Trong đó, công nghệ dân gian cũng đang bịlấn át mạnh mẽ bởi công nghệ và các loại máy móc, thiết bị công nghiệp hiện đại.Tình hình đó đã đặt ra một yêu cầu bức thiết là phải khẩn trương
Trang 1DẪN LUẬN
Trang phục là một trong những thành tố cơ bản nhất phản ánh đặc trưng vănhoá tộc người Để biến các nguyên liệu thành trang phục, người ta phải trải quanhiều công đoạn, nhiều bước khác nhau Mỗi công đoạn, mỗi loại nguyên liệu lại cócác công cụ khác nhau Để chế tác trang phục bằng vải, cần có các công cụ dùng đểbiến nguyên liệu thành sợi, dụng cụ dùng để xe sợi, dụng cụ dùng để dệt sợi, nhuộmsợi, nhuộm vải… Chế tác trang phục bằng kim loại phải có khuôn gò, đúc, lò nung,nồi nấu và các dụng cụ cần thiết kèm theo để gò, rèn, giũa… Trang phục bằng cácchất liệu từ động vật phải có các dụng cụ dùng trong việc thuộc da, sấy ép, cắt bào,hấp, may… Các công cụ này được phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phứctạp Chúng phản ánh trình độ phát triển của công nghệ địa phương, công nghệ dângian; thể hiện trình độ kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo của một cộng đồng người
Vì vậy, tìm hiểu trang phục không thể chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu kiểu dáng,mẫu mã, chất liệu, màu sắc, hoa văn trên trang phục mà còn phải tìm hiểu bộ công cụ
để làm nên bộ trang phục ấy Từ đó, góp phần nghiên cứu về văn hoá dân gian trêngóc độ công nghệ truyền thống
Thôn Cát Cát hiện nay được đông đảo du khách trong và ngoài nước biết đếnbởi những giá trị to lớn không chỉ về mặt cảnh quan thiên nhiên mà còn cả về bảnsắc văn hoá dân tộc Mông được bảo lưu khá đậm nét trong các nếp sống sinh hoạthàng ngày Tuy nhiên, do sự phát triển của du lịch nói riêng, của kinh tế thị trườngnói chung đang từng ngày, từng giờ tấn công mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực của đờisống kinh tế - văn hoá – xã hội nơi đây Trong đó, công nghệ dân gian cũng đang bịlấn át mạnh mẽ bởi công nghệ và các loại máy móc, thiết bị công nghiệp hiện đại.Tình hình đó đã đặt ra một yêu cầu bức thiết là phải khẩn trương nghiên cứu,tiến tới bảo tồn và phát huy giá trị của công nghệ dân gian truyền thống nói chung,công nghệ dân gian trong lĩnh vực dệt may của người Mông ở Cát Cát nói riêng bằngcác phương pháp bảo tồn phù hợp, có hiệu quả để nó không chỉ đứng vững mà còn
có thể khẳng định được vị thế của mình trong xã hội công nghiệp
Chuyên đề Bộ công cụ dệt may của người Mông ở thôn Cát Cát, xã San Xả
Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai nhằm góp phần giải quyết vấn đề đó Chuyên đề
nằm trong Đề tài Bảo tồn nghề dệt truyền thống, thuộc Dự án Bảo tồn làng truyềnthống dân tộc Mông ở thôn Cát Cát, xã San Xả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.Chuyên đề được thực hiện bằng các phương pháp dân tộc học truyền thống, sử dụngkết quả điền dã tại thực địa làm nguồn tài liệu nghiên cứu chủ yếu
Trang 21 BỘ CÔNG CỤ TRỒNG VÀ CHĂM SÓC LANH
Bộ công cụ trồng và chăm sóc lanh của người Mông ở Cát Cát gồm có cuốc
và dao
Cuốc trong bộ công cụ làm đất của người Mông ở Cát Cát là loại cuốc bướm.Lưỡi cuốc bằng sắt, rộng khoảng 20 cm, cao 12 cm Lưỡi cuốc có hình bánnguyệt, hai bên rìa hơi khum, sắc Chuôi cuốc cong gập có họng tra cán, độ conggập tuỳ thuộc vào địa hình canh tác có độ dốc nhiều hay ít, góc xiên từ 450 – 750.Cán cuốc ngắn, lưỡi bè, dùng để xới đất, trốc cỏ, vun… thích hợp với vùng đất tơikhô
Dao quắm của người Mông có kích thước nhỏ, cán ngắn, lưỡi dài, đầu congnhư mỏ quạ, rìa lưỡi thẳng tới gần đầu mút mới cong lại, thích hợp với việc phát
và moi móc cỏ trong các khe đá
2 BỘ CÔNG CỤ CHẾ BIẾN LANH THÀNH SỢI
Chế biến lanh thành sợi là việc tốn khá nhiều thời gian và công sức Ngày từkhi thu hoạch đã diễn ra những công đoạn đầu tiên của việc này Các công đoạn
cứ nối tiếp nhau từ tháng 6 – 7 âm lịch đến tháng 10 âm lịch mới có thể tạm gọi làxong Trong các công đoạn ấy, ngoại trừ có tước vỏ lanh và nối sợi là chỉ cần đôibàn tay Còn lại các công đoạn khác, người phụ nữ Mông luôn cần đến sự trợgiúp đắc lực của bộ công cụ
2.1 Công cụ giã lanh
Bộ công cụ giã lanh của người Mông ở Cát Cát gồm có cối (kror chuv tuôr
ntuôk) và cây giã - thường được dùng từ cán rìu (ku tauk) hoặc đầu bẹt của xà
beng (changv nzưv)
Người Mông không sử dụng chầy để giã lanh vì chầy vừa to, vừa nhẹ; trongkhi vỏ lanh trước khi được thì trơ và cứng Vì vậy, người ta thường sử dụngnhững thứ có độ nặng (đầm tay) và đầu nhỏ (để tập trung lực) Trước đây, đồngbào thường sử dụng cán rìu - loại rìu vẫn được dùng để chặt cây, bổ củi Thôngthường, cán rìu có kích thước dài 75 – 80 cm, tiết diện 2,5 x 3,5 cm Ngày nay,nhiều người sử dụng loại xà beng mua ở chợ huyện về giã
Cối giã lanh thường được làm từ gỗ pơ mu bởi đây là loại gỗ nhẹ, mềm, dai,nhiều nhựa dầu (tinh dầu) nên có thể chịu đựng được sự thay đổi của thời tiết, khíhậu – không bị nứt nẻ, co ngót; đồng thời chịu được lực va đập khi giã lanh –không bị vỡ Tuy nhiên cũng có khi người ta làm cối bằng gỗ kháo và gỗ dổi Vềhình dáng và kích thước, cối có dạng hình trụ thon nhỏ dần về đáy Về kíchthước, có chiều cao thành ngoài ≈ 80 cm, đường kính miệng 50 cm, đường kínhđáy 40 cm, thành cối dày 5 cm, lòng cối sâu 55 cm, phần đáy đặc cao 25 cm Nếucắt ngang theo chiều thẳng đứng của cối, mặt trong lòng cối có 2 dạng hình khối
Ở phía nửa trên, thành lòng cối có hình thẳng đứng Ở phía nửa dưới, thành lòngcối thon nhỏ dần, càng về đáy, độ thon càng lớn khiến cho phần này có phẫu diệnđáy hình chữ U, được gọt đẽo tỷ mỉ sao cho đạt độ phẳng nhẵn gần như tuyệt đối
Trang 3Điều này sẽ có tác dụng trong việc tạo ra độ trơn trượt cần thiết cho cây giã khigiã lanh (không bị mắc chầy vào thành lòng cối) Chiếc cối thường được chônngập phần lớn chiều cao của cối xuống đất, chỉ để lộ phần trên đỉnh cối, với chiềucao ≈ 5 – 10 cm Vị trí chôn cối thường ở góc nhà ngoài hoặc ở hiên nhà, góc tráigần cửa chính.
2.2 Guồng xe sợi (yuôz)
Guồng xe sợi là công cụ dùng để xe sợi lanh sau khi sợi đã được xe và nốibằng tay Công đoạn xe sợi bằng guồng có tác dụng để cho sợi được đánh vào cáccon suốt Nhưng quan trọng hơn là để cho sợi được tăng thêm độ mềm và độ dẻodai, chuyển từ dạng mỏng và dẹt của vỏ cây sang dạng tròn và xoăn chắc của chỉ/sợi dệt
Guồng xe sợi của người Mông ở Cát Cát được làm bằng gỗ Loại gỗ đượcđồng bào ưa thích khi chế tác guồng này là gỗ pơ mu hoặc gỗ dổi, gỗ kháo Chiếc
guồng này gồm có 09 bộ phận chính; bao gồm: trục đỡ (ndêx yuôz), lỗ cắm que cuốn sợi (kror nzeir), giá đỡ trục (nênhv yuôz), bánh xe (câux yuôz), trục bánh xe (ntơs yuôz), dây tạo lực, trục đỡ cần, cần đạp và suốt cuốn sợi (nzeir).
2.2.1 Trụ đỡ (ndêx yuôz)
Trụ đỡ trong bộ guồng xe sợi của người Mông ở Cát Cát xưa thường đượclàm bằng gỗ pơ mu Nay, do nguồn gỗ pơ mu đã khan hiếm nên đồng bào có thểthay thế bằng một số loại gỗ khác nhưng vẫn đảm bảo độ bền chắc như dổi,kháo… Về hình dáng, trụ đỡ có hình trụ đứng Về kích thước, trụ cao khoảng 1,7
m, tiết diện 7 x 7 cm Trụ được đóng cố định vào một thanh gỗ ngang có tác dụngnhư một chân trụ Chân trụ cũng được làm bằng một loại gỗ chắc chắn, dài 1,1 –1,2 m; rộng 16 cm; cao 9 cm
2.2.2 Giá đỡ trục (nênhv yuôz)
Trên chiếc guồng xe sợi, giá đỡ trục là nơi để người ta mắc dây curoa nối vớibánh xe để truyền lực tác động từ vòng quay của bánh xe lên các suốt chỉ Giá đỡtrục có cấu tạo chính bởi 2 miếng gỗ được chế tác theo một định dạng bất di bấtdịch như sau:
Từ một miếng gỗ có tiết diện 74 x 15 cm; dầy 2,5 cm, người ta chia chiều dàicủa nó ra thành 3 khoang Hai khoang ngoài cùng, mỗi khoang dài 16 cm, người
ta cắt sâu xuống 12 cm tạo ra thành hai đường rãnh đối xứng ngăn cách với đoạngiữa để sau khi cắt gọt, hai đầu sẽ tạo thành hai khoang gờ cao cho khi dây curoanảy lên trong quá trình vận hành cũng sẽ không bị văng ra ngoài Khoang giữa dài
40 cm được đánh dấu một điểm ở trung tâm phía trên đỉnh và một điểm trung tâm
ở phía dưới đáy Từ điểm trung tâm trên đỉnh, người ta gọt hai đường lượn haiđường vòng cung chạy xuống đều về hai phía sao cho điểm cuối của đường gọtgặp đúng điểm cắt ở hai cạnh mà phải đảm bảo đường lượn phải cong đều ≈ 300 -
350 Trên vành cong này, người ta chia khoảng cách thành 4 điểm đều nhau: mỗiđiểm cách nhau 10 cm Tại mỗi điểm đó, người ta khoan một lỗ rộng khoảng 1
cm để lắp que suốt sợi
Trang 4Từ hai điểm cắt chia đoạn kể trên, người ta dóng hai đường thẳng xuốngcạnh đáy của miếng gỗ - gọi là đường chia khoang (mỗi bên một đường) Từ haiđiểm chia khoang ở đáy miếng gỗ, người ta gọt hai đường lượn lên vào phía trongvới độ cong ≈ 200 sao cho hai đường lượn này phải cùng gặp nhau ở điểm chínhgiữa tâm của cạnh đáy miếng gỗ Đường lượn dưới này có tác dụng để cho khibánh xe nảy lên trong lúc quay cũng không chạm phải giá đỡ trục.
Từ điểm chính giữa của khoang giữa, người ta đánh dấu một điểm, từ điểmnày, người ta đo đều ra hai bên - mỗi bên 10 cm để đánh dấu tiếp 2 điểm nữa Tại
ba điểm này, người ta đục 3 lỗ mộng để lắp 3 thanh đệm Tiết diện của mỗi lỗmộng là 2,5 x 2,5 cm
Sau khi làm xong một miếng gỗ, người ta ướm vào miếng gỗ còn lại, vạchmẫu và chế tác tiếp miếng gỗ còn lại cũng với trình tự và kích thước như trên.Được cả hai miếng gỗ có hình dáng và kích thước giống nhau, người ta lắpchúng vào với nhau Để tạo ra một khoảng cách làm chỗ lắp dây curoa, người tađóng 3 thanh đệm Các thanh đệm là những miếng gỗ được ở các vị trí cách đềunhau (theo vị trí các lỗ mộng đã đề cập ở trên) Bốn miếng gỗ vừa có tác dụng làvùng đệm ngăn cách giữa 2 miếng gỗ của giá đỡ trục, vừa có tác dụng tạo ra mộtkhoảng trống cần thiết để cho dây curoa chạy lúc vận hành Mỗi miếng gỗ cóchiều dài 10 cm, tiết diện 4 x 4 cm
2.2.3 Lỗ cắm que cuốn sợi (kror nzeir)
Lỗ cắm que cuốn sợi được đục tại 4 điểm sát cạnh đỉnh của giá đỡ trục (cáchđỉnh giã đỡ trục ≈ 1,5 – 2 cm Mỗi lỗ có đường kính khoảng 1 cm, lỗ nọ cách lỗkia 10 cm Lỗ này để người ta cắm que suốt cuốn sợi xuyên qua hai miếng gỗ củagiá đỡ trục Khi vận hành guồng, người xe sợi đặt dây curoa nằm lên trên 4 quesuốt sợi Lực đạp của người thao tác được truyền qua cần đạp vào bánh xe, quadây curoa lên các que suốt sẽ làm cho suốt quay và cuốn sợi vào con suốt
2.2.4 Bánh xe (câux yuôz)
Bánh xe trong bộ guồng xe sợi của người Mông ở Cát Cát trước đây vốnđược làm hoàn toàn bằng song mây (vòng cuốn) và gỗ (trục và các thanh giằng).Ngày nay, do chất liệu song mây khan hiếm nên người ta thay thế bằng vòng sắt.Cấu tạo của bánh xe như sau:
Bánh xe có đường kính 65 cm được tạo bởi 2 vòng sắt được lượn tròn rồihàn đính hai đầu vào nhau (người Mông ở Cát Cát mua sắt xây dựng và thuê hàn
ở phố huyện) Xung quanh, người ta lắp các thanh gỗ vừa có tác dụng làm cácthanh giằng cho hai vòng sắt, vừa làm đường chạy cho dây curoa Mỗi thanh dài
16 cm; rộng 3 cm; dày 2,5 cm Số lượng các thanh gỗ này không cố định nhưng
để cho dây chạy không bị nặng thì ít nhất cũng không dưới 8 thanh, nhiều nhấtcũng không quá 16 thanh (ít hơn sẽ làm rỗng đường chạy của dây, dây sẽ bị vấpnhiều; nhiều hơn sẽ bí – gây ra nhiều ma xát trên đường chạy của dây, dây chạykhông có đà - Giải thích của ông Vàng A Sử, sinh năm 1963, trú tại đội I, thônCát Cát) Trong lòng bánh xe, người ta lắp vào đó 2 thanh gỗ bắt chéo nhau theo
Trang 5hình dấu nhân Hai thanh này vừa có tác dụng nối bánh xe với trục quay; vừa cótác dụng chịu lực cho toàn bộ bánh xe, khiến cho bánh xe không bị biến dạngtrong quá trình vận hành Mỗi thanh này có chiều dài 65 cm; rộng 7 cm; dày 1,5
cm Tại điểm trung tâm (nơi hai thanh giằng gặp nhau), người ta đục một lỗ trònđường kính 3,5 cm để lắp vào trục (trục bánh xe)
2.2.5 Trục bánh xe (ntơs yuôz)
Trục bánh xe trước đây được làm bằng sắt, hoặc gỗ Que trục có đường kính
≈ 3 cm, dài 20 cm Một đầu que trục được đóng chìm vào thân trụ đỡ với độ ngậpvào thân trụ đỡ 5 – 7 cm Ngày nay, nhiều người còn đóng một đầu que trụcxuyên qua thân trụ đỡ rồi bắt ốc chốt giữ (trong trường hợp này đầu que trục đượclàm bằng sắt và đầu trục có tạo ren) Phần còn lại của que trục dài khoảng 12 – 15
cm được sỏ vào lỗ trục Phần thừa phía ngoài, người ta chốt chặn bằng 1 – 2 vòngsắt to và hàn cứng lại sao cho chốt chặn không bị trượt khỏi vị trí Điểm chốtchặn không được khít quá, nếu không sẽ làm cho bánh xe bịt sát, không bon; cũngkhông được xa quá, nếu không bánh xe sẽ bị chao đảo trong khi vận hành Ngàynay, nhiều người còn lắp cả vòng bi vào điểm tiếp giáp giữa lỗ trục và que trụclàm tăng độ trơn, bon cho vòng quay
Ngoài ra, trong bộ guồng xe sợi của người Mông ở Cát Cát còn có dây curoa,cần đạp, trụ đỡ cần và suốt cuốn sợi Dây curoa xưa được làm bằng da trâu hoặc
da bò (về cách thuộc da: Xem ở phần cấu tạo của khung dệt), nay được thay bằngdây chun cắt từ săm ô tô được mua ở chợ huyện Cần đạp, trụ đỡ cần và suốt cuốnsợi đều là những cấu kiện đơn giản, dễ làm, dễ kiếm trong vùng cư trú
2.3 Guồng thu và tháo sợi
Guồng thu sợi, tiếng Mông gọi là khâuz lis Đây là công cụ dùng để thu sợi
từ những suốt chỉ nhỏ vào thành một bó lớn để thực hiện công đoạn tiếp sau(công đoạn làm trắng sợi) Toàn bộ các bộ phận của công cụ này đều được làmbằng tre
Guồng thu sợi của người Mông ở Cát Cát có cấu tạo đơn giản với chỉ gồm có
3 bộ phận là trục đỡ (tâuz lis), thanh cuộn (khâuz lis) và chốt chặn (chel khâuz
lis) Chúng được liên kết với nhau tạo thành một khối rộng khoảng 3 m2
2.3.1 Trục đỡ (tâuz lis)
Bộ phận này có tác dụng giữ cho guồng thu sợi đứng vững kể cả lúc đứngyên hay khi vận hành Căn cứ vào chức năng thì trục đỡ gồm có 3 bộ phận liênkết với nhau là: chân trục, trục giữa và ống thân trục (Người Mông ở Cát Cátkhông có tên gọi riêng cho 3 bộ phận này)
Chân trục là một đoạn tre dài khoảng 40 cm, đường kính khoảng 10 cm Gọi
là chân trục vì bộ phận này nằm ở vị trí dưới cùng đảm nhiệm chức năng làm trụcho không chỉ toàn bộ khối trục mà còn làm điểm tựa cho cả guồng thu sợi Để cóthể làm được điều đó, phần lớn chiều dài chân trục được chôn chặt dưới đất hoặc.Phần chìm dưới lòng đất khoảng 35 cm, được nèn chặt Đoạn chân trục nổi lên
Trang 6trên mặt đất cao khoảng 5 cm; hoặc cũng có thể được đóng cố định vào mộtmiếng gỗ tròn (đường kính ≈ 40 cm; dầy ≈ 10 cm) Chân trục là vị trí quan trọngquyết định chủ yếu tới sự vững chãi của guồng xe sợi trong lúc vận hành
Ngay phía trên chân trục là trục giữa Gọi là trục giữa vì hai đầu của nó đềuđược luồn vào nằm gọn trong lõi của chân trục và ống thân trục Trục giữa là mộtđoạn ống tre (cũng có khi người ta làm bằng gỗ) dài khoảng 70 cm, đường kính ≈
6 – 7 cm Một đầu được cắm vào chân trục (đoạn cắm vào chân trục dài khoảng
30 cm) Một đầu được cắm luồn vào bên trong lõi của đoạn ống thân trục nằm ở
vị trí trên cùng của trục (đoạn cắm vào ống thân trục dài khoảng 40 cm) Trụcgiữa vừa có chức năng góp phần giữ cho guồng thu sợi luôn được đứng vững;đồng thời cũng vừa có chức năng làm cho trục vận hành trơn tru, không bị dít, kẹthay mắc trong lúc vận hành; và đó là chức năng chủ yếu nhất của nó
Trên cùng là ống thân trục Gọi là ống thân trục vì lõi của nó lồng chụp vàotrục giữa và thân của nó là nơi để lắp các thanh cuộn Ống thân trục là một đoạntre to gồm 02 dóng tre với đường kính tương đương với đường kính của chântrục, chiều dài khoảng 80 cm Đầu phía dưới được chặt bỏ đốt để lồng vào trụcgiữa Đoạn lồng nằm gọn trong một dóng tre phía dưới dài khoảng 40 cm đượcchặn lại bằng một mắt đốt tre tự nhiên Nhờ có mắt đốt tre này mà trục giữa chỉđến đây là bị chặn lại, không thể trồi tiếp lên gây ra sự va chạm với các thanhcuộn ở trên Ở dóng tre phía trên, người ta đục 2 đôi lỗ (mỗi đôi gồm có 2 lỗ đốixứng ở 2 mặt đối diện của dóng tre) để lồng thanh cuộn Theo kinh nghiệm dângian, để cho guồng có được sự cân bằng cần thiết, người ta thường lấy cáckhoảng giữa của đoạn công cụ chế tác để đục lỗ luồn thanh cuộn Theo cách tínhtoán đó, người ta chia dóng tre ra làm hai phần đều nhau Điểm chính giữa chính
là điểm người ta đục đôi lỗ dưới Sau đó, lấy mốc từ lỗ dưới và điểm trên cùngcủa dóng tre, người ta lại chia đôi đoạn còn lại này thành hai nửa đều nhau Vàđiểm chính giữa đoạn được chia đôi ấy cũng lại là điểm để người ta đục đôi lỗtrên Do hai thanh cuộn phải nằm chéo nhau theo hình dấu nhân tạo thành góc 900nên hai cặp lỗ cũng phải được đục ở các vị trí tương ứng Đường kính của lỗ phụthuộc vào đường kính của ống thân cuộn Thông thường, đường kính của lỗ này ≈
5 – 6 cm
2.3.2 Thanh cuộn (khâuz lis)
Thanh cuộn trong bộ guồng thu sợi gồm có 1 đôi (2 thanh) được làm từ haithanh tre nhỏ và có đường kính tương đối đều giữa 2 đầu (5 cm) và được xếpchéo nhau theo hình dấu nhân Khi lắp vào trục, điểm tâm giữa của mỗi thanh đềutrùng nhau và đều nằm ở chính giữa tâm của ống thân trục khiến cho chiều dàicủa mỗi thanh tính từ ống thân trục ra đến đầu mỗi thanh cuộn đều bằng nhau.Thanh cuộn trong bộ guồng thu sợi có tác dụng quy định độ lớn nhỏ của vòng sợi/
bó sợi được thu Vì vậy, chiều dài của nó bao giờ cũng phải mang tính chuẩn mựctương đối Tổng chiều dài của mỗi thanh là 6 cm Sau khi lắp vào ống thân trục,chúng sẽ tạo ra cho bộ guồng thu sợi một kích thước lớn tới 6 m2
Trang 72.3.3 Chốt chặn (chel khâuz lis)
Chốt chặn trong bộ guồng thu sợi gồm có 4 thanh tre nhỏ, mỗi đoạn đều cókích thước nhỏ: dài 10 cm, đường kính ≈ 1 – 1,5 cm Điểm gài chốt chặn cáchđầu thanh cuộn khoảng 8 cm Chốt chặn có tác dụng để chặn bốn đầu thanh cuộn
và đây cũng là các điểm mắc sợi Sợi khi được thu sẽ mắc tại các điểm này Saumỗi lượt quay, sợi sẽ mắc lại một vòng Và sau nhiều lượt quay như vậy sẽ tạo ramột cuộn sợi với nhiều vòng Số vòng sợi nhiều hay ít phụ thuộc vào ý muốn củangười thu sợi
2.4 Công cụ luộc sợi
Luộc sợi (cùng với ủ và giặt sợi) là công đoạn giúp cho sợi được trắng, loại
bỏ được lớp vỏ xanh bên ngoài Người Mông ở Cát Cát luộc sợi lanh trong cácchảo lớn bằng bếp lò truyền thống Thông thường, trước đây, mỗi gia đình ngườiMông đều có 1 bộ lò - chảo Hiện nay, do số hộ mới tách chưa có điều kiện làmbếp lò khá lớn nên số lượng lò - chảo của cả thôn chỉ là 44 bộ trong tổng số 73 hộgia đình; ≈ 60,3% số gia đình trong thôn Bình quân cứ 1,6 hộ có 1 bộ lò - chảo(số liệu chúng tôi thống kê tháng 8/2009)
Bộ lò chảo truyền thống của người Mông ở Cát Cát như sau:
Bếp lò, tiếng Mông gọi là khor truk Bếp được làm ngay sau khi làm nhàxong gắn liền với lễ cúng ma bếp Bếp thường được làm tại gian trái nhà bênphải Đó cũng là không gian người ta bố trí nguồn nước ăn, chạn bát và các đồdùng để làm bếp khác
Bếp lò của người Mông ở Cát Cát được làm hoàn toàn bằng đất được lấyngay trên nền đất của thôn Đó là loại đất vàng xám được phong hoá từ đá macmaaxit hình thành trên đá granit có độ lẫn đá cao Để loại bỏ lớp đất biến chất dotrồng trọt lâu năm trên bề mặt, người ta phải lấy đất dưới độ sâu ≈ 40 – 50 cm.Đất mang về được nhào với một lượng nước vừa phải sao cho đất có đủ độnhuyễn cần thiết mà không bị khô, không bị nhão Sau đó, người ta dùng tay đểđắp từng cạnh của bếp sao cho bếp có dạng 4 cạnh bằng và 4 góc vuông là được.Thông thường Bếp có chiều cao 50 cm, chiều ngang 100 cm, thành bếp dày 20 -
30 cm Tại cạnh ngoài của bếp, người ta tạo cửa bếp (ndaux khor truk) Cửa bếp
cao 40 cm, chiều ngang 50 cm, trên đỉnh cửa bếp được uốn hình vòm Cửa bếp lànơi để người ta tiếp củi vào lò; đồng thời nó cũng có chức năng là nơi đón gió vàO2 vào lòng bếp cho lửa có môi trường cháy
Chảo, tiếng Mông gọi là Jav Chảo của người Mông ở Cát Cát hiện nay được
đồng bào mua ở chợ huyện về dùng Kích thước của chảo có nhiều cỡ Loại chảodùng để luộc sợi thường có kích thước: cao 40 cm (sau khi đặt lên bếp lò, mộtnửa chiều cao này sẽ chìm vào lòng bếp lò) Đường kính miệng chảo 90 cm Chảo
có 2 tai xách ở hai cạnh đối xứng Mỗi tai chảo dài 14 cm, cao 2 cm; trong đó mộtnửa chiều cao được gắn vào thân chảo
2.5 Công cụ lăn sợi
Trang 8Bộ công cụ lăn sợi của người Mông ở Cát Cát có thớt lăn sợi và đá lăn sợi.Chúng đều được đồng bào tự làm bằng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương.
2.5.1 Thớt lăn sợi
Thớt lăn sợi, tiếng Mông gọi là Changr đauk laur ntauz Thớt phải được làm
từ các loại gỗ rắn chắc như sồi, dổi; và đặc biệt là loài thạch tùng mọc rải rác trênnhững sườn núi ở độ cao > 1.800 m, đặc biệt mọc nhiều trên sườn núiPhanxipăng Gỗ để làm thớt lăn sợi phải được lấy từ những thân cây to với đườngkính ≈ 55 – 60 cm Người Mông ở Cát Cát khi lấy cây dùng để lấy gỗ làm thớtlăn sợi không cần kiêng kỵ điều gì Người ta có thể lấy cây đổ hoặc gốc nhữngcây đã được lấy thân nhưng vẫn còn một đoạn gốc cao ≈ 1 m, chỉ có điều đoạn gỗ
đó phải còn chắc, chưa bị mục là được
Tìm được gỗ, người ta chặt hạ rồi sơ chế ngay tại chỗ cho gọn và nhẹ bớt.Việc sơ chế đơn giản, chỉ là dùng rìu đẽo gọt vỏ và vòng quanh lớp thân ngoàicho mỏng đi, đường kính thân gỗ nhỏ lại là được Sau khi sơ chế xong, người tamới vác về nhà Việc đi lấy gỗ - sơ chế - mang về nhà mất 1 ngày
Gỗ sau khi được mang về nhà sẽ được hoàn thiện cho thành cái thớt lăn sợi.Đầu tiên, người ta gọt khúc gỗ cho thật tròn Sau đó, tính kích thước của 2 cánthớt Tại trung tâm của mỗi đầu, người ta đánh dấu tâm điểm, rồi khoanh lên mỗiđầu một hình tròn đường kính 6 cm Từ vị trí căn chỉnh đó, người ta đẽo sâuxuống 15 cm mỗi bên (Người ta sẽ đẽo dần dần từ ngoài vào để tránh làm hỏngsản phẩm) Hoàn thành công đoạn này, người ta đã tạo được hai cán thớt đều ởhai đầu theo chiều dọc của thớt Mỗi cán có chiều dài 15 cm, đường kính 6 cm.Cuối cùng, người ta gọt, chuốt (xưa người ta dùng rìu và dao; nay người ta dùngđục, tràng và bào) cho chiếc thớt thật phẳng, thật nhẵn là được
Đá lăn sợi, tiếng Mông gọi là Poz jez lauz ntuôx Đây là loại đá granit có
nhiều ở tầng rắn dưới phẫu diện 1 - 2 m Đặc biệt ở khu vực đội I, đá có nhiều ởcác sườn trơ đá trên các sườn núi phía Bắc của khu làm nương và dưới lòng đấtthuộc khu dân cư Khi cần dùng, người ta đi tìm những miếng đá ưng ý về rồimang về sơ chế qua là được
Một miếng đá được xem là “ưng ý” để làm đá lăn sợi thường có hình chữnhật dài 65 – 70 cm; rộng 15 cm; dầy 7 cm, một mặt tương đối bằng phẳng Tìmđược phiến đá trên, người ta mang về dùng búa, đục đẽo những chỗ còn hơi gồghề ở phía mặt phẳng rồi mang đi mài vào đá mài cho phẳng lỳ Trường hợp mặtphiến đá đã phẳng sẵn như ý muốn thì người ta không cần tiến hành các côngđoạn trên
Công đoạn cuối cùng là người ta dùng cao chàm bôi đều lên mặt phẳng củaphiến đá Sau đó, phiến đá được đặt lên bếp lửa, mặt phẳng được úp xuống phíadưới, rồi người ta đốt lửa hơ cho miếng đá thật khô rồi bỏ ra cho nguội là được
3 Bộ công cụ dệt vải
3.1 Kiểu dáng và chất liệu
Trang 9Công cụ dệt vải truyền thống của người Mông ở Cát Cát là chiếc khung dệt
(ndêx ntus) Đây là loại khung dệt dùng dây buộc lưng hay gọi một cách khác dễ
hiểu hơn là khung dệt dùng thân người (kết hợp với dây đai) để căng sợi dọc.Chiếc khung này của người Mông ở Cát Cát chỉ có hai chân Vì vậy, để chokhung có thể đứng được trong quá trình vận hành, người ta phải buộc gắn nó vàomột điểm tựa chắc chắn (vách tường nhà hoặc cột gỗ) Khung dệt được làm chủyếu từ gỗ pơ mu, gỗ dổi hoặc gỗ kháo Những loại gỗ này xưa nay được người tatìm trong rừng già, trên những sườn núi dốc trong rừng Hoàng Liên Để làmkhung dệt, người ta không cần phải chặt cả cây gỗ mà chỉ cần lấy những đoạn cây
có thể đáp ứng được về chất liệu, kiểu dáng và kích thước của khung dệt là được
Vì thế, người ta có thể thu nhặt những đoạn ngọn cây hay cành cây to của nhữngthân cây được người khác mang về làm nhà là được Ngoài ra, người ta cũng cóthể lấy gỗ làm khung dệt từ những thân cây đổ vì việc làm chiếc khung dệt khôngcần kiêng kỵ gì; trong khi đó, gỗ từ các thân cây đổ (nếu chưa mục) lại có ưuđiểm là dễ lấy, không cần chặt hạ
Nếu như dệt vải là công việc của phụ nữ thì việc chế tác các công cụ dệt lại
là công việc của đàn ông Để chọn gỗ làm khung, người đàn ông Mông thườngtranh thủ vào rừng những lúc nông nhàn Mỗi lần vào rừng, người ta thường kếthợp nhiều mục đích, không chỉ là việc tìm thú để săn mà còn có thể tìm các loạithảo mộc thiên nhiên, các mảnh đất canh tác, lựa chọn và đánh dấu sở hữu câylàm nhà, và dĩ nhiên với những người đàn ông biết làm khung dệt người ta cònkết hợp cả việc tìm gỗ làm khung
Tuy chế tác công cụ dệt là việc của nam giới, nhưng trên thực tế không phảingười đàn ông Mông nào cũng biết làm khung dệt Qua khảo sát thực địa ở làngCát Cát, số người biết làm khung dệt nói riêng, gia công các đồ mộc nói chungkhông nhiều Trước đây, cứ khoảng 4 – 5 gia đình mới có người biết làm khungdệt Để có được khung dệt, những gia đình mà những người đàn ông không thể tựlàm được khung dệt phải “mua” khung dệt từ những người biết làm Việc “mua –bán” diễn ra trong cộng đồng khi ấy thường với hình thức trao đổi vật ngang giá.Theo đó, “giá” của mỗi chiếc khung dệt tương đương với một con lợn giống (≈ 15kg)
Những người biết làm khung dệt do còn phải thực hiện “chức năng” chế tác
ra những chiếc khung dệt cho cộng đồng nên họ cũng thường có sự chuẩn bịtrước Mỗi khi đi rừng, gặp được những đoạn gỗ phù hợp, người ta sẽ bổ và đẽogọt cho thành hình từ trong rừng rồi vác về nhà, bảo quản trên gác bếp Khi nào
có người đến hỏi làm khung dệt thì người ta mới mang xuống gọt nhẵn, đụcmộng, chế tác các chi tiết nhỏ đi kèm rồi mới lắp ráp thành chiếc khung dệt hoànchỉnh
Bộ công cụ làm nghề mộc nói chung, chế tác khung dệt nói riêng của người
Mông ở Cát Cát gồm có: cưa, đục (trxâux) và dao (txaz).
3.2 Cấu tạo và kỹ thuật chế tác các cấu kiện
Trang 10Chiếc khung dệt truyền thống của người Mông ở Cát Cát được cấu tạo bởi
06 bộ phận chủ yếu là thân khung (ndêx ntus), trục cuốn sợi (chênhx ntus), bộ nâng sợi (chôngx ntus), cái dập sợi (duôx), trục cuốn vải (chênhx ntus), đai buộc lưng (hluô san ntus) Các cấu kiện này có kích thước và kỹ thuật chế tác như sau:
3.2.1 Thân khung dệt (ndêx ntus)
Thân khung dệt truyền thống của người Mông ở Cát Cát được tạo bởi haithanh dọc xếp theo chiều thẳng đứng Chiều cao mỗi thanh khoảng 1,5 – 1,6 m;tiết diện 3,5 x 5 m Thân khung được gọt, đẽo cho thành hình ngay từ trong rừng -tại chỗ người ta tìm ra gỗ rồi mới được vác về nhà bảo quản trên gác bếp, khi cầnmới mang xuống làm khung dệt
Thân khung có chức năng là trung tâm liên kết các cấu kiện của khung dệtnên nó phải được tính toán sao cho vừa có độ chính xác tương đối về kích thướctổng thể, vừa có sự chính xác trong việc bố trí điểm đặt một số cấu kiện chủ yếu
Vì vậy, ngoài việc xác định chiều cao của thân khung, người ta còn phải đo vàđánh dấu các điểm đặt cấu kiện Các cấu kiện được lắp ráp với khung bằng kỹ
thuật chui mộng (trxâux) Trên thân khung có 3 cặp mộng đối xứng Trong đó,
hai đôi mộng trên và dưới dùng để lắp hai thanh ngang có tác dụng làm vật giằngcho thân khung Đôi mộng ở giữa là để người ta lắp giá đỡ trục cuốn sợi Theocách tính truyền thống Cặp mộng dưới cùng được đánh dấu ở điểm cách đất ≈ 6– 7 cm Cặp mộng trên cùng được đánh dấu ở điểm cách đỉnh ≈ 4 – 5 cm Cặpmộng ở giữa cách cặp mộng dưới cùng 55 cm và cách cặp mộng trên cùng 80 cm
Sau khi đã đánh dấu, người ta dùng búa và đục để đục lỗ mộng (trxâux khaor) Lỗ
mộng ở thân khung dệt của người Mông thường có tiết diện 2 x 5 cm Chiều sâucủa lỗ mộng phụ thuộc vào chiều dầy của thân khung (≈ 5 cm)
Giá đỡ trục cuốn sợi cũng được làm cùng loại gỗ với thân khung dệt Giá đỡgồm có 2 thanh gỗ dài 30 cm, đầu lượn tù tròn và thuôn nhỏ dần về cuối (Phầnđầu rộng 7 cm; phần cuối rộng 5 cm; dầy 1,8 cm) được dóng từ thân khung (bằng
kỹ thuật chui mộng) Phía đầu mỗi thanh có 1 lỗ tròn tạo thành cặp lỗ đối xứng đểlắp thanh ngang Mỗi lỗ có đường kính 3 cm Tâm lỗ tròn cách đầu thanh ngang ≈
4 cm, cách cạnh trên và cạch dưới đều ≈ 2 cm Một bộ phận nằm trên giá đỡ trụccuốn sợi nhưng lại có chức năng tác động đến dây kéo cần nâng sợi chính làthanh ngang Vì chức năng của thanh ngang là làm mốc giữ cho dây kéo cần nângsợi ở khoảng cách hợp lý để không bị vướng vào sợi trong quá trình thao tác Vìthế, người ta phải chế tác sao cho khi lắp đặt và vận hành, thanh ngang có thểquay trơn tru khi dây kéo cần nâng sợi trượt qua trượt lại (do tác động của lực kéocủa chân) Thanh ngang có hình trụ tròn dài (dài 50 cm; đường kính 4 cm) Haiđầu thanh ngang được gọt dũa tạo thành 2 ống trục (đường kính ≈ 2 cm; dài 2 cm)
để lắp vào hai lỗ tròn của hai thanh dọc dóng ra từ thân khung dệt
3.2.2 Trục cuốn sợi (chênhx ntus)
Trục cuốn sợi có chức năng để giữ sợi trên khung dệt Khi muốn mắc sợi vàokhung, người phụ nữ Mông sẽ phải đặt sợi vào bộ phận này trước Kỹ thuật lắp
Trang 11sợi (không kể đến số sợi) được thực hiện theo phương pháp cuộn tròn từ trong rangoài theo hướng ngược chiều kim đồng hồ để khi lắp xong, làn sợi dọc sẽ quay
ra phía ngoài khung dệt Đồng thời, ở mỗi tầng sợi, người ta phải lắp các cặpphân cách để tách các phần sợi không cho chúng rối vào nhau (một thanh đặt trên,một thanh đặt dưới điểm trung tâm là lõi trục)
Với kỹ thuật lắp sợi như trên Bộ trục cuốn sợi sẽ có cấu tạo và kỹ thuật chếtác sao cho thích hợp Trục cuốn sợi do đó sẽ có 2 bộ phận chủ yếu Đó là lõi trục
và các thanh phân cách
Lõi trục cuốn sợi là một miếng gỗ có hình chữ H chạy dài theo chiều nganglàm cho nó được phân thành 3 đoạn rõ rệt Lõi trục cuốn sợi có kích thước: dày 3cm; rộng 5 cm, dài 75 cm Chiều dài được chia đều cho 3 đoạn, mỗi đoạn dài 25
cm
Các thanh phân cách ở trục cuốn sợi được làm đơn giản Do đây chỉ là nhữngcấu kiện tạm thời, dễ dàng thay thế nếu cần nên chúng chỉ được làm bằng cácthanh tre hoặc cành que nhỏ to cỡ bằng một ngón tay Mỗi thanh phân cách cóchiều dài ≈ 27 – 28 cm Do kỹ thuật xếp sợi ngang nêu trên nên trên trục cuốn sợi
có bao nhiêu tầng sợi thì sẽ có bấy nhiêu cặp thanh phân cách
3.2.3 Bộ cần nâng sợi (gangz ntus)
Cần nâng sợi có chức năng tách một tầng sợi để cho chúng tách xa ra khỏitầng sợi còn lại trong quá trình vận hành của khung dệt, tạo điều kiện thuận lợicho con thoi chạy qua chạy lại xen vào giữa hai làn sợi dọc để đưa sợi ngangđan đi đan lại liên tục thay đổi trình tự lượt trên - lượt dưới để tạo thành tấm vải(kỹ thuật đan theo lóng) Cần nâng sợi được cấu tạo bởi 04 thanh gỗ mỏng ghéplại với nhau bằng kỹ thuật chui mộng và được ghép với thân khung dệt bằng kỹ
thuật buộc dây (khi khlôz).
Giữ ở vị trí trung tâm là một thanh gỗ cùng một loại gỗ với khung dệt.Miếng gỗ này có dày hay mỏng, tròn hay dẹt đều được Chiều dài của nó thường
là 41 cm Ở giữa thanh ngang, người ta đục một lỗ mộng để lắp cần giật Cách lỗmộng cần giật đều về hai bên 11 cm, người ta đục 2 lỗ mộng khác để lắp 2 cầnnâng
Cần nâng và 2 cần nâng sợi có hình dáng, kích thước tương đối giống nhau.Chúng cũng được làm bằng cùng một loại gỗ với khung dệt Về hình dáng, chúng
có dạng mỏng, dẹt Phần đáy nở to và thuôn nhỏ dần về phía trước Đầu cần đượcđẽo gọt cho nở to ra tạo thành hình tròn hoặc bầu dục (tính tương đối) tạo thànhđầu khấc có tác dụng như một mắt khoá để ngăn không cho dây buộc tuột ra trongquá trình vận hành Về kích thước, mỗi chiếc cần có chiều dài khoảng 20 – 22 cm(có khi chiều dài của chúng lên tới 25 – 26 cm), dầy 1 cm Phần đáy nở to ≈ 3 cm,càng về phía trước càng thuôn nhỏ dần Sát với đầu khấc, thân cần nhỏ chỉ còn ≈1,2 cm Ở đầu khấc, bề mặt của nó bất chợt nở rộng, đoạn phình nhất ≈ 2 cm.Sau khi đẽo, gọt và lắp ghép với nhau, người ta lắp bộ cần nâng sợi vào thânkhung dệt bằng kỹ thuật buộc dây Dây buộc được bố trí ở hai đầu thanh gỗ
Trang 12mỏng, dẹt tạo thành hai đầu buộc đối xứng Một đầu dây nối với thanh gỗ dẹt của
bộ cần nâng sợi; đầu dây còn lại được buộc vào thân thanh gỗ giằng ngang phíatrên thân khung dệt Người ta phải buộc sao cho độ dài - ngắn của hai dây ở haiđầu bằng nhau Điều này có tác dụng làm cho bộ cần nâng sợi có được tư thếthăng bằng, không bị nghiêng, không bị lệch
Ở đầu cần giật, người ta buộc vào đó đầu của đoạn dây kéo cần nâng sợi.Dây kéo cần giật thường được làm bằng song hoặc mây (Ngày nay, người ta thaybằng dây ni lông) Dây có chiều dài ≈ 1,7 m Một đầu dây được buộc với cầnnâng Thân dây được luồn từ cần nâng cho chạy xuống dưới – phía đằng sau thânkhung, qua thanh trượt – thanh ngang đặt ở giá đỡ trục cuốn sợi rồi chạy luồnxuống dưới khung dệt Đầu dây còn lại được buộc lại tạo thành vòng để xỏ vàochân người dệt tạo thành chức năng như một bàn đạp
Ở đầu hai cần nâng, người ta buộc vào đó hai đoạn dây ngắn - gọi là dâynâng sợi Dây này cũng được làm từ chất liệu truyền thống nhưng nhỏ hơn dâykéo cần nâng sợi Dây nâng sợi to cỡ bằng chiếc đũa hoặc có thể nhỏ hơn mộtchút Khi được buộc vào cần và lược chia sợi, mỗi đoạn dây nâng sợi có chiều dài
≈ 25 cm Đặc biệt, hai đoạn dây nâng cần phải bằng nhau tuyệt đối Có như vậythì chúng mới có thể kéo cho lược chia sợi nâng lên hay hạ xuống đều được ở cảhai bên, các làn sợi nhờ đó mà được tách đều, không bị nghiêng, không bị lệch,con thoi vì thế cũng chạy qua chạy lại được dễ dàng hơn
3.2.4 Cái dập sợi (duôx)
Cái dập sợi còn có thể gọi là lược dập sợi bởi trong thành phần cấu tạo củachúng có các nan khít đều nhau trông giống như răng lược Cái dập sợi trong bộkhung dệt của người Mông ở Cát Cát có 2 loại phân biệt theo số nan và kíchthước Loại nhỏ dùng để dệt loại khổ vải 15 – 20 cm và loại to dùng để dệt khổvải 25 – 30 cm Ngoài ra, cấu tạo của chúng đều giống nhau Cụ thể như sau:Cái dập sợi gồm có 4 bộ phận hợp thành Quan trọng nhất trong số đó là cácnan chia sợi dọc Thông thường, một cái dập sợi có 154 nan (loại nhỏ) và 166 nan(loại to) Nan được chế tác từ cật tre già nên có độ cứng khá cao Trong quá trình
sử dụng, các sợi dọc trượt qua trượt lại mài một lực ma xát vào các nan chia sợitạo nên một độ thâm bóng rất đẹp mắt Càng dùng nhiều và lâu, độ thâm bóngcàng lớn Mỗi chiếc nan có chiều dài 9 cm (loại nhỏ) và 10 cm (loại to); tiết diện0,5 x 2 mm Khi lắp vào cái dập sợi, mỗi thanh nan cách đều nhau 1 mm
Để giữ các nan dập sợi, người ta dùng một thanh tre không quá già nhưngcũng không dùng tre non để cho nó không bị mềm nhưng cũng không bị giòn.Người ta chẻ đôi ở giữa thanh tre - chẻ dọc ra hai đầu (mỗi đầu để lại 1 đoạn ≈ 3 –
4 cm không chẻ) Người ta luồn chân nan chia sợi vào khe thanh tre kẹp, lần lượttừng nan một Luồn đến đâu, người ra dùng một loại dây rừng nhỏ như sợi chỉnhưng rất dai (nay người ta sử dụng dây gai dệt công nghiệp) buộc ép chặt chânnan theo kiểu buộc xoắn sợi (giống như kiểu thùa khuyết) Cứ như vậy cho đếnhết thì sợi dây sẽ được buộc thắt lại cho chắc rồi cắt bỏ đầu dây thừa Sau đó,
Trang 13người ta lại thao tác tiếp với đầu chân nan bên kia với kỹ thuật và trình tự nhưvậy
Khi hai đầu chân nan đã được kẹp chắc vào hai thanh tre nhỏ, người ta lấyhai dóng trúc đường kính 2 cm (loại nhỏ) và 2,5 cm (loại to); dài 34 cm (loại nhỏ)
và 41 cm (loại to) Ở mỗi thanh, người ta chẻ dọc từ một đầu dóng trúc thành mộtđường rãnh rộng khoảng 0,5 cm chạy suốt dọc thân dóng trúc đến cách đầu bênkia khoảng 3 – 4 cm thì dừng lại Đường rãnh này dùng để lắp (luồn) thanh kẹpcác chân nan chia sợi (mỗi dóng trúc kẹp một đầu chân nan) là hoàn thành Cóngười trong quá còn dùng dây buộc cố định đầu khe của hai dóng trúc để khôngcho chúng rơi ra
3.2.5 Trục cuốn vải (chênhx ntux)
Trục cuốn vải trong bộ khung dệt truyền thống của người Mông ở Cát Cát cótác dụng cuốn giữ những đoạn vải vừa được dệt xong và chờ để cuốn tiếp vào đónhững đoạn vải sẽ còn tiếp tục được dệt Trục cuốn vải có cấu tạo gọn nhẹ Chất
liệu tạo thành là tre (jôngz) Kỹ thuật chế tác do đó cũng rất đơn giản Trục này
được làm từ 2 thanh tre với chiều dài 39 cm, bề ngang 5 cm, dầy 1,5 cm Nó vốnđược chẻ ra từ một thân tre nhỏ (đường kính khoảng 6 – 7 cm), được gọt bỏnhững phần xù xì của đốt tre làm cho thân ngoài thanh tre đạt được độ thẳng mịncần thiết Tiếp đó, người ta lại gọt lược bớt bề dầy ở phía phần bụng thân tre Haiđầu mỗi thanh tre này được vót cho thuôn nhỏ về phía trước với đường lượn khágấp, độ cong lớn cộng thêm chiều dài của đoạn lượn không lớn (9 cm) làm cho nó
có hình dạng hơi thiên về hình dạng nhọn Sau khi đẽo, gọt xong, để lắp vàokhung, người ta áp bụng hai nửa thanh trục cuốn vải lại với nhau rồi cuốn vảixung quanh theo hướng ngược chiều kim đồng hồ (cuốn từ trên xuống dưới)
3.2.6 Đai buộc lưng (hluô san ntus)
Đai buộc lưng trong bộ khung dệt của người Mông ở Cát Cát được làm từ da
trâu (tơưr nhưngx) hay da bò (tơưr nhưngx đăngk) Người Mông ở Cát Cát trước
đây thường hay sử dụng da trâu hay da bò để chế tác ra nhiều công cụ phục vụ laođộng, sản xuất và một số công cụ phục vụ các hoạt động sinh hoạt văn hoá – xãhội khác (VD: làm mặt trống, mặt tấm trượt chuyên trở hàng trên các bề mặt địahình phức tạp, lồi lõm; làm bao da, dây kéo.v.v…)
Trước đây, cứ mỗi lần mổ một con trâu hay một con bò trưởng thành (từ hơn
4 năm tuổi trở lên), đồng bào thường thuộc da để dùng (người ta không dùng dacủa những con chưa trưởng thành vì da của chúng chưa đủ “độ chín”, sẽ mỏng vàkhông dai, không bền) Chỗ da được lấy thường từ cổ đến sát 4 đùi Nói cáchkhác là đồng bào sử dụng phần da lưng và da bụng của con trâu, con bò đã trưởngthành để thuộc Tấm da sau khi được lột ra sẽ được kẹp vào 6 đôi thanh cật tre già(1 đôi gồm có 2 thanh cật tre già đã bổ dọc từ 1 thân cây tre đã được gọt và chuốtcho thật nhẵn, phẳng đều đặt nằm úp vào nhau: một thanh đặt nằm ngửa ở dưới,một thanh đặt nằm úp ở trên, tấm da được đặt kẹp vào giữa) Trong đó, 4 đôithanh tre được đặt nằm vây xung quanh có tác dụng đóng thành khung và 2 đôi