở các bài:
Bài 1 (Tuần - trang 8) Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật,mỗi việc được vẽ dưới đây:
(học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo)
Mẫu 1: 1 trường học 5 hoa hồng
Bài 1 (Tuần 3 - trang 26) Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồvật, con vật, cây cối …) được vẽ dưới đây
Trang 10Bài 1 (Tuần 17 trang 142) Chọn cho mỗi con vật dưới đâymỗi từ chỉ đúng đặc điểm của nó: nhanh, chậm, khoẻ, trung thành.
Bài 1 (Tuần 22 - trang 35) Nói tên các loài chim trong nhữngtranh sau: (đại bàng, cú mèo, chim sẻ, sáo sậu, cò, chào mào, vẹt)
Bài 1 (Tuần 24 - trang 55) Chọn cho mỗi con vật trong tranh
vẽ bên một từ chỉ đúng đặc điểm của chúng: tò mò, nhút nhát, dữtợn, tinh ranh, hiền lành, nhanh nhẹn
(3) Trò chơi: Kẻ giấu mặt là ai ?
- Mục đích:
+ Mở rộng vốn từ, gọi tên được sự vật ẩn trong tranh
+ Luyện kỹ năng quan sát, óc tưởng tượng
- Chuẩn bị: + Tranh phóng to trong bài
+ 3 giấy tô ki khổ to, bút dạ, nam châm (băngdính)
- Cách chơi: chia lớp thành 3 nhóm
+ Nêu yêu cầu: Kẻ giấu mặt trong mỗi bức tranh là đồ vật ẩnchứa trong bức tranh đó Nhiệm vụ của các em là tìm ra những đồvật đó, số lượng là bao nhiêu ?
+ Luật chơi: Trong một khoảng thời gian nhất định, khi cóhiệu lệnh của giáo viên, h/s quan sát tranh và ghi ra giấy tên các đồvật đã quan sát được và số lượng mỗi loại Hết thời gian, các nhómđính kết quả lên bảng, một bạn đại diện nhóm đọc to kết quả Giáoviên là trọng tài phân xử nhóm thắng cuộc dựa vào kết quả đồ vật
mà các nhóm gọi tên được
- Trò chơi vận dụng được vào các bài tập:
Bài 3 (Tuần 6 - trang 52) Tìm các đồ dùng học tập ẩn trongcác tranh sau Cho biết mỗi đồ vật ấy được dùng để làm gì
Bài 1 (Tuần 11 - trang 90) Tìm các đồ vật được vẽ ẩn trongbức tranh sau và cho biết mỗi vật dùng để làm gì
(4): Trò chơi: Tìm nhanh từ có tiếng giống nhau
- Mục đích: + Mở rộng vốn từ bằng cách tạo “từ” từ một
“tiếng” cho trước
+ Rèn khả năng huy động nhanh vốn từ
- Chuẩn bị: Phấn, bảng con