“ Phòng bệnh hơn chữa bệnh ”, nhưng nếu không có biện pháp tốt nhất để phòng tránh các bệnh răng miệng cho trẻ thì khi có bệnh xảy ra sẽ làm ảnh hưởng toàn diện đến sức khoẻ của trẻ, đến
Trang 1I TÊN ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP LÀM TỐT CÔNG TÁC PHÒNG BỆNH RĂNG MIỆNG CHO HỌC SINH KHỐI LỚP MỘT
II ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu:
Cùng với quá trình phát triển và hoàn thiện các cơ quan chức năng khác của
cơ thể, tuổi học đường cũng là thời gian cho trẻ hoàn thiện hàm răng của mình Nhưng cũng chính trong thời gian này có rất nhiều nguy cơ làm phát sinh những bệnh răng miệng ở trẻ “ Phòng bệnh hơn chữa bệnh ”, nhưng nếu không có biện pháp tốt nhất để phòng tránh các bệnh răng miệng cho trẻ thì khi có bệnh xảy ra sẽ làm ảnh hưởng toàn diện đến sức khoẻ của trẻ, đến sự phát triển của cơ thể, thẩm
mỹ, học tập và vui chơi của trẻ
2 Thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu:
Theo thống kê của viện Răng Hàm Mặt Việt Nam,tính chung về tình trạng sâu răng của trẻ em trên cả nước, tỉ lệ bệnh răng miệng ở trẻ em Việt Nam được xếp vào loại cao nhất thế giới Ở lứa tuổi 6 -8 tuổi, tỉ lệ sâu răng là 85%, cứ 3 trẻ lứa tuổi 15 – 17 tuổi thì có 2 em bị sâu răng vĩnh cửu
Theo thống kê của cục Y Tế Dự Phòng cũng cho thấy trên 80% học sinh tiểu học Việt Nam mắc các bệnh về răng miệng như sâu răng, viêm quanh răng Ở lứa tuổi lớn hơn tỉ lệ này cũng lên đến 60 – 70% và đang có dấu hiệu tăng lên thời gian gần đây
Kết quả điều tra mới nhất về tình hình bệnh răng miệng tại Việt Nam cho thấy
có 83,9% trẻ từ 6 -8 tuổi trung bình là 6 răng sâu / trẻ Ở độ tuổi 12 tuổi, khi đã thay hết răng sữa, trung bình mỗi trẻ có 2 răng sâu Ở độ tuổi 45 tuổi trở lên có 90% người bị sâu răng, trung bình là 8,5 cái răng sâu / 1 người Kết quả điều tra cho thấy 80% trẻ em bị viêm lợi
Riêng đối với học sinh trường tiểu học Đoàn Quý Phi tôi phụ trách công tác nha học đường, trong những năm qua sau khi khám phát hiện ban đầu thì tỉ lệ bệnh răng miệng của học sinh toàn trường được thống kê như sau:
Năm học Số học sinh khám Tỉ lệ sâu răng Tỉ lệ viêm lợi Răng số 6 sâu
Qua đó cho thấy tỉ lệ học sinh mắc các bệnh về răng miệng rất cao Đáng chú ý hơn là tỉ lệ sâu răng số 6 chiếm đến trên 60% Nguyên nhân chủ yếu là do các
Trang 2em chưa có ý thức tự chăm sóc răng miệng cho mình và phần lớn phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến sức khoẻ răng miệng của con em mình Mặt khác, ở lứa tuổi này do đặc điểm của răng sữa là kết cấu không bền vững, mềm và dễ bị tác động của
vi khuẩn, nếu không có biện pháp tốt để tăng cường độ cứng chắc của men răng thì sâu răng rất dễ bị xảy ra
3 Lý do chọn đề tài:
Khi trẻ được 6 tuổi thì hàm răng sữa của trẻ bắt đầu mọc lên chiếc răng vĩnh cửu đầu tiên, gọi là răng số 6 vì nó mọc ở vị trí thứ 6 trên cung hàm và mọc lên lúc 6 tuổi Cũng trong thời gian này hệ răng vĩnh cửu bắt đầu thay thế dần cho hệ răng sữa Nếu không được chăm sóc tốt, không trang bị cho trẻ những kiến thức và phương pháp cơ bản để phòng bệnh thì bệnh sẽ xảy ra và làm ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ răng miệng của trẻ sau này.Muôn làm giảm tỉ lệ bệnh răng miệng cho học sinh toàn trường thì trước hết phải làm giảm tỉ lệ bệnh răng miệng của học sinh khi các em bước vào lớp một (6 tuổi) và ngăn ngừa sâu răng khi nó mới vừa mọc lên.Đó
cũng là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp làm tốt công tác phòng bệnh răng miệng cho học sinh khối lớp một”
4 Giới hạn nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu: Phòng bệnh răng miệng.
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp một ( 6 tuổi ).
III CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Bệnh răng miệng hay gặp nhất ở tuổi học đường là bệnh sâu răng sữa và viêm lợi Sâu răng sữa xuất hiện ở trẻ chưa hoặc bắt đầu thay sang răng vĩnh cửu, đây là lứa tuổi bắt đầu đến trường ( lớp 1 ) Tình trạng sâu răng sữa cũng có thể xuất hiện trước khi trẻ đến trường với biểu hiện nhiều răng “sún” Khi chưa thay răng, răng sữa của trẻ chỉ có 20 chiếc Đặc điểm của răng sữa là kết cấu không bền vững, mềm và dễ bị tác động của vi khuẩn trong miệng, do vậy răng sữa rất hay bị sâu Nếu không được phòng ngừa, không được điều trị tốt, răng sữa bị sâu sẽ lay lan nhanh sang các răng lành khác và là điều kiện thuận lợi làm cho răng vĩnh cửu mọc sau đó tiếp tục mắc phải căn bệnh này
Đi cùng với bệnh sâu răng sữa là tình trạng viêm lợi Đây là hai bệnh có quan hệ với nhau Khi lợi viêm sẽ đỏ và sưng tấy, dễ chảy máu, miệng có mùi hôi
Vì lợi bị đau nên nhiều trẻ không chịu đánh răng thường xuyên làm cho tình trạng viêm tiếp tục nặng hơn, nếu đã có sâu răng rồi thì càng nặng hơn Viêm lợi còn là giai đoạn đầu của quá phát viêm quanh răng Khi bệnh nặng thì lợi không còn bám chắc vô răng nữa mà hình thành túi lợi, các dây chằng của răng và xương bị vi khuẩn xâm nhập phá huỷ Trong túi lợi chứa đầy mảng bám cao răng và vi khuẩn, quá trình này diễn ra lâu và không được điều trị sẽ làm lung lay và rụng răng
Trang 3Răng số 6 là chiếc răng quan trọng nhất trong hàm răng vĩnh cửu vì nó mọc khi các răng sữa chưa rụng nên người ta dễ lầm tưởng là răng hàm sữa và thường trễ mãn trong việc chăm sóc răng này, vì vậy nó thường bị sâu và nhổ bỏ đi rất sớm
*Tầm quan trọng của răng số 6 đối với khớp cắn bình thường:
- Nó là chiếc răng vĩnh cửu đầu tiên được thành lập và mọc lên trước khi răng sữa mất đi và không được thay thế bất cứ răng sữa nào
- Nó là chiếc răng mà tất cả các răng vĩnh cửu khác mọc xung quanh Nó thuộc loại chiếc răng hướng dẫn cho các răng vĩnh cửu mọc thẳng hàng
- Đây là chiếc răng lớn nhất, khỏe nhất, giúp rất nhiều cho sự nhai và cắn khớp, Chiếc răng này là chìa khoá cho việc chẩn đoán khớp cắn vì nó là chiếc răng mọc chuẩn nhất so với tất cả các răng vĩnh cửu khác đối với nền sọ
- Trong suốt thời gian răng sữa rụng đi thì 4 chiếc răng số 6 sẽ giúp giữ vững vị trí và chiều cao của 2 hàm mỗi khi cắn khớp lại với nhau Nếu những răng
số 6 này bị mất quá sớm thì toàn thể hàm răng bị mất trung bình đưa đến khớp cắn sai
IV CƠ SỞ THỰC TIỄN:
- Phần lớn học sinh là con em của những gia đình làm nghề nông và buôn bán nhỏ, phụ huynh ít quan tâm đến vấn đề răng miệng của con em mình
- Trong quá trình ăn uống, các mảng bám thức ăn dính lại trên các kẽ răng nếu không được làm sạch sẽ bị lên men và tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong vòm miệng phát triển sẽ tấn công răng và lợi Các em học sinh là lứa tuổi rất hay ăn quà vặt, các loại bánh kẹo, đồ ăn sẵn chứa nhiều đường, tinh bột Hầu hết khi ăn các loại thức ăn này răng miệng các em đều không được làm sạch ngay, các mảng bám thức ăn còn sót lại trên răng lên men trở thành mảnh đất màu mỡ cho vi khuẩn răng miệng phát triển Hầu hết trẻ không có thói quen kiểm tra tình trạng răng của mình, chỉ đến khi đau, sưng, chảy máu mới báo cho cha mẹ biết, lúc đó thường là răng đã sâu nhiều, lợi đã viêm nặng
- Bên cạnh đó, tình trạng thay răng không được chăm sóc tốt, sâu răng, răng
bị “sún” làm cho nhiều trẻ có hàm răng vĩnh cửu mọc lệch lạc, ảnh hưởng đến thẩm
mỹ và còn là điều kiện cho mảng bám vi khuẩn phát triển ở những chỗ răng mọc chen chúc, răng mọc lệch khiến quá trình đánh răng không sạch được, sẽ gây ra các bệnh răng miệng sau này
- Ở lớp dưới của trường mầm non các em học chưa được phủ chương trình nha học đường, nên khi bước vào lớp một các em còn rất nhiều bỡ ngỡ với công tác này Mặc khác, các em cũng chưa được trang bị những kiến thức cũng như kỹ năng
về thực hành chăm sóc răng miệng cho mình, tỉ lệ bệnh răng miệng của học sinh qua khám và điều tra ban đầu rất cao, cụ thể như sau:
Trang 4Lớp
Số học
sinh
khám
Số học sinh răng
sâu
Số học sinh có răng số 6 sâu
Số học sinh viêm lợi
Răng
số 6 sâu/học sinhsâu răng
Số lượng Tỉ lệ
Số lượng Tỉ lệ
Số lượng Tỉ lệ
- Từ đó cho thấy tỉ lệ bệnh răng miệng của học sinh khối lớp một chiếm trên
80% Trong đó đáng chú ý hơn là tỉ lệ sâu răng số 6 và trung bình mỗi em có 0,8 cái răng vĩnh cửu bị sâu
- Cũng như với học sinh khối lớp 4, khối lớp 5; khi triển khai thực hiện nội dung giáo dục nha khoa tại lớp cho học sinh khối lớp 1 được thực hiện 4 lần / tháng
và gộp hai đề tài giáo dục như : Đề tài “Tại sao và khi nào chải răng” với đề tài
“Phương pháp chải răng”, đề tài “Thức ăn tốt cho răng và nướu” với đề tài “Lựa chọn và giữ gìn bàn chải”…vv…Vì ở độ tuổi này trẻ em tiếp thu chậm và mau quên nên việc gộp đề tài giáo dục làm cho hiệu quả của giáo dục chưa cao
- Mặc dù đã tổ chức khám răng miệng định kỳ cho học sinh và gởi phiếu hẹn bệnh về gia đình nhưng hầu hết phụ huynh đã không đưa con em mình đến phòng nha học đường theo đúng lịch hẹn mà chỉ phản hồi khi tình trạng răng miệng của các
em có biểu hiện nặng hơn Ví dụ như: Khi gởi phiếu hẹn thì răng của các em đang bị sâu ở giai đoạn 1 ( sâu men ) và giai đoạn 2 ( sâu ngà ) thì phụ huynh lại không đưa học sinh đến phòng nha để tư vấn điều trị, nhưng đến khi răng sâu đã tiến đến giai đoạn 3 (viêm tuỷ ) răng đau nhức dữ dội thì phụ huynh mới đưa học sinh đến phòng nha học đường và yêu cầu nhổ bỏ răng đó đi
- Muốn làm tốt công tác phòng bệnh cũng như điều trị răng miệng cho học sinh thì trước hết cần phải có sự hợp tác của phụ huynh học sinh Trách nhiệm lớn nhất là ở phụ huynh: Ở lứa tuổi cấp 1, học sinh chưa có ý thức tự chăm sóc răng miệng, gia đình là nơi trước hết cần phối hợp với nhà trường dạy học sinh giữ vệ sinh, nhắc nhở các em chăm sóc răng miệng tại nhà Nếu trang bị cho các em kiến thức chăm sóc răng miệng, nhưng không theo dõi nhắc nhở các em áp dụng kiến thức chăm sóc răng miệng tại nhà, tập cho các em thói quen đánh răng ngay sau khi
ăn xong và tối trước khi đi ngủ thì những kiến thức học sinh được cung cấp ở trường
sẽ bị mai một theo thời gian, tình trạng răng miệng của các em cũng không được cải thiện
Trang 5V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
- Bước đầu để khám và điều tra chỉ số, tình trạng răng miệng của học sinh cần phải phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp để lên kế hoạch khám và giáo dục nha khoa tại lớp
- Trước khi triển khai nội dung giáo dục nha khoa tại lớp, tôi cho học sinh làm Pre.test để tìm hiểu về kiến thức chăm sóc răng miệng của học sinh
* Các câu hỏi khảo sát kiến thức:
Câu 1: Ở nhà em có bàn chải đánh răng không?
( Có )
Câu 2: Bao lâu em chải răng một lần?
( Hàng ngày )
Câu 3: Em thường chải răng vào lúc nào?
( Sáng, tối, sau khi ăn xong )
Câu 4: Chải sạch răng để phòng ngừa bệnh gì?
( Sâu răng và viêm nướu )
Câu 5: Làm sao em biết răng mình bị sâu?
( Cố lỗ, ê buốt, dau)
Câu 6: Khi bị sâu răng em làm gì?
( Đến phòng nha )
* Thống kê học sinh trả lời đúng các câu hỏi kiểm tra kiến thức như sau: Khối lớp Tổng số học sinh Số lượng Học sinh trả lời đúng Tỉ lệ
- Để đánh giá được tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh cũng như hiệu quả khi thực hiện nội dung giáo dục nha khoa tại lớp, tôi khám và phân loại chỉ số
vệ sinh răng miệng của học sinh
Khối lớp Tổng số
học sinh khám
Chỉ số vệ sinh răng miệng
Trang 6- Sau khi khám và điều tra chỉ số, tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh, tôi triển khai kế hoạch giáo dục nha khoa tại lớp cho học sinh theo từng đề tài nhỏ
và cụ thể hơn để cho các em dễ tiếp thu kiến thức, làm thay đổi hành vi về chăm sóc răng miệng của các em qua các đề tài giáo dục nha khoa tại lớp
* Các đề tài giáo dục nha khoa:
- Tại sao chải răng?
- Khi nào chải răng?
- Phương pháp chải răng
- Thức ăn tốt cho răng và nướu
- Nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả và cách phòng ngừa bệnh sâu răng
- Nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả và cách phòng ngừa bệnh viêm nướu
- Lựa chọn và giữ gìn bàn chải
- Chải răng đúng lúc và đúng cách sẽ làm giảm được 30% tỉ lệ bệnh liên quan đến răng miệng Sau khi giáo dục bài “ Phương pháp chải răng ” tôi tiến hành cho học sinh thực hành kỹ năng chải răng đúng trên mô hình, giúp cho các em vận dụng kiến thức được cung cấp vào thực hành chải răng ở nhà Bước đầu làm thay đổi hành vi của các em qua phương pháp chải răng đúng
- Ai cũng biết ăn ngọt nhiều gây hư răng, nhưng răng hư không phụ thuộc vào lượng đường ăn vào nhiều hay ít mà là cách ăn.Nếu ăn đồ ngọt chung trong các bữa ăn chính sẽ ít hư răng, nhờ lúc này tuyến nước bọt tiết nhiều “ quét ” phần lớn lượng đường, vi khuẩn trong miệng tạo thành axit ăn mòn lớp men bảo vệ răng Ăn ngọt từ trước giờ đi ngủ mà không chải răng sẽ rút ngắn tuổi thọ của răng nhiều nhất, vì khi ngủ nước bọt tiết ít Vì ở lứa tuổi học đường các em khó “ đoạn tuyệt ” với thức ăn ngọt nên khi triển khai giáo dục bài “ Thức ăn tốt cho răng và nướu ” tôi
đi sâu và nhấn mạnh cho các em cần chú ý: nên ăn đồ ngọt chung trong các bữa ăn chính, không ăn ngọt giữa bữa, hoặc chọn thức ăn ít đường như: trái cây, sữa chua, nếu không thể đánh răng sau khi ăn xong hãy súc miệng bằng nước hoặc nhai kẹo gôm không đường
- Qua khám và điều tra ban đầu tôi sàng lọc và ghi chép vào sổ hẹn bệnh những học sinh có răng số 6 có rãnh sâu để hẹn trám bít hố rãnh bằng sealant, phòng ngừa sâu răng trên các răng vĩnh cửu này Sàng lọc những học sinh có răng sâu ở giai đoạn 1, giai đoạn 2 và gởi thông báo cụ thể về gia đình để phụ huynh kịp thời đưa con em mình đi chữa trị sớm
- Gia đình là nơi các em thực hiện kỹ năng chăm sóc răng miệng của mình
Sự quan tâm của cha mẹ đối với tình trạng răng miệng của các em là rất cần thiết Chính cha mẹ là những người luôn ở bên cạnh để quan sát nhắc nhở các em tự chăm sóc răng miệng ở nhà Vì vậy muốn làm thay đổi hành vi của các em phải làm thay đổi nhận thức của vấn đề này từ phía gia đình Tôi đã lên kế hoạch, phối kết hợp với
Trang 7giáo viên chủ nhiệm lớp gởi thông báo về tình trạng răng miệng của học sinh về gia đình và phòng nha học đường dành riêng hai buổi sáng thứ ba và chiều thứ năm hàng tuần để tư vấn sức khoẻ răng miệng cho phụ huynh học sinh
- Để tránh tình trạng học sinh bỏ quên không đưa thông báo cho phụ huynh thì những phiếu hẹn được ghi rõ ngày giờ hẹn vào sổ hẹn, nếu sau thời gian một tuần
kể từ ngày gởi thông báo mà không thấy phụ huynh đến phòng nha học đường thì kiểm tra lại ở các em và nhắc nhở thêm lần nữa
- Phối hợp với hoạt đọng ngoài giờ để làm tốt công tác phòng bệnh răng miệng cho học sinh Giao nhiệm vụ cho ban chỉ huy các lớp theo dõi, ghi tên những bạn học sinh ăn quà vặt trong trường Hàng tháng, qua giờ giáo dục dưới cờnêu gương những em học sinh lớp lớn biết tự chăm sóc răng miệng, tự đến phòng nha để kiểm tra răng và phê bình những em học sinh hay ăn quà vặt do ban chỉ huy các lớp báo lên Từ đó khuyến khích các em tự đến phòng nha để kiểm tra tình trạng răng miệng, không sợ hãi khi đi chữa răng
- Trong quá trình kiểm tra răng định kỳ, phát hiện và nhắc nhở các em có răng sữa lung lay đến tuổi thay phải đến phòng nha để được lấy răng ra Tránh tình trạng nhiễm trùng trong quá trình thay răng sữa do các em dùng tay bẩn để lung lay răng và tình trạng răng vĩnh cửu mọc lệch lạc do răng sữa đến tuổi thay mà không được nhổ bỏ kịp thời
- Sau thời gian hơn 3 tháng thực hiện các kế hoạch đề ra để phòng bệnh răng miệng cho học sinh trường tiểu học Đoàn Quý Phi, tôi cho học sinh làm lại Port.test
để kiểm tra lại kiến thức về phòng bệnh răng miệng cho các em bằng các câu hỏi đưa ra như khi làm Pre.test và khám lại chỉ số bựa bám để đánh giá lại tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh
VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
1 Kết quả sau khi thực hiện nội dung giáo dục nha khoa:
Sau khi cho học sinh làm lại Port.test các câu hỏi kiểm tra kiến thức về chăm sóc răng miệng Thống kê và so sánh học sinh trả lời đúng trước và sau khi triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục nha khoa như sau:
Khối lớp Tổng số học sinh Trước giáo dục Sau giáo dục
Trang 8- Như vậy đã có sự thay đổi rõ rệt về kiến thức nha khoa trong học sinh Khám lại chỉ số bựa bám để đánh giá tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh được thống kê như sau:
Khối
lớp TSHS
- Chỉ số vệ sinh răng miệng thay đổi rõ so với trước khi thực hiện kể hoạch giáo dục nha khoa Từ đó cho thấy hiệu quả của việc áp dụng phương pháp giáo dục nha khoa tại lớp, học sinh đã có sự thay đổi lớn về nhận thức và hành động trong việc chăm sóc răng miệng, điều này thể hiện rõ hơn khi khám chỉ số bựa bám, sau khi triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục nha khoa thì tỉ lệ chỉ số tốt, khá tăng lên đáng kể và tỉ lệ của chỉ số kém không còn nữa
2 Kết quả sau khi khám tình trạng răng miệng học sinh:
- Răng số 6 có rãnh sâu được trám sealant đã không có sâu răng tái phát
- Những học sinh có răng sâu ở giai đoạn 1, giai đoạn 2 được gởi thông báo
về gia đình đã được chữa trị kịp thời
- Nhận thức về vấn đề chăm sóc răng miệng ở phụ huynh cũng có sự thay đổi rõ, phụ huynh quan tâm hơn đến sức khoẻ răng miệng của con em mình, đưa các
em đến phòng nha học đường đúng lịch hẹn để được tư vấn và điều trị
- Tình trạng thay răng được chăm sóc tôt hơn, học sinh khối lớp 1, lớp 2 đã quen dần với công tác nha học đường, đã tự đến phòng nha để kiểm tra răng khi có răng sữa lung lay mà không cần phụ huynh nhắc nhở, đưa đến
VII KẾT LUẬN:
- Giáo dục nha khoa theo từng đề tài nhỏ và đi sâu vào phương pháp chải răng đúng trên mô hình đã làm thay đổi hành vi của học sinh về vấn đề chăm sóc răng miệng tại nhà
- Trám bít hố rãnh bước đầu đã ngăn ngừa được sâu răng vĩnh cửu trên các răng số 6 có hố rãnh sâu bằng sealant
- Dành thời gian tư vấn sức khoẻ răng miệng cho phụ huynh học sinh đã làm thay đổi nhận thức của phụ huynh về vấn đề răng miệng của con em mình
Trang 9* Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng đề tài vào thực tiễn:
+ Thuận lợi:
- Được sự phối hợp ban hoạt động ngoài giờ, giáo viên chủ nhiệm lớp trong khi triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục nha khoa tại lớp, giáo dục dưới cờ, khám
và điều tra chỉ số, tình trạng răng miệng của học sinh
+ Khó khăn:
- Học sinh còn nhỏ, tiếp thu chậm nên việc phân nhỏ các đề tài giáo dục làm mất nhiều thời gian dành cho nội dung này
VIII KIẾN NGHỊ:
- Cần sớm phủ rộng chương trình nha học đường ở các trường mẫu giáo,
triển khai thực hiện chăm sóc và điều trị các bệnh răng miệng cho trẻ khi trẻ được 3 tuổi, vì sâu răng sữa xuất hiện rất sớm, trước khi trẻ đến tuổi đi học
Người viết
Huỳnh Thị Liễu
Trang 10IX TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GS Airamo ( Phần Lan ) – Tài liệu dịch về nha chu năm 1987
2 Gustavo Kruge- Oralsungery năm 1964
3 Viện Răng Hàm Mặt – Tài liệu dịch về nha chu 1991
4 GS Võ Thế Quang – Phẫu thuật miệng hàm năm 1989