Những đóng góp của luận văn- Hệ thống hóa cơ sở lí luận của việc kiểm tra, đánh giá và xây dựng Website trựctuyến cùng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm kiểm tra, đánh giá HS trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
Đề tài:
XÂY DỰNG WEBSITE TRỰC TUYẾN NHẰM KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
HỌC SINH MÔN TIN HỌC 10 TRƯỜNG THPT
GV hướng dẫn: TS Trần Doãn Vinh Sinh viên thực hiện: Đoàn Thị Thu Huyền Lớp: K56A – CNTT – ĐHSP Hà Nội
Hà Nội – 2010
Trang 2Mặc dù đã cố gắng hoàn thành khoá luận trong phạm vi thời gian và khả năng cho phép, nhưng chắc chắn sẽ vẫn còn nhiều thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo tận tình và góp ý của quý thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2010
Sinh viên Đoàn Thị Thu Huyền
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4Phần I: MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Mục đích của đề tài 8
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Những đóng góp của luận văn 9
6 Cấu trúc luận văn 9
Phần II: NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC, KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN TIN HỌC 10 TRƯỜNG THPT 11
1 Nghiên cứu lý luận 11
1.1 Dạy học 11
1.2 Khái niệm kiểm tra, đánh giá 12
1.3 Vị trí, vai trò, chức năng và các hình thức kiểm tra, đánh giá 14
2 Thực tiễn quá trình kiểm tra, đánh giá môn Tin học 10 trường THPT 17
2.1 Một số hạn chế trong việc kiểm tra, đánh giá nói chung 17
2.2 Một số hạn chế có thể có của hình thức trắc nghiệm khách quan 18
3 Đề xuất giải pháp 18
3.2 Định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá 18
3.3 Quan điểm tiếp cận đánh giá theo kết quả đầu ra 25
3.4 Đánh giá theo quá trình 26
3.5 Kết hợp đánh giá với tự đánh giá 26
3.6 Các hình thức đánh giá, khung đánh giá 27
3.7 Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 29
3.8 Hình thức trắc nghiệm khách quan của quá trình kiểm tra, đánh giá 30
3.9 Điều kiện để thực hiện việc đổi mới 33
3.10 Ứng dụng những thành tựu của CNTT vào quá trình kiểm tra, đánh giá 34 3.11 Xây dựng Website nhằm kiểm tra, đánh giá việc học tập của HS môn Tin học 10 trong nhà trường THPT 34
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC 10 TRƯỜNG THPT 35
Trang 51 Nội dung chương trình Tin học 10 THPT 35
1.1 Mục tiêu, ý nghĩa của môn học 35
1.2 Nội dung chương trình Tin học 10 35
2 Nội dung kiểm tra, đánh giá Tin học 10 THPT 39
3 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 39
CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU VỀ ELEARNING 40
1 Khái niệm eLearning 40
2 Một số hình thức eLearning 41
3 Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning trên thế giới và ở Việt Nam 41
3.1 Trên thế giới và khu vực 41
3.2 Tại Việt Nam 42
4 Lợi ích mà eLearning mang lại 44
5 Triển vọng phát triển eLearning 45
CHƯƠNG 4: TÌM HIỂU VÀ XÂY DỰNG WEBSITE ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN NHẰM KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ VIỆC HỌC TẬP MÔN TIN HỌC 10 CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT VỚI MOODLE 47
1 Tìm hiểu về MOODLE 47
1.1 Moodle là gì? 47
1.2 Lợi ích mà Moodle đem lại 48
1.3 Các chức năng chính Moodle hỗ trợ 50
1.4 Cài đặt moodle 55
2 Xây dựng website http://10thinf.moodlehub.com 55
2.1 Đặc tả Website 55
2.2 Phân tích Website 57
2.3 Thiết kế Website 58
CHƯƠNG 5: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
1 Mục đích, nội dung và đối tượng thực nghiệm 66
1.1 Mục đích 66
1.2 Nội dung 66
1.3 Đối tượng thực nghiệm 66
2 Tiến hành thực nghiệm 66
Trang 63 Kết quả thực nghiệm 73
Phần III: KẾT LUẬN 77
I Kết luận 77
II Hướng phát triển 77
PHỤ LỤC 79
I NGÂN HÀNG CÂU HỎI 79
II ĐÁP ÁN 114
III BẢNG CHÚ GIẢI 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 7Phần I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công nghệ thông tin (CNTT) là một trong các phương tiện quan trọng nhất của sựphát triển, đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của thếgiới hiện đại, trong đó có Việt Nam Công nghệ thông tin – Truyền thông (CNTT-TT) ởnước ta ngày càng được phát triển và ứng dụng rộng rãi trong tất cả mọi lĩnh vực của đờisống xã hội “Sự phát triển của CNTT Việt Nam là “đáng kinh ngạc” và là một mẫu hìnhphát triển cần học hỏi” – Là phát biểu của rất nhiều đại biểu quốc tế tại Diễn đàn CNTTThế giới (WITFOR 2009) lần thứ tư diễn ra tại Hà Nội với chủ đề “CNTT-TT vì sự pháttriển bền vững”, trong đó có Ông Houlin Zhao, Phó Tổng thư ký Liên minh Viễn thôngQuốc tế (ITU) CNTT-TT đã trở thành một thành phần thiết yếu của cuộc sống, từ tronggiáo dục đào tạo, cung cấp dịch vụ y tế cho đến các hoạt động điều hành của chính phủ,thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân
Chính sự thay đổi của những điều kiện kinh tế, xã hội cùng với các tiến bộ về khoahọc công nghệ đã tạo ra một môi trường mới cho giáo dục Môi trường mới vừa tạo điềukiện cho việc đổi mới phương pháp, vừa bắt buộc chúng ta phải thay đổi phương phápgiáo dục Bởi ngày nay, kiến thức, kĩ năng CNTT là một trong những văn hóa thiết yếu mà
HS cần được trang bị cho học tập và cuộc sống Bên cạnh đó, việc gia nhập tổ chức thươngmại quốc tế (WTO) đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo những con người không chỉ đápứng nhu cầu về thị trường lao động trong nước mà còn phải đáp ứng nhu cầu về nhân lựctrình độ cao của thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức - “công dân toàn cầu” Bởi nếu
cứ tiếp tục cách dạy và học thụ động, giáo dục sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mớicủa xã hội Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát triển không ngừngcủa khoa học công nghệ, những thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên con đường hòa nhậpvào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên kinh tế tri thức, xã hội thông tin bằng cạnh tranh trí tuệđang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó đòi hỏi có sự đổi mới căn bản về phươngpháp dạy và học
Quyết định số 698/QĐ-TT ngày 01 tháng 06 năm 2009 của thủ tướng chính phủ vềPhê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và địnhhướng đến năm 2020 đã chỉ rõ: Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ýnghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng CNTT Đẩy mạnh ứng dụng CNTT
Trang 8trong giáo dục và đào tạo, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệthống đào tạo nhân lực CNTT, để trình độ đào tạo nhân lực CNTT của nước ta tiếp cậntrình độ và có khả năng tham gia thị trường đào tạo nhân lực CNTT quốc tế, từng bước trởthành một trong những nước cung cấp nhân lực CNTT chất lượng cao cho các nước trongkhu vực và trên thế giới.
Chính vì vậy, trong chương trình giáo dục phổ thông, Tin học là một môn họcchính khóa Những năm gần đây, ở cấp Tiểu học, Tin học được dạy từ lớp 3, là môn học tựchọn, không bắt buộc Ở cấp THCS, Tin học là môn học tự chọn, được dạy ở tất cả các lớpcủa bậc học Từ năm 2006 -2007, ở cấp THPT, Tin học là môn học chính khóa bắt buộc,lớp 10 là 2 tiết/ 1 tuần, lớp 11 là 1,5 tiết/ 1 tuần, lớp 12 là 1,5 tiết/ 1 tuần
Nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2010, 100% HS THPT được học tin học, giảipháp được đưa ra đó là đẩy mạnh dạy tin học và ứng dụng CNTT trong trường phổ thông
Công văn số 9886/BGDĐT-CNTT v/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT nămhọc 2009 – 2010 của Bộ Giáo Dục và Đào tạo ngày 11 tháng 11 năm 2009 đã chỉ rõ 16nhiệm vụ trọng tâm, trong số đó có 3 nhiệm vụ dưới đây:
- Đẩy mạnh một cách hợp lý việc ứng dụng CNTT trong đổi mới phươngpháp dạy và học ở từng cấp học
- Triển khai chương trình công nghệ giáo dục và e-Learning
- Tiếp tục triển khai dạy môn tin học trong nhà trường, cần chú ý cập nhậtchương trình, nội dung giảng dạy theo hướng modul kiến thức hiện đại, thiết thực, thay vìdùng một bộ chương trình và sách tin học cứng
Như vậy đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng caochất lượng dạy học Đổi mới PPDH đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từnội dung chương trình sách giáo khoa, PPDH cho đến kiểm tra đánh kết quả dạy học.Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả củakiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáoduc Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại tolơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vậy đổi mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầubức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay Kiểm tra đánh giá đúng thực tế,chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạotrong học tập
Trang 9Bên cạnh đó, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng, Bộ GD-ĐT cũng yêu cầu cácđơn vị đổi mới ra đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ, theo hướng kiểm tra kiến thức cơ bản,năng lực vận dụng kiến thức của người học, hạn chế lối học tủ, học vẹt, ghi nhớ máy móc.
Theo đó, các trường tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên,định kỳ Phối hợp có hiệu quả giữa các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự luận và trắc nghiệmkhách quan Trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu đối với chươngtrình của từng cấp học
Đặc biệt, các trường phải có biện pháp quản lý tích cực, chủ động trong dạy và học,nghiêm túc trong kiểm tra, đánh giá để phản ánh đúng chất lượng dạy và học, thực hiệnthành công nhiệm vụ năm học theo tinh thần cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trongthi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việcngồi nhầm lớp”
Cùng với sự phát triển của Internet thì Website cũng được phát triển nhanh chóng.Tại các Website, người dùng có thể tiếp nhận thông tin, tiếp thu một lượng lớn tri thức,tương tác, đối thoại trực tiếp Đặc biệt đối với các website giáo dục, một lượng lớn tri thứcđược cung cấp và thể hiện khá phong phú Bên cạnh đó, người học có thể tham gia vàoquá trình kiểm tra, đánh giá kiến thức của mình một cách nhanh chóng, hiệu quả và chínhxác
“CNTT cũng sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta Những người nhân viên
sẽ có khả năng cập nhật các kĩ thuật trong lĩnh vực của mình Mọi người ở bất cứ nơi đâu
sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất dạy bởi các GV giỏi nhất.” Bill Gates –
“Con đường phía trước”
Trong khi đó việc kiểm tra, đánh giá trong lớp cũng như các kì thi tuyển sinh bậcTHPT hiện nay nói chung hay việc kiểm tra, đánh giá HS môn Tin học 10 trong các trườngTHPT nói riêng mới chỉ có thể giới hạn ở một số môn học, cũng như không thể kiểm tratoàn diện tri thức và có nhiều hạn chế trong việc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức mộtcách sáng tạo trong các tình huống gắn với thực tiễn
Chính vì những lí do trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng website nhằm kiểm tra, đánh giá học sinh môn Tin học 10 trường THPT”, với mong
muốn góp một phần công sức vào việc nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương
Trang 10pháp kiểm tra, đánh giá HS trong việc học tập môn Tin học 10 trong nhà trường THPThiện nay, góp phần vào sự nghiệp phát triển Giáo dục – Đào tạo nước nhà.
2 Mục đích của đề tài
Xây dựng Website trực tuyến với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan đủ tiêuchuẩn định tính và định lượng, theo nội dung chương trình Tin học 10 nhằm góp phầnnâng cao chất lượng của việc kiểm tra, đánh giá HS trong việc học tập môn Tin học 10trong các nhà trường THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Nghiên cứu lý luận
- Lí luận dạy học
- Lí luận dạy học môn Tin học trường THPT
b Nghiên cứu thực tiễn
- Chương trình, giáo trình
- Thực trạng dạy và học môn Tin học 10 trường THPT
c Đề xuất giải pháp
- Ứng dụng những thành tựu của CNTT vào đổi mới phương pháp giảng dạy
- Xây dựng Website trực tuyến nhằm kiểm tra, đánh giá HS môn Tin học 10trường THPT
d Xây dựng website nhằm kiểm tra, đánh giá HS môn Tin học 10 trường THPT
- Tìm hiểu các công cụ để xây dựng Website
- Phương pháp thống kê toán học: Nhằm xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm
Trang 115 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận của việc kiểm tra, đánh giá và xây dựng Website trựctuyến cùng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm kiểm tra, đánh giá HS trong quá trìnhhọc môn Tin học 10
- Xác định quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan về từng loại kiến thứctrong sách giáo khoa Tin học 10
- Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo nội dung chương trình Tin học
10 và được kiểm định đạt tiêu chuẩn định tính, định lượng và có độ tin cậy cao để đảmbảo sử dụng trong dạy học Tin học 10
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 5 chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học môn Tin học 10 trường THPT
1 Nghiên cứu lý luận
2 Thực tiễn quá trình kiểm tra, đánh giá môn Tin học 10 trường THPT
3 Đề xuất giải pháp
Chương 2: Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm trong chương trình Tin học 10 trường THPT
1 Nội dung chương trình Tin học 10 trường THPT
2 Nội dung kiểm tra, đánh giá Tin học 10 trường THPT
3 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Chương 3: Tìm hiểu về Elearning
1 Khái niệm eLearning
2 Một số hình thức eLearning
3 Tình hình phát triển và ứng dụng eLearning trên thế giới và ở Việt Nam
4 Lợi ích mà eLearning mang lại
5 Triển vọng phát triển eLearning
Chương 4: Tìm hiểu và xây dựng Website đào tạo trực tuyến nhằm kiểm tra, đánh giá việc học tập môn Tin học 10 của HS ở trường THPT với MOODLE
1 Tìm hiểu về MOODLE
2 Xây dựng website http://10thinf.moodlehub.com
Trang 12Chương 5: Thực nghiệm sư phạm
1 Mục đích, nội dung và đối tượng thực nghiệm
2. Tiến hành thực nghiệm
3 Kết quả thực nghiệm
Trang 13Phần II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC, KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN TIN HỌC 10 TRƯỜNG THPT
1 Nghiên cứu lý luận
1.1 Dạy học
Dạy học là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm mà xã hội
đã sáng tạo ra và tích lũy được qua các thế hệ
Hoạt động học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết quả là dẫn tới sựbiến đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó
Dạy và học là hai mặt không thể tách rời của phương thức tồn tại và phát triển của xãhội và cá nhân Một mặt là sự tiếp nhận và chuyển hóa những kinh nghiệm đã có của xãhội thành kinh nghiệm cá nhân, còn mặt kia là sự chuyển giao những kinh nghiệm của thế
hệ trước cho thế hệ sau
PPDH là hệ thống những hành động có chủ đích, theo một trình tự nhất định của GV
và HS nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của HS Nhằm đảm bảocho HS lĩnh hội nội dung dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học PPDH bao gồm cảhoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Đây là hai mặt của quá trình dạy học,chúng không tách rời mà gắn bó mật thiết với nhau Trong đó phương pháp dạy có vai tròchủ đạo, còn phương pháp học chịu sự chỉ đạo của phương pháp dạy nhưng có tính độc lậptương đối, vừa có tác động trở lại phương pháp dạy
Trong trường THPT, có một số nhóm PPDH như sau:
- Nhóm phương pháp tổ chức, thực hiện hoạt động nhận thức – học tập, bao gồm:
o Nhóm phương pháp dùng lời: Phương pháp thuyết trình, vấn đáp, đàm thoại,
…
o Nhóm PPDH trực quan: Phương pháp trình bày trực quan, phương phápquan sát, sử dụng các dụng cụ dạy học, thí nghiệm,…
o Nhóm PPDH thực hành: Phương pháp luyện tập, ôn tập, thực hành,…
- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá, tự kiểm tra, tự đánh giá
Việc sử dụng phương pháp nào hay tổ hợp các phương pháp phụ thuộc vào nội dungmôn học, nội dung cụ thể của từng bài học, vào khả năng và sức sáng tạo của từng GV
Trang 141.2 Khái niệm kiểm tra, đánh giá
- Kiểm tra:
Là quá trình GV thu thập thông tin về kết quả học tập của HS Các thông tin này giúpcho GV kiểm soát được quá trình dạy học, phân loại và giúp đỡ HS Những thông tin thuthập được so sánh với tiêu chuẩn nhất định
a Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu điều chỉnh quá trịnh dạy và hoc, là độnglực để đổi mới PPDH, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theomục tiêu giáo dục
Đánh giá là một khâu quan trọng không thẻ thiếu được trong quá trình giáo dục.Đánh giá kế quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thựchiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ
sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để HS học tậpngày một tiến bộ hơn Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra Đổimới PPDH được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra,đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trú thông minh sáng tạo của HS,khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vào những tình huống thực
tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống
cá nhân, gia đình và cộng đồng Chứng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹđạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực
b Đổi mới PPDH là điều kiện quan trọng nhất để đổi mới đánh giá kết quả dạy họcĐổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo,tạo niềm tin, năng lực tự học cho HS thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọinăng lực HS
Trang 15c Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bàihọc, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục.
Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cảquá trình Đánh giá ở những thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của mộtgiai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quátrình giáo dục
Thống nhất với quan điểm đổi mới đánh giá như trên việc kiểm tra, đánh giá sẽhướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của mônhọc ở từng cấp học Các câu hỏi bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã đượcxác định
Trang 161.3 Vị trí, vai trò, chức năng và các hình thức kiểm tra, đánh giá
- Vị trí:
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình
giáo dục Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở
thành khởi điểm của một giao đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới
hơn trong của một quá trình giáo dục
Vị trí của kiểm tra, đánh giá trong một quá trình đào tạo được thể hiện trong sơ đồ
dưới đây:
Hình 1.1: Vị trí của kiểm tra, đánh giá trong một quá trình đào tạo
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là một bộ phận cấu thành và là giai đoạn
cuối cùng của quá trình dạy học
ĐÁNH GIÁ
KỸ NĂNG
KIẾN THỨC
TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
Trang 17Vị trí của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học được thể hiện trong sơ đồdưới đây:
Hình 1.2: Vị trí của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học
- Vai trò:
Thông qua kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, GV thu được những thôngtin ngược từ HS, phát hiện thực trạng kết quả học tập của HS cũng như những nguyênnhân cơ bản dẫn tới thực trạng kết quả đó Đó là cơ sở thực tế để GV điều chỉnh, hoànthiện hoạt động học của HS và hướng dẫn HS tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động họccủa bản thân
Đánh giá kết quả học tập của HS là một bộ phận hợp thành rất quan trọng và tấtyếu của toàn bộ quá trình dạy học Kết quả toàn bộ quá trình dạy học ở một mức độ quantrọng phụ thuộc vào việc tổ chức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS một cáchđúng đắn Công tác đánh giá trong dạy học – giáo dục là một việc làm phức tạp, bởi lẽ kếtquả cuối cùng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố tác động
MỤC TIÊU
NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
HỌC SINH
KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
Trang 18Cụ thể:
o Đối với HS: Kiểm tra, đánh giá giúp cung cấp những thông tin “liên hệ ngượctrong”, giúp người học tự điều chỉnh hoạt động học Qua kiểm tra, đánh giá người học tựthấy mình đã tiếp thu những điều đã học tới mức nào, có những lỗ hổng nào cần phải bổkhuyết trước khi bước vào một phần mới của chương trình học tập Ngoài ra HS còn có cơhội thể hiện, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ như: ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa,phân tích, tổng hợp,… Kiểm tra và đánh giá còn tạo động cơ khuyến khích HS phát huytinh thần học tập, tự học và nâng cao ý thức tự giác, tổ chức, kỷ luật HS sẽ so sánh kết quảcủa các bạn và thi đua học tập với bạn bè, đề ra phương hướng phấn đấu, ý chí vươn lênđạt kết quả học tập cao hơn
o Đối với GV: Kiểm tra và đánh giá cung cấp cho GV những thông tin “liên hệngược ngoài” giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy Việc kiểm tra đánh giá được tiếnhành thường xuyên, nghiêm túc cung cấp cho GV những thông tin về trình độ chung của
cả tập thể HS và giúp GV đánh giá chính xác năng lực học tập và nhận thức của từng cánhân HS để kịp thời có biện pháp giúp đỡ, bồi dưỡng thích hợp Kết quả bài kiểm tra của
HS còn là cơ sở để dựa vào đó GV có thể phân loại kết quả học tập của HS trong lớp
o Đối với các cấp quản lí: Kiểm tra đánh giá cung cấp những thông tin cơ bản vềthực trạng dạy và học để có thể có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyếnkhích và hỗ trợ những sáng kiến hay, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục Kiểm tra,đánh giá cũng giúp cho các cơ quan quản lý đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo để cấp phátchứng chỉ, văn bằng được chính xác và có những biện pháp quản lí giáo dục thích hợp
- Chức năng: Kiểm tra, đánh giá có những chức năng sau:
o Chức năng định hướng: Đánh giá nhằm phân tích các phương tiện vật chất vàđịnh ra một kế hoạch lý tưởng về tiến trình của hành động Đây là đánh giá chuẩn đoánhay đánh giá dự báo
o Chức năng điều chỉnh: Đánh giá là khâu quan trọng nhằm tác động ngược trongthời điểm hiện thực Đây là đánh giá uốn nắn
o Chức năng xác nhận hay xếp loại: Đây là chức năng đánh giá tổng hợp Khithực hiện chức năng này cần xác định rõ mục tiêu cuối cùng mà ta nhằm tới Mục tiêu nàyphải có ý nghĩa đối với cá nhân cũng như đối với toàn xã hội Ngoài ra, trình độ mong
Trang 19muốn phải được đánh giá trong những điều kiện xem xét càng gần điều kiện thực tế càngtốt.
- Các hình thức kiểm tra đánh giá
Kiểm tra, đánh giá có thể sử dụng những hình thức sau:
o Theo câu hỏi: GV có thể sử dụng câu hỏi vấn đáp để kiểm tra, đánh giá Đây là
một hình thức kiểm tra vừa có hiệu quả vừa nhanh, linh hoạt và toàn diện
o Kiểm tra viết theo yêu cầu của GV: Kiểm tra chủ quan này thường kiểm tra sâu
một lĩnh vực không những về kiến thức mà còn kiểm tra cả kĩ năng viết, xem có cấu trúcchặt chẽ không, ý tứ sắp xếp có logic không, những sự kiện, thuật ngữ nêu ra có chính xáckhông,… Kiểm tra viết ổn định hơn vì có văn bản rõ ràng
o Kiểm tra thực hành: Qua một bài tập, một tình huống HS vận dụng những kiến
thức đã học vào những công việc thực tế Đây là mục đích cuối cùng của việc học tập vàcũng là mục đích của việc đánh giá
2 Thực tiễn quá trình kiểm tra, đánh giá môn Tin học 10 trường THPT
2.1 Một số hạn chế trong việc kiểm tra, đánh giá nói chung
Các thầy, cô giáo trong quá trình chuẩn bị kiến thức cho HS, khi tổ chức kiểm tra, đánhgiá kết quả thông qua các bài kiểm tra thường xuyên, định kì, bài thi cần hết sức lưu ýkhắc phục dần những hạn chế
- Bài kiểm tra, bài thi chỉ đo được những kiến thức HS nhớ trong SGK, tài liệu, chưaquan tâm chú trọng đến các kết quả học tập quan trọng khác
- Bài kiểm tra, thi chưa thể hiện được tất cả những kiến thức mà HS đã được học trongnhà trường Đánh giá chủ dựa trên chỉ tiêu điểm số của HS có thể làm lệch lạc mục tiêuđào tạo con người toàn diện
- GV chưa thể phản hồi cụ thể, chính xác với HS vì sao các em không học tốt và bằngcách nào các em có thể nâng cao kết quả học tập của mình, ngoài việc nhắc các em mộtcâu không mấy liên quan đến đánh giá là các em cần phải học tập chăm chỉ hơn
- HS không phải lo lắng về những kết quả học tập quan trọng khác vì những kết quảnày không được kiểm tra
- Trong nhiều trường hợp, HS phải làm quá nhiều bài kiểm tra và các em có ít cơ hộihọc tập và phát triển toàn diện Việc đánh giá bằng điểm số này được thực hiện thường
Trang 20xuyên và công khai HS được hệ thống giáo dục và gia đình theo dõi liên tục từ sáng sớmtới tối mịt, không có thời gian và không gian riêng tư.
- HS chỉ học những gì các em sẽ kiểm tra, thi Nếu các em biết chỉ kiểm tra một lượngkiến thức nhất định thì các em sẽ không quan tâm đến những nội dung khác mà chúng tamong muốn các em học HS được đánh giá về năng lực học tập theo điểm số GV cho Vìvậy, không thấy được tầm nhìn về hành vi tương lai Điểm số chỉ là công cụ để đánh giámức thuộc bài, không đánh giá được con người
2.2 Một số hạn chế có thể có của hình thức trắc nghiệm khách quan
Hình thức trắc nghiệm khách quan có nhiều ưu điểm so với tự luận, tuy nhiên cũng cómột số khó khăn, hạn chế cần lưu ý khắc phục:
- Hình thức trắc nghiệm khách quan có thể có lợi thế với một số HS (phụ thuộc tíchcách HS)
- Khó quan tâm được nhiều đến môi trường học tập của HS
- HS khó thể hiện được tính thống nhất trong quá trình học tập
- Khó đánh giá được hết các năng lực học tập, các kỹ năng mà chỉ đánh giá được cácmảng kiến thức (nhất là với Ngoại Ngữ)
3 Đề xuất giải pháp
3.2 Định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá
Theo vụ THPT Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số yêu cầu, nội dung cụ thể về đổi mớiđánh giá của môn Tin học bao gồm:
1 Việc kiểm tra, đánh giá bao gồm cả lí thuyết và thực hành, hình thức có thể là tự luậnhoặc trắc nghiệm, kiểm tra vấn đáp, trên giấy hoặc trên máy Nội dung môn Tin học rấtthuận lợi cho ra đề kiểm tra trắc nghiệm Cần tăng cường sử dụng phương pháp kiểm tratrắc nghiệm để có thể kiểm tra phạm vi kiến thức rộng và để tiết kiệm thời gian
2 Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ thực hiện nhằm mục đích lấy điểm vào sổ điểmcho HS, mà quan trọng hơn nữa là cung cấp thông tin phản hồi để điều chỉnh quá trình dạyhọc giúp nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
3 Đặc điểm khá đặc trưng của môn Tin học là kiến thức đi đôi với thực hành, kiểm trakiến thức có lẽ đã quen thuộc với nhiều GV, còn kiểm tra thực hành ở khía cạnh nào đócòn chưa quen Không nên lạm dụng máy vi tính trong kiểm tra Cần phân biệt bài tập vàthực hành Do điều kiện hạn chế về máy vi tính nên chỉ kiểm tra những kĩ năng mà không
Trang 21thể kiểm tra được nếu không có máy vi tính (ví dụ nếu muốn kiểm tra kĩ năng gõ bàn phím
10 ngón) Lưu ý là có những phần kiểm tra lại không nên thực hiện trên máy vi tính, ví dụnếu muốn kiểm tra HS về quy tắc đặt tên tệp của hệ điều hành hoặc tên biến trong ngônngữ lập trình và sử dụng trắc nghiệm đặt tên tệp đúng hoặc tên biến đúng, nếu thực hiệntrên máy vi tính HS có thể chỉ cần gõ vào máy vi tính, sau đó căn cứ vào thông báo củamáy tính để chọn đáp án mà không cần biết vì sao
4 Tin học là môn học mới đưa vào trường phổ thông và có những đặc thù riêng nhưliên quan chặt chẽ với sử dụng máy tính, cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề theo quy trìnhcông nghệ, coi trọng làm việc theo nhóm… Vì vậy có thể đánh giá HS thông qua:
- Mức độ nắm vững kiến thức cơ bản: Có thể thực hiện thông qua bài kiểm tra bằngtrắc nghiệm hay tự luận
- Khả năng sử dụng máy tính và ứng dụng phần mềm: Có thể thực hiện bằng bài kiểmtra thực hành (trên máy tính hoặc trên giấy)
- Khả năng giải quyết vấn đề thể hiện qua khả năng biết đề xuất phương hướng giảiquyết và biết lựa chọn công cụ thích hợp để giải quyết: Có thể thực hiện kiểm tra bằnggiao vấn đề, bài tập lớn
- Khả năng làm việc theo nhóm: Có thể giao nhiệm vụ, chủ đề, đề án nhỏ
- Cần lưu ý đến việc tự đánh giá hoặc HS đánh giá lẫn nhau
5 Bắt đầu từ năm học 2006 – 2007, môn Tin học là môn học chính khóa và được dạy ởtất cả các trường THPT Như vậy, việc kiểm tra, đánh giá môn Tin học sẽ phải thực hiệntheo quy định chung về kiểm tra, đánh giá giống các môn học khác như Toán, văn,…
6 Bộ GD&ĐT đã có chương trình giáo dục phổ thông môn Tin học, trong đó quy địnhchuẩn kiến thức, kĩ năng cho từng nội dung cụ thể Việc kiểm tra, đánh giá kết quả họcmôn Tin học ở tất cả các lớp nói chung và lớp 10 nói riêng đều căn cứ vào Chuẩn kiếnthức, kĩ năng, thái độ đã được quy định trong Chương trình Chuẩn kiến thức, kĩ năng là cơ
sở để đảm bảo tính thống nhất về nội dung và mức độ cần đạt của HS trên toàn quốc Đâycũng là cơ sở pháp lí cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
7 Bộ GD&ĐT đã có chỉ đạo về việc chuẩn bị máy vi tính, kết nối Internet, đồng thờicũng đã ban hành danh mục TBDH tối thiểu môn Tin học để các đơn vị trang bị phục vụdạy học từ năm 2006 – 2007 Do vậy, phần lớn các trường sẽ có đủ trang thiết bị ở mức tốithiểu cho việc dạy học, kiểm tra, đánh giá cả lí thuyết và thực hành môn Tin học
Trang 228 Trong chương trình chuẩn do Bộ GD&ĐT nêu ra, bên cạnh mức độ yêu cầu về kiếnthức, kĩ năng còn có thái độ Mặc dù đã nêu khá cụ thể yêu cầu về thái độ, nhưng nóichung việc kiểm tra đánh giá thái độ của HS còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh việc đánhgiá kết quả cuối cùng cần phải đánh giá được quá trình HS đi đến kết quả đó Ví dụ, cũngmột kết quả là một trang văn bản như nhau nhưng HS sử dụng những công cụ thích hợpcủa Word để đi đến kết quả sẽ được đánh giá tốt về tác phong làm việc hiệu quả Hoặctrong việc học tập theo nhóm, ngoài đánh giá kết quả của nhóm cần đánh giá việc hợp tácgiữa các thành viên trong nhóm Có một số ý kiến cho răng khi đánh giá kết quả theonhóm có thể dẫn tới sự không công bằng, em làm ít cũng như em làm nhiều Xét theo khíacạnh nào đó thì đúng là còn có những hạn chế, tuy nhiên chúng ta đang quan tâm giáo dục
HS thói quen hợp tác làm việc, nếu không có sự hợp tác, điểm số của nhóm sẽ không thểcao, làm như vậy HS giỏi hơn muốn có điểm cao sẽ phải giúp đỡ hợp tác với nhóm để cókết quả cao, tránh kiêu căng, tự mãn, ngược lại HS kém hơn cũng sẽ thấy trách nhiệm củamình cùng cố gắng hoàn thành công việc để nâng cao điểm số của bản thân và của cảnhóm
9 Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS phải được thực hiện thường xuyên,liên tục Kiểm tra, đánh giá thường xuyên được coi là một trong những biện pháp thúc đẩyquá trình học tập và rèn luyện của HS
10 Bên cạnh những hình thức kiểm tra miệng, kiểm tra 15’, 30’, 45’, kiểm tra cuối kìhọc, kiểm tra cuối năm học, GV cần phải tiến hành quan sát, đánh giá HS trong các giờthực hành Trong giờ thực hành, GV quan sát, đánh giá kĩ một vài HS hoặc một, hai nhóm
HS để chi điểm, không nhất thiết phải cho điểm tất cả các HS trong một giờ thực hành.ĐIểm của HS được chấm trong giờ thực hành sẽ được lấy làm điểm (hệ số 1) để đánh giáhọc lực của HS Nết HS có nhiều điểm giờ thực hành thì có thể lấy trung bình cộng cácđiểm để ghi vào sổ điểm Trong một học kì, mỗi HS sẽ phải có một điểm thực hành đượcghi vào sổ điểm để tính điểm học lực Với cách làm như vậy, chất lượng giờ thực hành sẽđược tăng lên rõ rệt Đặc biệt, GV có thể biết được kiến thức, kĩ năng của HS để kịp thờiđiều chỉnh việc dạy học
11 Một học kì, mỗi HS phải có ít nhất một bài kiểm tra thực hành (khác với điểm củagiờ thực hành) đây là yêu cầu bắt buộc trong quy định về kiểm tra, đánh giá môn Tin học
Trang 23của Bộ GD&ĐT Quy định này nhằm đảm bảo HS học Tin học phải đạt được cả yêu cầu
về kiến thức và kĩ năng
12 GV cần căn cứ vào các bài tập, câu hỏi cuối bài để xác định các kiến thức, kĩ năngcần kiểm tra, đánh giá Tuy nhiên, dựa trên thực tế trình độ của HS cũng như điều kiện vềtrang TBDH mà GV định ra nội dung, phương thức tiến hành kiểm tra, đánh giá phù hợp
13 GV tự bố trí kiểm tra miệng, kiểm tra dưới 45’ để đảm bảo đủ số lượng điểm kiểmtra theo quy định
14 Sau mỗi bài thực hành phải có đánh giá và cho điểm Phải dùng điểm thực hành làm
ít nhất một điểm (hệ số 1) trong các điểm để xếp loại học lực của HS
15 Nên thực hiện đúng, đủ hai bài kiểm tra thực hành trong phân phối chương trình
16 Việc kiểm tra học kì phải được đánh giá ở cả hai nội dung lý thuyết và thực hành
17 Do đặc thù của môn Tin học nên việc kiểm tra đánh giá bao gồm cả lí thuyết và thựchành, hình thức có thể là tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan
18 Năm học 2006 – 2007 là năm học đầu tiên triển khai dạy học môn Tin học ở lớp 10THPT Một số địa phương còn khó khăn về GV, máy vi tính, Internet… Vì vậy, việc kiểmtra, đánh giá lí thuyết và nhất là kiểm tra kĩ năng thực hành trên máy phải căn cứ vào điềukiện thực tế điều kiện dạy học
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng vàđiều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng vàđiều chỉnh hoạt động của thầy
Trước đây, GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong PPDH tích cực, GV phải hướng dẫn
HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan tới điều này, GVcần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng vàđiều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhàtrường phải trang bị cho HS
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năngđộng, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ởyêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh,
óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Trang 24Với sự giúp đỡ của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một côngviệc nặng nhọc đối với GV mà còn cung cấp nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điềuchỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.
Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học (PTDH) và CNTT trong dạy học: PTDH cóvai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thínghiệm thực hành trong dạy học Việc sử dụng các PTDH cần phù hợp với mối quan hệgiữa PTDH và PPDH Việc trang bị các PTDH mới cho các trường THPT đang được tăngcường Tuy nhiên các PTDH tự tạo của GV luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được pháthuy
Đa phương tiện và CNTT vừa là nội dung dạy học vừa là PTDH trong dạy học hiệnđại Đa phương tiện và CNTT có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học Bên cạnh việc
sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phầnmềm dạy học cũng như các PPDH sử dụng mạng điện tử (E - Learning) PTDH mới cũng
hộ trợ việc tìm ra và sử dụng các PPDH mới Webquest là một ví dụ về PPDH mới vớiphương tiện mới là dạy học sử dụng Internet, trong đó HS khám phá tri thức trên mạngmột cách có định hướng
Theo đó, cần phải lưu ý các mặt sau:
a Quán triệt ba chức năng chủ yếu của kiểm tra, đánh giá, đó là:
- Đánh giá kết quả học tập của HS: Là quá trình xác định trình độ đạt tới những chỉ tiêucủa mục đích dạy học, xác định xem khi kết thúc một giai đoạn (một bài, một chương, mộthọc kì, một năm, )của quá trình dạy học đã hoàn thành đến một mức độ nào đó về kiếnthức, về kĩ năng,
- Phát hiện lệch lạc: Phát hiện ra những mặt đã đạt được và chưa đạt được mà môn học
đề ra đối với HS, qua đó tìm ra những khó khăn và trở ngại trong quá trình học tập củaHS Xác định được những nguyên nhân lệch lạc về phía người dạy cũng như người học
để đề ra phương án giải quyết
- Cơ sở để điều chỉnh: GV điều chỉnh kế hoạch dạy học (nội dung và phương pháp saocho thích hợp để loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đẩy quátrình học tập của HS)
Trang 25Hình 1.3: Ba chức năng chủ yếu của kiểm tra, đánh giá
Như vậy, kiểm tra đánh giá không chỉ dùng cho việc lấy điểm để tính điểm học lực củaHS
b Xác định rõ vai trò của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học
- Đầu tiên dựa vào mục tiêu của dạy học, GV đánh giá trình độ xuất phát của HS (kiểmtra đầu vào) trên cơ sở đó có kế hoạch dạy học: Kiến thức bộ môn rèn kĩ năng bộ môn đểphát triển tư duy bộ môn Kiểm tra đánh giá sau khóa học (kiểm tra đầu ra) để phát hiệntrình độ HS, điều chỉnh mục tiêu và đưa ra chế độ dạy học tiếp theo
- Bản chất của khái niệm kiểm tra thuộc phạm trù phương pháp, nó giữ vai trò liên hệnghịch trong hệ điều hành quá trình dạy học, cung cấp thông tin phản hồi về kết quả vậnhành, góp phần quan trọng quyết định việc điều chỉnh nhằm tối ưu quá trình
Đánh giá
Điều chỉnh
Phát
hiện
lệch lạc
Trang 26- Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học là hết sức phức tạp, luôn luôn chứa đựngnhững nguy cơ sai lầm, không chính xác Do đó người ta thường nói: “Kiểm tra - đánhgiá” hoặc “đánh giá thông qua kiểm tra” để chứng tỏ mối quan hệ tương hỗ và thúc đẩy lẫnnhau giữa hai công việc này.
Hình 1.4: Vai trò của kiểm tra, đánh giá
Như vậy, kiểm tra, đánh giá có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học Nhờ đó,
GV có thể:
- Tự giám sát việc thực hiện mục tiêu dạy học, kết quả sử dụng PPDH, hình thức vàTBDH
- Điều chỉnh việc dạy học cho phù hợp với đối tượng HS
- Biết được kết quả học tập, rèn luyện của lớp học và từng HS
Đánh giá giúp HS:
- Thấy rõ năng lực học tập của bản thân để phấn đấu và kịp thời rút kinh nghiệm cho việchọc tập của mình
- Được động viên khuyến khích phấn khởi, tích cực trong học tập
Việc đánh giá được thực hiện thông qua công cụ chủ yếu là kiểm tra
Kiểm tra, đánh giá tác động trở lại PPDH và ngược lại
Mục tiêu
Trình độ xuất phát của HS (Kiểm tra ban đầu)
Kĩ năng bộ môn
Kiến thức bộ môn
Trình độ phát triển tư duy
bộ môn
Kiểm tra, đánh giá
Trang 27c Kiểm tra, đánh giá góp phần đổi mới PPDH
Việc kiểm tra, đánh giá phải góp phần quan trọng vào việc đổi mới PPDH Cần yêucầu HS không chỉ học thuộc lòng nội dung bài học, mà phải biết liên hệ nội dung bài họcvới thực tiễn cuộc sống, phải biết vận dụng tri thức, kĩ năng đã được trang bị qua bài học
và huy động vốn kinh nghiệm sống của bản thân để giải quyết vấn đề, tình huống trongcuộc sống thực tế Việc kiểm tra, đánh giá cần thúc đẩy HS tham gia hoạt động tích cựcnhư thảo luận nhóm, chia sẻ, hợp tác với bạn bè và tự giác học tập
Cần chú trọng hơn đến kiểm tra thái độ, khả năng vận dụng và thực hành Trên cơ
sở đó, thúc đẩy HS tích cực rèn luyện theo yêu cầu Cần kiểm tra đánh giá được HS trên cả
ba mặt: kiến thức, kĩ năng, thái độ
Đổi mới kiểm tra, đánh giá góp phần thúc đẩy đổi mới PPDH, ngược lại, đổi mớiPPDH góp phần thúc đẩy đổi mới kiểm tra đánh giá
d Đánh giá qua nhiều kênh khác nhau
Việc đánh giá kết quả giáo dục của HS cần thực hiện qua nhiều nguồn thông tin khác nhaunhư:
- Các bài kiểm tra
- Quan sát hoạt động của HS trong các hoạt động tập thể, giờ học thực hành
- Đánh giá HS qua thực hành: Kĩ năng sử dụng máy tính và các phần mềm
- Đánh giá khả năng giải quyết vấn đề: tìm hướng giải quyết và biết lựa chọn công cụ thíchhợp
- Đánh giá khả năng làm việc theo nhóm
- Đánh giá qua đối thoại
3.3 Quan điểm tiếp cận đánh giá theo kết quả đầu ra
Trang 28Đánh giá theo kết quả đầu ra là cách đánh giá tập trung vào việc phát triển năng lựccủa người học trên cơ sở nội dung kiến thức, kĩ năng tiếp thu được.
Theo quan điểm tiếp cận đánh giá theo kết quả đầu ra, ngoài nội dung kiến thức, kĩnăng tiếp thu được còn cần quan tâm tới việc:
- Liên hệ nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
- Vận dụng kiến thức
- Thúc đẩy và đòi hỏi việc học tập trong cả quá trình
- Thúc đẩy và tạo mối liên hệ giữa lí thuyết và thực hànhChuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ môn Tin học do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành
là cơ sở pháp lí để tiến hành đánh giá kết quả học tập của HS theo kết quả đầu ra
3.4 Đánh giá theo quá trình
Việc đánh giá phải mang tính chất quá trình Để đạt được yêu cầu đó, nội dungkiểm tra, đánh giá phải thể hiện được sự tiếp nối những kiến thức đã có và kiến thức mới.Từng nội dung kiểm tra là những phần trong một chuỗi các kiến thức, kĩ năng cần đánhgiá, có sự tiếp nối liên tục để xác định được sự tiến bộ, thay đổi về kiến thức, kĩ năng vàthái độ của HS Đánh giá theo quá trình còn nhằm thu thập thông tin để điều chỉnh vềPPDH, cách tổ chức dạy học, để đạt mục tiêu của môn học
Việc đánh giá kết quả học tập của HS cần đảm bảo “phủ kín” toàn bộ chuẩn kiếnthức, kĩ năng, thái độ được quy định trong chương trình
3.5 Kết hợp đánh giá với tự đánh giá
Để kết hợp tốt đánh giá với tự đánh giá, trọng dạy và học môn Tin học cần xác lậpđược các quan hệ đánh giá:
- Giữa thầy và trò
- Giữa trò và trò
- Tự đánh giá của bản thân HS
Những quan hệ trên được xác lập ngoài việc thông qua các hình thức kiểm tra đánhgiá truyền thống còn thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS, việc vận dụngkiến thức, kĩ năng
Trang 293.6 Các hình thức đánh giá, khung đánh giá
a Các hình thức đánh giá:
Có hai loại kiểm tra được quy định trong kế hoạch dạy học là kiểm tra thườngxuyên và kiểm tra định kì
- Kiểm tra thường xuyên: Gồm kiểm tra miệng và kiểm tra viết dưới 45 phút
- Kiểm tra định kì: Gồm kiểm tra viết từ 45 phút trở lên được quy định trong phân phốichương trình và cuối kì học
Vận dụng quy định đó, trong môn Tin học có những hình thức kiểm tra, đánh giá như sau:
- Kiểm tra viết: Có kiểm tra viết dưới 1 tiết và từ 1 tiết trở lên
- Kiểm tra miệng: HS trả lời câu hỏi, bài tập của GV ngay trên lớp, không nhất thiết làphải kiểm tra ở đầu tiết học
- Kiểm tra thực hành: Mỗi học kì HS phải có ít nhất một điểm kiểm tra thực hành được ghivào sổ điểm để tính điểm học lực Điểm kiểm tra học kì phải có phần điểm của thực hành
- Kiểm tra qua các hoạt động của HS: Theo dõi quan sát HS qua hoạt động học tập trênlớp, giờ thực hành trên phòng máy, hoạt động nhóm, bài tập về nhà
b Khung đánh giá
Đánh giá có thể bằng quan sát, nhận xét các hoạt động học tập của HS, có thể bằngcác bài kiểm tra
- Thang điểm kiểm tra: Theo thang điểm 10
- Tỉ lệ lý thuyết và thực hành: Nói chung việc kiểm tra nên theo tỉ lệ: Phần lí thuyết 6(hoặc 7 điểm), phần thực hành 4 (hoặc 3 điểm) Tỉ lệ thực tế do GV xác định căn cứ vàođiều kiện cụ thể của từng trường, chẳng hạn có điều kiện thực hành nhiều hay ít, thực hànhtheo nhóm hay cá nhân Trường hợp thực hành theo nhóm nên cho điểm thực hành có tỉ lệthấp hơn và nên phân biệt mức độ đóng góp của từng cá nhân trong nhóm
- Đề kiểm tra: Khi soạn đề kiểm tra, cần xác định được:
+ Phạm vi kiến thức cần kiểm tra
* Đối với bài kiểm tra miệng hoặc bài kiểm tra 15 phút, phạm vi kiến thức là bài học trước
đó hoặc bài HS đang học
* Với bài kiểm tra 1 tiết, phạm vi kiến thức theo phân phối chương trình quy định
* Với bài kiểm tra học kì, phạm vi kiến thức là kiến thức trong một học kì HS vừa học
* Mức độ kiến thức, kĩ năng, thái độ căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học
Trang 30+ Mục tiêu cần đạt được của bài kiểm tra trên cả ba mặt: Kiến thức, kĩ năng và thái độ+ Số câu hỏi, thời gian dự kiến và điểm cho mỗi câu hỏi
+ Câu hỏi phải rõ ràng để HS xác định rõ yêu cầu của đề bài Tránh ra những câu đa nghĩa
- Đáp án, biểu điểm đánh giá: Khi xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra đánh giácần phải chú ý có thể có nhiều phương án trả lời khác nhau cho một câu hỏi Để phát huytính tích cực, sáng tạp của HS, GV cần tôn trọng các phương án giải quyết vấn đề, cáccách diễn đạt khác nhau, không bắt buộc HS phải trả lời hoàn toàn theo như SGK mà chỉcần đảm bảo đúng, đủ ý đạt được kết quả theo yêu cầu
- Dưới đây là ví dụ về khung của một đề kiểm tra:
- Phân tích kết quả: Nhằm phát hiện những ưu, nhược điểm trong quá trình tiếp thu kiếnthức, rèn luyện kĩ năng, thái độ của HS để có biện pháp uốn nắn, điều chỉnh kịp thời Qua kiểm tra ngoài cho điểm, cần:
+ Nhận xét HS trên của 3 mục tiêu của dạy học môn Tin học là kiến thức, kĩ năng và tháiđộ
+ Phân tích kết quả kiểm tra qua quá trình học tập của từng HS
+ Phân tích kết quả kiểm tra qua từng bài và qua quá trình học tập của lớp học
Trang 313.7 Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
- Phát huy được: khả năng điễn đat; khả năng tư duy phân tích và tổng hợp của HS; pháthiện được những ý tưởng sáng tạo của HS trong chủ đề đang xét
- Hạn chế: Diện kiến thức trong một nào kiểm tra còn hạn hẹp; phụ thuộc khả năng ngườichấm; không kiểm tra được sự phản ứng nhanh nhạy của HS trước các tình huống khácnhau liên tiếp xảy ra
b Trắc nghiệm khách quan
- Hình thức trắc nghiệm trong đó câu hỏi có thể thuộc các loại chính: Ghép đôi (matchingitems), điền khuyết (supply items), trả lời ngắn (short items), đúng sai (yes/ no questions),câu nhiều lựa chọn (multiple choice questions)
- Nên dùng trắc nghiệm khách quan khi: Số thí sinh rất đông; muốn chấm bài nhanh; muốnkiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng trong thời gian ngắn
- Một số lưu ý khi ra đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan: Sử dụng ngôn ngữ phù hợp vớithí sinh; không hỏi cảm nghĩ của thí sinh, chỉ hỏi sự kiện, kiến thức, kĩ năng, thái độ; tránhdùng câu hỏi phủ định, đặc biệt là phủ định hai lần; đối với loại nhiều lựa chọn: Cácphương án sai phải có vẻ hợp lí, chỉ nên dùng 4 – 5 phương án chọn, câu dẫn nối phương
án đúng ngữ pháp, chỉ có không quá một phương án đúng
Bà Ding Ya Wen, một người có 10 năm làm công tác cải cách ra đề thi ở Đài Loan, đãgửi tới Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Đài Loan năm nguyên tắc cần chú ý với hìnhthức thi trắc nghiệm, xin trích một đoạn dưới đây:
- Đề thi phải có độ khó hợp lí, tránh những đề thi kiểu kiểm tra trí nhớ để đánh đốcác em HS
- Không nên ra đề thi kiểu học thuộc lòng, học vẹt Đề thi phải đánh giá được khảnăng lí giải, ứng dụng, phân biệt và phán đoán của HS
Trang 32- Nội dung của đề thi cần bao hàm đầy đủ các cấp độ của nhận thức Chẳng hạn,trong cấu trúc đề thi, sáu cấp độ của nhận thức có thể được phân theo tỉ lệ như sau:10%, 20%, 30%, 20%, 10%, 10%.
- Có thể đưa vào đề thi một tỉ lệ nhất định loại trắc nghiệm kép (loại trắc nghiệm cónhiều hơn một đáp án đúng) Như vậy sẽ kích thích được sự tư duy, khả năng phânbiệt ở trình độ cao của các em HS
- Với đề trắc nghiệm chọn một trong bốn đáp án, xác suất đúng sẽ là 25% Có những
HS sẽ “đoán mò” Do đó sẽ có hiện tượng “ăn may” Vì thế chúng ta sẽ khó đánhgiá một cách chính xác học lực của từng em Nếu chúng ta sử dụng phương pháp
“trừ điểm ngược” (đưa ra đáp án sai, sẽ bị trừ điểm), ở mức độ nhất định có thể hạnchế kiểu lựa chọn bừa đáp án của HS
“Trong quá trình phát triển cách ra đề theo kiểu trắc nghiệm, nếu chúng ta nắm vững 5nguyên tắc trên, ở một chừng mực nhất định có thể làm thay đổi được phương pháp giảngdạy của GV Việc truyền thụ những kiến thức một chiều theo kiểu truyền thống sẽ dần dần
bị tẩy chay”
3.8 Hình thức trắc nghiệm khách quan của quá trình kiểm tra, đánh giá
Một số hình thức trắc nghiệm, các nguyên tắc ra đề thi trắc nghiệm, yêu cầu và mức độ
a Các hình thức trắc nghiệm khách quan
Trong chương trình giáo dục phổ thông, có 4 hình thức trắc nghiệm cơ bản được sử dụngkhi kiểm tra thường xuyên, định kì, thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học – cao đẳng:
- Trắc nghiệm đúng – sai: Chỉ gồm 2 lựa chọn là đúng hoặc sai
- Trắc nghiệm điền khuyết: Căn cứ vào dữ liệu, thông tin đã cho hoặc đã biết để điềnvào chỗ trống theo yêu cầu của bài (có thể phần điền khuyết là một số câu trả lờingắn của một câu hỏi)
- Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi): Với hai nhóm đối tượng đã cho phảighép nối một đối tượng của nhóm thứ nhất với một đối tượng thích hợp của nhómthứ hai thỏa mãn yêu cầu của bài
- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: Là trắc nghiệm bao gồm hai phần:
o Phần mở đầu (câu dẫn): Nêu vấn đề và cách thực hiện
Trang 33o Phần thông tin: Nêu các câu trả lời (các phương án) để giải quyết vấn đềtrong các phương án này, chỉ có một phương án đúng HS phải chỉ ra đượcphương án đúng.
Những năm trước, đề kiểm tra, thi kết hợp tự luận và trắc nghiệm đã sử dụng cả 4hình thức trắc nghiệm trên Tuy nhiên, năm 2006 đối với môn ngoại ngữ, năm 2007 với 4môn thi Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngoại ngữ, đề thi 100% trắc nghiệm và chỉ sử dụnghình thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn (hiện đang thực hiện với 4 lựa chọn)
b Các nguyên tắc, yêu cầu, mức độ nhận thức khi ra đề kiểm tra và thi trắc nghiệm khách quan
Các yêu cầu chung:
- Việc ra đề thi dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ HS ở 6 mức độ: Nhận biết;thông hiểu; vận dụng; phân tích; tổng hợp và đánh giá
- Trước hết HS phải nhớ các kiến thức đơn giản, đó là nền tảng vững vàng để có thểphát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn Nội dung đề thi phải bao hàm đầy đủ các mức
độ khác nhau của nhận thức Tùy theo tính chất, yêu cầu của mỗi kì thi để định ra tỉ lệ kiếnthức đưa vào đề thi phù hợp với từng mức độ nhận thức
- Đề thi phải có độ khó hợp lí, phù hợp với thời gian làm bài của HS, tránh những đềthi hoặc chỉ đề kiểm tra trí nhớ hoặc đánh đố HS Không nên ra đề thi kiến thức phải thuộclòng, học vẹt Đề thi phải đánh giá được khả năng lí giải, ứng dụng phân biệt và phán đoáncủa HS
- Nội dung đề thi tập trung đánh giá phạm vi kiến thức rộng, bao quát chương trìnhhọc, tránh tập trung nhiều vào những mảng nhỏ kiến thức sẽ dẫn đến những mảnh rời rạc,chắp vá trong kiến thức của HS
Về kiến thức: Gồm 6 mức độ nhận thức: Nhận biết; thông hiểu; vận dụng; phân tích; tổng
hợp và đánh giá
Về kĩ năng: Với 2 mức độ: Làm được (biết làm) và thông thạo (làm thành thạo).
c Những quan điểm cần lưu ý khi làm bài kiểm tra, thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan
Thi trắc nghiệm khách quan có ưu điểm rõ ràng là đánh giá phạm vi kiến thức rộnghơn hình thức thi tự luận Với số lượng câu hỏi nhiều hơn tự luận, mỗi câu lại có 4 phương
án trả lời, nên khối lượng kiến thức đưa vào đề kiểm tra và thi khá lớn, có thể đủ để dàn
Trang 34trải hầu hết các nội dung của chương trình học Thi tự luận, mỗi câu hỏi, bài tập có thể rơivào một vấn đề một mảng kiến thức nào đó Đề bài có tổng hợp đi chăng nữa vẫn có thể cóxác suất “trúng tủ” Do vậy, khi làm bài kiểm tra, thi theo hình thức tự luận, HS đã có thể
“thành công”,tuy không nhiều, khi học tủ Đề thi trắc nghiệm khách quan với khoảng 40 –
90 câu hỏi có thể phủ khắp phạm vi kiến thức của một môn học trong chương trình THPT
Vì vậy, thi bằng trắc nghiệm khách quan, HS không được “học tủ, học lệch” mà phải họcđầy đủ, toàn diện và không được bỏ qua bất cứ kiến thức cơ bản nào có trong chươngtrình
Với phạm vi bao quát rộng của đề thi, thí sinh khó có thể chuẩn bị tài liệu để sửdụng khi thi Có thể khẳng định, nếu số đề thi khác nhau trong phòng đủ lớn (mức tối đa làmỗi HS có 1 đề riêng, điều này rất dễ thực hiện với sự trợ giúp của CNTT với phần mềmchuyên dụng); số lượng câu hỏi đủ lớn, yêu cầu HS phải cố gắng tập trung làm việc liêntục mới hoàn thành được đầy đủ bài thi, thì hiện tượng tiêu cực trong kì thi sẽ được hạnchế rất nhiều HS bắt buộc phải thi bằng chính kiến thức của mình Do vậy, việc chuẩn bịkiến thức cho HS phải được các trường THPT, các thầy cô giáo quan tâm thực sự
Thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan, chúng ta hay nói đến việc chọn theoxác suất khi “quá bế tắc” vì không chắc chắn đưa ra phương án trả lời đúng Thực tế, thitheo hình thức nào cũng có may, rủi: thi tự luận có thể trúng tủ, thi theo hình thức trắcnghiệm có thể lựa chọn liều theo xác suất một phương án không chắc chắn Với kiểu đánhdấu có vẻ giản đơn khi làm đề trắc nghiệm khách quan, một số người tưởng rằng một thísinh không có chút kiến thức nào cũng có thể làm được bài thi nếu “vận may” giúp họ liêntục chọn được phương án đúng Từ suy nghĩ đó, một số người thường hay nhầm tưởng đềthi trắc nghiệm khách quan tạo nên độ may rủi nhiều hơn đề thi tự luận Những thí sinhđánh dấu liều vào bài thi mà không cần nắm được kiến thức liệu có thể có kết quả khảquan không? Có thể khẳng định là không bao giờ Một số người cho rằng đối với loại trắcnghiệm bốn phương án, nếu chọn ngẫu nhiên cung có xác suất đúng được 25% Một sựnhầm lẫn nghiêm trọng dẫn đến một thất bại nặng nề Đây không phải là 25% khả năngchọn đúng ngẫu nhiên cho toàn bộ bài thi, mà mỗi câu hỏi chỉ có 25% khả năng cho sự lựachọn liều mà gặp may, chắc chắn là rất khó thành công Với từng câu hỏi, khả năng chọnsai thường xảy ra thì tổng hợp toàn bài kết quả chủ yếu là chọn sai Chúng ra giả định kể
cả khi có tần suất trả lời đúng đạt tối đa của xác suất này (số câu thí sinh làm đúng chiếm
Trang 35khoảng 25% số câu hỏi), thì làm đúng 25% số câu hỏi vẫn chỉ được coi là cái ngưỡng củangười “chưa đạt yêu cầu” Các em HS không nên liều thử vận may khi còn rất nhiều cơ hội
và thời gian để chuẩn bị kiến thức
Làm đề thi trắc nghiệm khách quan, thí sinh không nên tập trung dành quá nhiềuthời gian cho một câu nào đó Nếu chưa giải quyết được ngay thì nên chuyển sang câukhác, lần lượt đến hết, sau đó sẽ quay lại nếu còn thời gian Đừng để xảy ra tình trạng
“mắc” ở một câu mà bỏ qua cơ hội giành điểm ở những câu hỏi khác trong khả năng củamình ở phía sau Các thầy cô giáo cần hướng dẫn HS khả năng nhận biết mức độ khó, dễcủa các câu hỏi
Chuẩn bị kiến thức là quan trọng nhất Hai vấn đề cơ bản được đề cập là hệ thốngnội dung kiến thức chuẩn bị cho việc đánh giá và giới thiệu làm quen nhanh với hình thứcthi trắc nghiệm khách quan Khi đã chuẩn bị tốt kiến thức, các em HS có thể tự thử sức,làm quen qua một số đề trắc nghiệm trong tài liệu
3.9 Điều kiện để thực hiện việc đổi mới
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của
HS là một quá trình lâu dài, phải được thực hiện ở tất cả các bậc học, cấp học, môn học
Việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thôngminh sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vàonhững tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của HS trước những vấn đềnóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Khi việc kiểm tra đánh giá chưathoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực
Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy họcđược thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác
Có thể khẳng định: Đổi mới PPDH là điều kiện quan trọng nhất để đổi mới đánhgiá và ngược lại, đổi mới đánh giá tạo động lực để đổi mới PPDH Việc đổi mới đánh giágiờ dạy của GV, đánh giá kết quả học tập của HS trong những năm qua có nhiều chuyểnbiến tích cực, nhưng chắc chắn còn phải tiếp tục kiểm nghiệm, rút kinh nghiệm và điềuchỉnh cho phù hợp để thực sự đổi mới Yêu cầu của đánh giá xếp loại HS phải căn cứ vàbám sát vào mục tiêu đào tạo và chương trình học Hình thức ra đề kiểm tra, thi cũng phảithực sự đổi mới, có kết hợp trắc nghiệm và kĩ năng thực hành và đặc biệt là quan tâm tớikhả năng độc lập tư duy, sáng tạo của HS, khả năng vận dụng kiến thức đã học và thực
Trang 36tiễn Chỉ đạo và thực hiện tốt đổi mới hình thức tổ chức và nội dung kiểm tra, thi sẽ tácđộng tích cực cho việc đổi mới PPDH của GV và cách học của HS.
3.10 Ứng dụng những thành tựu của CNTT vào quá trình kiểm tra, đánh giá
Chính vì vậy, việc ứng dụng những thành tựu của CNTT vào quá trình kiểm tra,đánh giá môn Tin học trong nhà trường THPT đã và đang được khuyến khích, dần đượcđưa vào thực tế tại Việt Nam Một hệ thống Website giúp giải quyết vấn đề quản lí HS,quản lí đề thi, quản lí công tác kiểm tra, đánh giá là một nhu cầu thực sự cần thiết cho các
GV, các nhà quản lý giáo dục trong thời đại hiện nay
3.11 Xây dựng Website nhằm kiểm tra, đánh giá việc học tập của HS môn Tin học
10 trong nhà trường THPT
- Về mặt tổng hợp kiến thức, nội dung bài học: website cung cấp cho người dùngmột kho kiến thức cơ bản của môn Tin học 10 thông qua các slide bài giảng của
GV, các bài tổng hợp kiến thức cuối chương, những chuyên đề kiến thức,…
- Về mặt bài tập: website là nguồn cung cấp các bài tập thực hành, bài tập vận dụngkiến thức trên lớp, trong SGK Tin học 10
- Về mặt kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tin học 10: website cung cấp một
hệ thống các bài kiểm tra 15p, 1 tiết, học kì đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về cả mặtkiến thức, thời gian lẫn quyền truy cập đối với từng bài của HS từng lớp trong từngthời gian nhất định
Trang 37CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC 10 TRƯỜNG THPT
1 Nội dung chương trình Tin học 10 THPT
1.1 Mục tiêu, ý nghĩa của môn học
Môn tin học ở trường THPT nhằm trang bị cho HS những hiểu biết ban đầu vềCNTT và nhận biết được vai trò của máy tính trong xã hội hiện đại
Mục tiêu của môn học nhằm cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông vềTin học, hình thành và phát triển năng lực sử dụng các thành tựu Tin học trong học tập vàtrong các lĩnh vực hoạt động sau này
1.2 Nội dung chương trình Tin học 10
Chương trình Tin học 10 gồm 4 chương với 22 bài lý thuyết và 10 bài thực hành
Chương 1 Một số khái niệm cơ bản của Tin học
1 Bài 1: Tin học là một ngành khoa học
2 – 3 Bài 2 Thông tin và dữ liệu
Bài 8 Những ứng dụng của Tin học
20 Bài 9 Tin học và xã hội
33 Kiểm tra 1 tiết (Thực hành)
34 Bài 13 Một số hệ điều hành thông dụng
35 – 37 Ôn tập
38 Kiểm tra học kì I
Trang 38Chương 3 Soạn thảo văn bản
39 – 40 Bài 14 Một số khái niệm cơ bản
41 – 42 Bài 15 Làm quen với Microsoft Word
44 - 45 Bài tập và thực hành 6
46 Bài 16 Định dạng văn bản
47 - 48 Bài tập và thực hành 7
49 Bài 17 Một số chức năng soạn thảo văn bản khác
50 Bài 18 Các công cụ trợ giúp soạn thảo văn bản
52 - 53 Bài tập và thực hành 8
54 Kiểm tra 1 tiết (Thực hành)
55 Bài 19 Tạo và làm việc với bảng
57 - 58 Bài tập và thực hành 9Chương 4 Mạng máy tính và Internet
59 - 60 Bài 20 Mạng máy tính
61 -62 Bài 21 Mạng thông tin toàn cầu Internet
63 - 64 Bài 22 Một số dịch vụ cơ bản của Internet
Chương 1 Một số khái niệm cơ bản của Tin học
Bài 1: Tin học là một ngành khoa học
1 Sự hình thành và phát triển của Tin học
2 Đặc thù và vai trò của máy tính điện tử
3 Thuật ngữ Tin họcBài 2 Thông tin và dữ liệu
1 Khái niệm thông tin và dữ liệu
2 Đơn vị đo thông tin
3 Các dạng thông tin
4 Mã hóa thông tin trong máy tính
5 Biểu diễn thông tin trong máy tínhBài 3 Giới thiệu về máy tính
Trang 391 Khái niệm hệ thống tin học
2 Cấu trúc chung của máy tính
3 Bộ xử lý trung tâm (CPU – Central Processing Unit)
4 Bộ nhớ trong (hay gọi là bộ nhớ chính – Main Memory)
5 Bộ nhớ ngoài (Secondary Memory)
6 Thiết bị vào (Input Device)
7 Thiết bị ra (Output Device)
8 Hoạt động của máy tínhBài 4 Bài toán và thuật toán
1 Khái niệm bài toán
2 Khái niệm thuật toán
3 Các cách mô tả thuật toánBài 5 Ngôn ngữ lập trình
1 Ngôn ngữ máy
2 Hợp ngữ
3 Ngôn ngữ bậc caoBài 6 Giải bài toán trên máy tính
Bài 7 Phần mềm máy tính
Bài 8 Những ứng dụng của Tin học
Bài 9 Tin học và xã hội
1 Ảnh hưởng của Tin học đối với sự phát triển của xã hội
2 Xã hội hóa Tin học
3 Văn hóa và pháp luật trong xã hội Tin học hóa Chương 2 Hệ điều hành
Bài 10 Khái niệm hệ điều hành
1 Khái niệm hệ điều hành
2 Chức năng của hệ điều hành
3 Phân loại hệ điều hànhBài 11 Tệp và quản lý tệp
Bài 12 Giao tiếp với hệ điều hành
Bài 13 Một số hệ điều hành thông dụng
Trang 40Chương 3 Soạn thảo văn bản
Bài 14 Một số khái niệm cơ bản
1 Một số quy ước khi gõ văn bản
2 Các đối tượng chủ yếu trong văn bản
3 Phần mềm hỗ trợ gõ chữ tiếng ViệtBài 15 Làm quen với Microsoft Word
Bài 17 Một số chức năng soạn thảo văn bản khác
Bài 18 Các công cụ trợ giúp soạn thảo văn bản
Bài 19 Tạo và làm việc với bảng
Chương 4 Mạng máy tính và Internet
Bài 20 Mạng máy tính
1 Các thành phần của mạng máy tính
2 Phương tiện truyền thông
3 Giao thức truyền thông
4 Phân loại mạng dưới góc độ địa lí
5 Hai mô hình mạng chủ yếuBài 21 Mạng thông tin toàn cầu Internet
Bài 22 Một số dịch vụ cơ bản của Internet
1 Tổ chức và truy cập thông tin
2 Tìm kiếm thông tin
3 Thư điện tử
4 Vấn đề bảo mật thông tin
2 Nội dung kiểm tra, đánh giá Tin học 10 THPT
Dựa vào nội dung của bài học, từng chương, từng học kì mà các bài kiểm tra, đánhgiá có những nội dung khác nhau Mỗi bài kiểm tra là sự tổng hợp kiến thức của từngnhóm bài hay từng chương kiến thức