Nhng vấn đề quan trọng hơn, cái đích của công trình đề cập tới là tìm hiểu chức năng thứ hai của rừng - chức năng thông tin; bởi thông qua các tài nguyên rừng, đất rừng và nguồn nớc ngời
Trang 1Dẫn Luận
Tri thức dân gian hay còn gọi là tri thức bản địa là những hiểu biết của cácthế hệ con ngời ở một vùng, một địa phơng về những sự vật, hiện tợng hiện hữuxung quanh (bao gồm tự nhiên và xã hội) cùng những tri thức có đợc qua quátrình giao lu, tiếp xúc với bên ngoài Những tri thức ấy đợc chắt lọc, lu truyền dớinhiều hình thức qua nhiều thế hệ làm hình thành nên những tập quán quản lý vàkhai thác các tài nguyên thiên nhiên cùng các cung cách ứng xử đối với các tàinguyên đó nhằm thích ứng với môi trờng tự nhiên và xã hội của con ngời
Dân tộc Hà Nhì gắn bó cuộc sống với rừng, rừng không chỉ cung cấp cho họnguồn thức ăn từ tự nhiên (thịt, rau, măng, nấm, củ, quả các loại) mà nó còn cho
họ đất trồng trọt, nớc sinh hoạt, tới tiêu Tất cả hợp lại tạo thành một môi trờngsống và từ lâu đã hình thành một môi trờng văn hoá của ngời Hà Nhì - văn hoá
rừng mà nói rộng ra là văn hoá ứng xử với các nguồn tài nguyên thiên nhiên: rừng, đất đai và nguồn nớc Từ các hoạt động mu sinh nh khai thác những
nguồn lợi tự nhiên (săn bắt, hái lợm), các hoạt động sản xuất (trồng trọt, chănnuôi), một số sản phẩm dùng trong trao đổi, mua bán cho đến các hoạt động vănhoá (tín ngỡng, lễ hội, văn học - nghệ thuật), tổ chức và quan hệ xã hội, văn hoávật chất và văn hoá tinh thần đều không tách ra khỏi mối quan hệ với rừng, đất
đai và nguồn nớc
Đối với con ngời rừng, đất rừng và nguồn nớc có hai chức năng chủ yếu.Chức năng thứ nhất, đó là nơi cung cấp tài nguyên, lơng thực, thực phẩm và điềuhoà môi trờng sống Chức năng thứ hai là chức năng thông tin (thông tin môi tr-
ờng, thông tin xã hội, thông tin văn hoá ) Trong đó, những thông tin về văn hoá đóng vai trò quan trọng Vì vậy, chúng không chỉ là đối tợng nghiên cứu
của các ngành môi trờng, lâm nghiệp, địa chất, khoáng sản, sử học (lịch sử tự
nhiên) mà còn là đối tợng nghiên cứu của văn hoá học, dân tộc học.
Nghiên cứu Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nớc của dân tộc Hà Nhì ở Mờng Tè, chúng tôi có đề cập đến chức năng thứ nhất của các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nớc - chức năng nuôi sống và điều hoà môi trờng sống cho con ngời ở đây không chỉ chú ý tới các loại tài nguyên
rừng (cây cối, chim muông ) hay quy mô, độ che phủ mà thông qua việc tìmhiểu các tập quán và cách ứng xử của ngời Hà Nhì với với các nguồn tài nguyên kểtrên để tìm hiểu các tri thức và kinh nghiệm dân gian của ngời Hà Nhì Tri thức này
Trang 2phản ánh cả trong tập quán pháp, trong thơ ca, truyện kể của ngời Hà Nhì, thấm
đẫm trong các ứng xử của ngời Hà Nhì với rừng
Nhng vấn đề quan trọng hơn, cái đích của công trình đề cập tới là tìm hiểu
chức năng thứ hai của rừng - chức năng thông tin; bởi thông qua các tài nguyên
rừng, đất rừng và nguồn nớc ngời ta nhận biết đợc cộng đồng dân c ở đó đã cónhững thái độ nh thế nào đối với rừng Những cánh rừng ở đó còn phản ánh dấu
ấn tộc ngời, dấu ấn của lịch sử, dấu ấn của một nền kinh tế, của thiết chế xã hội Tìm hiểu Tập quán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồnnớc của dân tộc Hà Nhì ở Mờng Tè cũng nh nội dung thông tin của nó, chúng tôimuốn đề cập đến các giá trị văn hoá, lịch sử, xã hội của ngời Hà Nhì Từ đó, gópphần tìm hiểu bản sắc văn hoá tộc ngời này
Đối tợng nghiên cứu của công trình là hai nhóm Hà Nhì Lạ Mí và Hà Nhì
Cồ Chồ ở huyện Mờng Tè, tỉnh Lai Châu – một trong những địa phơng có mật
độ ngời Hà Nhì c trú đông đảo và đậm đặc nhất trong toàn quốc đồng thời cũng
có sự bảo lu văn hoá truyền thống tốt hơn cả Trong đó, tập trung tại địa bàn c trúchủ yếu của ngời Hà Nhì ở các xã vùng cao, vùng sâu Mù Cả, Ka Lăng, ThuLũm; đồng thời có so sánh, đối chiếu với các bản Hà Nhì ở các xã vùng thấp,vùng gần thị trấn, gần đờng nh Kan Hồ, Hua Bum, Bum Na, Bum Tở
Nguồn tài liệu nghiên cứu chủ yếu là tài liệu điền dã, đồng thời có thamkhảo một số công trình của một số tác giả trong và ngoài nớc đã công bố và một
số bài báo đăng trên các tạp chí Dân tộc học, tạp chí Văn hoá dân gian trongnhững năm qua có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong công trình này
Để tìm hiểu các giá trị văn hoá tộc ngời và các tập quán quản lý và khai tháccác tài nguyên thiên nhiên tại các địa bàn cơ sở nên phơng pháp đầu tiên đợc áp
dụng ở đây là phơng pháp điền dã khảo sát thực địa lấy kết quả của quá trình
điền dã làm tài liệu cơ bản trong quá trình nghiên cứu Tập quán quản lý và khaithác các tài nguyên thiên là một tập hợp các yếu tố văn hoá, kinh tế, xã hội trongmột tổng thể không thể tách rời, phản ánh không chỉ mối quan hệ giữa con ngờivới con ngời mà còn là mối quan hệ hai chiều giữa còn ngời với thiên nhiên Do
đó, nghiên cứu Tri thức dân gian về rừng của ngời Hà Nhì không thể chỉ xem xét
từ góc độ tự nhiên mà phải áp dụng phơng pháp hệ thống, xác định đó là một hệ
thống gồm nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến nếp sống tộc ngời, tôn giáo tínngỡng, phong tục, biểu tợng, các cung cách ứng xử khác nhau Đồng thời, để
nghiên cứu hiện tợng văn hoá này cũng cần áp dụng phơng pháp nghiên cứu liên ngành và đa ngành, phơng pháp chuyên gia Mặt khác, nghiên cứu Tri
Trang 3thức dân gian về rừng của ngời Hà Nhì cũng cần nghiên cứu sự giống và khácnhau với các nhóm Hà Nhì khác (Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì Đen), giữa địa phơngnày với địa phơng khác, các tập tục cổ truyền cũng nh sự biến đổi Bởi vậy, cần
áp dụng phơng pháp so sánh đồng đại và lịch đại
Trong lịch sử, ngời Hà Nhì đã đợc nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dớinhiều góc độ và cấp độ khác nhau Riêng ở lĩnh vực sử học và địa lý, thời cổ
trung đại ở Trung Quốc có các tác phẩm “Sử ký T Mã Thiên”, “Hán Th”, “Sử ký
Tây nam Di Việt truyện”, “Hoa Dơng Quốc chí”, “Man th”, “Đờng th”, “Vạn lịch Vân Nam thống chí” đợc viết vào các đời Tần, Hán, Đờng Các tác phẩm này đều
có ít nhiều đề cập đến ngời Hà Nhì với t cách là một trong các chủ nhân của cácquốc gia cổ đại, những cuộc chiến tranh thị tộc, bộ lạc ở phía nam Trung Nguyênhay nguyên nhân và các bớc đờng di c của tộc ngời này chứ cha đi sâu vào tìmhiểu những tri thức dân gian hay những tập tục của ngời Hà Nhì với rừng
Đề cập đến ngời Hà Nhì dới góc độ lịch sử và dân tộc học đã đợc một số nhànghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm từ đầu thập niên 60 của thế kỷ trớc Mở
đầu là tác phẩm “Chế độ nô lệ và nhà nớc Nam Chiếu” của học giả ngời Trung
Quốc Ma Trờng Thọ (ấn hành năm 1960), tác phẩm đi sâu vào nghiên cứu lịch sử
và chế độ xã hội cổ truyền của một số dân tộc ít ngời ở vùng Hoa Nam trong đó
có ngời Hà Nhì với t cách là một trong những chủ nhân của vơng quốc NamChiếu cổ xa Năm 1985, Viện Dân tộc học thuộc UBKHXHVN (nay là Viện
Khoa học xã hội Việt Nam) đã cho ra mắt công trình “Các dân tộc ít ngời ở Việt
Nam (các tỉnh phía Bắc)” Trong đó, ngời Hà Nhì đợc đề cập đến với t cách là
một dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến Năm 1985, tác giả Nguyễn
Văn Huy công bố tác phẩm “Nếp sống văn hoá nhóm ngôn ngữ Hà Nhì - Lô Lô”.
Cuốn sách đã phần nào toát lên đợc những phong tục và một số nét văn hoá chủyếu của ngời Hà Nhì ở Việt Nam Năm 2004, tác giả Chu Thuỳ Liên đã công bố
công trình “Tìm hiểu văn hoá dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam” Đây là công trình
dân tộc học đầu tiên đề cập khá đầy đủ và chi tiết về văn hoá ngời Hà Nhì, trong
đó có nhiều mục đề cập đến những tác động của rừng đối với ngời Hà Nhì và một
số nghi lễ tín ngỡng của ngời Hà Nhì với rừng
Dới góc độ văn hoá dân gian, năm 1985, sinh viên Lê Đình Lai đã thực hiện
Luận văn tốt nghiệp với đề tài “Sơ bộ tìm hiểu và giới thiệu hai truyện thơ dài
Xa Nhà Ca và Phuỳ cá ná cá của dân tộc Hà Nhì
Dới góc độ quản lý văn hoá, cuốn sách “Văn hoá Hà Nhì trên con đờng
phát triển” của Nhà xuất bản Bắc Kinh ấn hành (1980) đã bớc đầu phản ánh một
Trang 4cách có hệ thống những yếu tố văn hoá truyền thống của ngời Hà Nhì và nhữngbiến đổi trong thời kỳ mới.
Trớc sự khủng hoảng ngày càng trầm trọng của môi trờng, ngày càng cónhiều các nhà khoa học trong và ngoài nớc quan tâm đến mối quan hệ giữa conngời với môi trờng tự nhiên Trong đó nghiên cứu chuyên về môi trờng dới góc
độ dân tộc học và văn hoá học đã đợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nớcquan tâm và tiếp cận với nhiều hớng khác nhau
Nhiều công trình đã nhìn nhận tôn giáo, nghi thức và các biểu tợng nh làmột thực thể điều hoà mối quan hệ giữa con ngời và tự nhiên ở nớc ngoài, tiêu
biểu có các công trình nh: Forest, Indigenous Peoples and Biodiversity (Rừng,
những con ngời bản địa và sự đa dạng sinh thái) của Barsh, Russel Lawrence, in
trong Indigenous People and Forest Monteal: January Body of Power, Spirit of
Resistance: the Culture and History of a South African People (Hình thể của sức mạnh, linh hồn của sự đối kháng: Văn hoá và lịch sử của ngời Nam Phi) của
Camaroff, Jean (1995) Cosmology as Ecological Analysis: A view from the Rain
Forest (Vũ trụ quan nh là sự phân tích sinh thái học: Một nghiên cứu từ vùng rừng nhiệt đới) của G.Reichel - Dolmatoff (1975) Huxlec memorial lecture Local Model of the Environment: Anthropological Perspectives (Mô hình bản
địa về môi trờng: những cách tiếp cận nhân học) của Kaj Arhem Tài liệu trình
bày trong hội thảo Các cộng đồng tộc ngời trong sự thay đổi của môi trờng sinh
thái Chiang Mai, 1997 A Comparative Study of Indigennous and Scientific
Concepts in Land and Forest Classification in Northern Thailand (Một nghiên cứu so sánh giữa tri thức của ngời bản địa và các khái niệm khoa học về sự phân chia rừng và đất ở miền Bắc Thái Lan) của Santita Ganjanapan In trong Seeing Forest for tree: Environment and Environmentalism in Thailand: Philip Hirch
biên tập Chiang Mai: Silk Worm bock (1997)
Cũng theo hớng lý thuyết này, ở Việt Nam có các công trình nh: ảnh hởng
của việc phát rừng làm nơng rẫy đối với môi trờng sinh thái của các dân tộc miền núi Tây Bắc của Hoàng Cầm Công trình dự thi sinh viên nghiên cứu khoa
học do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức Hà Nội, 1994 Tri thức bản địa trong việc
bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của
Phạm Quan Hoan Tài liệu trình bày trong hội thảo Các cộng đồng tộc ngời trong
sự thay đổi của môi trờng sinh thái Chiang Mai, 1997 Nghi thức, nghi lễ và việc
bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của ngời Thái của Hoàng Cầm (TCVHDG,
số 2, 2000) Tín ngỡng và lễ tục dân gian đối với môi trờng sinh thái tự nhiên của
Ninh Viết Giao (TCVHDG, số 1, 2002)
Trang 5Nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề và giải quyết vấn đề theo hớng lýthuyết gắn liền tập quán mu sinh của các tộc ngời bản địa với các yếu tố môi sinh
trong vùng Tiêu biểu có công trình Tập quán mu sinh của các dân tộc thiểu số ở
Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình (2005) Nhiều bài viết đợc đăng trên các tạp
chí chuyên ngành dân tộc học và văn hoá học nh: Tài nguyên rừng đối với cuộc
sống và truyền thống sản xuất của đồng bào thuộc các tộc ngời Việt Nam của Võ
Trí Chung, (TC DTH, số 2, 1984) ứng xử của ngời Dao Tuyển - Khởi Khe với
môi trờng của Vi Văn Đông, (TC DTH, số 1, 1997) Phát huy tiềm năng thế mạnh của kinh tế rừng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội miền núi của
Phan Xuân Đợt (TC DTH, số 1, 1983) Tri thức địa phơng trong việc sử dụng
thuốc nam của ngời Dao Đỏ của Trần Hồng Hạnh (TC DTH, số 5, 2000) Tri thức địa phơng tộc ngời tác động đến dân số - kế hoạch hoá gia đình và các dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc của Đặng Thị Hoa (TC DTH, số 1, 2001) Tri thức địa phơng về cây thuốc của ngời Mông ở Tây Bắc Việt Nam của Đặng
Thị Hoa (TC DTH, số 6, 2001) Vai trò của các thiết chế xã hội truyền thống
trong việc quản lý nguồn tài nguyên cộng đồng của ngời Mông của Phạm Quang
Hoan (TC DTH, số 2, 1994) Các dân tộc thiểu số và việc quản lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam của Phạm Quang Hoan, Hoàng Hữu
Bình (TC DTH, số 3, 1996) ứng xử của ngời Mông và môi trờng của Phạm Quang Hoan, Nguyễn Ngọc Thanh (TC DTH, số 4, 1998) Vài nét về truyền
thống quản lý và bảo vệ rừng của ngời MNông của Lu Hùng (TC DTH, số 3,
2001) Ngời MNông trớc tình trạng suy giảm TNTN của Lu Hùng (TC DTH, số
5, 2002) ảnh hởng của thiết chế xã hội truyền thống tới hởng sử dụng đất đai
ngày nay ở ngời Mờng của Quách Thị Oanh (TC DTH, số 4, 2003).
Dới góc độ văn hoá dân gian có các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành
nh: Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất khoán rừng và quản lý
tài nguyên thiên nhiên của Hoàng Xuân Tý (TCVHDG, số 1, 2000) Luật tục và việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số
4, 1998) Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam của Ngô
Đức Thịnh (TCVHDG, số 1, 2000) Buôn làng, luật tục và vấn đề quản lý cộng
đồng của các dân tộc Tây Nguyên hiện nay của Ngô Đức Thịnh (TCVHDG, số 1,
2002) Hơng ớc với vấn đề bảo vệ môi trờng của Võ Quang Trọng (TCVHDG, số
1, 2002) Lễ hội dân gian và sự phản ánh những truyền thống văn hoá của dân
tộc của Đinh Gia Khánh (TCVHDG, số 2, 2000)
Nh vậy, điểm qua hàng loạt các công trình và bài viết tiêu biểu của các nhàkhoa học trong và ngoài nớc qua các thời kỳ lịch sử, chúng ta thấy, các tác phẩm
Trang 6đã công bố mới chỉ đề cập đến ngời Hà Nhì ở góc độ sử học và văn hoá học hoặcdân tộc học ở góc nhìn mang tính tổng quan Hoặc mối liên hệ giữa văn hoá vớimôi trờng ở các dân tộc khác chứ cha có một chuyên khảo nào đề cập đến Tậpquán quản lý và khai thác các tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nớc của dân tộc Hà
Nhì một cách đầy đủ và hệ thống ngoại trừ công trình Tập quán mu sinh của các
dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình là có đề cập đến một khía
cạnh của vấn đề này ở góc độ của tập quán mu sinh
Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡnhiệt tình của nhiều nhà khoa học và các nghệ nhân dân gian mà đặc biệt là TS.Trần Hữu Sơn (Sở Văn hoá - thông tin tỉnh Lào Cai) đã động viên, khích lệ vàgóp ý cho công trình; nghệ nhân Pờ H'lóng Tơ, ngời dân tộc Hà Nhì ở bản MùCả, xã Mù Cả, huyện Mờng Tè, tỉnh Lai Châu đã cung cấp cho chúng tôi rất
nhiều t liệu quý nh: Trờng ca Xa Nhà Ca, Sử thi P'huỳ Ca - Na Ca, nội dung các
bài cúng, luật tục, các bài dân ca, các câu vần truyền khẩu, các câu truyện cổ…của ngời Hà Nhì mà ngày nay hầu hết c dân các bản Hà Nhì ở Mờng Tè khôngcòn biết hoặc không nhớ Đồng thời, chúng tôi cũng nhận đợc sự giúp đỡ, độngviên của rất nhiều cơ quan, đơn vị bộ đội và nhân dân ở các địa bàn chúng tôitriển khai điền dã Nhân đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới lãnh đạo vànhân dân các địa phơng, các cán bộ, chiến sĩ Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh LaiChâu và các Đồn biên phòng 311, 313 và đồn 315
Do khả năng có hạn cộng thêm những khó khăn về thời gian và kinh phí,cuốn sách chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, chúng tôi kính mong nhận đợcnhững đóng góp quý báu và lợng thứ của độc giả./
Lai Châu, năm 2007
Thay mặt nhóm su tầm và biên soạn
Bùi Quốc Khánh
Trang 7Chơng I
Khái quát Về ngời Hà Nhì ở mờng Tè
Nằm tận cùng về phía Tây Bắc của tỉnh Lai Châu, Mờng Tè là một huyệnvùng cao biên giới giáp với nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có đờng biên giớidài 143,5 km và giáp với các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu), MờngLay, Mờng Nhé (tỉnh Điện Biên) Huyện lỵ Mờng Tè nằm cách tỉnh lỵ Lai Châuhơn 180 km về phía Tây Bắc theo đờng bộ 127 12 4D
Huyện Mờng Tè nằm trong toạ độ địa lý từ 19054' đến 22047' vĩ độ Bắc và từ
102009' đến 103006' kinh độ Đông Toàn huyện có 15 đơn vị hành chính với 01Thị trấn và 14 xã là Kan Hồ, Ka Lăng, Hua Bum, Bum Tở, Nậm Hàng, NậmKhao, Mờng Mô, Mù Cả, Tà Tổng, Mờng Tè, Bum Na, Thu Lũm, Pa ủ, Pa Vệ Sủvới diện tích tự nhiên là 3.678,83 km2, chiếm 40,6% diện tích tự nhiên tỉnh LaiChâu Huyện Mờng Tè có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống với dân số 42.081ngời, chiếm 13,42% dân số toàn tỉnh
1 Tộc danh và lịch sử tộc ngời
1.1 Tộc danh, dân số và địa bàn phân bố dân c
Ngời Hà Nhì hiện là một trong bốn dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến c trú ở huyện Mờng Tè [1] Đồng bào tự gọi mình là Hà Nhì già hoặc HàNhì trzó già (đều có nghĩa là ngời Hà Nhì) Nhiều dân tộc khác trong vùng gọingời Hà Nhì bằng những tên gọi khác nhau Ngời Côống gọi ngời Hà Nhì là AKhà, ngời Mông gọi là Maá, ngời Dao gọi là Kà Nía Trong thời phong kiến vàthực dân nửa phong kiến, ngời Hà Nhì cũng nh một số dân tộc khác trong nhómngôn ngữ Tạng - Miến bị gọi bằng những cái tên mang tính miệt thị, coi rẻ nhXá, U Ní Kể từ sau cách mạng thành công đã thống nhất dùng danh xng tộc ng-
-ời của đồng bào làm tên gọi chính thức
Ngời Hà Nhì có 3 nhóm chủ yếu là Hà Nhì Đen, Hà Nhì Cồ Chồ và Hà NhìLạ Mí Mỗi nhóm Hà Nhì đều có những sắc thái riêng thể hiện trên các khía cạnh
nh ngôn ngữ, trang phục và phong tục tập quán
Tính đến ngày 31/12/2004, ngời Hà Nhì ở Mờng Tè có 7.523 ngời, chiếm17,9% tổng dân số toàn huyện, đứng ở vị trí thứ 3 sau ngời Thái (10.256 ngời,chiếm 24,37%) và ngời La Hủ (7.928 ngời, chiếm 18,84%)
Trang 8Ngời Hà Nhì ở Mờng Tè thuộc về hai nhóm là Hà Nhì Cồ Chồ và Hà Nhì Lạ
Mí Nhóm Hà Nhì Cồ Chồ c trú tập trung ở các bản Xi Nế (xã Mù Cả), A Mé (xã
Tà Tổng), Nậm Hạ (xã Kan Hồ), Chang Pa Chải (xã Hua Bum) Nhóm Hà Nhì Lạ
Mí c trú tập trung ở các xã Ka Lăng, Thu Lũm và các bản Mù Cả, Ma Ký, Gò Cứ(xã Mù Cả), Nậm Lọ (xã Kan Hồ) Ngoài ra, đồng bào còn c trú rải rác thànhtừng hộ hay từng nhóm hộ ở hầu hết các xã và thị trấn trong huyện Trong mỗibản hay nhóm dân c ít nhiều đều có sự c trú đan xen giữa hai nhóm Hà Nhì do hệquả của quá trình di c và hôn nhân giữa các thành viên của hai nhóm
Theo kết quả nghiên cứu của một số học giả Trung Quốc cho rằng dân tộcnày có nguồn gốc từ Cao nguyên Thanh Tạng, cùng nguồn gốc với dân tộc Di làngời Đê Khơng cổ đại Cuốn "Thợng Th" có ghi chép về ngời "Hoà Di" nh sau:
Ngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, tộc Hoà Di đã c trú ở bên dòng sông Hắc Thuỷ - nay thuộc lu vực sông Đại Độ, sông An Ninh, sông Nhã Lung Giang.
Họ biết khai phá ruộng bậc thang, trồng cấy lúa nớc Do chiến tranh loạn lạc,
họ đã di c về phơng nam đến Các Hàn (nay là Côn Minh) Trong các truyền thuyết cổ của ngời Hà Nhì có lu truyền nhiều dị bản về quá trình tổ tiên ngời Hà Nhì mất đất do Na Già (ngời Hán) chiếm đoạt Tuy nội dung khác nhau, nhng
đều có chung một điểm là ngời Hà Nhì thua trong quá trình tranh chấp bởi phải
đối chọi với ngời Hán lắm mu nhiều kế [2].
Ngời Hà Nhì ở Kim Bình hiện còn lu truyền ký ức ngày ấy: đất Các Hàn có
6.000 ngời Hà Nhì Ngời Hán tuy ít ngời nhng nhiều chủ ý Để đạt đợc mục đích
mở rộng địa bàn đã lợi dụng sự yếu đuối, "sợ hãi quỷ thần" của ngời Hà Nhì Họthu thập rất nhiều la, vào một đêm không trăng sao, trời tối đen nh mực, họ dùngvải bọc vào 4 cái móng của con la, dắt la từ trong thành ra để cho mọi ngời nghethấy tiếng la đi, cho la hí lên, để lại phân của con la Quả nhiên ngời Hà Nhìtrong thành bị trúng kế, đến lúc trời sáng, một số ngời ra ngoài thành thấy cóphân la thì sợ hãi chạy về báo với cộng đồng: Đêm hôm qua thấy có tiếng la đi đ-ờng và tiếng la hí, hôm nay lại nhìn thấy phân la, mà lại không nhìn thấy móng
Trang 9chân la, nhất định là quỷ thần tác quái Nơi này không phải là nơi cho chúng ta ctrú lâu dài đợc.
Theo kết quả nghiên cứu của Chu Thuỳ Liên trong: Tìm hiểu văn hoá dân
tộc Hà Nhì ở Việt Nam có trích dẫn các th tịch cổ của Trung Quốc nh Sử Ký T
Mã Thiên (phần Tây Nam Di liệt truyện), Hán Th, Hoa Dơng Quốc Chí, Vạn lịchVân Nam thống chí, Man Th, Đờng Th thì ngời Hà Nhì cùng với các dân tộctrong nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến hiện nay là hậu duệ của bộ tộc Mị Mạc và bộtộc Côn Minh thuộc khối Tây Nam Di c trú ở các vùng đất của Vân Nam ngàynay nh Đại Lý, Nguy Sơn, Đại Hào, Đào An và vùng Tấn Ninh, Côn Dơng, AnNinh Ngời Hà Nhì khi đó đã cùng với một số dân tộc khác đã xây dựng nên mộtnền văn hoá cổ đại khá phát triển vào cuối thời Chiến Quốc, đầu thời Đông Hán(thế kỷ I - III Sau Công nguyên) Điều này đã đợc chứng minh bởi các hiện vậtphát hiện từ Di tích khảo cổ học ở Thạch Trại Sơn, Tấn Ninh, Vân Nam (vùng đất
c trú cổ xa của bộ tộc Mị Mạc và bộ tộc Côn Minh) [3]
Từ trớc thế kỷ thứ VII Sau Công nguyên, ngời Hà Nhì (khi đó gọi là HoàMan) thuộc nớc Đại Lý Năm 730, nớc Đại Lý bị nớc Nam Chiếu với sự hỗ trợ vềquân lơng và vũ khí của nhà Đờng thôn tín, ngời Hà Nhì đã thiên di dần về phơngNam Đến thế kỷ thứ VIII Sau Công nguyên, ngời Thoát Man, tên gọi của ngời
Hà Nhì khi đó) đã có mặt suốt một dải từ Cam Đờng (Lào Cai - Việt Nam) cho
đến Châu Long Vũ (huyện Lâm An, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc) Từ đó cho đếnnhiều thế kỷ về sau tiếp tục diễn ra những cuộc di c nhỏ lẻ của từng nhóm nhỏngời Hà Nhì từ phơng Bắc xuôi về phơng Nam Cung đờng thiên di của tổ tiênngời Hà Nhì có điểm xuất phát từ các huyện Kim Bình, Lục Xuân (Vân Nam -Trung Quốc) và đích đến là các vùng đất thuộc các tỉnh Lào Cai, Lai Châu và
Điện Biên ngày nay ở Việt Nam
Theo tài liệu điền dã thực địa của chúng tôi khảo sát tại địa bàn các xã KaLăng, Thu Lũm và Mù Cả thì ngời Hà Nhì ở đây di c từ Trung Quốc sang khoảngtrên 200 năm Hiện nay, ở bản Mù Cả vẫn còn một trong hai cây gạo đầu tiên đợcchọn để dựng cổng cấm bản đầu tiên khi họ đặt chân đến đất này Thời gian đầu,ngời Hà Nhì di chuyển tới sinh sống tại đây chỉ có khoảng 5 - 6 hộ gia đình, saumột thời gian ngụ c tại đó, đồng bào lại quay về Vân Nam Tuy nhiên, do khôngchịu đợc áp bức bóc lột của chính quyền phong kiến Trung Hoa, ngời Hà Nhì đãquay trở về Việt Nam Quá trình di c của ngời Hà Nhì diễn ra dần dần chứ không
ồ ạt nh một số dân tộc khác
Tác phẩm sử thi truyền khẩu theo lối văn vần của ngời Hà Nhì là P'huỳ Ca - Na Ca (nghĩa là: Tổ tiên xuống - đất tổ xuống) đợc mở đầu nh sau:
Trang 10Na ma à mé Hà Nhì púng đẹ nà ma à mé
Hà Nhì p'hu trzó Suỳ P'huỳ à K'hoòng
Hà Nhì mí chạ Na Chô Chô ứ
Tồ tre Lé Lụ à Khoóng
Tò nà Suỳ P'huỳ à K'hoòng
Go c gồi truỳ la ó, tò tre truý gá
Lé Lụ à Khoòng là nơi giải quyết mọi việc
Suỳ P'huỳ à Khoòng là nơi học hỏi mọi thứ
Phía dới có 9 quan về gặp nhau giải quyết việc chung
ở trên có 7 thầy mo xuống bàn về lý lẽ
Bản ở giữa có hàng rào đợc rào bằng 700 đôi
Bên trong hàng rào có chúa cai quản
Ruộng lớn đợc tới bằng nớc sông Ha Sa theo 12 con mơng
Bản lớn của ngời Hà Nhì ở giữa với 7.000 hộ
Trang 11Ba thầy mo cúng một nhà bình yên
Ba quan cai quản một bản giàu có
Dù quan cai quản không giỏi mà dân không loạn
Dù thầy mo cúng không giỏi mà nhà không sa sút
Na Chô Chô ứ bình yên, đất Hà Nhì giàu mạnh
Cũng theo Sử thi P'huỳ Ca - Na Ca thì sau khi quốc gia cổ Na Chô Chô ứ
bị Na già (tức ngời Hán) "tim đen bụng xấu" chiếm đoạt, ngời Hà Nhì phải di c
theo ba ngả:
- Một nhóm từ Na Chô Chô ứ đi các nơi khác nh Mianma, Lào, Thái Lan.
Các cộng đồng này hiện cũng đợc gọi bằng những cái tên nh Hà Nhì hay A Khà;
- Một nhóm từ Na Chô Chô ứ đi dọc theo dòng Nậm Na và "rơi lại" các
huyện Phong Thổ và Sìn Hồ (Lai Châu) Một nhóm xuôi theo sông Hồng và "rơilại" huyện Bát Xát (Lào Cai) Đây là các cộng đồng thuộc nhóm Hà Nhì Đen; và
cho đến nay các cộng đồng ngời này vẫn tự gọi mình là Hà Nhì Ca Đu (nghĩa là:
2 Điều kiện tự nhiên - x Hội vùng ngã Hội vùng ng ời Hà Nhì ở Mờng Tè
2.1 Điều kiện tự nhiên
Vùng ngời Hà Nhì ở Mờng Tè thuộc khối nâng kiến tạo mạnh nên mức độchia cắt sâu và ngang từ lớn đến rất lớn Mức độ chia cắt sâu từ 400 ữ 500m/km2, mức độ chia cắt này đợc tạo bởi các dãy núi cao chạy dài theo hớng Tây
Bắc - Đông Nam, phổ biến ở kiểu địa hình núi cao và trung bình Độ cao trung
bình từ 900 ữ 1.500 m so với mặt nớc biển, trong đó có đỉnh Phu Xi Lung cao3.076 m Độ dốc địa hình rất lớn, chủ yếu từ 25 ữ 300, có nơi dốc trên 450, nhiều
điểm tạo thành vách đá dựng đứng
Vùng cao Mờng Tè nằm trong vành đai nội chí tuyến Một năm có 2 lần mặttrời lên thiên đỉnh Đồng thời khí hậu nơi đây còn mang những đặc điểm của chế
Trang 12độ khí hậu điển hình vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc, ít chịu ảnh hởng của bão,mùa đông lạnh và ít ma, mùa hè nóng, ma nhiều và ẩm ớt Do địa hình chia cắtmạnh nên đã tạo ra trong địa bàn huyện nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau thểhiện ở cả chế độ nhiệt, chế độ ma và chế độ gió.
Chế độ nhiệt có sự phân biệt rõ rệt giữa các tiểu vùng theo bình độ Trong
đó, vùng núi cao có nhiệt độ bình quân là 150C; vùng núi trung bình có nhiệt độbình quân là 200C, còn các vùng thấp < 700 m (vùng thấp và vùng máng trũng)nhiệt độ bình quân lại cao hơn 230C Tổng tích ôn trong một năm trung bình là8.1680C, nhiệt độ trung bình trong cả năm vào khoảng 22,40C Trong đó, nhiệt độbình quân vào tháng 1 từ 15 ữ 170C, nhiệt độ bình quân vào tháng 7 vào khoảng
260C Nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C Nhiệt độ thấp tuyệt đối là 10C Bình quân sốgiờ có nắng chiếu trong một năm 1.881 giờ, nhiều nhất là vào tháng 4 với khoảng
200 giờ/tháng, ít nhất là tháng 6 với chỉ trên dới 120 giờ/tháng
Mùa ma thờng bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, trùng với thời kỳthịnh hành của gió phơn Tây Nam (gió Lào) Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đếntháng 3 năm sau Trong thời gian này, lợng ma rất thấp, chỉ đạt khoảng 316 mm.Cũng trong mùa khô thờng có nhiều sơng mù và đặc biệt là hiện tợng sơng muốithờng xuất hiện vào một số ngày trong tháng 1 và tháng 2 Lợng ma trong vùngtrung bình trong một năm là 2.531 mm, trong đó tập trung chủ yếu vào tháng 7với trên 2.214 mm, chiếm tới 87,5% lợng ma của cả năm
Do có địa hình chia cắt mạnh bởi những dãy núi cao nên sự phân bố lợng ma
ở Mờng Tè còn phụ thuộc vào từng tiểu vùng theo bình độ Theo đó, lợng ma ởvùng núi cao có thể lên tới 3.000 mm/năm, vùng núi trung bình lợng ma biến
động trong khoảng 2.000 ữ 2.500 mm/năm; vùng núi thấp và thung lũng từ1.500 ữ 1.800 mm/năm
Cấu trúc địa hình trong vùng đã làm hình thành 3 loại gió chính là gió mùaTây Nam thịnh hành từ tháng 3 đến tháng 7 và thờng gây ra hiệu ứng phơn, rấtkhô và nóng Gió Đông Nam thổi mạnh trong khoảng thời gian từ tháng 4 đếntháng 10, gây ra ma lớn, nhất là ở các sờn đón gió Từ tháng 11 đến tháng 3 hàngnăm là gió mùa Đông Bắc nhng bị biến tính mạnh, tốc độ gió giảm tạo nên kiểuthời tiết lạnh và khô
Điều kiện khí hậu thời tiết ở đây nhìn chung thích hợp với nhiều loại câytrồng nông - lâm nghiệp, đặc biệt là các loại cây công nghiệp và cây ăn quả Tuynhiên, những trận gió lốc, ma đá xuất hiện vào đầu mùa ma (từ tháng 3 đến tháng
4 hàng năm); đặc biệt là gió lốc thờng xuất hiện trung bình 1,3 ữ 1,5 ngày/năm,
Trang 13tốc độ gió soáy khoảng 40m/s; về mùa đông thờng xuất hiện sơng muối là nhữngnhân tố tác độc tiêu cực đến sự phát triển của cây trồng và vật nuôi.
Địa chất, thổ nhỡng trong vùng đợc tạo bởi các loại đá mẹ sau:
- Nhóm đá mác ma acid kết tinh chua (a): bao gồm các loại đá Gralit,Liparit, Octophia là các loại đá cứng, khó phong hoá, nghèo dinh dỡng tiềmtàng trong đá
- Nhóm đá trầm tích và biến chất kết cấu hạt mịn (s): bao gồm các loại đáPhiến thạch sét, Acginit, Mica kết cấu hạt mịn, phong hoá triệt để, giàu dinh d-ỡng tiềm tàng
- Nhóm đá biến chất và có kết cấu hạt mịn (f) bao gồm các loại đá Phiếnthạch Mi ca, Philit kết cấu hạt mịn, phong hoá triệt để, giàu dinh dỡng tiềmtàng nhng khó phong hoá
- Nhóm đá Cácbônát (V): bao gồm các loại đá vôi, Đôlômit, Sét vôi giàudinh dỡng nhng khó phong hoá
Nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (q): bao gồm các loại đáCát, Cát kết, Sạn kết, Cát sỏi là các loại đá nghèo dinh dỡng tiềm tàng và khóphong hoá
- Các sản phẩm phù sa (L): có cấp hạt trung bình và mịn Đất tạo thành từcác sản phẩm phù sa khá màu mỡ
Cùng với các yếu tố địa hình, địa mạo, nham thạch và khí hậu, những đặc
điểm thuỷ văn của sông Đà đã góp phần hình thành nên những sắc thái riêng biệt
về thổ nhỡng Xét trên tổng thể, đất đai trong vùng ngời Hà Nhì c trú gồm 23loại, gộp thành 5 nhóm đất chính nh sau:
- Nhóm đất mùn Alít trên núi cao (N1H): đợc phát triển trên các loại đá mẹMác ma acid kết tinh chua và Phiến thạch sét, phân bố tập trung ở độ cao > 1.700
m trên bề mặt địa hình có độ dốc từ lớn đến cực lớn, tập trung tại địa bàn các xãThu Lũm, Hua Bum, Pa ủ, Pa Vệ Sủ và Ka Lăng với diện tích 36.467,5 ha Đặc
điểm của nhóm đất này là đất có màu vàng và luôn ẩm ớt, độ phì tơng đối cao
nh-ng khả nănh-ng rửa trôi theo chiều thẳnh-ng đứnh-ng khá mạnh; tầnh-ng đất dày trunh-ng bình từ
Trang 14trung ở địa bàn các xã Pa ủ, Pa Vệ Sủ, Thu Lũm, Bum Tở, Mờng Mô với diệntích 228.824,1 ha Đặc điểm của nhóm đất này là đất có màu vàng đỏ hoặc vàngnhạt, độ dày tầng đất từ 30 ữ 60 cm, tầng mùn mỏng, ít chua, thành phần cơ giớithịt từ nhẹ đến trung bình ở những nơi có cỏ tranh mọc, tầng đất thờng mỏnghơn các nơi khác và không có tầng mùn Đặc điểm của nhóm đất này và địa bànphân bố của nó phù hợp cho khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ đầu nguồn kếthợp với việc trồng các loài cây lâm nghiệp, cây nông nghiệp, dợc liệu, cây ăn quảtheo phơng thức nông - lâm kết hợp.
- Nhóm đất Feralít đồi núi thấp (N3F): đợc phát triển trên nhiều loại đá mẹkhác nhau ở độ cao từ 700 m trở xuống trên các bề mặt địa hình có độ dốc trungbình, lớn và tơng đối lớn, thờng tập trung ở nhiều khu vực ven sông, suối Đây làmột trong các đối tợng đất đợc các cộng đồng c dân trong vùng khai phá làm n-
ơng Đặc điểm của nhóm đất này là có màu vàng đỏ, tầng đất từ trung bình đếndày, tầng mùn mỏng, thích hợp với các loại cây trồng hàng năm, cây đặc sản, câycông nghiệp dài ngày, nơng định canh, ruộng bậc thang Tuy nhiên, ở nhiều nơi,
do đã khai thác nơng lâu ngày nên đất không còn tầng mùn, hiện tợng sói mòn vàrửa trôi khá mạnh, đất bị thoái hoá nghiêm trọng
- Đất núi đá vôi (Fv): phân bố chủ yếu ở các xã Mờng Mô và Pa Vệ Sủ ở bềmặt địa hình có độ dốc > 350 với diện tích rất nhỏ, chỉ với 536,0 ha Loại đất này
có xơng xấu, nhiều đá nổi, đá lẫn trong đất, lớp thực bì hầu hết bị phá hoại, chỉcòn cây bụi và dây leo là chủ yếu
- Nhóm đất dốc tụ và phù xa sông suối (P), đất Feralit biến đổi do trồng lúa(F1), đất xung tính (T), đất lầy than bùn (Gl) phân bố rải rác ở các vùng thấp vensông, suối và các thung lũng, chân núi hoặc vùng bằng trớc núi, gần khu dân cvới diện tích 2.266,8 ha, chiếm 0,6% diện tích tự nhiên Đặc điểm của nhóm đấtnày là đất thờng có màu xám, tầng đất dày, tơi xốp, thành phần cơ giới từ trungbình đến nhẹ, khá màu mỡ, độ ẩm tơng đối cao, thích hợp cho trồng các loại câynông nghiệp hàng năm nh lúa, hoa màu và rau, đậu các loại Hiện nay, nhữngdiện tích gần nguồn nớc đã và đang đợc nhân dân khai phá và sử dụng trồng lúa,hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Sông, suối trong vùng có mật độ khá dày đặc, với khoảng 0,6km/km2 Ngoàisông Đà còn có rất nhiều con suối lớn nhỏ khác nhau chảy uốn khúc quanh coqua các dãy núi và đều nhập vào sông Đà tại các cửa suối lớn Tiêu biểu có cácsông suối sau:
Trang 15Sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Trên địa bàn huyện M ờng Tè, sông chảy qua địa phận 8 xã là: Mù Cả, Mờng Tè, Nậm Khao, Bum Tở,Kan Hồ, Mờng Mô, Nậm Hàng với chiều dài khoảng trên 115 km Lu lợng nớctrung bình 665 m3/s; lu lợng tối đa đạt 10.400m3/s Mô đuyn dòng chảy trungbình 30L/s/km2; Mô đuyn dòng chảy tối đa đạt 470L/s/m3.
Suối Nậm Ma bắt nguồn từ dãy núi Khoang La Xan (1.865 m) thuộc huyệnMờng Nhé, tỉnh Điện Biên, chảy theo hớng Tây Nam - Đông Bắc qua địa bàn xã
Mù Cả rồi đổ vào sông Đà tại phía bắc xã Mù Cả với chiều dài hơn 26 km Lu ợng dòng chảy kiệt hơn 4 m3/s
l Suối Nậm Củm bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam l Trung Quốc, chảy qua địabàn hai xã: Pa ủ và Mờng Tè rồi đổ vào sông Đà tại bản Nậm Củm với chiều dàikhoảng 45 km Lu lợng dòng chảy kiệt là 3 m3/s
- Suối Nậm Sì Lờng bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc chảy theo ớng Bắc - Nam, qua các xã Pa Vệ Sủ, Bum Na, Thị trấn Mờng Tè rồi đổ vào sông
h-Đà tại phía nam của xã Bum Tở với chiều dài khoảng 45 km Lu lợng dòng chảykiệt là 4 m3/s
- Suối Nậm Nhé chảy theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, nhập với suối Nậm
Pó ở phía Nam xã Mờng Mô rồi đổ vào sông Đà với chiều dài hơn 30 km Lu ợng dòng chảy kiệt là 6 m3/s
l-Hiện nay, cha có tài liệu nào đa ra kết quả khảo sát tầng nớc ngầm của vùng.Tính đến nay, toàn vùng cha có một giếng nớc khoan nào Nói cách khác, nớcngầm cha hề đợc khai thác, sử dụng tại đây, nguồn nớc chính cung cấp cho sảnxuất và sinh hoạt của ngời dân vẫn là nguồn nớc nổi (nớc ma và nớc mặt sông,suối)
Mặc dù có nguồn nớc mặt khá dồi dào nhng do địa hình chia cắt mạnh, lòngsuối hẹp, độ chia cắt lớn, chế độ thuỷ văn rất phức tạp, vào mùa khô sông, suốithờng cạn kiệt, mùa ma lại thờng sảy ra lũ lụt và gây sói mòn mạnh nên khả năng
sử dụng nớc vào các hoạt động sản xuất của c dân trong vùng bị hạn chế, ách tắcgiao thông vào mùa ma Sắp tới đây, khi các công trình thuỷ điện lớn nh Thủy
điện Sơn La, Thuỷ điện Nậm Nhuồn đợc hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ gópphần điều tiết nớc trên sông Đà, góp phần to lớn vào việc thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phơng và phục vụ ổn định cho sản xuất, sinh hoạt của ngời dânnơi đây
Rừng trong khu vực c trú của ngời Hà Nhì tơng đối phong phú về thảm thực
vật và hệ động vật Thảm thực vật ở các khu rừng phủ trên địa hình có bề mặt đá
Trang 16phiến thờng gồm các loại cây có lá cứng đanh, nhẵn bóng, xanh thẫm, mépnguyên nh kháo, trám, dẻ gai, dẻ đá, dẻ đên, re, cà lồ, gồi… xen lẫn một số loàicây rụng lá, một số loài cây lá rộng, tre, nứa… Những cánh rừng thuộc các khuvực núi đá vôi chủ yếu là các loại cây gỗ cứng nh đa, sấu, mạy tèo, đinh thồi,nghiến, trai, vàng kiêng… ở những khu rừng này thảm thực vật thờng tạo thànhtán hai tầng Tầng dới thờng gồm mạy tèo, ô rô và các loại cây họ gai; tầng trên
là vàng kiêng, sấu, thồi gồi, trai, nghiến Trong các cánh rừng ở hai dạng này ờng có nhiều sản vật quý hiếm với nhiều vị thuốc có giá trị và động vật quý hiếm
th-ở một số cánh rừng tái sinh, rừng ít tạo thành những tán che phủ rõ rệt, nghèo vềchủng loài động thực vật Xa kia, khi rừng còn là sở hữu chung của cả cộng đồngcác làng bản, việc khai thác các sản vật trong rừng tuỳ theo khả năng và nhu cầucủa các thành viên Ngày nay, rừng bị thu hẹp, nhiều sản vật trong các cánh rừng
đã cạn dần, rừng đợc giao cho các gia đình, các bản bảo vệ, khoanh nuôi, quản lý
và khai thác Mặc dù tỷ trọng các loài thực vật và động vật không còn đợc nh trớcnhng nguồn lợi do rừng mang lại cho con ngời vẫn không phải là nhỏ bởi nókhông những là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng, đan lát, chế tạo nông cụ, cungcấp các loại đặc sản quý, hoa trái, nguồn thảo dợc, đạm động vật mà còn có vaitrò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, đất trồng trọt, tích trữ nguồn nớc cungcấp cho sản xuất, ngăn ngừa lũ lụt
Trong vùng c trú của ngời Hà Nhì có những loại khoáng sản có thể khai
thác làm nguyên liệu về sản xuất vật liệu xây dựng nh cát, sỏi ở xã Mờng Tè, đávôi xây dựng, đá ốp lát ở xã Mờng Mô, đá phiến lợp ở xã Bum Na, Sét Kaolin ởxã Kan Hồ có thể khai thác với quy mô vừa và nhỏ để phục vụ nhu cầu tại chỗ.Ngoài ra, trên địa bàn huyện Mờng Tè còn có một số loại khoáng sản có giá trị
nh vàng, vàng sa khoáng ở nhiều điểm trên dọc sông Đà và một số con suối thuộckhu vực tả ngạn sông Đà; suối nớc nóng ở Pắc Ma (xã Mờng Tè)
Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên nêu trên, vùng đất này có đủ điềukiện thuận lợi cho việc phát triển ngành kinh tế theo hớng nông - lâm nghiệp kếthợp một cách bền vững Nguồn tài nguyên đất dồi dào, tiềm năng đất cả về số l-ợng và chất lợng còn khá; khí hậu và đất đai rất thích hợp với việc trồng cácgiống cây nhiệt đới và các giống cây có nguồn gốc ôn đới Việc cải tạo đất dốcthành ruộng bậc thang cũng là một hớng phát triển tiềm năng nếu đợc nghiên cứu
kỹ lỡng và có sự hỗ trợ của các cấp chính quyền về giống, nớc, kỹ thuật Đócũng là những yếu tố thuận lợi để có thể khai thác và sử dụng nguồn đất cha đợc
sử dụng Ngoài ra, với những thế mạnh về nông nghiệp và một phần nào đó về
Trang 17khoáng sản cũng cho phép mở ra hớng đầu t cho một số ngành công nghiệp chếbiến.
Bên cạnh những thuận lợi, trớc mắt để phát triển đời sống kinh tế - xã hộicủa ngời dân địa phơng còn cần phải giải quyết những khó khăn, bất lợi nh: độdốc địa hình lớn, chia cắt mạnh gây nhiều khó khăn cho việc bố trí cơ cấu câytrồng, đặc biệt làm ảnh hởng lớn đến việc xây dựng hệ thống giao thông, thuỷ lợi,hạn chế khả năng giao lu với bên ngoài Một số yếu tố khí hậu gây bất lợi cho đờisống sinh hoạt, sản xuất nh sơng muối, ma đá, lốc xoáy, giá rét cũng tác độngxấu đến đời sống và sản xuất của đồng bào
2.2 Điều kiện xã hội
Vùng c trú của ngời Hà Nhì ở Mờng Tè là một địa bàn khá rộng với 9/15huyện/thị trấn Tại khu vực này, ngoài dân tộc Hà Nhì còn có nhiều dân tộc khác
là Dao, La Hủ, Thái, Kinh, Mông, Mảng, Côống, Si La, Khơ Mú, Hoa, Dáy vàmột số thành phần dân tộc khác; các dân tộc di c đến đây trong nhiều thời điểmkhác nhau và ít nhiều đều trải qua một thời gian du canh du c khắp các vùngtrong và ngoài huyện Mờng Tè Mặc dù ngời Hà Nhì thờng c trú biệt lập thànhtừng bản, ít khi đan xen với các dân tộc khác nhng không vì thế mà không diễn ra
sự giao lu, tiếp biến văn hoá - kinh tế - xã hội giữa tộc ngời này với các dân tộcanh em láng giềng, và trong nhiều thời điểm lịch sử còn liên minh với các dân tộckhác chống lại kẻ thù xâm lợc, bảo vệ đất đai, làng bản Vì vậy, xét đến điều kiệnxã hội vùng vùng ngời Hà Nhì c trú phải xét đến điều kiện lịch sử - xã hội huyệnMờng Tè
Thời tiền sử, Mờng Tè là địa bàn có con ngời đến c trú từ rất sớm Tại các dichỉ khảo cổ học ở những khu vực thềm sông, mái đá và các hang đá ven các consông, suối lớn nh sông Đà, suối Nậm Mạ, các nhà khảo cổ học đã tìm đợc nhữngcông cụ thời tiền sử Họ là chủ nhân của những nền văn hoá cổ đại trên đất nớcViệt Nam từ Núi Đọ qua Thần Sa, Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn để bớc sang thờisơ sử với nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ
Thời sơ sử, cách nay khoảng 4.000 năm, những c dân bản địa thời đá mới những tộc ngời thuộc ngữ hệ Nam á, Tiền Việt - Mờng, Môn - Khơ me và Tày -Thái cổ sinh sống trên mảnh đất Mờng Tè đã chuyển sang thời đại đồng thau,góp phần hình thành nên nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ, thời đại của nhà nớc VănLang - Âu Lạc Thời kỳ này, Mờng Tè thuộc bộ Tân Hng - một bộ phận trongnhà nớc Văn Lang của các vua Hùng và sau đó là nớc Âu Lạc của Thục Phán -
-An Dơng Vơng
Trang 18Trong suốt thời kỳ Phong kiến, Mờng Tè đã trải qua nhiều lần thay đổi địagiới hành chính với nhiều tên gọi khác nhau Vào thời Lý, Mờng Tè thuộc lộ ĐàGiang; thời Trần thuộc châu Ninh Viễn; thời Lê thuộc trấn Gia Hng Năm 1463,trấn Hng Hoá đợc thành lập gồm 3 phủ: Gia Hng, Quy Hoá và An Tây Phủ AnTây có 10 châu Mờng Tè là một trong 10 châu của Phủ An Tây Châu Mờng Tèkhi ấy gồm các huyện Mờng Tè (tỉnh Lai Châu), Mờng Nhé, Tuần Giáo, Tủa
Chùa của tỉnh Điện Biên hiện nay Sách Hng Hoá phong thổ lục của Hoàng Bình
Chính có ghi chép về châu Mờng Tè ngày ấy nh sau:
Châu Lai thổ âm là Mờng Lai, phía trên giáp châu Quảng Lăng (Trung Quốc), phía dới giáp châu Quỳnh Nhai, phía đông giáp châu Ninh Biên, phía tây giáo châu Chiêu Tấn Châu này ở tận cùng biên giới, gần sát Trung Quốc đờng
bộ có một con đờng từ châu Quỳnh Nhai đi lên mất ba ngày, đờng thuỷ từ sông
Đà đi ngợc lên phải 25 ngày [5]
Đa dân tộc, đa văn hoá là đặc trng vốn có của Mờng Tè ngay từ thủa dựng
n-ớc Từ trớc công nguyên, nơi đây đã có mặt những cộng đồng ngời nói các ngônngữ Môn - Khơ me, Tày - Thái cổ, tiền Việt - Mờng, Hán - Tạng Trong ngótngàn năm Bắc thuộc, nơi đây vẫn luôn là một trong những cửa ngõ đón nhận cácluồng di dân tản mạn thuộc các ngôn ngữ khác nhau Thế kỷ thứ XI có sự di c ồ
ạt của ngời Thái, ngời Lự; thế kỷ thứ XII lại chứng kiến sự di c của ngời Dao.Cuối thế kỷ XVII, các nhóm di dân thuộc 2 tộc ngời Hà Nhì và Mông đến lậpnghiệp ở các vùng núi cao Thế kỷ XVIII lại có thêm ngời Giáy, vào đầu thế kỷXIX là ngời Si La Những lớp ngời này đều mang theo văn hoá của dân tộcmình, của quê hơng cũ vào Mờng Tè để rồi nhanh chóng thích ứng với môi trờngmới, hội nhập, giao thoa, tiếp biến văn hoá lẫn nhau và đến nay đã trở thành một
bộ phận trong cộng đồng các dân tộc anh em cộng c trên mảnh đất Mờng Tè mà
từ lâu đã là quê hơng của họ
Cũng nh các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam, các dân tộc ở Mờng Tè cótruyền thống đoàn kết, thống nhất để chống áp bức, chống xâm lợc, bảo vệ chủquyền đất nớc Từ trớc công nguyên, trong cuộc đụng độ đầu tiên giữa các bộ lạchiện hữu tại Bắc Bộ với quân đội viễn chinh nhà Tần đã có sự liên minh chặt chẽgiữa hai khối c dân Lạc Việt và Tây Âu dẫn đến sự hình thành nhà nớc Âu Lạccủa An Dơng Vơng; đến đầu công nguyên, trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng thìngời Man (c dân Môn - Khơ me) và ngời Lý (c dân Tày - Thái cổ) đã tích cựctham gia, chống lại sự thống trị của quan lại nhà Đông Hán; giữa thế kỷ thứ VI,ngời Lão (c dân Tày - Thái cổ) đã có mặt đông đảo trong hàng ngũ quân đội của
Lý Bí chống lại ách đô hộ của nhà Lơng Đến giữa thế kỷ XVIII, cùng với các
Trang 19dân tộc miền Tây Bắc, các dân tộc ở Mờng Tè đã cùng thủ lĩnh Hoàng Công Chấtbảo vệ vùng biên giới.
Năm 1858, Thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn đầuhàng nhục nhã, nhân dân nhiều nơi đã nổi dậy chống Pháp Tuần phủ Hng Hoálúc bấy giờ là Nguyễn Quang Bích đã tổ chức 4 đội nghĩa quân Thập Châu gồmnghĩa quân Lai Châu - Phong Thổ; nghĩa quân Mờng La - Mai Sơn - ThuậnChâu- Yên Châu; nghĩa quân Mộc Châu và nghĩa quân Văn Chấn - Văn Bàn cùnghợp lực chống Pháp Trong quá trình chiến đấu, nghĩa quân Thập Châu đã 2 lầntiến đánh quân Pháp ở Hà Nội, giết chết Francis Garnier (21/12/1973) và HenriRivière (19/5/1883)
Sau Hiệp ớc Patơnốt (1884), nghĩa quân Thập Châu vẫn dựa vào rừng núi đểchống Pháp với các căn cứ dọc sông Thao, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Sơn La và LaiChâu gây cho địch nhiều thiệt hại Mãi đến năm 1986, do nội bộ bất hoà nghĩaquân mới tan rã Năm 1890, Thực dân Pháp hoàn toàn bình định đợc Tây Bắc nóichung, Lai Châu nói riêng, trong đó có Mờng Tè Ngày 28/6/1909, Toàn Quyền
Đông Dơng ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu gồm: Đạo Lai (Châu Lai, châuQuỳnh Nhai và phủ Luân Châu), châu Điện Biên với phủ Tuần Giáo Mờng Tèkhi đó thuộc Châu Lai
Không cam chịu áp bức, bóc lột, nhân dân các dân tộc Mờng Tè lại nổi lênchống Pháp, đứng trong hàng ngũ của nhiều đội nghĩa binh khởi nghĩa Tiêu biểu
có khởi nghĩa của Lờng Sám (1914) Năm 1916, trong trận tổ chức đánh đồn ờng Bum (Mờng Tè), nghĩa quân đã tiêu diệt 33 tên lính và tên quan một Pháp
M-Đồng bào các dân tộc Mờng Tè đã tham gia phong trào rất đông
Năm 1927, một toán nghĩa quân tập trung trên đất Trung Quốc do Đèo VănHoán chỉ huy, nhân lúc Thực dân Pháp sơ hở đã vợt biên giới về nớc tấn công
đồn Mờng Nhé (khi đó thuộc Mờng Tè), uy hiếp Lai Châu Kế hoạch đã khôngthành công buộc Đèo Văn Hoán phải rút quân về bên kia biên giới để tránh sựkhủng bố của Thực dân Pháp [6]
Những cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc Lai Châu nói chung, Mờng
Tè nói riêng mặc dù thất bại song đã là những minh chứng nói lên truyền thốngyêu nớc, đoàn kết gắn bó của các dân tộc anh em miền xuôi và miền ngợc cùngnhau đấu tranh kiên cờng, bất khuất để chống kẻ thù xâm lợc và bè lũ tay sai.Trong thời Pháp thuộc, Mờng Tè đợc đặt dới chế độ quân quản; năm 1943mới chuyển sang chế độ hành chính nhng vẫn duy trì thế lực thổ ty để dễ bề ápbức, bóc lột nhân dân Không những thế, chúng còn thực hiện nhiều thủ đoạn
Trang 20thâm độc nh chia rẽ dân tộc, tổ chức các đội nguỵ quân Dới ách bóc lột củaThực dân Pháp và tay sai, nhân dân các dân tộc Mờng Tè đã phải chịu biết bao cơcực.
- Về kinh tế: nông nghiệp thời kỳ này vẫn chiếm vai trò chủ đạo Một số sảnphẩm nh gạo, da, sừng trâu, cánh kiến tuy đợc xuất khẩu sang Lào nhng lại phảinhập khẩu chè, thuốc chữa bệnh từ Trung Quốc, đồ mĩ nghệ từ Lào, thực phẩm
và muối từ miền xuôi Một số nhu yếu phẩm tuy đã đợc bầy bán nhng lợng hànghoá trao đổi rất ít
Thủ công nghiệp thời kỳ này hầu nh cha có gì ngoài những mặt hàng thủcông truyền thống vốn có Thực dân Pháp lại áp dụng nhiều hình thức su thuế
đánh vào ngời dân, trong đó có cả những loại thuế gián thu Những ai không nộp
đợc thuế phải đi phu, đi lính với các công việc nhọc nhằn, vất vả nơi mỏ đá, mở
đờng, tải đồ từ Mờng Lay về Hà Nội và ngợc lại, bị đánh đập, trà đạp, nhiều ngời
đã phải bỏ mạng trớc đòn roi và công việc nặng nhọc
Thực dân Pháp cũng duy trì chế độ "Cuông", "nhốc", "puộc", "côn hơn", gáixoè, nàng hầu khiến cho cuộc sống ngời dân vô cùng khó khăn, cực khổ
- Về văn hoá - xã hội - y tế - giáo dục: Thực dân Pháp áp dụng chính sáchngu dân, phát triển các tệ nạn xã hội nh cờ bạc, rợu chè, mại dâm, mê tín dị đoan,trồng và hút thuốc phiện Điện, trờng học và bác sĩ lúc này ở Mờng Tè chỉ phục
vụ cho các quan Pháp và tầng lớp quý tộc tay sai
Năm 1945, nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, Mờng Tè là một huyệncủa tỉnh Lai Châu
Ngày 29/4/1955, Khu tự trị Thái - Mèo đợc thành lập gồm 16 châu, châu ờng Tè trực thuộc khu tự trị Thái - Mèo vì không có cấp hành chính tỉnh
M-Sau khi đánh đuổi đợc Thực dân Pháp, quân và dân Mờng Tè lại chung sứcvới cả nớc tiến hành cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mĩ Thực hiện khẩu hiệu
"Xây dựng hậu phơng, chi viện tiền tuyến", cùng với cả nớc, Mờng Tè đã chuyểnhớng mọi mặt hoạt động sang thời chiến, phát huy cao độ mọi tiềm lực để chiviện cho chiến trờng miền Nam và đập tan âm mu leo thang chiến tranh của địch.Với khẩu hiệu "ba sẵn sàng", "ba đảm đang" lực lợng dân quân, du kích đợc pháttriển mạnh đã ngăn chặn có hiệu quả sự xâm nhập của bọn biệt kích phản độngLào Tiêu biểu cho phong trào kiên cờng, quật khởi của nhân dân các dân tộchuyện Mờng Tè trong thời kỳ này là đội "bạch đầu quân" của 185 cụ phụ lão ởMờng Tè
Trang 21Tháng 10/1962, kỳ họp thứ năm, Quốc hội khoá II nớc Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam ra Nghị quyết đổi tên Khu tự trị Thái - Mèo thành Khu tự trị TâyBắc, thành lập lại hai tỉnh Sơn La, Lai Châu và một tỉnh mới là Nghĩa Lộ M ờng
Tè là một trong 8 huyện/thị xã của tỉnh Lai Châu
Tháng 11/2003, kỳ họp thứ t, Quốc hội khoá XI nớc Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam ra Nghị quyết "Về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chínhmột số tỉnh" [7], trong đó có Lai Châu Tỉnh Lai Châu (cũ) đợc chia tách thànhtỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên Mờng Tè là một trong 5 huyện của tỉnhLai Châu [8]
Ngày 02/01/2004, Chính phủ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam raNghị định số 01-2004/NĐ-CP "Về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sìn
Hồ và huyện Mờng Tè, tỉnh Lai Châu" Theo Nghị định này, xã Nậm Hàng trớcthuộc huyện Mờng Lay, nay thuộc huyện Mờng Tè
* Nh vậy, trong suốt trờng kỳ lịch sử, nhõn dõn các dân tộc huyện Mờng Tè,trong đó có dân tộc Hà Nhì đã kề vai sát cánh, vừa xây dựng, vừa chiến đấu bảo
vệ quê hơng Trong các cuộc chiến tranh vệ quốc của các dân tộc ở Mờng Tè nóichung, của dân tộc Hà Nhì ở Mờng Tè nói riêng, trong khi nhằm mục tiêu chống
áp bức, giải phóng đất nớc, giành lại quyền tự chủ, còn có mục tiêu bảo vệ những
di sản văn hoá, những thuần phong mĩ tục từ ngàn xa của cha ông nh trong lờituyên cáo của ngời anh hùng áo vải đất Tây Sơn - Nguyễn Huệ:
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó trích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ
3 Đặc điểm kinh tế - văn hoá truyền thống
3.1 Các hoạt động kinh tế
- Trồng trọt đợc ngời Hà Nhì ở Mờng Tè hiện nay tiến hành trên cả ruộng
n-ớc và nơng rẫy Tuy nhiên, do điều kiện địa hình bị chia cắt mạnh lại cộng thêmnguồn nớc khan hiếm nên ngời đồng bào canh tác trên nơng là chính
Phơng thức làm nơng của ngời Hà Nhì là đao canh hoả chủng theo lối
quảng canh với thời gian hu canh khoảng 10 - 15 năm Kỹ thuật xử lý đất theo
quy trình phát - đốt - chọc lỗ - tra hạt Ngày nay, ở những mảnh nơng có độ dốc
Trang 22không quá 150 đồng bào thờng dùng kỹ thuật cày, lấy trâu làm sức kéo Nhữngmảnh nơng có độ dốc > 150 thì giải pháp kỹ thuật trong khâu làm đất là cuốc sới Tìm đất làm nơng đợc đồng bào tiến hành vào khoảng tháng Chạp Phát vàotháng giêng và đốt vào tháng hai âm lịch hàng năm Đến tháng ba là thời điểm trahạt Trong suốt thời kỳ sinh trởng của cây lúa, đồng bào thực hiện làm cỏ 1 - 2lần Khi lúa trổ đòng, ra bông, các gia đình phải cử ngời lên trông, ngăn khôngcho muông thú phá hoại Việc thu hoạch lúa đợc thực hiện vào tháng bảy, thángtám (đối với lúa sớm) và tháng chín, tháng mời (đối với lúa muộn) Lúa sau khithu hoạch xong đợc để ngay tại lán nơng, khi cần dùng mới mang về nhà.
Ngoài cây lúa, đồng bào còn canh tác nơng ngô, nơng sắn Tại các mảnh
n-ơng, các gia đình Hà Nhì còn trồng xen canh nhiều loại hoa màu nh bí xanh, bí
đỏ, đỗ tơng, đỗ xanh, đỗ đen, hẹ, xả
Ngoài nơng rẫy, ngời Hà Nhì ở Mờng Tè còn tận dụng những nơi có nguồnnớc để khai phá đất dốc trên những sờn đồi, núi thoải làm ruộng bậc thang đểtrồng lúa Trớc đây, ruộng bậc thang của đồng bào chỉ cấy đợc một vụ (vụ mùa).Ngày nay, đồng bào đã cấy đợc vụ cả chiêm Tuy nhiên, do điều kiện nguồn nớctrong vùng khan hiếm nên diện tích ruộng nớc của ngời Hà Nhì ở Mờng Tèkhông đáng kể
- Chăn nuôi của ngời Hà Nhì là một ngành kinh tế phụ Trớc đây hầu hết
các gia đình chỉ nuôi vài con gà và 1 - 2 con lợn để dùng cho việc cúng bái, lễnghi Ngày nay, tình hình đã đợc cải thiện một bớc Ngoài lợn, gà, mỗi gia đình
đều nuôi thêm trâu, dê, bò và ngựa Những gia súc này thờng đợc sử dụng chủyếu làm sức kéo (trâu, ngựa) hay để bán (bò, dê) Ngoài ra, khoảng vài năm trởlại đây, việc đào ao thả cá đã ngày càng trở lên phổ biến hơn trong cộng đồng ng-
ời Hà Nhì Các loại cá thờng đợc nuôi là cá rô, cá mè, cá trôi, cá trắm
Việc chăn nuôi của ngời Hà Nhì trớc đây đợc thực hiện theo lối thả rông ởgần nhà, gia súc, gia cầm tự kiếm ăn là chính Ngày nay, việc chăn nuôi gia súc
đã đợc thực hiện theo phơng thức nuôi nhốt (đặc biệt là lợn và ngựa), gia cầm thìvẫn thả rông Một số loại gia súc nh trâu, bò, dê thì đợc chăn thả ở những khuvực quy hoạch cho chăn thả trong rừng, đợc rào rậu, che chắn cẩn thẩn để gia súckhông thể vợt rào ra ngoài Ngoài những thứ tự kiếm, ở một số nơi nh Mờng Mô,Nậm Hàng, Mờng Tè, đồng bào đã sử dụng nguồn thức ăn chế biến công nghiệptrong chăn nuôi
- Kinh tế chiếm đoạt tự nhiên cho đến nay vẫn giữ một tỷ trọng đáng kể
trong tổng thu nhập của nhiều gia đình ngời Hà Nhì Nếu nh hoạt động hái lợm
Trang 23đợc đồng bào tiến hành thờng xuyên nhằm thoả mãn nhu cầu về măng, nấm và
đặc biệt là rau xanh cung cấp cho các bữa ăn hàng ngày, thuốc để chữa bệnh, củ
và một số loại ruột/lõi cây cung cấp tinh bột vào kỳ giáp hạt trong những nămmất mùa; thì hoạt động săn bắt (bao gồm săn bắt muông thú trên rừng và đánhbắt các loài thuỷ sản dới sông, suối) vừa có tác dụng bổ sung nguồn thực phẩmcho bữa ăn, vừa có tác dụng ngăn chặn muông thú phá hoại lúa, ngô và hoa màu.Việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên có sự khác nhau về mùa vụ và phân cônglao động Nếu nh hái lợm đợc tiến hành quanh năm và do phụ nữ đảm đơng làchính thì săn bắt lại chủ yếu đợc tiến hành vào mùa khô và do đàn ông đảmnhiệm Tính chất mùa vụ đã quy định vai trò của hoạt động hái lợm trong cuộcsống của ngời Hà Nhì lớn hơn săn bắt Bởi lẽ, nếu đàn ông không đi săn bắt, bữa
ăn của gia đình cũng không mấy bị ảnh hởng Nhng nếu phụ nữ không hái lợmthì gia đình không có rau ăn trong các bữa ăn hàng ngày Trong những năm mấtmùa, vai trò của hái lợm lại càng khẳng định đợc tầm quan trọng của nó trongviệc tìm kiếm nguồn thực phẩm từ tự nhiên nhằm bù đắp sự thiếu hụt về lơngthực, thực phẩm
- Thủ công gia đình của ngời Hà Nhì có phần kém phát triển hơn so với một
số dân tộc khác trong vùng nh Mông, Dao, Thái Mặc dù đồng bào cũng có đủcác nghề nh rèn, mộc, dệt vải, đan lát nhng hầu nh cha bao giờ đạt đợc đến trình
độ tinh sảo
Nghề rèn tuy cũng có vài loại công cụ sản xuất đợc gia công bởi một số(không nhiều) các thợ rèn địa phơng; song hầu hết sửa chữa nông cụ là chủ yếu.Nghề mộc cổ truyền với công cụ là dao và rìu, các cấu kiện bằng gỗ trongnhà trớc đây đợc đẽo, gọt đơn giản, kỹ thuật lắp ghép bằng ngoãm và buộc dâyhoặc làm những thứ đồ dùng giản đơn Ngày nay, do tiếp thu những kỹ thuật vàthiết bị từ bên ngoài nên kỹ thuật làm mộc của họ cũng đã tiến bộ hơn tr ớc vớicác kỹ thuật ca cắt, ca xẻ, đục, bào và do đó sản phẩm từ nghề mộc cũng đạt
đến độ tinh sảo hơn Tuy nhiên, cho đến nay những ngời biết làm nghề mộc vớicác kỹ thuật mới ở các vùng ngời Hà Nhì cũng không nhiều
Trong nền kinh tế tự cấp, tự túc cao độ, nghề dệt vải, may mặc và đan lát đốivới ngời Hà Nhì đã từng đạt đợc đến sự phát triển nhất định với các sản phẩmmang đậm bản sắc tộc ngời (đặc biệt là trang phục nữ) Tuy nhiên, ngày nay cácnghề này cũng đang có xu hớng bị mai một do tiếp thu những sản phẩm hàng hoásản xuất công nghiệp ngày càng nhiều
Trang 24- Trao đổi mua bán là hoạt động kinh tế kém phát triển nhất của ngời Hà
Nhì ở Mờng Tè Do tập quán mu sinh mang tính tự cấp tự túc cao độ trong môitrờng tự nhiên dồi dào về sản vật nên hầu hết những sản phẩm phục vụ các nhucầu cấp thiết của con ngời: cái ăn, cái mặc, đồ dùng, nhà cửa đều đợc đồng bào tựlàm ra hoặc chiếm đoạt từ thiên nhiên ngay trong vùng c trú Vì vậy, hoạt độngmua bán thờng chỉ đợc diễn ra nhằm để trao đổi những mặt hàng sẵn có của đồngbào (chủ yếu là lâm thổ sản) để thu về những nhu yếu phẩm và một số công cụsản xuất cho gia đình
1.4 Tổ chức và quan hệ xã hội
- Bản tiếng Hà Nhì gọi là P'hu Trong các bản thờng chỉ có thuần ngời Hà
Nhì sinh sống, ít khi xen kẽ với dân tộc khác Tên bản thờng đợc đặt theo nhiềutiêu chí khác nhau; có khi đó là những đặc điểm xuất phát từ sự nhìn nhận trựcquan Chẳng hạn, bản Mù Cả (trung tâm của xã Mù Cả) theo phát âm của ngời
Hà Nhì là Mò Cá nghĩa là đờng ngựa đi (Mò: nghĩa là ngựa; Cá: nghĩa là đờng); hay nh địa danh Ka Lăng - ngời Hà Nhì gọi là Gạ Noong nghĩa ao lợn đằm (Gạ: nghĩa là con lợn; Noong: nghĩa là ao - từ mợn tiếng Thái); Thu Lũm - ngời Hà Nhì gọi là Tu h'lố nghĩa là bãi rang ngô (Tu: là ngô; H'lu: là bãi); Ló Mé nghĩa là
đầu nguồn; hoặc cũng có thể do đến định c sau ngời Thái nên tên bản đợc đặt
bằng những từ theo tiếng Thái nh Nậm Lọ, Nậm Hạ, Nậm Lèn
Bản của ngời Hà Nhì thờng nằm trên lng chừng núi Nơi đợc chọn để đặtbản bao giờ cũng phải đảm bảo đợc ba yếu tố cần và đủ cho cuộc sống của cộng
đồng dân c là rừng để khai thác phục vụ đời sống; thổ c để ở; nguồn nớc gồm
suối hoặc sông để kiếm cá, lấy nớc sinh hoạt và nớc mạch dùng để uống, nấu ăn.Trớc đây, khi còn sống trong điều kiện du canh du c, bản của ngời Hà Nhì ởMờng Tè thờng có quy mô nhỏ, ít thì 5 - 6 nóc nhà, nhiều cũng chỉ không quá 20nóc nhà Ngày nay, do đã định canh định c nên các bản ngày càng mật tập hơnvới hàng chục nóc nhà mỗi bản
- Dòng họ tiếng Hà Nhì gọi là Zhì pừ Ngời Hà Nhì ở Mờng Tè có nhiều
dòng họ nh Lỳ, Pờ, Vù, Toán, Giàng, Vàng, Phòng, Khoàng, Chang, Sừng, Ché Mỗi họ đều có những kiêng kỵ riêng liên quan đến tín ngỡng thờ vật tổ Họ Pờkiêng ăn thịt sóc, họ Chang kiêng ăn thịt chim, họ Ché kiêng ăn thịt hổ Mỗidòng họ có nhiều chi, mỗi chi thờ ông tổ từ 5 - 10 đời tuỳ từng dòng họ
Mỗi họ có một ông trởng họ (Zhì pừ ừ tù); đó thờng là ngời cao tuổi, am
hiểu phong tục tập quán, có nhiều kinh nghiệm trong ứng xử xã hội Vai trò củatrởng họ ngời Hà Nhì ở Mờng Tè hiện nay khá mờ nhạt, hầu nh không có vai trò
Trang 25gì trong kinh tế, chính trị đối với các thành viên trong dòng họ nhng xa kia, ởng họ có vai trò hớng dẫn, đôn đốc việc thực hiện các tập tục trong cới xin, machay và điều hoà các mối quan hệ trong dòng họ, đại diện cho dòng họ giải quyếtcác vấn đề nảy sinh giữa dòng họ mình với dòng họ khác.
tr-Trong các dòng họ của ngời Hà Nhì ở Mờng Tè có ba dòng họ Chu, Lỳ và
Pờ là những dòng họ đầu tiên của ngời Hà Nhì Mỗi dòng họ đều có gia phả
(Trzự c) nói về lai lịch dòng họ từ thủa khởi đầu đến nay Ngời Hà Nhì vốn
không có chữ viết nên gia phả thờng đợc những ngời già truyền lại cho con cháu những ngời "giữ bàn thờ tổ tiên" theo lối truyền khẩu và ngời đợc truyền sẽ phải
-lu giữ gia phả dòng họ suốt đời mình bằng trí nhớ Theo Chu Thuỳ Liên, trong badòng họ đầu tiên kể trên, dòng họ Pờ có 46 đời, họ Chu có 58 đời và họ Lỳ có 59
đời
Mỗi ngời Hà Nhì thờng có hai tên, một tên dùng để gọi lúc sống; một têndùng để nhập vào nơi thờ khi chết, đợc bổ sung vào gia phả và thông qua gia phả,con cháu trong dòng họ đều biết nhau Gia phả thờng đợc ngời Hà Nhì đọc khicúng tổ tiên vào các dịp lễ tết, đám tang kèm theo các vật hiến sinh là gà, lợn haytrâu tuỳ từng trờng hợp
Một đặc điểm phổ quát trong cách đặt tên của ngời Hà Nhì là Phụ - Tử liên
danh theo nhiều dạng thức khác nhau Tiêu biểu có các dạng thức sau:
- Họ + tên cha + tên riêng Chẳng hạn, khi tên cha là Toán P'è Gang thì têncon là Toán Gang Hừ;
- Họ + ngày sinh + tên riêng Chẳng hạn, Pờ K'hà Tơ thì có nghĩa là ông Tơ,
ngời họ Pờ, sinh ngày con hổ (K'hà là con hổ);
- Họ + họ ngời đỡ đầu + tên riêng Chẳng hạn, Pờ Lỳ Xè có nghĩa là ông Xè,ngời họ Pờ có ngời đỡ đầu là ngời họ Lỳ;
- Họ + vị thế ngời đỡ đầu trong dòng họ + tên riêng Chẳng hạn Pờ Go Chừ
có nghĩa là ông Chừ, ngời họ Pờ đợc ông cậu đỡ đầu (Go có nghĩa là cậu - em trai
của mẹ)
- Gia đình của ngời Hà Nhì là kiểu gia đình phụ quyền rất rõ nét, ngời cha
làm chủ gia đình, con cái lấy theo họ cha, thậm chí trong hôn nhân, ngời phụ nữkhi về làm dâu phải đổi họ theo họ chồng Xa, ngời đàn ông Hà Nhì có thể chungsống với nhiều vợ
Trong quan hệ gia đình, sự phân biệt giới tính càng khắc nghiệt Mỗi khi nhà
có khách, những ngời phụ nữ phải ăn cơm cùng với trẻ con ở mâm riêng đặt dới
Trang 26bếp, tuyệt đối không có quyền ngồi chung mâm với khách Những ngời con dâuhay em dâu trong gia đình không đợc trực tiếp đa tay nhận lấy vật gì đó từ tay bốchồng hoặc anh chồng mà phải nhận vật đó sau khi nó đã đợc đặt xuống bàn hay
ở một chỗ trung gian bất kỳ Để đề cao vai trò của ngời cha - chủ gia đình, ngời
- Ngôi nhà - tiếng Hà Nhì gọi là (Lạ kho) Ngôi nhà truyền thống của ngời
Hà Nhì là nhà trình tờng nền đất với vật liệu chính là đất, đá cuội và tre, gỗ, cỏtranh Vị trí đợc chọn để làm nhà thờng là một chỗ có mặt bằng khá rộng nơi sờnnúi Nền nhà đợc tôn cao hơn mặt đất 30 - 40 cm, xung quanh có thể có hoặckhông kè đá San nền xong, ngời ta sẽ tiến hành trình tờng sau khi đã cúng xinthần linh, thổ công và xin tổ tiên phù hộ
Đất để trình tờng thờng là loại đất sét vàng trộn với đất mối đùn cho mịn ờng nhà Đất đợc đổ nớc cho ngấm, đợc nhào bằng chân cho ngấu rồi để ủ trong
t-ba ngày, t-ba đêm là đợc
Việc trình tờng đợc thực đều trên cả 4 mặt tờng và các bức vách chia ngăn(gian), thứ tự lần lợt từ dới lên trên cho đến khi cao tới 3 - 4 m là đợc Khi trình t-ờng, ngoài việc đổ đất, ngời ta còn ken thêm những tảng đá cuội dày 30 - 40 cmkhiến cho các bức tờng trở lên rất vững chắc Sau đó, ngời ta dùng cỏ tranh để lợpmái sau khi đã làm xong một lớp trần bằng tre có trát bùn nhão ở trên Lớp trầnnày vừa có tác dụng làm kho chứa đồ, nhất là lơng thực; vừa có tác dụng chốngnóng và chống hoả hoạn, bởi nếu gặp hoả hoạn, mái cỏ tranh khô bén lửa thì lớpbùn nhão khô trát trên lớp trần sẽ ngăn không cho lửa cháy lan xuống dới
Trang 27Bố trí không gian sinh hoạt bên trong ngôi nhà đợc chia làm hai phần Mộtnửa phần lng nhà là buồng ngủ cả gia đình Số gian buồng của không gian nàytuỳ thuộc vào số ngời trong nhà ít hay nhiều; đây còn là nơi để các gia đình ngời
Hà Nhì xa đặt bếp nấu Nửa ngoài là không gian dành cho khách với giờng ngủ
và bếp sởi Ngoài cùng là một hành lang rộng khoảng 2 - 3 m để những ngời phụnữ ngồi dệt vải, may vá, thêu thùa
Có thể nói, nhà trình tờng của ngời Hà Nhì là kiểu nhà khá đặc trng trongvùng và cũng là kiểu nhà thích hợp với điều kiện sống trớc đây: chiến tranh loạnlạc, khí hậu lạnh vùng núi cao trong khi con ngời thiếu các loại trang phục giữ
ấm cơ thể… Tuy nhiên, ngày nay khi điều kiện sống đã thay đổi thì thị hiếu vềngôi nhà đã chuyển sang một xu hớng khác - kiểu nhà vách tre, gỗ nền đất
Với những ngôi nhà dạng vách tre, gỗ cũng đợc tôn cao nền và kè đá xungquanh nh dạng nhà trình tờng Ngoài ra, đồng bào thờng làm rãnh thoát nớc xungquanh nền để tránh úng gập - dễ gây mục cho các cấu kiện gỗ, tre, nứa Với kiểunhà này, bố trí bên trong ngôi nhà thờng đợc chia làm ba gian chính Gian giữa lànơi tiếp khách và sinh hoạt chung cho cả nhà Hai gian hồi dùng làm không giannghỉ ngơi cho các thành viên trong gia đình Nếu nhà đông ngời, hai gian ấy cũng
có thể chia làm nhiều buồng ngủ riêng biệt Bên ngoài không gian ngôi nhà chínhcũng bao gồm chuồng chăn nuôi ngựa, lợn, gà và bếp nấu ăn
- Trang phục của ngời Hà Nhì mang đậm đặc trng văn hoá tộc ngời, đặc
biệt là trang phục nữ
Trang phục nam giới Hà Nhì đơn giản, trớc đây đợc may bằng loại vải bông
tự dệt, nhuộm màu chàm Thầy cúng không có trang phục riêng Quần nam giớimay theo kiểu đũng "chân què", cạp "lá toạ" Khi mặc, cạp quần đợc gập lại,dùng dây lng bằng vải thắt ngoài cho chặt Kiểu quần này đợc nhắc đến trong Tr-
Trang 28Trớc đây, đàn ông Hà Nhì đội khăn vải nhộm chàm đen Khăn đợc quấnthành nhiều vòng trên đầu rồi thắt lại phía sau gáy Trong phục sức, đàn ông HàNhì xa còn trải tóc rẽ ngôi ngay giữa đỉnh đầu xuống trán Hai đuôi tóc ở hai bên
đờng ngôi rủ xuống, tạo thành một vành tròn ngay giữa trán Cách phục sức này
đã hoàn toàn biến mất trong các cộng đồng ngời Hà Nhì đơng đại
Trang phục phụ nữ Hà Nhì ở Mờng Tè mang sắc thái địa phơng khá rõ nét,thể hiện ở sắc màu tơi tắn, nổi bật bởi nhiều gam màu sáng trên nền chàm đennhờ những hoa văn ghép vải và những vật trang trí bằng chỉ màu, hạt cờm haynhững vật trang trí khác bằng nhựa hay kim loại trên khăn, áo, mũ
Phụ nữ Hà Nhì vào ngày thờng mặc quần kiểu "chân què", cạp "lá toạ", ốngrộng, cố định bằng thắt lng khi mặc áo dài 5 thân, xẻ tà, cài cúc phía bên phải.Vạt áo bên phải trang trí các băng hoa văn dọc nép chéo từ cổ tới nách, thân áo đ-
ợc trang trí dày đặc bằng những mảnh vải màu theo phơng pháp ghép vải kết hợpvới hạt cờm và những mảnh kim loại Gấu áo dài quá đầu gối, hai cánh tay áo có
đắp nhiều khoanh vải màu kín từ bả vai tới cửa tay Khi đi xa hay những ngày lễtết họ thờng mặc ra ngoài một loại áo ngắn, không có tay áo Khi ấy, phần trangtrí của vạt trớc áo ngoài và các khoanh màu cánh tay áo trong hoà hợp với nhau,tạo thành mảng trang trí thống nhất, gây cảm giác nh là họ chỉ mặc một chiếc áo.Trong bộ trang phục truyền thống, phụ nữ Hà Nhì còn có giày và xà cạp
Cách trải tóc vào ngày thờng của phụ nữ Hà Nhì là tết thành bím rồi quấnquanh đầu Phủ ra ngoài tóc là tấm khăn vuông tiết diện 120 x 120 cm, may bằngvải nhộm chàm, rìa khăn và bốn góc đợc thêu hoa văn hình ô vuông hoặc lợnsóng, hình dích dắc, đính thêm những hạt cờm khác màu và các miếng kim loạimàu sáng trắng
Trang phục cô dâu Hà Nhì vào ngày cới và của các thiếu nữ vào những ngày
lễ hội, ngày tết ngoài bộ quần áo mới còn đội thêm mũ (ồ trzồ) Mũ vốn là một
miếng vải rộng 80 cm, xung quanh đính từ 2 - 3 hàng hạt kim loại Bên trái cómột dây dài 1,5 m cũng đính 2 - 3 hàng hạt kim loại nh trên kèm theo nhữngmiếng nhôm hình quả trám có trạm trổ hoa văn hình mặt trăng, mặt trời, các vìsao Khi đội mũ, dây này thờng đợc quấn ra ngoài tạo cảm giác sặc sỡ, bắt mắt
- Ăn, uống, hút
Ngời Hà Nhì một ngày ăn hai bữa chính là bữa sáng và bữa chiều Trong đó,bữa sáng thờng nấu để ăn cả sáng và tra Bữa sáng có tác dụng cung cấp năng l-ợng cho một ngày lao động nhng thờng đợc ăn vội vàng để còn kịp đi làm Bữatra ai tiện đâu thì ăn đấy với cơm và thức ăn đợc làm từ sáng Bữa tối là bữa bổ
Trang 29sung năng lợng sau một ngày lao động mệt nhọc và cũng là lúc để cả gia đình
Đồ uống của ngời Hà Nhì có chè đợc chế biến từ một số loại lá rừng có tác
dụng giải khát, bổ máu và thanh nhiệt nh xả (P'ò p'hi), hạt thảo quả (Gò xó á nự),
xả kha lạ pẹ (chè rừng) và đặc biệt là Tú lẹ lo a pạ là loại chè chỉ có ở Ka Lăng
có hơng vị đặc biệt thơm ngon mà c dân trong vùng quen gọi là chè Ka Lăng Đồ
uống có men gồm rợu cất (chí pà) và rợu cái (chí pà chí pê)
Ngoài đồ uống, đàn ông Hà Nhì còn hút thuốc lào và trớc đây còn hút cảthuốc phiện Hai loại đồ hút này đều đợc trồng trên nơng Khi nhà có khách quýthì rợu và thuốc phiện đợc xem là những thể hiện lòng hiếu khách của chủ nhà
Đồng thời, thuốc phiện còn là một thứ hàng hoá quan trọng dùng để trao đổi,mua bán, nộp thuế và làm thuốc chữa bệnh Ngày nay, tục hút thuốc phiện đã đợcxoá bỏ
1.6 Văn hoá tinh thần
- Vũ trụ quan của ngời Hà Nhì phản ánh một thế giới huyền bí và hết sức
sinh động Trong trờng ca Xa Nhà Ca (mọi thứ xuống) kể về nguồn gốc của vạn
vật có đề cập đến các vị thần sáng tạo Các vị thần ấy sáng tạo ra bầu trời, mặt
đất, mặt trời, mặt trăng, cỏ cây, muông thú rồi đến con ngời và cuối cùng là sángtạo ra các nghề, các giống cây, con để con ngời lấy kế sinh nhai Sau đó, các vị
thần sáng tạo lại trao quyền "trị vì" vạn vật cho các vị thần khác cai quản nh thần
D'ló Pứ (cai quản vạn vật trên mặt đất), cặp thần á Pứ, á Lò (hai vợ chồng) cai
quản các mó nớc, hang tôm; cặp thần Ló Nhù, Ló Dze (hai chị em) cai quản các
đoạn suối cong hoặc những đoạn suối chảy qua những khe núi có nhiều phiến đá
xù xì.v.v
Ngời Hà Nhì quan niệm về sự tồn tại của vũ trụ hai tầng là tầng trời do à
Trzuỳ Trzuỳ Lu Lu Trzuý cai quản; tầng mặt đất do Đu Đu à Lu cai quản ở tầng
đất lại có nhiều khu vực thiêng do các vị thần chủ cai quản
Ngời Hà Nhì có quan niệm vạn vật hữu linh Theo đó, mọi thứ từ con ngời
hay các vật vô tri vô giác đều có linh hồn (hi thá) Mỗi sinh vật chỉ có 1 hồn,
riêng con ngời có 92 hồn, trong đó có 1 hồn chính ngự trên đỉnh đầu là hồn coisóc sức khoẻ và mạng sống cho con ngời Đồng bào cũng quan niệm hồn trẻ con
Trang 30rất yếu, thờng hay sợ hãi mà bỏ đi khiến cho ngời ốm và nếu không kịp "gọi" hồn
về thì ngời sẽ chết Vì thế, ngời ta thờng cho trẻ đội mũ hoặc khăn trùm đầu,kiêng không xoa đầu hay đập tay lên đầu để hồn không giật mình chạy đi Ngoài
ra, ngời ta cũng còn dùng một số loại bùa yểm ma khác nh vòng bạc, buộc chỉ cổtay, mang theo đuôi sóc, răng hổ, vuốt gấu mỗi khi đi rừng
- Các tục lệ chủ yếu trong chu kỳ vòng đời ngời
Lễ cới của ngời Hà Nhì xa thờng đợc tổ chức cho các đối tợng có độ tuổi 15
- 17 (nam) và 13 - 15 (nữ) Lễ cới truyền thống trải qua các bớc là dạm ngõ, ănhỏi, lễ cới, và lễ lại mặt
Trai gái ngời Hà Nhì chủ động tìm hiểu trớc hôn nhân Sau khi đã tâm đầu ýhợp, nhà trai nhờ ông mối đi cùng chàng trai sang tha chuyện với nhà gái Khi đi,
họ mang theo 2 chai rợu (chí pà) và 1 gói đỗ tơng (á n n xì) để xin phép cho
chàng trai qua lại tìm hiểu cô gái Nếu nhà gái đồng ý, tình cảm của cặp trái gáitiến triển thuận lợi, một thời gian sau ông mối và chàng trai lại sang nhà gái
mang theo 2 chai rợu (chí pà), 1 gói thuốc lào (lạ khọ) và 1 gói cơm nếp (hò nhò)
để xin phép đợc ăn hỏi Sau khi đặt vấn đề, chàng trai mồi thuốc lào rồi trao cho
bố cô gái Nếu bố cô gái hút điếu thuốc lào đó có nghĩa là ông đã chấp thuận
Lễ ăn hỏi (Khà mì huuy) của ngời Hà Nhì thờng đợc tiến hành vào mùa khô
(tháng mời đến tháng ba âm lịch), lễ vật ăn hỏi có 2 chai rợu, 1 con gà Tham gia
lễ ăn hỏi ngoài ông mối, còn có đại diện của cả hai gia đình Nội dung của lễ này
là bàn bạc, quyết định về đồ sính lễ và định ngày cới Trờng hợp các thoả thuậngiữa hai bên cha đợc nhất trí, nhà trai có thể ra về và đến vào một dịp khác Quátrình lặp lại này có thể diễn ra ba lần Nếu hai gia đình không tìm đợc tiếng nóichung, hôn lễ sẽ bị huỷ bỏ
Trờng hợp thuận lợi, đám cới (xừ chà) sẽ đợc tổ chức ngay sau đó và kéo dài
trong vòng 3 - 5 ngày, nay thời gian rút xuống còn 2 ngày Ngày thứ nhất, nhàtrai tổ chức đoàn đón dâu ngoài chú rể còn gồm 2 ông mối, 1 phụ nữ trung niên,
2 phù dâu, 2 phù rể, các cụ cao niên và một số thanh niên nam nữ mang theo toàn
bộ đồ sính lễ (gạo, tiền, rợu, thịt) và một số thứ "làm lý": 1 gói cơm nếp (hò nhò),
1 quả trứng (á ụ), 1 con gà Trong đoàn ngời này, nhất thiết phải có ngời thạo
"lý" và giỏi hát đối đáp Nhà gái tổ chức đón nhà trai tại cổng bản với nghi lễchào hỏi theo hình thức hát đối đáp rồi đa nhà trai về nhà
Lễ cới tại nhà gái ngoài bữa rợu thịt và các màn múa hát dân gian còn diễn
ra nhiều nghi lễ và thủ tục quan trọng, trong đó đáng chú ý có lễ khấn báo tổ tiên
hay còn gọi là lễ nhập ma (à p'huỳ hứ đạ) có diễn ra nghi lễ đổi họ (zhì pừ gó
Trang 31p'há) cho cô dâu; lễ cầu con cái; thủ tục nhà trai trả tiền cho nhà gái gồm: tiền
sữa mẹ (à trzuý tó p'huỳ), tiền công bố chăm sóc (già mì mì chè), dạy dỗ, tiền công chú, bác, cô, dì giúp dạy dỗ, bảo ban (à gó, à ta chè p'huỳ) Sau khi đã hoàn
thành các thủ tục cần thiết, nhà trai xin đợc rớc dâu về Theo phong tục truyềnthống, cô dâu phải trốn cho kỹ, nhà trai chia ngời đi tìm Đây là lúc khách khứahai nhà tròng ghẹo, trêu nhau tạo không khí vui vẻ trớc khi cô dâu chia tay gia
đình, họ hàng để về nhà trai
Cô dâu đợc anh hoặc em trai của mình cõng ra khỏi cửa nhà Mẹ cô dâu độinón cho con gái Khi ra khỏi ngỡng cửa, chú rể cầm ô che cho vợ Trên đờng đi,ngời ta đánh chiêng, trống tạo không khí huyên náo, tng bừng Hễ gặp khe suối,ngời ta lại bẻ đôi 1 quả trứng, 1 nắm cơm nếp để cô dâu, chú rể ăn tợng trng cho
sự sẻ chia ngọt bùi trong cuộc sống
Nhà trai bố trí 2 thiếu nữ trẻ đội nón, đốt đuốc đón đoàn ở cổng bản và dắt
tay cô dâu về nhà Buổi tối ở nhà trai diễn ra lễ rợu (mừng) con dâu mới (Dlà mí
chí pà đu) kéo dài tới nửa đêm.
Ngày thứ hai, nhà trai mổ lợn làm cơm để thết đãi nhà gái và cảm ơn quankhách đã tới dự đám cới Thủ lợn đợc cắt đến vai mang sang biếu nhà gái
Lễ lại mặt còn gọi là lễ hồi môn (te khá ky ụ la) đợc tiến hành vào một ngày
trong tháng đó Xa kia, hai vợ chồng khi hồi môn bắt buộc phải mời một nammột nữ để bầu bạn đi cùng, cô dâu phải đội nón tre, đeo gùi đựng một con lợnnhỏ về biếu bố mẹ vợ Bữa ăn hồi môn có sự góp mặt của những ngời trong bảnnhng những anh em họ hàng của chú rể không đợc góp mặt Nay chỉ có hai vợchồng đi và cũng chỉ cần mang theo 1 chai rợu, 1 con gà để ăn uống tại nhà vợ
Ăn xong, hai vợ chồng phải về ngay trong ngày
Ngoài nghi lễ cới truyền thống nh trên, ở ngời Hà Nhì còn có một số hìnhthức cới khác nh: chỉ dạm ngõ, ăn hỏi rồi về ở với nhau sau khi đã cúng báo tổtiên mà không làm đám cới (đợc áp dụng bởi các gia đình nghèo); song khi haingời chết đi con cháu sẽ phải tổ chức cới lại để hai vợ chồng có thể đoàn tụ ở thếgiới bên kia Hình thức cới khác dành cho các cặp đã chót có thai trớc hôn nhâncũng diễn ra với đầy đủ các nghi lễ nêu trên nhng quy mô lễ cới và đồ thách cới
cũng nhỏ hơn rất nhiều Cuối cùng là hình thức cớp vợ hay trộm vợ (khà mì khò
chà) diễn ra trong trờng hợp nhà trai không có khả năng làm đám cới hoặc nhà
gái không chấp thuận mà đôi trai gái vẫn quyết định về với nhau Khi đó, chàngtrai đến đón cô gái ở địa điểm hẹn trớc rồi đa cô gái về khấn báo tổ tiên, nhập ma
Trang 32- đổi họ cho cô dâu xong, đại diện nhà trai sẽ đem 1 con gà trống, 1 chai rợu, 1gói hạt đậu tơng thông báo cho nhà gái là xong.
Tục sinh đẻ (già đẹ) của ngời ngời Hà Nhì mang những sắc thái tộc ngời rõ
nét Phụ nữ Hà Nhì ở Mờng Tè đẻ đứng hoặc quỳ Khi khó sinh, phụ nữ không
đ-ợc dùng thuốc Trong trờng hợp ấy, đồng bào chữa mẹo bằng cách lấy ống mai
đựng đầy nớc, trong có một que sắt rồi cho ngời trèo lên mái nhà vén gianh thảxuống cho vỡ ống bơng tạo ra tiếng nổ to, nớc bắn tung toé, que sắt văng rangoài Đồng bào cho rằng, làm nh vậy để sản phụ giật mình dặn đẻ đợc tốt hơn
Đồng bào cũng tin rằng, que sắt trong ống bơng kia là tợng trng cho thai nhitrong bụng mẹ Khi que sắt văng ra ngoài thì đứa trẻ cũng chào đời dễ dàng hơn.Trong vòng ba ngày sau khi sinh sẽ diễn ra lễ đặt tên cho trẻ Gia đình cắmcọc có chụp nón ở trên chóp cọc làm dấu báo hiệu ở cửa Nếu sinh con gái, cọc
đợc cắm ở bên phải Nếu sinh con trai, cọc đợc cắm ở bên trái Trong vòng 3ngày ấy, ai là khách đến nhà đầu tiên sẽ là ngời đặt tên, buộc vòng vía cho trẻ vàtrở thành bố/mẹ nuôi của trẻ Mọi ngời trong bản đến chúc cho trẻ những lời hay
ý đẹp và tặng quà cho trẻ Trong lễ đặt tên, gia đình làm rợu, thịt, cơm nếp đểcúng tổ tiên Đặc biệt, lợng cơm nếp phải đủ chia cho trẻ em trong cả bản và đó
đợc gọi là "Cơm của em bé" (à nhí hồ nhù).
Đẻ xong, nhau thai của sản phụ đợc chôn ở bên trong, ngay sát ngỡng cửa ravào, dới đáy hố chôn một ít tro bếp Sau khi lấp đất, ngời ta rào xung quanh bằngcác nan tre vót nhỏ nhng dày và đợc đan khá khít để chống không cho gia súc,gia cầm bới lên
Thời gian ở cữ của sản phụ kéo dài 20 tuần Hà Nhì (240 ngày) Trong thờigian đó, sản phụ tuyệt đối không đợc bớc chân vào nhà ngời khác; đồng thời sảnphụ cũng không phải tham gia vào bất cứ một việc nặng nhọc nào Trong thờigian này sản phụ đợc tẩm bổ bằng những loại thức ăn lành tính và bổ dỡng nh:thịt gà, thịt nạc lợn, tam thất, nghệ đen
Đồng bào có tục sau 1 tuần Hà Nhì (12 ngày), bố mẹ làm lễ cho con ra
ngoài trời (già pạ ký) Nếu là con gái, ngời mẹ sẽ địu con đi quanh bản và thực
hiện các hành động tợng trng cho việc lấy củi Nếu là con trai, ngời cha sẽ mangcon ra vờn và dùng dao làm các động tác tợng trng cho việc phát nơng và làm cáimóc treo chài đánh cá để đứa trẻ quen dần với các công việc lao động sau này
Trẻ đợc 1 tuổi, gia đình làm lễ đầy năm (già thì khụ po) Các gia đình trong
bản đến tặng quà cho trẻ Quà đợc đặt trên giờng, trẻ đợc đặt ngồi vào giữa đốngquà và thông qua việc trẻ cầm vật gì lên trớc, ngời ta sẽ đoán biết đợc tơng lai của
Trang 33trẻ sau này Nếu trẻ cầm vào cái bút, lớn lên sẽ trở thành ngời giỏi văn chơng;nếu cầm vào cái cân sẽ là ngời giỏi lý lẽ; nếu cầm vào công cụ lao động sẽ là ng-
ời lao động giỏi.v.v
Tang ma của ngời Hà Nhì có nhiều nghi lễ và kiêng kỵ Đồng bào kiêng
chôn ngời chết vào mùa ma vì sợ ngời chết biến thành hổ (a k'hà) về làm hại ngời
sống Vì vậy, nếu ai chết vào dịp đó, ngời ta chỉ treo quan tài trong huyệt chứkhông lấp đất Bên trên có lều để che ma, che nắng [9] Hiện tợng chết trùng bịxem là điềm rất xấu Khi có ngời chết cha đợc chôn mà trong bản lại có ngời qua
đời, thầy cúng sẽ phải làm lễ đuổi hết tà khí ra khỏi bản, đợi sau khi ngời chết
tr-ớc đợc chôn cất xong xuôi thì gia đình ngời chết sau mới đợc phép tiến hành tanglễ
Khi trong bản có ngời chết, tang gia sẽ bắn ba phát súng chỉ thiên để báohiệu cho cộng đồng Các gia đình ngay lập tức sẽ tề tựu và giúp đỡ tang gia giảiquyết tang sự; ngoài công sức, họ còn quyên góp tiền, gạo, rợu, thịt để giúp tanggia trong trờng hợp tang gia quá nghèo không thể lo tang sự
Ngời quá cố đợc tắm rửa, thay quần áo mới, ngậm đồng bạc Tang gia dỡvách buồng rồi đa ngời chết ra gian ngoài khâm niệm và đợi đến ngày tốt thìnhập quan Trong thời gian quàng tại nhà, ngời quá cố đợc cúng cơm mỗi ngày 2lần và đợc làm các thủ tục cần thiết trớc khi đợc đem chôn nh: ăn cơm chia tay
vợ/chồng (Chà go go), xin phúc (Cừ lò xá), lễ tách dây (Dạ p'hứ) để ngời chết không làm hại hồn con cháu và lễ nhập về tổ tiên (p'huỳ đò la).
Huyệt chôn ngời quá cố thờng ở xa bản, chân huyệt quay về phía dốc xuống,
đầu huyệt quay về phía dốc lên Ngời Hà Nhì kiêng không chôn ngời chết ở dốc
đỉnh bản (gần rừng Gà ma) và cũng không chôn ở dới chân bản; kiêng không để
cửa mả của bố chồng và con dâu đan chéo nhau Thông thờng, một ngời khi vềgià thờng chọn trớc chỗ chôn cho mình rồi cho con cháu biết để ngời con thừa tựbiết chỗ chôn cha/mẹ khi qua đời Trờng hợp không chọn trớc, ngời con thừa tự
sẽ đi chọn nơi đào huyệt trong thời gian xác cha/mẹ đợc quàng tại nhà bằng cáchném trứng Trong lễ hạ huyệt, ngời con thừa tự sẽ gọi hồn ngời chết về trông nomcon cháu
Ngời Hà Nhì để tang ngời chết trong ba ngày Mỗi ngày, tang gia phải mangcơm, rợu, nớc chè, thuốc lào ra cúng ngoài mộ một lần Hết ngày thứ 3, tang gia
mổ lợn cúng gọi hồn ngời chết tại nhà, làm lại vách buồng và mời mọi ngời đãgiúp cử hành tang lễ đến uống rợu để cảm ơn Sau đó, gia đình làm cúng dứt tang
(Hừ bạ dló) và cúng tổ tiên (á p'huỳ thú) Vợ/chồng và ngời con thừa tự đi chăm
Trang 34sóc mộ lần cuối Một năm sau, gia đình cúng ngời chết ba lần tại mộ vào các dịp:
cúng bản (Gà ma thú), 1 tuần sau tết mùa ma (Dlé k'hù chà) và tết cơm mới (Hồ
sự chà) Các năm sau, ngời chết cũng đợc cúng vào các dịp này nhng lễ cúng
diễn ra tại nơi thờ tổ tiên trong nhà ngời con thừa tự
- Các nghi lễ gia đình và cộng đồng
Với ngời Hà Nhì, thờ cúng tổ tiên là việc của con trai cả hoặc con trai út ngời ở với cha mẹ đến cuối đời và đợc thừa hởng toàn bộ bất động sản và mộtnửa tài sản động sản mà cha mẹ để lại Đồng bào thờng đặt bàn thờ tổ tiên ở lngchừng cột cái trong buồng ngủ của chủ nhà; bàn thờ đơn giản, thờng chỉ có mộtống tre đựng ít men rợu và những túm lúa đợc giắt lên sau mỗi mùa cơm mới.Việc thờ cúng có sự khác biệt giữa nhóm Hà Nhì Cồ Chồ và Hà Nhì Lạ Mí Nếu
-nh ở ngời Hà Nhì Lạ Mí, vợ chủ -nhà là ngời chịu trách -nhiệm thờ cúng tổ tiên thì
ở nhóm Hà Nhì Cồ Chồ, công việc này là của ngời đàn ông chủ gia đình
Ngời Hà Nhì có nhiều lễ, tết, hội Trong đó, đáng chú ý có lễ cúng bản ( Gà
ma thú), tết mùa ma (D'lé k'hù chà), tết cổ truyền (Hồ sự chà) Ngoài ra, đồng
bào còn nhiều nghi lễ gia đình và cộng đồng đợc tổ chức ở các quy mô lớn nhỏkhác nhau Các nghi lễ luôn gắn liền với các hoạt động mu sinh và đối tợng đợccúng trong các nghi lễ là các vị thần chủ cai quản các khu vực thiêng mà con ng-
ời xâm phạm tới
- Văn học nghệ thuật và trò chơi dân gian
Ngời Hà Nhì có vốn văn nghệ dân gian phong phú Tiêu biểu có Trờng ca Xa
Nhà Ca kể về lai lịch, gốc tích của vạn vật và sử thi P'huỳ Ca - Na Ca kể về cuộc
sống ở nơi đất tổ và bớc đờng thiên di của ngời Hà Nhì Ngoài ra, đồng bào còn
có những chuyện thơ dài kể về các phong tục tập quán nh chuyện đám cới,chuyện đám tang, chuyện sinh đẻ, chuyện làm nơng, chuyện đi săn, chuyện đi
buôn Tất cả đều đợc kể dới dạng hát (Há pà).
Thanh niên nam nữ Hà Nhì rất yêu âm nhạc và các trò chơi dân gian truyền
thống Trong các lễ tết hay đám cới thờng có các loại nhạc cụ nh: chuụng (Sỳ
cỳ), chiờng (Puỳ luy), trống (Lựng tựng), đàn (lạ khư), sỏo dọc (Lạ puý), sỏo
ngang (lạ si), nhị (Là khu sớ gú), kốn lỏ (Chỏ pạ po), tiờu (tuy) Điệu mỳa truyền thống phổ biến nhất cú mỳa trống - gọi là Lựng tựng tựng xộ xe (mỳa tập thể nam
nữ hoặc nam nữ mỳa riờng đều được) Ngoài ra, đồng bào cũn cú mỳa xoố ( pà
trzò) chịu ảnh hưởng của người Thỏi trong vựng.Các trò chơi dân gian có đánh
cù ( gì go), nhảy dây (a chạ à trzò), đánh cầu và đặc biệt là đu quay (a quý), đu dây (a gừ).v.v…
Trang 35- Ngôn ngữ và lịch pháp của ngời Hà Nhì mang những đặc điểm khá tơng
đồng với các tộc ngời trong cùng nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến Trong đó, ngônngữ Hà Nhì là loại ngôn ngữ đơn lập, phi hình thái, có thanh điệu, cấu trúc âmtiết mở Phần lớn hệ thống từ vựng tiếng Hà Nhì biểu thị tập quán mu sinh của
đồng bào (tuy rằng có mợn một chút tiếng Hán Quảng Đông - còn gọi là tiếngQuan Hoả) Những mảng từ vựng dùng để chỉ các vấn đề chính trị, xã hội, khoahọc, kỹ thuật thờng đợc vay mợn từ tiếng phổ thông (tiếng Việt) Trong cách sửdụng câu, các biệt pháp tu từ và h từ đợc sử dụng để biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp.Thứ tự cơ bản cấu thành câu là: Chủ ngữ - Tân ngữ - vị ngữ Ngôn ngữ Hà Nhì cócác đặc điểm đáng chú ý về từ ngữ và ngữ pháp nh sau:
Ngữ âm Hà Nhì có hai loại là đơn âm (VD: Chà có nghĩa là ăn; Tó có nghĩa
là uống) và đa âm (VD: à ta có nghĩa là bố; à ma có nghĩa là mẹ; Há trzu trzu có
nghĩa là làm) Trong các từ đa âm tiết mỗi âm tiết đều có nghĩa nên có thể nóitiếng Hà Nhì là sự tập hợp của các từ đơn âm tiết
Âm tiết tiếng Hà Nhì đợc tạo thành bởi ba yếu tố: âm đầu, vần và thanh
điệu Trong đó, âm đầu và vần đợc kết hợp bởi hệ thống phụ âm và hệ thốngnguyên âm Đặc biệt, hệ thống nguyên âm tiếng Hà Nhì lại có nguyên âm đơn (a,
e, i, o, u, y) và nguyên âm đôi hay còn gọi là nguyên âm kéo dài (aa, ee, ii, uu,
ơơ, ai, am, ao, aw, eh, eu, oe, oi, ui) Âm vị trong tiếng Hà Nhì có 5 thanh điệu làthanh không ( ), thanh huyền ( ̀ ), thanh sắc ( ’ ), thanh nặng ( ∙ ) và thanh ngã (
Danh từ gồm có danh từ riêng (VD: tên riêng Toán Pè Gang, Pờ ứ Lòng, Pờ
ứ Chừ; tên địa danh Xi Né, Gò Cứ, Lò Ma);
Danh từ chung trong ngôn ngữ Hà Nhì có một số đặc điểm đáng lu ý nh khimuốn biểu thị một số lợng sự vật cụ thể thông qua từ chỉ số lợng và hình ảnh của
sự vật đợc nhắc đến trong câu thì kết hợp với số từ và trong nhiều trờng hợp saukhi kết hợp số từ thì lặp lại chính danh từ đó:
= Một đám nơng
à ha thì ha = Hai con gà
Trang 36Con gà hai gàKhi cần khẳng định một vấn đề, danh từ hiện tợng đợc kết hợp với danh từchỉ chất liệu đặc trng hoặc sự sở hữu; trong nhiều trờng hợp còn thêm bớt danh từchủ thể:
V
D:
= Cái áo ngắnCái áo áo ngắn
à gạ ứ tù
= Đầu con lợnCon lợn đầu
= Sừng con trâuCon trâu trâu sừng
Quy luật kết hợp danh từ trong một câu thì bao giờ danh từ chỉ ngời hoặc đại
từ nhân xng cũng đứng trớc danh từ chỉ sự sở hữu hay danh từ chỉ nơi chốn:
Đại từ gồm có đại từ nhân xng chỉ ngời, đại từ chỉ vật, đại từ chỉ định nơichốn và đại từ để hỏi Trong đó, đại từ nhân xng chỉ ngời của ngời Hà Nhì có các
ngôi số nhiều là Nga t khá tì (chúng tôi, chúng tao), Nô ha khá tì (các ông, chúng mày); các ngôi số ít có Ngá (Tôi, tao, ta), Nố (mày - khi nói về một nhân vật không xác định), à giố (mày - khi nói về một nhân vật xác định), í gạ (thằng này,
Trang 37Đại từ chỉ định nơi chốn nh hí ké (này, đây), uy ké (kia), uy (kìa), thuỳ (đấy) Khi kết hợp vào câu, đại từ chỉ định thờng đi kèm với các từ mó (cái), thuý (này)
+ danh từ
Chẳng hạn câu: Nố khé mố pạ là
= Ông lấy cái kia à
Ông cái kia lấy àCùng với chủ ngữ, các từ loại có vai trò làm vị ngữ trong câu cũng có vai tròquan trọng Trong ngôn ngữ Hà Nhì, động từ và tính từ thờng giữ vai trò làm vịngữ trong câu Trong đó, tính từ trong câu có tác dụng biểu thị ý nghĩa, tính chất,trạng thái, thuộc tính; còn động từ gồm có hai tiểu loại động từ là nội động từ vàngoại động từ Động từ trong ngôn ngữ Hà Nhì đợc chia thành 4 thì là thì hiệntại, thì quá khứ, thì quá khứ gần và thì tơng lai:
VD thì hiện tại Nhù ú úng ngá = Bây giờ làm đấy
Bây giờ làm đấy
từ đánh dấu vai trò chủ thể của từ, ý nghĩa trần thuật; Thán từ biểu thị thái độ củangời nói
Ngoài ra, ngôn ngữ Hà Nhì còn có hệ thống số đếm đến đơn vị triệu, phân từ
(pa: một nửa; shù hay bí: phần/phần trăm), số từ không xác định (m nhà: vài)
Lịch của ngời Hà Nhì đợc tính trên cơ sở 12 con giáp Một năm có 365
ngày, chia làm ba mùa với 12 tháng Tuần đầu tiên của năm có 13 ngày; các tuầntiếp theo mỗi tuần 12 ngày, chu kỳ lặp lại của tuần kế tiếp vào ngày thứ 13 Mỗi
tuần đợc bắt đầu bằng ngày con hổ (k'hà là no) và kết thúc bằng ngày con trâu (nhù no) Ngày đầu tiên trong năm đợc xác định là ngày mở đầu lễ cúng bản (Gà
ma thú) Đơn vị tuần là đơn vị cơ sở của lịch pháp Hà Nhì Theo quan niệm dân
Trang 38gian, lịch của ngời Hà Nhì có đợc là do quan sát những đặc điểm của cây thần
bốn cạnh có tên là Hò Tu Ma Dó ở đất Ha Sa Uỳ Luy Luý Nhà Chơng V Trờng
ca Xa Nhà Ca, từ câu 1.447 đến câu 1.465 miêu tả cách tính lịch của ngời Hà Nhì
nh sau:
á Nhuý lá c à khù dà lò é
Ha xa ứ khó xá e hu lý lé é dla uỳ luy luý nhà
Trzóng lò lé bu truý ó chra á lé é dla uỳ khó lé bu
Pạ lò uỳ khó dà mừ luý dlè chra lé é dla
Ha xa ứ khó gá e hu lý ne uỳ luy luý nhà
Trzóng lò lé bu truý ơ chra ngứ á nà uỳ khó lé bu
Pạ lò uỳ khó dà mừ luý dlè chra ngứ á
Trang 39Cây thì giống cây móc
Lá thì giống dây song
Lá thì giống cây, cây thì giống lá
Bây giờ đếm xem cây có bao nhiêu rễ
Cây có mời ba rễ
Vậy một tuần gặp lại là tính mời ba ngày
Biểu 1. Lịch của ngời Hà Nhì ở Mờng Tè
Các tháng trong năm Các ngày trong tuần
Tiếng Hà Nhì Tiếng Phổ thông Tiếng Hà Nhì Tiếng Phổ thông
Trang 40Xì là xì Tháng thứ bảy Mụ no Ngày (con) khỉ
- Kinh nghiệm phòng - chữa bệnh và một số bài thuốc dân gian
Ngời Hà Nhì có nhiều kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ con ngời, đặc biệt làngời phụ nữ sau khi sinh Theo kinh nghiệm của đồng bào, ngời phụ nữ khi mangthai thờng phải thực hiện một số kiêng kỵ để bảo vệ sức khoẻ cho sản phụ và thainhi Trong ăn uống không ăn thịt bất cứ một con vật bào bị chết do ốm hay trợtchân ngã xuống vực, không ăn thịt con vật đang có chửa, đặc biệt là bào thai conthú Nói cách khác là tất cả các loại thịt thú không đợc cắt tiết thì ngời phụ nữmang thai đều phải kiêng Ngoài ra, ngời phụ nữ Hà Nhì khi mang thai còn phảikiêng không đợc ăn thịt trâu, thịt lợn sề, thịt dê, ngan, ngỗng, vịt, cua, ốc (nóichung là các đồ lạnh và tanh) vì đồng bào quan niệm nếu có thai mà ăn các loạithực phẩm đó thì ngời phụ nữ ấy sau này dễ bị mắc các chứng bệnh hậu sản, sợcác mùi thịt, cá; đồng thời khi ăn các đồ lạnh và tanh, sản phụ hay bị nôn, ảnh h-ởng không tốt đến đứa con sau này Các loại thức ăn tẩm bổ cho sản phụ thờng lànạc lợn, thịt gà nấu với lá rau đắng, quả đu đủ xanh để sản phụ khoẻ mạnh và
có nhiều sữa Trong suốt thời gian ở cữ, sản phụ đợc nghỉ ngơi 20 tuần Hà Nhì(240 ngày)
Với các loại bệnh thờng hay xuất hiện ở ngời, ngời Hà Nhì có thể chữa đợccác loại bệnh bói đợc (thờng là cảm, sốt và một số loại bệnh do nhiễm khuẩn siêu
vi trùng), bệnh khớp, bệnh ho do sng phổi, bệnh đau tim, bong gân, chệch khớp,gẫy xơng, rắn cắn…; và đặc biệt ngời Hà Nhì ở Mờng Tè còn chữa đợc bệnh sơgan Các vị thuốc thờng là lá, thân, rễ, cây, củ, quả của nhiều loại cây rừng kếthợp với nhau Khi dùng thờng sắc (đun) rồi dùng cả nớc và bã Bã dùng để đắpngoài còn nớc thuốc dùng để uống Mỗi bài thuốc là cả một bí quyết gia truyền
mà mỗi ngời thầy thuốc chỉ truyền cho đứa con thừa tự hoặc cháu đích tôn Donhiều vị thuốc không có tên gọi nên ngời học phải trực tiếp đi hái thuốc vớicha/ông, đợc cha/ông chỉ bảo cặn kẽ về đặc điểm, tác dụng của vị thuốc, nơi th-ờng mọc và mùa tốt nhất để thuốc có thể phát huy tối đa tác dụng Cứ vài ba bản
Hà Nhì lại có 1 - 2 thầy thuốc rất thạo các bài thuốc nam gia truyền Việc cắt