Đối với người Thái chăn nuôi là một trong những hoạt động kinh tế chínhtrong các gia đình.. Chăn nuôi là hoạt động kinh tế không thể thiếu đối với người Thái, chănnuôi bổ trợ cho trồng t
Trang 1Bố cục Báo cáo khoa học Tập tục sinh đẻ, Nghi lễ đặt tên cho trẻ dân tộc
Thái, ngành Thái đen bản Che Căn, xã Mường Phăng.
3 Dân cư và sự phân bố.
II.TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA XÃ MƯỜNG PHĂNG.
1 Tình hình chung.
2 Công tác lãnh đạo chỉ đạo điều hành.
3 Kết quả thực hiện các nhiệm vụ trên như sau:
d Hái lượm và Săn bắt.
e Trao đổi và buôn bán.
2 Thiết chế làng bản.
3 Quan hệ gia đình dòng họ.
4 Hôn nhân gia đình.
5 Sinh đẻ và nuôi con.
6 Tang ma.
7 Trang phục.
Trang 2PHẦN II: TẬP TỤC SINH ĐẺ, NGHI LỄ ĐẶT TÊN CHO TRẺ
DÂN TỘC THÁI.
A- TẬP TỤC SINH ĐẺ
I- Mục đích, ý nghĩa.
II- Thời gian và địa điểm tổ chức.
III- Các bước chuẩn bị cho lễ.
IV Trình tự trong Tập tục sinh đẻ.
B- NGHI LỄ ĐẶT TÊN CHO TRẺ.
I- Mục đích, ý nghĩa.
II- Thời gian và địa điểm tổ chức.
III- Các bước chuẩn bị cho lễ.
IV Trình tự trong Nghi lễ đặt tên cho trẻ.
C- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
Trang 3PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI VÀ XÃ MƯỜNG PHĂNG
I DÂN TỘC THÁI.
1 Lịch sử dân tộc.
Theo David Wyatt, trong cuốn "Thailand: A short history", người Tháixuất xứ từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân tộc ítngười như: Choang, Tày, Nùng Dưới sức ép của người Hán và người Việt ởphía Đông và Bắc, người Thái dần di cư về phía nam và tây nam Người Thái di
cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13 Trung tâm của họ khi
đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh) Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam Ánhư: Lào, Thái Lan, Bang Shan ở Miến Điện và một số vùng ở Đông Bắc Ấn Độcũng như phía Nam Vân Nam (Trung Quốc)
Theo sách sử Việt Nam, vào thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống(tức người Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067.Trong thế kỷ 13, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhàTrần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống
bị đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của quan quân nhà Trần Năm 1337 lãnh tụ
Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vàolãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngàynay) và giao cho họ Đèo cai quản Năm 1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người TháiTrắng tại Mương Lễ, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai)
và Gia Hưng (giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Muổi (Sơn La) ĐèoMạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu Năm 1466, lãnh thổ củangười Thái được tổ chức lại thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: AnTây (Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4 huyện và 17 châu
Những lãnh tụ Thái được gọi là phụ đạo, được phép cai quản một số lãnhđịa và trở thành giai cấp quí tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản cácchâu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa,Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc, dòng
họ Hà cai quản châu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận, họ Hoàng ở châu Việt
Trang 4Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễnkết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sôngMekông thành phủ Điện Biên Năm 1880, phó lãnh sự Auguste Pavie nhân danhtriều đình Việt Nam phong cho Đèo Văn Trị chức tri phủ cha truyền con nối tạiĐiện Biên, sau khi giúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Namvới Trung Quốc và Lào, Đèo Văn Trị được cử làm quan đạo Lai Châu, cai quảnmột lãnh thổ rộng lớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ, còn gọi là xứ Thái.Tháng 3-1948, lãnh thổ này được Pháp tổ chức lại thành Liên bang Thái tự trị,qui tụ tất cả các sắc tộc nói tiếng Thái chống lại Việt Minh.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, để lấy lòng các sắc tộc thiểu số miền Bắc,Chính phủ Việt Minh thành lập Khu tự trị Thái Mèo ngày 29 tháng 4 năm 1955,Khu tự trị Tày Nùng và vùng tự trị Lào Hạ Yên, nhưng tất cả các khu này đều bịgiải tán năm 1975
2 Tên gọi.
Tày, Tày Khao (Thái Trắng), Tày Đăm (Thái Đen), Tày Mười, Tày Thanh(Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc, Tay Dọ, Thổ
3 Dân cư và sự phân bố.
Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, dân tộc Thái ở Việt Nam có số dân
là 1.328.725 người, chiếm 1,74 % dân số cả nước, cư trú tập trung tại các tỉnhLai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An (số lượng người Thái tại 8 tỉnh này chiếm 97,6 % tổng số người Thái ở ViệtNam) Trong đó tại Sơn La có 482.485 người (54,8 % dân số), Nghệ An có269.491 người (9,4 % dân số), Thanh Hóa có 210.908 người (6,1 % dân số), LaiChâu cũ (nay là Lai Châu và Điện Biên) có 206.001 người (35,1 % dân số) Nhóm Thái Trắng (Táy Đón hay Táy Khao) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu,Điện Biên và một số huyện tỉnh Sơn La (Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên) Ở ĐàBắc thuộc tỉnh Hòa Bình, có nhóm tự nhận là Táy Đón, được gọi là Thổ Ở xãDương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, có một số Thái Trắng chịu ảnhhưởng đậm của văn hóa Tày Ở Sapa, Bắc Hà, nhiều nhóm Thái Trắng đã Tàyhóa Người Thái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu,
Trang 5Điện Biên từ thế kỷ 13 và làm chủ Mường Lay (địa bàn chính là huyện MườngChà ngày nay) thế kỷ 14, một bộ phận di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa thế kỷ
15 Có thuyết cho rằng họ là con cháu người Bạch Y ở Trung Quốc
Nhóm Thái Đen (Táy Đăm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên Cácnhóm Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa(Tân Thanh-Thường Xuân-Thanh Hóa), Nghệ An cũng mới từ mạn Tây Bắcchuyển xuống cách đây vài ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và nhânchủng của cư dân địa phương và Lào Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (ĐiệnBiên) đi từ Lào vào Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trămnăm, nhóm này gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởngvăn hóa Lào
Nhóm Thái Đỏ, gồm nhiều nhóm khác nhau cư trú chủ yếu ở một sốhuyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình) và các huyện miền núinhư Bá Thước (Thanh Hóa) và Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương(Nghệ An)
Nhóm ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Ngoài ra còn có chừng 20.000 người Thái gốc Việt Nam sinh sống tại nướcngoài, chủ yếu là Pháp và Hoa Kỳ
Người Thái sử dụng các họ chủ yếu như: Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà (Hà,Kha, Mào, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Điều, Hà, Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm(Lâm, Lịm), Lý, Lò (Lô, La), Lộc (Lục), Lự, Lượng (Lương), Manh, Mè, Nam,Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhật, Panh, Pha, Phia, Phìa, Quàng (Hoàng, Vàng),Quảng, Sầm, Tạ, Tày, Tao (Đào), Tạo, Tòng (Toòng), Vang, Vì (Vi), Xa (Sa)
II.TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA XÃ MƯỜNG PHĂNG.
1 Tình hình chung.
Mường Phăng là một xã thuộc huyện Điện Biên, cách trung tâm huyện 25
km về phía Đông Bắc Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 9.158,56 ha, trong đó:đất sản xuất nông nghiệp là 1.165,34 ha; đất lâm nghiệp là 5.430 ha; đất chưa sửdụng là 532,54 ha; đất phi nông nghiệp là 2.030,59 ha
Vị trí tiếp giáp: - Phía Bắc: giáp huyện Mường Ẳng
Trang 6- Phía Nam: giáp TP Điện Biên Phủ
- Phía Đông: giáp huyện Điện Biên Đông
- Phía Tây: giáp xã Nà Tấu và Nà Nhạn
Xã có 47 đội, gồm 1.769 hộ với 8.684 nhân khẩu, có 04 dân tộc anh emcùng sinh sống, trong đó: Dân tộc Thái 71%; Dân tộc Kinh 02%; Dân tộc Khơ
Mú 16%; Dân tộc Mông 11%
2 Công tác lãnh đạo chỉ đạo điều hành.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng Ủy, Hội Đồng Nhân Dân xã về mục tiêunhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, chính quyền xãchủ động xây dựng kế hoạch tổ chức chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trên, thểhiện trên các lĩnh vực: Phát triển kinh tế, Văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng
3 Kết quả thực hiện các nhiệm vụ trên như sau:
a Lĩnh vực phát triển kinh tế
Theo kết quả báo cáo năm 2010 của xã Mường Phăng, tổng diện tích đấtgieo trồng nông nghiệp đạt 1.299,7 ha, tăng 134 ha so với cùng kỳ năm 2009,trong đó: diện tích cây lương thực đạt 919,7 ha (tăng 42 ha so với năm 2009),tổng sản lượng lương thực đạt 2.258,7 tấn (tăng 194,7 tấn so cới năm 2009)
- Chiêm xuân: 248 ha, năng xuất đạt 59 tạ/ ha, sản lượng đạt 1.463,2 tấn, đạt125,98% ( KH và Nghị quyết HĐND xã)
- Ngô xuân hè: 215 ha, năng xuất ước đạt 37 tạ/ ha, sản lượng ước đạt 795,5 tấn,đạt 92,14%.( KH và Nghị quyết HĐND xã)
- Lúa mùa đã gieo cấy 391,7 ha, đạt 100,17% (KH và Nghị quyết HĐND xã);Lúa nương đã gieo trồng 65 ha, đạt 112% (KH và Nghị quyết HĐND xã) hiệntại lúa sinh trưởng và phát triển khá
- Cây công nghiệp ngắn ngày 42 ha, trong đó: đậu tương 32, năng suất 16,7 tạ/
ha, sản lượng đạt 53,44 tấn; Lạc 10 ha, năng suất 14,5 tạ/ ha, sản lượng đạt 14,5tấn; Khoai lang 7 ha, năng suất đạt 11 tạ/ ha, sản lượng đạt 7,7 tấn, ngoài ra cònmột sô loại cây khác như: sắn 227 ha, rong riềng 55 ha và các loại rau màu khác
là 49 ha
Trang 7- Về chăn nuôi- thú y: đàn trâu có 782 con (giảm 04 con so với năm 2009); đàn
bò có 6.126 con (tăng 130 con so với 2009); đàn lợn có 6.126 con (tăng 1.136con)
- Về nuôi trồng thủy sản tăng 47 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 56,73%
- Về lâm nghiệp: triển khai thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ và UBND tỉnh
về công tác bảo vệ rừng, sử lý các vi phạm về rừng Cụ thể là có 06 vụ vi phạm,trong đó 03 vụ sử phạt tại địa phương, 03 vụ chuyển lên cấp trên sử lý Tăngcường công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng, độ che phủ rừng đạt 45%
b Về Văn hóa xã hội.
- Tham gia tổ chức các hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thaovới chủ đề mừng Đảng, mừng xuân và thông tin tuyên truyền, đặc biệt là chàomừng các ngày lễ lớn, các ngày trọng đại của đất nước được nâng lên từ cơ sởtới xã
- Toàn xã có 02 bản: bản Co Đíu và bản Nghịu đã đăng ký và được công nhận làbản làng văn hóa cấp huyện, có 1.108 hộ đăng ký gia đình văn hóa
- Giáo dục- đào tạo: Hoàn thành nhiệm vụ năm học 2009- 2010; trẻ em tới độtuổi đi học đều được cắp sách tới trường, duy trì, giữ vững các tiêu chí đạt chuẩn
về phổ cập giáo dục Năm học 2009-2010 toàn xã có 06 trường, 96 lớp học,1.868 học sinh (cấp mầm nọ 01 trường, 23 nhóm lớp, 478 cháu; cấp tiểu học có
04 trường, 50 lớp, 744 học sinh; cấp trung học cơ sở có 01 trường, 23 lớp, 646học sinh Kết quả học sinh lên lớp thẳng: Tiểu học trên 97%; THCS trên 97,4%
- Về công tác lao động- Thương binh và Xã hội: Xã có 05 thương binh, 01 bệnhbinh và 06 gia đình liệt sỹ Việc thực hiện chính sách xã hội đối với các gia đìnhthương binh, liệt sỹ, các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội thường xuyênđược quan tâm Nhân các dịp lễ, tết xã tổ chức thăm và tặng quà động viên tinhthần các gia đình thương binh, bệnh binh và thân nhân gia đình liệt sỹ
Số người được hưởng trợ cấp hàng tháng là 99 người, trong đó có 02 tàn tật và
03 mồ côi, việc thực hiện chi trả các chế độ đãi ngộ được kịp thời
Công tác y tế- Dân số KHHGĐ: Đội ngũ y tế gồm 07 nhân viên, 02 y sỹ, 4 y tá
trung học, 01 dược tá và 47 y tá bản (Sơ cấp) Việc thực hiện khám, chữa bệnh
Trang 8và chăm sóc sức khỏe ban đầu luôn được chủ động, bám sát cơ sở nên sáu thángđầu năm 2010 không có dịch bệnh lớn xảy ra.
Tổng số giường được giao là 03 giường; tổng số lần kham bệnh 4375 lần,
số khám kê đơn cấp thuốc ngoại trú 3859 lần; tổng số bệnh nhân chuyển tuyến
273 bệnh nhân; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 185 trẻ chiếm khoảng 22,12%.Dân số, KHHGĐ: Triển khai truyền thông giáo dục dân số, tuyên truyền, vậnđộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản 47/47 bản đội đạt 100%, vận động và tổ chứcchiến dịch CSSKSS- KHHGĐ đợi I năm 2010
* Giao thông thủy lợi- Quản lý đất đai: Xây dựng công trình Hồ chứa nước
Lọong Luông I; xây dựng 02 trường tiểu học và 05 điểm trường mầm non.Ngoài ra đang thực hiện khảo sát xây dựng hệ thống thủy lợi kênh mương bảnBua thuộc trương trình 135/ cp
Về giao thông: sửa chữa khắc phục đường giao thông liên thôn bản, tạo điềukiện thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân
Về thủy lợi: đã tổ chức triển khai sửa chữa công trình vừa và nhỏ, nạo vét kênhmương đảm bảo nước tưới tiêu cho sản xuất vụ chiêm và vụ mùa
Về quản lý đất đai: cấp được 12 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vàđang đề nghị cấp mới 09 bộ hồ sơ Ngoài ra còn thực hiện công tác bồi thườngtrong việc giải phóng mặt bằng cho các hộ bị thu hồi đất để xây dựng Hồ chứaLọong Luông
Phối hợp với phòng TNMT và Sở VHTT&DL tỉnh Điện Biên xác định vịtrí đo đạc diện tích đất của 03 hộ để làm nhà truyền thống thuộc Dự án Bảo tồnvăn hóa dân tộc tại bản Che căn
Đang tiến hành kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm2010
c Quốc phòng an ninh.
- Triển khai quán triệt các Chỉ thị, các Nghị quyết của các cấp lãnh đạo Quân sựQuốc phòng ở địa phương Lực lượng dân quân và dự bị động viên luôn đượcgiáo dục về chính trị, tư tưởng chấp hành các chủ trương, đường lối chính sách
Trang 9của Đảng và pháp luật của nhà nước Thường xuyên làm nhiệm vụ sẵn sàngchiến đấu, đảm bảo lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động.
- Tổ chức huấn luyện dân quân 85 đồng chí, tham gia bắn đạn thật 20 đồng chí,kết quả huấn luyện: khá 07 Đ/c, đạt 13 Đ/c, đánh giá chung kết quả huấn luyệnđơn vị đạt yêu cầu
- An ninh- Chính trị, trật tự an toàn xã hội: Triển khai thực hiện công tác bảo vệ
an ninh Tổ Quốc và phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ Quốc.Xây dựng kế hoạch tổ chức họp dân tai 47 thôn bản ký cam kết về an ninh trật tựkhông khai thác lâm thủy sản và phá rừng làm nương rẫy trái phép
- Công tác tư pháp: thực hiện công tác quản lý hộ tịch, tiếp nhận đơn thư khiếunại, tố cáo của công dân
III KHÁI QUÁT CÁC HÌNH THÁI VĂN HÓA, TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI THÁI.
1 Hoạt động kinh tế.
Người Thái lấy Nông nghiệp, Trồng trọt, Chăn nuôi làm cơ sở kinh tếchính Các ngành kinh tế khác như: tiểu thủ công nghiệp gia đình săn bắn háilượm chỉ là hoạt động kinh tế phụ mang tính chất bổ trợ Sự phân công lao độngcủa họ hoàn toàn dựa theo tự nhiên, tuỳ thuộc vào giới tính, lứa tuổi
Ngoài trồng lúa nước ra người Thái còn canh tác nương rẫy, trồng lúa,xen kẽ các cây hoa màu như: Đậu tương, Ngô, Khoai, Sắn, mỗi năm một vụ
Trang 10thường trồng vào cuối tháng 1 đầu tháng 3 âm lịch Hoạt động Nông nghiệptrồng trọt, nương rẫy là hoạt động canh tác truyền thống đóng vai trò quan trọngtrong đời sống kinh tế, là yếu tố có tác động lớn đến đời sống Kinh tế- Vănhóa của người dân tộc thái.
b Chăn nuôi.
Đối với người Thái chăn nuôi là một trong những hoạt động kinh tế chínhtrong các gia đình Trước đây chăn nuôi không đem lại nhiều sản phẩm, chủ yếuchăn nuôi các loại gia súc gia cầm như lợn, gà, vịt để đáp ứng nhu cầu tínngưỡng Họ thường nuôi trâu, bò bằng cách thả rông trên nương, trên các sườnđồi Ngày nay chăn nuôi đã phát triển hơn trước rất nhiều, họ đã biết làm trangtrại nuôi trâu, bò để cày, kéo, nuôi gia cầm để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt trongđời sống hàng ngày, ngoài ra còn đào ao thả cá
Chăn nuôi là hoạt động kinh tế không thể thiếu đối với người Thái, chănnuôi bổ trợ cho trồng trọt, cung cấp sức kéo cho nông nghiệp, cung cấp bữa ăn
và cung cấp vật hiến tế cho các nghi lễ truyền thống, ngoài ra họ còn làm sảnphẩm dùng để trao đổi buôn bán
c Thủ công gia đình.
Nghề thủ công là hoạt động kinh tế bổ trợ cho các hoạt động kinh tế khác,dân gian Thái đã đúc kết thành câu phân công lao động tự nhiên: Gái dệt vải traiđan chài (Nhinh dệt phải, trái xàn hè) trong hoạt động thủ công của họ đáng chú
ý là nghề đan và thêu
Đan là nghề thủ công cổ truyền của người Thái dựa trên nguyên liệu cósẵn trong địa bàn sinh sống là tre, nứa, giang Người Thái có kỹ thuật đan látđộc đáo, mỗi loại sản phẩm đều có kỹ thuật đan khác nhau, mỗi sản phẩm đanđều có công dụng riêng, dùng trong vận chuyển: rổ, rá, bung, đếp dùng trongsinh hoạt hàng ngày
Đàn ông Thái còn đan chài lưới để đánh bắt cá Đối với người Thái đanlát, đan là công việc gắn liền với người đàn ông, còn phụ nữ quan tâm nhiều hơnđến việc trồng bông, chế biến sợi, dệt và thêu các hoa văn Trước đây ngườiThái trồng bông dệt vải, ngày nay không còn trồng nhiều nữa mà mua vải công
Trang 11nghiệp để may vá thêu tạo ra các sản phẩm có hoa văn độc đáo như: khăn, túi,
áo, mũ dùng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, ngoài ra họ còn sử dụng làmsản phẩm để trao đổi buôn bán
d Hái lượm và Săn bắt.
Hoạt động săn bắt, hái lượm đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh
tế của người Thái Trước cuộc sống của họ phụ thuộc vào thiên nhiên là chính
Hái lượm là công việc chính của phụ nữ và trẻ em nhằm cung cấp rau,măng, rêu cho các bữa ăn hàng ngày thì săn bắn là công việc gắn liền với đànông Không chỉ cung cấp thực phẩm cải thiện đời sống mà còn bảo vệ mùamàng
Ngày nay do nền kinh tế phát triển, rừng bị thu hẹp dần vai trò săn bắtngày càng bị hạ thấp Cho nên họ tự chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm vườn trồngrau Cung cấp lương thực thực phẩm cải thiện bữa ăn trong gia đình Song sănbắt hái lượm vẫn tồn tại trong đời sống của người Thái
e Trao đổi và buôn bán.
Hoạt động trao đổi buôn bán của người Thái được đánh giá là hoạt độngphát triển ở Tây Bắc
Trao đổi buôn bán là một hoạt động kinh tế bổ trợ không chỉ cung cấp đầy
đủ vật chất hơn trong đời sống sinh hoạt mà còn giao lưu học hỏi những kinhnghiệm, tinh hoa văn hóa tiến bộ của các dân tộc khác trong và ngoài vùng
2 Thiết chế làng bản.
Thế kỷ XI cho đến thế kỷ XIII người Thái đã di cư mạnh mẽ khắp vùngTây bắc và hùng mạnh dần lên Bước sang thế kỷ XI - XIV các lãnh chúa Tháithần phục triều đình phong kiến trung ương (Lý, Trần ) và được phép thiết lậpcác lãnh địa phận phong thế tập cát cư Mỗi vùng thường có một mường trungtâm do một lãnh chúa lớn, là bồi thần trực tiếp của triều đình trung ương đứngđầu, các mường phụ thuộc do con, cháu họ cai quản Mỗi mường có một cơ sởKinh tế - Xã hội tương đối độc lập (có luật tục riêng, chế độ tô thuế riêng ) Tất
cả các khu vực thung lũng có điều kiện thuận tiện nhất cho các hoạt động kinh tế
Trang 12đều thuộc quyền kiểm soát của lãnh chúa Thái, các cư dân bản địa buộc phải lùivào các khu vực hẻo lánh Người thái chở thành chủ thể của Tây Bắc, các tộckhác bị biến thành cư dân lệ thuộc Ngày nay người Thái vẫn sống theo phongtục tập quán cũ chỉ một đơn vị cư trú duy nhất là bản, các bản của người Tháithường ở các vùng bằng phẳng, thung lũng, ven sông suối, tên bản được đặt theotiếng Thái ví dụ như:
Bản Huổi Phạ: Huổi (suối nguồn), Phạ (trời) cho nên tên bản còn có nghĩa
là nguồn suối của trời
Bản Him Lam (Hin Đăm): Hin(đất), Đăm (đen) nên tên bản còn có nghĩ làđất đen
Xã Noong Luống: Noong (ao), Luống (rồng) tên xã còn có nghĩa là aorồng
3 Quan hệ gia đình dòng họ.
Quan hệ dòng họ là quan hệ tương trợ, giúp đỡ giữa các thành viên trongBản của người Thái Họ thường giúp đỡ lẫn nhau những lúc có công việc lớnnhư: Đám cưới, đám ma, làm nhà, Hình thức giúp đỡ trước đây chủ yếu bằngcông đổi công, bằng gạo, củi, rượu Ngày nay ngoài các hình thức trên nếu cóđiều kiện họ có thể giúp đỡ bằng tiền
Quan hệ tương trợ trong dòng họ còn thể hiện ở việc đổi công trong lúcmùa vụ, dựng nhà mới hoặc giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, rủi ro
Người Thái ở Điên Biên chủ yếu là các Họ Lò, Lường, Vì, Khoàng, Quàng,Cầm trong đó họ Lò Được chia làm 3 họ (Lò nọi, Lò căm, Lò Ngân) Mỗi dòng
họ có những quan niệm quy định khác nhau
4 Hôn nhân gia đình.
Trước đây, trong hôn nhân của người Thái thường làm rườm rà, mất thờigian, gây tốn kém tiền của cho gia đình tổ chức lễ thành hôn cho đôi vợ chồngtrẻ Ngày nay, xã hội phát triển, nhận thức được những điều đó, nên việc tổ chứchôn nhân cho đôi vợ chồng trẻ cũng được giản tiện đi rất nhiều, nhưng vẫn giữđược các sắc thái truyền thống riêng của dân tộc mình
Trang 13Để đôi bạn trẻ từ khi quen biết, nẩy sinh tình cảm cho tới lúc thành vợthành chồng phải trải qua các bước như sau:
- Các bước ăn hỏi: Sang thăm dò (pay trám); sang ướm hỏi (pay mai); sang ănhỏi đứt giá trầu cau (pay báy) Đặc biệt có nghi lễ gửi rể là nghi lễ rất quan trọng
để gia đình nhà gái thử thách chàng rể tương lai, sau khi chàng rể trải qua cácbước thử thách của gia đình nhà gái (chàng rể đã được gia đình nhà gái ưng ý),các bước tiếp theo sẽ được tiến hành tiếp
- Các bước trong lễ thành hôn: Lễ trải chăn đệm (pù phả pù sứa); lễ búi tócngược (tẳng cảu); xướng lễ báo ma nhà (lau phi hướn)
Trong lễ thành hôn, bước xướng lễ báo ma nhà là bước cuối cùng, sau khi thủtục báo các tổ tiên đã hoàn tất, cả hai bên gia đình nội ngoại, tất cả những kháchmời tới dự lễ cùng nhau uống rượu mừng, chúc cho đôi bạn trẻ hạnh phúc, tớiđây coi như lễ thành hôn đã hoàn tất các thủ tục và kết thúc lễ
Trong tổ chức hôn nhân của dân tộc Thái đen đều phải trải qua các bướcnghi lễ như trên, mỗi một bước đều có những nghi thức hát đối đáp giữa đại diệngia đình nhà trai và đại diện gia đình nhà gái, nội dung hát đối đáp chủ yếu là đểthăm dò đi tới sự thống nhất cuối cùng là gia đình nhà gái có nhất trí hay không.Đối với trường hợp gia đình nhà gái không nhất trí, mọi công việc sẽ phải dừnglại ở bước sang ướm hỏi Trong trường hợp còn lại mọi bước tiến hành vẫn diễn
ra bình thường, Mỗi một bước lễ đều có những lời khấn, bùa chú do thầy mođược gia đình mời tới chủ trì
5 Tang ma.
Từ xa xưa, dân tộc Thái đã có sự phân chia thứ bậc trong họ tộc gồm 02
họ chính: họ "Lò luông" và họ "Lò nọi" Trong đó, họ Lò luông gồm các họ như:Bạc; cầm họ Lò nọi gồm các họ như: Lò; Lường
Trong nghi thức tang ma phần lớn các thủ tục, nghi thức, nghi lễ gầngiống nhau gồm các bước như:
- Túc trực khi hấp hối: trong nhà khi có người hấp hối, anh em ruột luôn túc trực
ở bên cạnh Lúc này, theo suy đoán của gia đình có thể người đang hấp hối sẽ
Trang 14không qua khỏi, người nhà sẽ lấy các loại lá thơm như lá khế, lá bưởi về đunnước để phòng khi người đó nhắm mắt, xuôi tay còn có nước thơm để lau chùicho sạch sẽ.
- Sau khi tắt thở, lấy khăn mặt của người quá cố nhúng vào nước lá thơm, lauchùi thân thể, chải đầu tóc vừa chải tóc vừa nói vài câu với nội dung đại loại
như: " tắm rửa cho sạch, tắm sạch đi theo ma, chải tóc mượt đi về với tổ tiên
dòng họ" Tiếp đến là mặc quần (váy), áo cho người quá cố, sau đó tiến hành các
bước tiếp theo như khâm liệm, chuẩn bị vải vóc, áo quan, tiến hành báo trời đất,báo tổ tiên và cử người đi xem này giờ để mở tang, chôn cất
- trong việc chôn cất nhất thiết không được trùng những ngày như: ngày thờcúng tổ tiên (vến túng), ngày sinh của những người trong gia đình (vến ók),ngày
lên nhà mới của gia đình (xanh pháy hướn).
Trong tang lễ của người Thái còn có rất nhiều các nghi thức, thủ tục, nghi
lễ liên quan như: làm nhà mồ cho người chết, làm cây cao, các vật dụng chia chongười chết, các con vật hiến tế
Mỗi một tang lễ đều có sự đóng góp của anh em, họ hàng trong làng bản,thể hiện tính đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn
Trong gia đình có tang lễ sẽ cử người đi nhờ thầy mo, là người biết xướng lễ,biết chỉ đường dẫn lối cho hồn người chết lên mường trời, về với tổ tiên
Bài xướng lễ để tiễn đưa hồn người chết về mường trời trước đây thường rất dài,
có thể kéo dài tới 5-6 ngày Ngày nay trình độ nhận thức đã tiến bộ rất nhiều,các bài xướng lễ đã được cắt ngắn đi rất nhiều nhưng vẫn giữ được đầy đủ cácbước chính của phần lễ
Đối với họ Lò nọi, bài xướng lễ của thầy mo chỉ tiễn hồn người chết tới "
liến pán nọi" là kết thúc lễ xướng tức là nơi hội tụ, làm ăn của các linh hồn dòng
họ Lò nọi Đối với họ Lò luông, bài xướng dài hơn một chút, tức là lời xướng lễ
sẽ trải qua "liến pán nọi" lên tới "liến pán luông" mới kết thúc lễ xướng và
chuẩn bị các thủ tục khác để đưa linh cữu người chết về nơi an nghỉ cuối cùng
Trang 156 Trang phục.
Trang phục truyền thống của đồng bào Thái chứa đựng những nét văn hóađặc trưng riêng của tộc người, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Gồm có trangphục nam và trang phục nữ, trong đó:
+ Trang phục nam dân tộc thái: Áo, quần, mũ, tất cả đều được làm bằng vải tựdệt nhuộm chàm của dân tộc Thái Ngày nay, trong phong cách vận bộ đồ trangphục truyền thống nam dân tộc Thái gần như không còn nguyên vẹn, do phụ nữđồng bào Thái đã không còn trú trọng tới việc thêu thùa, may vá nữa Các trangphục nam ngày nay chủ yếu là mua các sản phẩm công nghiệp của dân tộc kinh
có bán ngoài thị truờng
+ Trang phục nữ dân tộc Thái: áo, váy, khăn piêu Mỗi phụ nữ dân tộc Tháingày nay gần như đều có một bộ áo, váy đầy đủ, đậm đà bản sắc văn hóa tộcngười
Trang 16PHẦN II: TẬP TỤC SINH ĐẺ, NGHI LỄ ĐẶT TÊN CHO TRẺ
sự che trở từ các thế lực siêu nhiên giúp họ chống lại những tác động xấu từ
ngoại cảnh Người Thái tin vào số phận, tin vào trời (Then); mọi sự vật hiện
tượng dưới trần gian đều do trời sắp đặt, trời đứng cai quản loài người và vạnvật
Sinh đẻ của phụ nữ các dân tộc nói chung, dân tộc Thái nói riêng là theoquy luật phát triển của tự nhiên, đồng thời ở đó ta thấy được sự quan tâm củacộng đồng xã hội đối với một thành viên mới sắp ra đời như thế nào, từ lúc thai
nghén, đến ở cữ, rồi hết ở cữ cho đến khi làm lễ nhập tổ tiên (nếp tạy)
Việc tìm hiểu, nghiên cứu, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống củadân tộc Thái qua quá trình sinh đẻ của phụ nữ, nhằm tôn vinh những giá trị vănhóa tiêu biểu, góp phần làm phong phú hơn kho tàng văn hóa dân gian ViệtNam
II Thời gian và địa điểm tổ chức.
Đối với dân tộc Thái, trước đây vấn đề sinh đẻ thường được diễn ra tạinhà, việc đỡ đẻ hoàn toàn phụ thuộc vào bà đỡ cùng những người trong gia đình
Ngày nay, sự hiểu biết của người dân cũng được nâng cao, khi trong giađình có người sắp trở dạ sinh con, người nhà sẽ chuyển thai phụ đến bệnh việnhoặc các trạm Y tế gần nhất để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con
Trong quá trình điền dã Bảo tồn tập tục sinh đẻ dân tộc Thái ngành Tháiđen bản Che Căn- xã Mường Phăng- huyện Điện Biên đoàn công tác Bảo tàng
Trang 17tỉnh tiến hành Bảo tồn tập tục sinh đẻ tại gia đình anh Lò Văn Định (sinh năm1990) là chồng của thai phụ Lò Thị Thu (sinh năm 1992).
III Các bước chuẩn bị.
Người phụ nữ Thái khi đã lập gia đình, sau một thời gian ngắn phát hiện
ra mình đã có thai thông qua một số biểu hiện như: kén ăn, xanh xao, trạng tháikhông bình thường mệt mỏi đây là giai đoạn cần chú ý bồi bổ, dưỡng thai và giữgìn sức khoẻ là chủ yếu Người nhà ưu tiên không cho làm những công việcnặng nhọc như: Gánh vác, lên nương, cuốc rẫy…ưu tiên khẩu phần ăn uống,đảm bảo đầy đủ dưỡng chất cho thai nhi phát triển bình thường Trong suốt quátrình mang thai, cùng sự quan tâm của gia đình, thai phụ cũng đã biết tự chuẩn
bị những đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho bản thân và tã lót cùng một số vật dụngcần thiết để chờ đón đứa trẻ chào đời
*Người chồng của thai phụ chuẩn bị: Theo tính toán trước ngày thai phụ
trở dạ khoảng một tuần, người chồng có trách nhiệm chuẩn bị cây tre hoặc câynứa đem về để sẵn ở nhà, đến ngày vợ sinh con sẽ dựng nhà tắm cho vợ
IV Trình tự trong Tập tục sinh đẻ.
* Khi trở dạ sinh con:
Khi thai phụ sắp đẻ thường đau bụng dồn dập, buồn đại tiện, tiểu tiện vàmuốn rặn, cơn đau thưa bà đỡ làm động tác xoa bụng kích thích cho tử cung cobóp để đẩy trẻ ra ngoài Khi thấy đầu trẻ thập thò thì bà đỡ tiến hành như sau:
- Nếu tay phải thuận thì tay trái bà đỡ giữ tầng sinh môn, tay phải bà đỡ ấn đầutrẻ cho trẻ cúi xuống tốt
- Khi đầu trẻ đã cúi bà đỡ tiếp tục: tay trái giữ cho chặt tầng sinh môn, tay phảiđẩy trán và mặt của trẻ sao cho cằm trẻ ra khỏi sinh môn người mẹ
- Khi mặt đã ra khỏi tầng sinh môn bà đỡ lấy khăn sạch móc miệng trẻ cho nước
ối ra hết khỏi miệng Đồng thời đầu trẻ tự xoay nghiêng sau đó bà đỡ lấy 2 tay
áp sát vào 2 má của trẻ kéo xuống phía hậu môn để cho vai trên của trẻ ra khỏiphía trên tầng sinh môn, sau đó tay phải của bà đỡ cho xuống dưới đỡ cổ và gáycủa trẻ đẩy lên phía trên, tay trái bà đỡ giữ tầng sinh môn sao cho khỏi bị rách,
Trang 18khi vai sau đã ra khỏi tầng sinh môn, tay dưới bà đỡ ngửa lên trên để đón lấymông và chân trẻ
* Khi đứa trẻ chào đời:
Khi đứa bé lọt lòng "tốc phạk" bà đỡ nhanh tay đỡ trẻ, cắt rốn với nhữngthao tác như sau:
- Lấy chỉ thắt chặt rốn, cách cuống rốn khoảng 2cm
- Lấy cật thanh nứa nhỏ bằng hai ngón tay, lấy dao vót thật sắc rồi hơ qua lửahoặc nhúng vào nước sôi để khử trùng cho cật nứa rồi cắt rốn trẻ, ngày nay chủyếu là dùng kéo cắt
- Lấy nước ấm lau cho trẻ rồi đưa cho bà đón trẻ (me hặp), bà đón bế bé trên tayrồi quấn tã cẩn thận, đưa bé nằm vào một cái mẹt và đặt trong gian bên sàn rửa(chán)
Để đầu bé quay ra hướng ngoài cửa, chân bé quay vào trong nhà Bởitheo quan niệm: Giữa đứa trẻ và rau trong bụng người mẹ có liên quan đếnnhau, khi rau trong bụng mẹ chưa ra thì có thể đe doạ đến tính mạng sản phụ bất
cứ lúc nào Đặt đứa trẻ như vậy có ý nghĩa như:
- Một là: Theo tư thế xuôi lúc bé lọt lòng chân vẫn quay về hướng mẹ để đợi
rau trong bụng mẹ ra hết
- Hai là: Để cho tổ tiên biết và phù hộ người mẹ thoát khỏi tai ương
Trong thời gian sinh đẻ, người nhà phải đun nước thuốc để tắm cho sảnphụ Theo quan niệm của người Thái sản phụ sau khi sinh từ 6-7 ngày, kiêngkhông được tắm nước lã sẽ hại, sức khoẻ lâu hồi phục Do vậy người chồng phải
lo đun nước tắm hàng ngày cho vợ con Trong khoảng từ 6-7 ngày đầu, cả hai
mẹ con phải tắm lá thuốc mỗi ngày từ 5-6 lần (nước lá thuốc đun sôi để âm ấmtắm, không được pha thêm nước lã) Lượt tắm trong ngày tiếp theo giảm dầnđến khi một ngày chỉ cần tắm nước lá thuốc từ 1- 2 lần cho đến hết tháng
* Chăm sóc cho sản phụ:
Sau khi sinh xong hai mẹ con sẽ được tắm nước thuốc do người chồngđun sẵn, cùng với đó người nhà khẩn trương kê sạp, chải đệm, gối kê đầu, chănđắp cho hai mẹ con nằm, đặt hai sọt phía cuối giường, một sọt để đựng tã sạch
Trang 19cho trẻ và một sọt đựng tã bẩn Người chồng mang củi to vào nhóm lửa bếp chohai mẹ con sưởi (bếp đã chuẩn bị trước) Khi sản phụ được tắm rửa vệ sinh sạch
sẽ, các bà đưa sản phụ đến ngồi nơi bếp lửa, phía trên sà nhà nơi sản phụ ngồi cóbuộc khăn piêu thõng xuống để sản phụ ngồi vịn Ngồi như vậy sẽ có tác dụngcho máu bẩn dồn ra hết mới mau sạch người Nếu cho sản phụ vào nằm ngay thì
sẽ không được tốt, vì máu sẽ dồn lên phía đầu, sẽ đau đầu và choáng Khi sảnphụ vào ngồi ghế rồi, trước tiên là đưa cho sản phụ bát nước thuốc đun từ lá câyphang (là một loại cây thân thảo mọc trong rừng) còn nóng, để sản phụ uốngngay, vừa uống vừa thổi "pấu sột" Đây là loại thuốc có tác dụng để hồi phụcsức khỏe
Bên cạnh sản phụ, đứa trẻ được chải chăn riêng (pái phả neo), mền bôngchải xuống trước, lấy tã lót dầy phủ lên trên Quấn tã cho bé rồi đặt bé nằmxuống, lấy chăn bông dầy đắp từ vai bé xuống Lấy một chiếc chăn bông nữaquấn thành nửa vòng tròn từ vai bên phải của bé vòng qua đầu đến vai bên tráicủa bé, rồi lấy một mảnh vải xô đậy lên, đứa trẻ lúc nào cũng giữ được độ ấm,tránh con ruồi và bụi bay vào mắt trẻ Cả hai mẹ con đều phải nằm quay đầu vàohướng trong nhà, chân quay ra ngoài cửa Sản phụ chủ yếu ngồi ghế mây (tắngcắm bươn) trên mặt ghế lót váy cũ, dưới gầm ghế cho than nóng, lá thuốc phủlên than để hơi thuốc bốc lên toả vào người sản phụ ngồi mỏi thì vào nằm,nhưng vẫn phải quay lưng vào lửa hơ gọi là hơ người cho cứng cáp (xang tôxang kính, hẩư kính khanh) sưởi cho ấm đều khắp, kết hợp lá thuốc gầm ghế bốclên và uống nước thuốc đun sôi (pấu sột) để khí huyết lưu thông chóng bìnhphục sức khoẻ
- Bếp lửa của sản phụ không được ai dẫm lên nhất là khi sắc thuốc
- Từ ngày đầu mới đẻ cho đến hết một tháng người sản phụ phải lấy khăn piêuthắt bụng, vì quá trình mang thai 8-9 tháng, bụng sản phụ đã bị giãn ra hết cỡ, docho nên lấy khăn thắt bụng có tác dụng làm cho da bụng nhanh chóng co lại nhưtrạng thái ban đầu, cũng chính việc thắt bụng đã giúp phụ nữ Thái sau khi sinh
nở vẫn gọn gàng, cân đối không bị xồ xề
- Đầu sản phụ bao giờ cũng cuốn khăn cho ấm
Trang 20Trong khoảng 6-7 ngày đầu người chồng không phải đi làm gì ngoài chăm locho vợ ăn, uống, đun nước cho vợ tắm.
* Ăn uống của sản phụ:
Ăn uống của sản phụ trong một, hai ngày đầu chủ yếu ăn cơm lam vàuống nước thuốc Uống nước lúc nóng vừa thổi vừa uống (pấu sột), đến ngàythứ ba sản phụ mới được ăn thêm xôi nếp (khẩu nửng) Thức ăn sản phụ chủ yếu
là rau rừng, rau vả, rau sung, rau hoa ban, rau ngót, cỏ mần trầu và tất cả các loạirau có hoa trắng, là loại rau có tác dụng giải nhiệt, không hại bụng (pay tọng)còn giúp cho sản phụ có nhiều sữa
- Cá chủ yếu ăn cá trê (pa đúc), cá diếc (pa phé), cá trôi, pa mọm, pa khính;riêng cá mè cá chép (pa phé), thịt trâu trắng (nhứa quái đón) kiêng không được
- Muối chấm của sản phụ cũng phải cho vào lá chuối nướng chín khử chất tanhmới được ăn
- Mỗi loại rau giống như một vị thuốc rất tốt cho sản phụ như: giúp sản phụchóng hồi phục sức khoẻ, có sữa nhiều
Tóm lại: Thức ăn, uống của người mẹ có liên quan trực tiếp đến sữa mẹ
và ảnh hưởng tốt hay xấu đến con bú, nên người mẹ phải ăn, uống đảm bảo đầy
đủ dưỡng chất
* Bài gội đầu cho trẻ:
Đối với bé vẫn tắm nước lá thuốc đun sôi để nguội, nhưng có nội dunggọi là lý: Mẹ vừa tắm gội cho con vừa có lời nói tình cảm thành bài với nội dunggạt bỏ những điều xấu xa bẩn thỉu, hôi tanh và cầu mong cho con mau lớn khôn:
Ón nọi chắng mí
Trái (nhính) đi chắng đảy
Trang 21Xam mự ếm chí nhá pang pộc Hốc mự ếm chí nhá pang pháy Nặm khẩu má xák xik hua Nặm bua ngấn, bua cắm xák xia cẩu Xák xia mát cái ai hại nhấư xung ộ ộc nớ
Dịch
Bé nhỏ mới cóTrai (gái) nhỏ mới sinh
Ba ngày mẹ sẽ thôi nằm cạnh bếp Sáu ngày mẹ sẽ thôi nằm cạnh lửa Gội nước gạo gạt bỏ điều xấu Nước hương bạc, hương vàng xoá bỏ hôi tanh dính trên đầu Gạt bỏ những điều xấu xa bẩn thỉu
Để con mau lớn mau khôn
* Mẹ dậy con sau tắm gội: Tắm gội xong lấy tã lót quấn vào cho bé rồi lấy lược
chải đầu cho bé, vừa chải vừa ngắm con vừa nói :
" Bók…bók hók têm hua nhá chạn Pay qua bản qua mướng nhá lặc Nứa hay nhá lặc kin tẩu kin tanh Kin tẩu kin tanh ải ếm púk thoi
Dịch:
Tóc bạc đầy đầu đừng lười
Đi chu du thiên hạ đừng trộm Đừng trộm ăn trứng
Lên nương đừng trộm ăn dưa ăn quả
ăn quả ăn dưa cha mẹ trồng thôi nhé)
* Tục cắm ta leo và ý nghĩa của nó:
Từ ngày đầu gia đình có người sinh nở là phải cắm Taleo Do vậy ôngnội, ông ngoại khẩn trương lấy tre về đan Taleo để cắm: