Mục ñích nghiên cứu Tìm hiểu nhận thúc của học sinh trường PTTH Tây Thuỵ Anh – Huyện Thái thuỵ – Tỉnh Thái Bình về HIV/AIDS, từ ñó ñề xuất các biện pháp giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng
Trang 1Nhận thức của học sinh trường Trung học phổ thông Tây Thụy Anh – huyện
Thái Thụy – Thái Bình về vấn ñề HIV/AIDS
LỜI NÓI ĐẦU
Nhân loại ñã bước sang những năm ñầu của một thế kỷ mới mang theo
những di sản của một thế kỷ ñầy ắp sự kiện Trong thế kỷ ñó con người ñã ñạt ñược
sự phát triển khoa học kỹ thuật cao, ñã thực hiện ñại cách mạng công nghiệp, nâng
cao ñời sống vật chất lên tầm cao chưa từng thấy Nhưng ñồng thời thế kỷ qua cũng
ñã chứng kiến những cuộc chiến tranh ñẫm máu nhất, những hành vi bạo lực , xuất
hiện những biến ñổi ñầy kịch tính, những nghịch lý trong ñời sống xã hội, nhất là ở
những nước có nền kinh tế phát triển Chủ nghĩa cực ñoan, tư tưởng sống gấp,
hưởng thụ tối ña với nạn nghiện ngập ma tuý, truỵ lạc mại dâm cuốn hút cả lớp trẻ
chưa trưởng thành mang lại nhiều bi kịch cho gia ñình và xã hội ở những nước
nghèo xuất hiện những người thèm khát ñời sống xa hao hưởng lạc của phương
Tây, ñua ñòi sống buông thả, vô nguyên tắc hoặc bi quan chán nản tuyệt vọng mà
chất ma tuý có thể giúp họ nhất thời quên ñi cuộc sống hiện tại nhưng rồi sẽ ñưa họ
chui vào ngõ cụt Đàn bà con gái phải bán thân nuôi miệng, quần áo, son phấn Đó
chính là mảnh ñất cho sự phát triển như lửa cháy một bệnh xã hội lớn nhất thế kỷ
HIV/AIDS, về tốc ñộ, về quy mô ñại dich toàn cầu, về tỷ lệ tử vong của ngưòi
bệnh, những cái chết ñược báo trước
HIV/AIDS là một căn bệnh ñược phát hiện ra vào năm 1981 Tốc ñộ lây lan
một cách nhanh chóng :
- Tháng 12 năm 1996 trên thế giới ñã có 22,5 triệu người nhiễm HIV
- Tháng 10 năm 1999ñã tăng lên 33,4 triệu người.(16)
ở Việt Nam phát hiện trường hợp nhiễm HIV ñầu tiên ở thành phố Hồ Chí
Minh vào tháng 12 năm 1990 do quan hệ tình dục với người nước ngoài.Đến tháng
8/ 1993 ñã có 790 người nhiễm HIV Đến tháng 10/1999 ñã có 16.000 người nhiễm
Trang 2HIV, trong ñó có 2.903 người chuyển sang giai ñoạn AIDS và ñã có 1509 người tử
vong Theo thống kê mới nhất tính ñến cuối năm 2003 tại Việt Nam ñã có 76.180
người nhiễm HIV ñược phát hiện, trong ñó 11.659 người chuyển sang AIDS và
6.550 người tử vong (Theo con số thống kê của uỷ ban phòng chống AIDS của
Việt Nam )
Vào ñầu những năm 80 khi HIV mới ñược phát hiện, 80% mắc bệnh là ñàn
ông chủ yếu do quan hệ ñồng tính luyến ái Lúc ñó HIV khu trú trong những cộng
ñồng có nguy cơ cao như người ñồng tính luyến ái, gái mại dâm, người tiêm chích
ma tuý, lái xe ñường dài Tuy nhiên trong giai ñoạn tiếp theo thì dịch HIV ñã ra
khỏi biên giới của những cộng ñồng nhỏ hẹp và trở thành ñại dịch Tỷ lệ mắc AIDS
ñã chuyển từ nam sang nữ, số ca nhiễm HIV tiếp tục có xu hướng gia tăng ở lứa
tuổi trẻ Đặc ñiểm trẻ hoá này cảch báo một tác hại nghiêm trọng của ñại dịch
AIDS ñối với sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước trong những năm tới
Đứng trước tình hình có tính chất bùng nổ của ñại dịch HIV/AIDS như vậy
chúng tôi muốn góp một phần nhỏ bé vào tìm hiểu thực trạng nhận thức của các em
học sinh PTTH về HIV/AIDS ñể từ ñó có những khuyến nghị có hiệu quả vào
công tác phòng chống HIV/AIDS nói chung
Tuy nhiên với thời gian và khả năng có hạn nên bản luận văn này không
tránh khỏi có những hạn chế, sai sót Do vậy chúng tôi rất mong sự ñóng góp ý kiến
của thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn thầy, cô giáo ñã nhiêt tình giúp ñỡ em hoàn
thành khoá luận này Đồng thời em xin chân thành cảm ơn thầy hiệu trưởng, các
thầy cô giáo và các em học sinh của trường PTTH Tây Thuỵ Anh ñã giúp ñỡ và tạo
ñiều kiện giúp ñỡ em thu thập số liệu cho khoá luận
1 Lý do chọn ñề tài
Đại dịch HIV/AIDS ñã xuất hiện trên hai thập kỷ qua, hiện ñang hoành hành
ở hầu hết các nước trên thế giới mà chưa có biện pháp nào có thể chặn ñứng ñược
Trái lại ñại dịch HIV/AIDS vẫn có chiều hướng gia tăng và là mối ñe doạ ñến tính
Trang 3mạng và sức khoẻ cho từng cá nhân và toàn xã hội, gây bất ổn về kinh tế, chính trị
và an ninh của mọi quốc gia.Theo con số thống kê tính ñến ngày 30/10/2003 tổng
số trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam ñược phát hiện là 73660 người, tổng số
trường hợp ñã chuyển sang AIDS là 11254 người và tổng số tử vong vì AIDS là
6325 người ( Theo con số thống kê của tạp chí AIDS và cộng ñồng số 10 - 2003)
Theo con số mới nhất của ban chỉ ñạo phòng chống HIV/AIDS Hà Nội thông
báo ngày 12 tháng 5 năm 2004 là : hiện nay trên thế giới ñã có 40 triệu người
nhiễm HIV, trong ñó có 70 % trường hợp bị lây truyền qua con ñường quan hệ tình
dục Tốc ñộ lan truyền nhanh chóng : cứ 1 phút lại có 10 người bị nhiễm Ở Việt
Nam ñã có 80.000 người ñược phát hiện trong ñó có 1/3 là phụ nữ
Vậy chúng ta phải làm gì ñể khống chế dịch HIV/AIDS trong bối cảnh chưa
có vác xin phòng hiệu và thuốc ñặc trị cho người nhiễm HIV/AIDS ? Đây thực sự
là một câu hỏi lớn ñáng lưu tâm cho toàn nhân loại Tuy nhiên, ñể góp phần khống
chế ñược tốc ñộ gia tăng của dịch, biện pháp trước mắt cũng như về lâu dài ngay cả
khi thế giới có ñược vac xin phòng hiệu thì nó vẫn luôn là một biện pháp hiệu quả
tốt nhất, ñó là tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao sự hiểu biết của mọi người
trong cộng ñồng về HIV giúp cho họ có biện pháp phòng tránh tốt nhất Mặt khác,
muốn tiến hành các biện pháp tuyên truyền có hiệu quả cao nhất thì cần phải ñánh
giá ñược thực trạng nhận thức của họ về vấn ñề HIV/AIDS
Đại dịch HIV/AIDS ñẫ ñể lại hậu quả nặng nề về nhiều mặt như : về kinh tế,
an ninh chính trị, về sức khoẻ của mỗi cá nhân, và giảm tuổi thọ trung bình của xã
hội Học sinh cấp III lại là thế hệ tương lai của ñất nước, ñang chuẩn bị hành trang
ñể bước vào ñời,vì vậy việc giáo dục sức khoẻ sinh sản nói chung và giáo dục nhận
thức về HIV/AIDS nói riêng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp thiết
Trong những năm qua Bộ Giáo Dục ñã có rất nhiều dự án phục vụ cho công việc
này Đặc biệt năm 2004 “ Dự án VIEO/P11Bộ Giáo Dục, riêng ở tỉnh Thái Bình dự
an VIEO01/ P15 ñã ñược triển khai
Trang 4Xuất phát từ thực tiễn như vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tìm hiểu thực
trạng nhận thức của học sinh PTTH ñới với vấn ñề HIV/AIDS, chúng tôi tiến hành
triển khai thực tế trên ñịa bàn trường PTTH Tây Thuỵ Anh – huyện Thái thuỵ –
tỉnh Thái Bình Trên cơ sở ñó, ñề xuất các biện pháp tuyên truyền có hiệu qủa
nhằm nâng cao nhận thức của lứa tuổi học sinh PTTH về căn bệnh này
2 Mục ñích nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thúc của học sinh trường PTTH Tây Thuỵ Anh – Huyện Thái
thuỵ – Tỉnh Thái Bình về HIV/AIDS, từ ñó ñề xuất các biện pháp giáo dục, tuyên
truyền nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về căn bệnh này góp phần vào công
tác phòng chống HIV/AIDS chung của cả nước
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi nhằm giải quyế tcác nhiệm vụ sau:
* V ề mặt lý luận: làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan ñến ñề tài
- Khái niệm nhận thức
+ Khái niệm
+ Các mức ñộ của nhận thức
+ Các tiêu chí ñể ñánh giá
+ Mối quan hệ giữa nhận thức với các hiện tượng tâm lý khác:
Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi
Mối quan hệ giữa nhận thức và xúc cảm, tình cảm
Mối quan hệ giữa nhận thức và thái ñộ
- Những vấn ñề về HIv/AIDS
+ Những vấn ñề chung về HIV/AIDS
+ Các giai ñoạn và triệu chứng biểu hiện của AIDS
+ Các nguyên nhân, con ñường lây truyền HIV/AIDS
+ Các biện pháp phòng ngừa
- Một số ñặc ñiểm tâm lý cơ bản ở lứa tuổi học sinh PTTH
* Nghiên c ứu thực tiễn
Trang 5- Nêu lên một số kết luận và khuyến nghị nhằm nâng cao sự hiểu biết và cách
thức phòng tránh của học sinh PTTH về HIV/AIDS
4 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của học sinh trường PTTH Tây Thuỵ Anh về HIV/AIDS
5 Khách thể và phạm vi nghiên cứu
* Khách th ể nghiên cứu
Nghiên cứu 311 em học sinh thuộc cả ba khối 10,11,12 của trường PTTH
Tây Thuỵ Anh
Chỉ nghiên cứu các em học sinh của trường PTTH Tây Thuỵ Anh – huyện
Thái Thuỵ – tỉnh Thái Bình
6 Giả thuyết nghiên cứu
Tất cả các em học sinh của trường PTTH Tây Thuỵ Anh ñều có những hiểu
biết nhất ñịnh về HIV/AIDS, tuy nhiên những hiểu biết ñó chỉ dừng lại ở mức chưa
ñầy ñủ và không sâu sắc
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong khi nghiên cứu ñề tài này chúng tôi ñã sử dụng phương pháp sau:
* Ph ương pháp nghiên cứu tài liệu
Trong quá trình thực hiện ñề tài này chúng tôi ñã tìm ñọc nhiều tài liệu về
HIV/AIDS Các tài liệu ñó ñã góp phần làm sáng tỏ những vấn ñề về HIV/AIDS
Trang 6như : bản chất của bệnh, lịch sử hình thành, diễn biến của bệnh, các triệu chứng
biểu hiện của bệnh, cách lây truỳên và biện pháp phòng chống
Sử dụng các công trình nghiên cứu về nhận thức trên thế giới và ở Việt
Nam ñể hiểu ñược nội hàm của khái niệm nhận thức làm cơ sở của ñề tài
* Ph ương pháp ñiều tra bằng bảng hỏi (an két)
Đây là phương pháp cơ bản ñược sử dụng ñể nghiên cứu nhận thức của học
sinh trường PTTH Tây Thuỵ Anh ñối với vấn ñề HIV/AIDS Việc xây dựng phiếu
ñiều tra ñựoc dựa trên cơ sở, mục ñích, nội dung nghiên cứu
* Ph ương pháp quan sát
Phương pháp này ñược sử dụng kết hợp ñể chính xác hoá thông tin ñã thu
ñược từ các biện pháp khác
* Ph ương pháp thống kê toán học
Chúng tôi xử lý số liệu nghiên cứu bằng máy vi tính với chương trình thống
kê xã hội học SPSS
Trang 7Nhận thức là một trong những vấn ñề lý luận cơ bản của những ngành khoa
học nghiên cứu về con ngươì trong ñó có triết học và tâm lý học
Từ ngày xa xưa ñã có những câu hỏi ñược ñặt ra như : con người là ai ? Thế
giới này tồn tại như thế nào? Có sự tồn tại của thế giới bên kia không ?” Các nhà
triết học cổ ñại ñã luôn cố gắng ñi tìm lời giải ñáp cho những câu hỏi ñó Và việc ñi
tìm lời giải ñáp cho những câu hỏi ñó thực chất là một quá trình con người bắt ñầu
sử dụng tư duy của mình ñể nhận thức và khám phá hiện thực Như vậy con người
nhận thức thế giới xung quanh ñể hiểu hiện thực cuộc sống ñang diễn ra Có rất
nhiều quan ñiểm khác nhau khi nói về nhận thức
Theo quan ñiểm của tâm lý học Mác - xít thì nhận thức là một trong ba mặt
cơ bản của ñời sống tâm lý con người bên cạnh tình cảm và hoạt ñộng( T117-10)
Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ Một ñời sống tâm lý ñược coi là
cân bằng khi có sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm và hoạt ñộng Quá thiên về
lý trí sẽ trở thành con người khô khan, thiếu ñi sức mạnh thúc ñẩy của ñộng cơ tình
cảm, còn nếu quá thiên về tình cảm dễ không sáng suốt, dễ xa rời quy luật khách
quan, hành ñộng tự phát theo những cảm xúc chủ quan duy ý chí Vì vậy hành ñộng
cũng phải dựa trên nhận thức quy luật khách quan, nếu không là hành ñộng theo ý
chí mù quáng
K.K.Platonốp - nhà tâm ly học Xô Viết ñịnh nghĩa : Nhận thức là quá trình
thu nhận tri thức chân thực trong thế giới khách quan, trong qúa trình hoạt ñộng
thực tiễn xã hội
Như vậy nhờ hoạt ñộng nhận thức, con người không chỉ phản ánh ñược hiện
thực xung quanh mà còn nhận thức bản thân mình nữa, không chỉ phản ánh cái bên
Trang 8ngoài mà còn phản ánh cả cái bản chất bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại
mà cả cái ñã qua và cái sẽ tới các quy luật phát triển của hiện thực nữa(T117-10)
Lê Nin ñã tổng kết quy luật của hoạt ñộng nhận thức nói chung như sau : “Từ trực
quan sinh ñộng ñến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng ñến thực tiễn - ñó là
con ñường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách
quan”(T117-118-10)
Tóm lại từ các quan ñiểm nhận thức như trên chúng ta có thể tổng kết lại như
sau : Nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thật về thế giới khách
quan trong quá trình hoạt ñộng thực tiễn xã hội, là quá trình tâm lý phản ánh sự vật,
hiện tượng xung quanh và bản thân con người, trên cơ sở ñó con người tỏ thái ñộ,
tình cảm và hành ñộng
1.2 Các mức ñộ nhận thức
Nhận thức là một quá trình Quá trình này thường gắn với mục ñích nhất
ñịnh nên nhận thức của con người là một hoạt ñộng Đặc trưng nhất của hoạt ñộng
nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan ( T67-20)
Trong việc nhận thức thế giới con người có thể ñạt tới những mức ñộ nhận
thức khác nhau, từ ñơn giản ñến phức tạp Nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác
nhau và sản phẩm của mỗi quá trình là khác nhau Ta có thể chia hoạt ñộng nhận
thức thành hai mức ñộ : nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Hoạt ñộng nhận
thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, ở những mức ñộ phản ánh khác nhau như
: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng Những quá trình này sẽ cho chúng ta
những sản phẩm khác nhau như : hình ảnh, biểu tượng, khái niệm (T67-20) Trong
hoạt ñộng nhận thức của con người, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có
quan hệ chặt chẽ và tác ñộng lẫn nhau, ñan xen nhau Nhận thức cảm tính là cơ sở,
là mức ñộ ban ñầu, cung cấp tài liệu cho nhận thức lý tính Đồng thời nhận thức
cảm tính là thành phần của nhận thức lý tính, nhận thức lý tính chi phối nhận thức
cảm tính, làm cho nhận thức cảm tính tinh vi hơn, nhạy bén hơn và có ý nghĩa hơn
Trang 9Nhận thức cảm tính ( bao gồm cảm giác và tri giác) : là mức độ nhận thức
đầu tiên của con người Đặc điểm của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh được
những thuộc tính khơng bản chất của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào
giác quan của ta (T67-20) Sản phẩm của nhận thức cảm tính là những hình ảnh
trực quan, cụ thể về thế giới, chưa phải là những quy luật về thế giới Nhận thức
cảm tính mới chỉ là mức độ nhận thức sơ đẳng song cĩ vai trị rất quan trọng Nhận
thức cảm tính thu nhận thơng tin ban đầu làm nguyên liệu cho hoạt động tâm lý cao
hơn, thiết lập các mối quan hệ tâm lý của cơ thể với mơi trường, định hướng và
điều chỉnh hoạt động của con người trong mơi trường đĩ Cĩ thể nĩi rằng nhận
thức cảm tính là điều kiện để xây dựng lên “lâu đài nhận thức” và đời sống tâm lý
con người Như vậy nhận thức cảm tính chỉ phản ánh những sự vật hiện tượng
đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta Tuy nhiên, trong thực tiễn của đời
sống lại luơn địi hỏi con người phải hiểu biết nhiều hơn những gì mà các giác quan
trực tiếp cĩ thể đem lại Và con người cĩ khả năng đạt đến sự hiểu biết đĩ bằng
một quá trình nhận thức gián tiếp và khái quát cao hơn, đĩ là tư duy và tưởng tượng
( cịn gọi là nhận thức lý tính )
Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao hơn nhận thức cảm tính (T68-20)
Nhận thức lý tính phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối quan hệ bản
chất, cĩ tính quy luật của sự vật, hiện tượng Phương thức phản ánh của nhận thức
lý tính là phản ánh một cách gián tiếp Đĩ khơng chỉ là sự phản ánh hiện tại mà cịn
cả quá khứ và tương lai Quá trình nhận thức lý tính cĩ sản phẩm là những khái
niệm, phán đốn, quy luật, quy tắc, những biểu tượng mới Nhận thức lý tính cĩ
quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính cĩ vai trị vơ cùng quan
trọng trong việc giúp con người hiểu biết bản chất, những mối quan hệ cĩ tính quy
luật của sự vật hiện tượng tạo điều kiện để họ làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân
mình
Trang 10Như vậy, nhận thức mang lại cho con người hiểu biết về thế giới khách quan
Trong phạm vi ñề tài nghiên cứu chúng tôi xem xét nhận thức về HIV/AIDS của
học sinh hiện nay ở trường PTTH Tây Thuỵ Anh Nhận thức của học sinh về
HIV/AIDS ñược ñề cập ñến như là một quá trình hiểu biết của họ về bản chất, các
giai ñoạn, các triệu chứng biểu hiện của AIDS Nhận thức về sự nguy hiểm, các
con ñường lây truyền nhiễm HIV/AIDS, cũng như cách phòng chống lây nhiễm căn
bệnh xã hội này
1.3 Các tiêu chí ñể ñánh giá nhận thức
Để ñánh giá ñược thực trạng nhận thức của học sinh trường PTTH Tây Thuỵ
Anh về vấn ñề HIV/AIDS chúng tôi dựa trên các tiêu chí ñánh giá sau ñây:
* Nhận thức ñúng hay sai về vấn ñề HIV/AIDS
* Mức ñộ nhận thức về vấn ñề HIV/AIDS:
- Nhận thức ñầy ñủ hay không ñầy ñủ
- Nhận thức sâu sắc hay sâu sắc
* Thông qua hành vi ñể ñánh giá nhận thức : họ thực hiện hành vi là chủ
ñộng hay thụ ñộng, và hành vi ñó có thống nhất với nhận thức của họ hay không
1.4 Mối quan hệ giữa nhận thức và các hiện tượng tâm lý khác
1.4.1 Mối quan hệ giữa nhận thức và xúc cảm, tình cảm
Trong khi phản ánh thế giới khách quan, con người không chỉ nhận thức thế
giới ñó mà còn tỏ thái ñộ của mình ñối vơí nó nữa (T195-10) Những hiện tượng
tâm lý biểu hiện thái ñộ của con người ñối với những cái mà họ nhận thức ñược gọi
là xúc cảm và tình cảm của con người (T195-10)
Giữa phản ánh nhận thức và phản ánh xúc cảm tình cảm có mối quan hệ qua
lại chặt chẽ với nhau Phản ánh nhận thức là tiền ñề cho phản ánh xúc cảm Ngược
lại thì xúc cảm tình cảm cũng có vai trò tác ñộng, củng cố nhận thức hoàn thiện,
sâu sắc hơn Xúc cảm tình cảm là ñộng lực, kích thích thúc ñẩy con người nhận
thức, thúc ñẩy mạnh mẽ con người tìm tòi chân lý Có thể nói xúc cảm tình cảm
nảy sinh trên cơ sở nhân thức, nhưng khi ñã nảy sinh, hình thành thì tình cảm lại tác
Trang 11ñộng trở lại nhận thức, thậm chí có thể làm biến ñổi nhận thức V.I Lê Nin ñã
nhận ñịnh “nếu không có xúc cảm của con người thì không có sự tìm tòi chân lý”
Phản ánh cảm xúc và phản ánh nhận thức có những ñiểm giống và khác
nhau:
a, Giống nhau:
Đều là sự phản ánh hiện thực khách quan
Đều mang tính chủ thể và có bản chất xã hội – lịch sử
b, Khác nhau:
Thứ nhất, xét về ñối tượng phản ánh : quá trình nhận thức phản ánh bản thân
sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, còn tình cảm lại phản ánh mối quan
hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhu cầu, ñộng cơ của con người chứ không phản
ánh bản thân các sự vật hiện tượng ( T196-10)
Thứ hai, về phạm vi phản ánh thì nói chung những sự vật hiện tượng tác
ñộng vào các giác quan ta ñều ñược phản ánh ( nhận thức) với mức ñộ sáng tỏ ñầy
dủ khác nhau Trong khi ñó không phải tất cả những gì tác ñộng vào giác quan ta
ñều ñược ta tỏ thái ñộ - nghĩa là ñều gây lên những xúc cảm, tình cảm, mà chỉ có
những sự vật, hiện tượng nào có liên quan ñến sự thoả mãn hay không thoả mãn
một nhu cầu, ñộng cơ nào ñó của con người mới gây lên xúc, cảm tình cảm mà thôi
(T197-10)
Thứ ba, về phương thức phản ánh : nhận thức phản ánh hiện thực khách quan
dưới hình thức những hình ảnh, biểu tượng, khái niệm, còn tình cảm thì phản ánh
hiện thực khách quan dưới hình thức những rung cảm, những thể nghiệm
(T197-10)
Thứ tư, mức ñộ thể hiện tính chủ thể trong tình cảm cao hơn, ñậm nét hơn so
với trong nhận thức (T197-10)
Thứ năm, quá trình hình thành tình cảm lâu dài hơn nhiều, phức tạp hơn
nhiều và ñược diễn ra theo những quy luật khác với quá trình hình thành tri thức
(T197-10)
Trang 121.4.2 Mối quan hệ giữa nhận thức và thái ñộ
Nhận thức là một trong ba thành tố cấu thành nên thái ñộ (nhận thức -tình
cảm - hành vi) Giữa nhận thức và thái ñộ có mối quan hệ tác ñộng qua lại chặt chẽ
với nhau.Thông thường nhận thức có trước thái ñộ, thái ñộ chịu sự chi phối của
nhận thức, nhưng cùng lúc ñó thái ñộ lại tác ñộng ngược trở lại nhận thức Nhận
thức làm nảy sinh thái ñộ, tình cảm, nhận thức chỉ ñạo thái ñộ, ñiều chỉnh thái ñộ
Thông thường nếu nhận thức ñúng ñắn con người sẽ có thái ñộ tích cực, ñúng ñắn
Ngược lại, khi con người có thái ñộ tích cực ñối với một vấn ñề cụ thể thì nhu cầu,
hứng thú, nhận thức của chủ thể sẽ ñược nâng lên (LA thạc sỹ Huỳnh Văn Sơn) Lẽ
dĩ nhiên, ñây chỉ là sự tác ñộng xuôi chiều vì nhiều khi con người nhận thức ñúng
nhưng không hẳn ñã có thái ñộ tích cực và ngựoc lại Lý và tình là hai mặt của một
vấn ñề nhân sinh quan thống nhất của con người
1.4.3 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi
Trong mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi có thể nói rằng nhận thức có
vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nên thái ñộ và thực hiện hành vi của
con người Nhận thức là tiền ñề, là sự ñịnh hướng và sự ñiều chỉnh hành vi của cá
nhân trong hoạt ñộng thực tiễn Giữa nhận thức và hành vi luôn luôn tồn tại một
mối quan hệ qua lại hai chiều.Thông thường khi con người nhận thức ñúng về một
vấn ñề, một sự vật, hiện tượng nào ñó thì nó sẽ ñịnh hướng, ñiều chỉnh, thúc ñẩy
hành ñộng của con người theo hướng tích cực phù hợp với chuẩn mực xã hội
Ngược lại, hành vi cũng có sự tác ñộng trở lại nhận thức Khi con người thực
hiện nhiều lần những hành vi ñúng nó sẽ củng cố nhận thức của con người về vấn
ñề ñó một cách ñầy ñủ sâu sắc hơn
2 Những vấn ñề về HIV/AIDS
2.1 Khái niệm về HIV
2.1.1 Định nghĩa
HIV là cụm từ viết tắt từ các chữ cái ñầu từ của cụm từ tiếng Anh : Human
Immuno Deficience Virut, dịch ra tiếng Việt là virut gây suy giảm miễn dịch ở
Trang 13người (T2-23) Đó là loại virut khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ tấn công trực tiếp
hệ thống miễn dịch, làm cơ thể giảm sức ñề kháng và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng
cơ hội và ung thư
2.1.2 Phân loại
Có hai loại HIV
HIV1: Giống một loại virut ở khỉ Chimpazel tại Gabong HIV1 gây nhiễm
trên toàn cầu ñược tìm thấy vào năm 1983
HIV1: Giống một loại virut ở loài khỉ Sooty Mangabey tại Tây Phi HIV2
gây nhiễm chủ yếu ở khu vực Châu Phi ñược tìm thấy vào năm 1986
2.1.3 HIV tồn tại trong cơ thể người
- Trong máu tế bào Limphô T, tinh dịch
- Trong nước bọt, nước tiểu, nước mắt, mồ hôi, màng ối, dịch não tuỷ, sữa
mẹ, dịch âm ñạo, dịch khớp
- Ở xác chết bệnh nhân AIDS trong vòng 24 giờ
- Trong các giọt máu khô ñọng ở kim tiêm 2- 7 ngày
2.1.4 HIV tồn tại trong môi trường
HIV tồn tại không lâu ở môi trường bên ngoài thậm chí dễ bị chết Thời gian
tồn tại bên ngoài của HIV phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : bản thân HIV bài tiết ra
theo loại dịch gì và các yếu tố nhiệt ñộ ánh sáng như : HIV dễ bị chết ở nhiệt ñộ
cao, trong các hoá chất sát khuẩn thông thường như Javen 1%
Luộc sôi các dụng cụ phẫu thuâth tiêm chích với thời gian 20 phút
2.1.5 Các con ñường lây truyền nhiễm HIV
HIV có thể tìm thấy trong máu và các sản phẩm của máu, tinh dịch, dịch âm
ñạo, nước bọt, nước mắt, dịch não tuỷ, nước tiểu, sữa mẹ Tuy nhiên chỉ có ba
phương thức lây ñược xác ñịnh là :
* Lây truy ền qua ñường tình dục:
Là con ñường lây truyền phổ khá phổ biến Do HIV có nhiều trong tinh
dịch, dịch âm ñạo và máu của người nhiễm HIV Các kiểu quan hệ tình dục có xâm
Trang 14nhập dù khác giới hay ñồng giới ñều có khả năng lây nhiễm HIV nêú một trong hai
người bị nhiễm virut này Khi giao hợp có thể gây ra các xây xước nhỏ trên niêm
mạc bộ phận sinh dục ở cả nam và nữ Chính các tổn thương ñó là cửa ngõ ñể HIV
xâm nhập một cách dễ dàng vào cơ thể Nếu giao hợp qua hậu môn thì khả năng
gây bệnh sẽ cao hơn bởi niêm mạc hậu môn trực tràng mỏng hơn nhiều so với âm
ñạo, do ñó dễ bị xây xát hơn Càng giao hợp với nhiều người, xác suất gặp người
nhiễm HIV càng cao nên càng dễ có khả năng lây nhiễm Tuy nhiên, rất nhiều
trường hợp chỉ quan hệ một lần cũng bị mắc bệnh Sự hiện diện của những thương
tổn do bệnh lây truyền qua ñường tình dục thông thường gây nên ( như : giang mai,
lậu ) virut HIV sẽ dễ dàng ñột nhập qua các vết loét, vết sây xước, tổ chức bị viêm
tấy do bệnh lây truyền qua ñường tình dục gây ra Hẹp bao khuy dương vật, do
không làm ñược vệ sinh sau khi tiểu hay giao hợp quy ñầu dễ bị ngứa ngáy, sây
xước, viêm tấy, qua ñó HIV có ñiều kiện xâm nhập gây bệnh Có nhiều bạn tình
thay ñổi cùng thơì gian sẽ tăng nguy cơ và xác suất bị lây nhiễm HIV Khi giao hợp
bằng miệng ( dương vật- miệng hay miệng- âm hộ) khả năng lây truyền nhiễm HIV
thấp hơn so với giao hợp qua âm ñạo nhưng nếu trong miệng có vết lở xước hay có
chảy máu răng thì HIV có khả năng lây nhiễm
* Lây truy ền qua ñường máu:
HIV có trong máu nên khi một người nhiễm HIV qua ñường tiêm chích máu
có chứa HIV sẽ ñọng lại ở trên bơm kim tiêm Nếu dụng cụ này không ñược xử lý
hoặc không ñược khử trùng ñúng cách người khác dùng phải thì vi rut theo ñường
tiêm xâm nhập vào cơ thể
HIV cũng có thể lây truyền qua việc dùng chung các dụng y tế như : châm
cứu, dao kéo mổ, dùng chung các hoạt ñộng hàng ngày có thể dính máu như : xăm
mình, xuyên lỗ tai dùng chung bàn chải ñánh răng, chữa răng mà không ñược tiệt
trùng ñúng cách Tuy nhiên có tất ít trường hợp lây nhiễm qua những dụng cụ này
Truyền máu hay các sản phẩm của máu hoặc ghép các bộ phận cơ thể của
người bị nhiễm HIV cho bệnh nhân
Trang 15Tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất qua ñường máu là do sử dụng chung dụng
cụ tiêm chích chưa ñược khử trùng ñúng cách ñể tiêm chích ma tuý vì họ tiêm
thẳng vào tĩnh mạch
* Lây truyền từ mẹ sang con
Mẹ bị nhiễm HIV truyền sang con không ñược hiểu là bệnh di truyền mà
HIV lây truyền từ mẹ sang con thông qua các con ñường như :
- Qua quá trình cung cấp máu cho rau thai ñể nuôi dưỡng bào thai, khi ñó
HIV có thể dễ dàng xâm nhập vào cơ thể bé
- Qua quá trình ñẻ, HIV có trong nước ối, dịch tử cung, dịch âm ñạo của mẹ
ñã lây truyền vào người bé qua vết sây xát hoặc niêm mạc miệng, mắt, mũi của bé
- Qua sữa mẹ khi mẹ cho trẻ bú nhất là khi núm vú bị sây xát, trẻ mọc răng
hoặc có tổn thương ở miệng Tuy nhiên việc lây lan qua ñường sữa mẹ thường ít
gặp vì số lượng HIV có trong sữa rất ít
Phụ nữ nhiễm virut HIV nếu sinh con sẽ có khả năng khoảng 30% là con
nhiễm theo mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có khoảng 30 trẻ
bị nhiễm.Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường không sống ñược quá 3 năm, trẻ sẽ bị
bệnh và chết
(Theo tài liệu của UNESCO,UNDCP và CSDS, 2002)
2.1.6 Đường không lây truyền HIV
HIV tồn tại trong các dịch của cơ thể như dịch âm ñạo, tinh dịch, nước mắt,
nước ối Tuy nhiên người ta ñã nghiên cứu và ñưa ra kết luận rằng HIV truyền chủ
yếu qua ba ñường ñã nêu ở phần các con ñường lây truyền, trên thực tế người ta
chưa phát hiện nhiễm HIV qua những tiếp xúc thông thường như:
- Bắt tay, xoa bóp, ôm ấp
- Nói chuyện, hắt hơi, ho
- Ngồi chung bàn ghế
- Hôn xã giao (trừ hôn sâu nếu một trong hai người nhiễm HIV và trong
miệng có vết loét, chảy máu)
Trang 16- Mặc chung quần áo, ăn chung bát ñĩa, cốc chén
- Đi chung nhà vệ sinh, tắm chung bể bơi
- Muỗi và côn trùng không thể làm lây truyền HIV: vì khi muỗi ñốt người thì
máu từ cơ thẻ người ñi vào cơ thể muỗi chứ không ñi từ cơ thẻ muỗi sang cơ thể
người HIV không tồn tại và sinh sản trong cơ thể người nên nó không có trong
nước bọt của muỗi do ñó không ñi vào cơ thể người
2.1.7 Cách thức HIV xâm nhập và phát triển trong cơ thể người
a Điều kiện HIV lây truyền
Phải có mặt của virut HIV: virut HIV không tự sinh ra Với môi trường
người không có virut HIV thì người ñó có làm gì dính ñến máu hay quan hệ tình
dục không dùng bao cao su thì người ñó cũng không thể có trong mình virut HIV
ñược Nhưng cái khó là người ta không biết ñựơc người ta có bị nhiễm HIV hay
không
Phải có lượng HIV ñủ lớn : HIV tồn tại trong rất nhiều dịch của cơ thể con
người nhưng có dịch không chứa HIVhoặc là chứa rất ít không ñủ ñể có thể làm lây
nhiễm chẳng hạn như dịch nước bọt, nước mắt, nước tiểu, mồ hôi HIV có nhiều
nhất ở trong máu và trong chất dịch sinh dục ( dịch âm ñạo và tinh dịch) Đây làcon
ñường làm lây nhiễm virut HIV cao nhất Ngoài ra qua ñường sữa mẹ cũng có khả
năng lây nhiễm HIV
Virut phải ñi vào trong cơ thể : Lớp da bình thường bên ngoài cơ thể là một
vỏ bọc chắc chắn, nếu không bị sây xát gì thì HIV không ñi qua ñược Virut HIV ñi
ñược vào cơ thể theo kim tiêm ñi vào ñường máu Nó cũng có thể ñi vào cơ thể qua
vết xước da Ngoài ra nó còn ñi qua ñược lớp niêm mạc (da mỏng) trong âm ñạo,
trong lỗ dương vật, bên trong hậu môn ñể vào máu
b Cách th ức xâm nhập và phát triển của HIV trong cơ thể
Hệ miễn dịch với thành phần chủ lực là bạch cầu, là lực lượng bảo vệ cơ thể
chống lại sự tấn công của các loại mầm bệnh Bạch cầu theo máu ñi tuần tra khắp
cơ thể chúng ñược ví như những chiến sĩ bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh
Trang 17nhiễm trùng xâm nhập từ bên ngoài hoặc mầm bệnh ung thư phát sinh từ một số tế
bào bên trong cơ thể
Khi HIV xâm nhập cơ thể nó tấn công ngay bạch cầu, ñặc biệt là Limphô T4
– là thành phần quan trọng nhất trong hàng ngũ bạch cầu, ñóng vai trò như một
tổng chỉ huy có nhiệm vụ ñiều phối, huy ñộng, kìm hãm toàn bộ hệ miễn dịch của
cơ thể HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của bạch cầu ñể sinh sôi nảy nở, biến
bạch cầu thành kẻ tòng phạm Chính vì vậy mà khi cơ thể bị virut tấn công hệ miễn
dịch càng huy ñộng nhiều bạch cầu ñến ñể kháng cự thì HIV lại càng sinh sôi lên
gấp bội Cuối cùng hệ miễn dịch bị vô hiệu hoá và cơ thể không còn ñược bảo vệ
nữa, mọi mầm bệnh mặc sức hoành hành gây nên nhiều chứng bệnh nguy hiểm dẫn
ñến tử vong
c Th ời gian ủ bệnh
Cũng giống như một số bệnh thông thường khác, HIV khi vào cơ thể cũng
trải qua thời gian ủ bệnh rồi mới sinh ra bệnh AIDS Thời gian ủ bệnh của HIV khá
dài Kể từ khi phát hiện ra người ñầu tiên bị AIDS vào năm 1981, người ta quan sát
vô số trường hợp và kết luận rằng : thời gian ñể virut HIV làm sinh ra bệnh là
khoảng từ 2- 10 năm Trong thời gian ủ bệnh này người nhiễm HIV vẫn sống khoẻ
mạnh bình thường, nếu không xét nghiệm thì cũng không biết mình có mang mầm
bệnh
2.1.8 Những hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV
Mỗi chúng ta hầu như ai cũng ñã từng nghe nói ñến vi rut HIV và bệnh
AIDS Song vẫn còn nhiều người tin rằng căn bệnh này xa vời lắm chỉ có những
người nào ñó mới bị mắc chứ không có liên quan gì ñền mình Điều ñó là hoàn toàn
sai lệch Khi mới ñược phát hiện HIV tồn tại ở những người nghiện chích ma tuý
và gái mại dâm nên người ta cho rằng ñó chỉ là bệnh của những nhóm người này và
gọi ñó là các nhóm “có nguy cơ cao” Trên thực tế không phải tất cả những người
thuộc nhóm này ñều bị nhiễm HIV, hay nói một cách khác không phải ma tuý gây
bệnh AIDS mà là do hành vi dùng chung kim tiêm không ñược khử trùng ñúng
Trang 18cách Còn những người mại dâm là do có hành vi quan hệ tình dục không an toàn
như: không dùng bao cao su, quan hệ với nhiều người trong ñó có người bị nhiễm
HIV
Như vậy, ñối tượng bị nhiễm có thể là bất cứ ai có hành vi nguy cơ lây, thiếu
hiểu biết, lơ là thiếu cảnh giác ñối với căn bệnh này Ngoài ra cũng có những hành
vi vô ý của ngành y tế làm lây như không khử trùng dụng cụ có dính máu Trẻ em
có thể bị lây nếu mẹ chúng bị lây khi mang thai chúng
2.2 Khái niệm AIDS
2.2.1 Định nghĩa
AIDS còn gọi là SIDA là căn bệnh nghiêm trọng của thế kỷ mà y học chưa
tìm ñược thuốc phòng, thuốc chữa AIDS viết tắt của cụm từ tiếng Anh : Acquired
Immuno Defsciency Syndrone
- Acquire : nghĩa là mắc phải, kết quả của sự tiếp xúc với một người bệnh
bên ngoài cơ thể
- Immuno: nghĩa là miễn dịch
- Defscieney: nghĩa là tình trạng suy giảm khả năng tự bảo vệ của cơ thể
chống lại bệnh tật
- Syndrone : hội chứng, là một nhóm dấu hiệu và triệu chứng do kết quả của
một nguyên nhân chung hoặc do sự kết hợp hình ảnh lâm sàng của một bệnh
Như vậy AIDS có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
AIDS (SIDA) là khi cơ thể ở tình trạng suy giảm khả năng ñề kháng ñến mức
không chống ñược các mầm bệnh thông thường, nên mắc nhiều thứ bệnh.AIDS dẫn
ñến chết người vì người bệnh không có khả năng hồi phục.Người ñã phát bệnh
AIDS thì chắc chắn sẽ chết trong khoảng thời gian từ vài tháng ñén hai năm
Những ñiểm khác biệt giữa AIDS và các bệnh thông thường khác :
- Các bệnh thông thường có triệu chứng ñặc thù : Viêm da thì da tấy ñỏ,
ngứa; Tiêu chảy thì ñi ngoài nhiều lượt, ñi ra nước, ñau bụng ; Đau mắt thì mắt ñỏ,
sưng có mủ trắng
Trang 19- AIDS không có các triệu chứng ñặc thù của bệnh Cái ñặc biệt của nó là
người bị AIDS dễ mắc rất nhiều chứng bệnh Chính vì thế mới gọi AIDS là hội
chứng Các chứng bệnh mà người bị AIDS mắc pghải gọi là bệnh cơ hội ( tức là
bệnh nhân cơ hội sức ñề kháng của cơ thể yếu mà tấn công)
- Người bị các bệnh thông thường mà chết thì nguyên nhân chết là chính
bệnh ñó AIDS thì khác, chết vì bệnh AIDS thực chất là chết vì các bệnh cơ hội mà
cơ thể mắc phải khi bị suy giảm khả năng miễn dịch Thường cảm cúm hay ñau
bụng uống thuốc ñều khỏi ; nhưng bị AIDS thì có thể chết vì bệnh ñó
- Người ñã phát bệnh AIDS thì sẽ chết vì trên thế giới vẫn chưa tìm ra thứ
thần dược gì chữa khỏi ñược bệnh này Hiện nay ñã có một số thứ thuốc ñiều trị
AIDS, nhưng những thuốc này mới chỉ có tác dụng làm chậm lại phần nào, chứ
không chặn ñứng ñựoc quá trình phát triển thành AIDS Giá thành lại rất cao nên ở
Việt Nam chưa có thể phổ biến sử dụng ñược
2.2.2 Các giai ñoạn và các triệu chứng biểu hiện
Có nhiều cách ñể phân ra các giai ñoạn của AIDS Tiến trình từ nhiễm HIV
ñến AIDS là một quá trình kéo dài Do vậy các biểu hiện lâm sàng rất phức tạp và
tuỳ thuộc vào các giai ñoạn khác nhau Có thể chia AIDS thành bốn thời kỳ:
* Giai ñoạn nhiễm HIV cấp (thời kỳ cửa sổ): Sau khi ñã xâm nhập vào cơ
thể, số lượng HIV tăng lên trong máu tạo ra giai ñoạn nhiễm HIV cấp Trong ñó số
trường hợp khoảng 80% không có triệu chứng gì ở giai ñoạn ñầu từ khi bị lây
nhiễm cho ñến khoảng 6 tháng ñầu Chỉ 20% thấy có một số triệu chứng rất thông
thường Các triệu chứng thường gặp của thời ky này : sốt, viêm họng hầu, có ban,
dát, sởn, ñau cơ khớp, nhức ñầu, mất ngủ, một số ít bệnh nhân có ỉa lỏng, buồn nôn
rối loạn cảm giác, có khi có một số hạch nổi lên khá to Các triệu chứng lâm sàng
thưòng tự khỏi sau vài tuần, thông thường kéo dài từ 2- 6 tuần
Thời kỳ của sổ: là khi số lượng HIV tăng lên song số lượng kháng thể sau
một thời gian mới sinh ra và với số lượng ít nên ta không phát hiện ñược kháng thể
Trang 20HIV và kết quả xét nghiệm HIV là âm tính Thời kỳ này thường kéo dài từ vài tuần
ñến ba tháng, ñôi khi có thể lâu hơn
* Giai ñoạn nhiễm HIV không có triệu chứng
Giai ñoạn này có thể kéo dài từ một năm ñến dưới mười năm.Thời gian ngắn
hay dài do nhiều yếu tố như lứa tuổi, giới tính, diễn biến tâm lý, tư tưởng, dinh
dưỡng, sức khoẻ và bệnh tật của người nhiễm HIV
* Giai ñoạn cận AIDS
Các biểu hiện thường gặp ở giai ñoạn này ñể phát hiện bệnh là:
- Biểu hiện thường gặp là viêm hạch kéo dài
- Sụt cân trên 10% trong lượng cơ thể ngoài ý muốn
- Sốt dai dẳng kéo dài không rõ nguyên nhân hoặc theo chu kỳ
- Tiêu chảy kéo dài trên một tháng
- Nhiễm trùng thừa cơ ở một số cơ quan như : phổi, tiêu hoá, da, thần kinh
Có khi không có triệu chứng khác chỉ có viêm hạch tồn lưu to trên 1 cm
ñường kính, lan toả ít ra ở ba vị trí bẹn và hai vùng khác như nách, cổ, phía trước
và sau vùng chẩm
* Giai ñoạn AIDS toàn phát: Đây là giai ñoạn cuối cùng của nhiễm HIV Số
lớn bệnh nhân sẽ chết trong vòng 2- 3 năm Các biểu hiện chính gồm ba loại:
a, Các nhiễm trùng thừa cơ :
- Ở hệ tiêu hoá: ỉa chảy nặng kéo dài
- Ở hệ hô hấp: viêm phổi hay gặp biểu hiện là khó thở, ho khan và thâm
nhiễm phổi ñược hình thành từ từ
- Ở hệ thần kinh trung ương : viêm màng não, U lympho gây chèn ép loạn trí
tuần biến
- Ở da: các thương tổn ở da và niêm mạc kéo dài, viêm mạc thực quản da
b, Các u ác tính
c, Những biến ñổi miễn dịch học khác thường ñi ñôi với các triệu chứng lâm
sàng và biểu hiện sư suy giảm của miễn dịch trung gian
Trang 21Ở giai ñoạn AIDS toàn phát có thể có hai nhóm triệu chứng là: nhóm triệu
chứng chủ yếu và nhóm triệu chứng thứ yếu
+ nhóm triệu chứng chủ yếu:
Ở người lớn:
- Sụt cân trên 10% thể trọng cơ thể
- Tiêu chảy kéo dài trên một tháng
- Sốt kéo dài trên một tháng
Ở trẻ em:
- Sụt cân hoặc chậm phát triển bình thường
- Tiêu chảy trên một tháng
- Sốt kéo dài trên một tháng
+ Nhóm triệu chứng thứ yếu:
- Viêm da ngứa toàn thân
- Nhiễm khuẩn thông thường, chàm hoặc viêm da thường xuyên ở trẻ em
- Ho dai dẳng trên một tháng, nhiễm nấm tưa ở hầu họng kéo dài hoặc tái
phát, nổi hạch dai dẳng ở nhiều nơi trên cơ thể ở cả người lớn và trẻ em Triệu
chứng lâm sàng của AIDS ( dựa trên tiêu chuẩn của WHO) : nếu sự xuất hiện các
triệu chứng này mà không do các nguyên nhân ngoài như ung thư, suy dinh dưỡng
dùng thuốc với ức chế miễn dịch thì có thể xác ñịnh là AIDS khi : ở người lớn có
hai triệu chứng chủ yếu và một triệu chứng thứ yếu ; ở trẻ em có hai triệu chứng
chủ yếu và hai triệu chứng thứ yếu
Trên ñây là các triệu chứng thường gặp nhưng không phải ai cũng bị tất cả
các triệu chứng ñó Mặt khác các triệu chứng này cũng giống như các các triệu
chứng của bao căn bệnh thông thường người ta thường mắc phải Do ñó, thấy một
người có những triệu chứng này thì cũng chưa thể nói người ta bị AIDS ñược Để
xác ñịnh chắc chắn có bị nhiễm HIV hay không chỉ có xét nghiệm máu mới cho kết
quả ñáng tin cậy
Trang 22Trong bốn gíai ñoạn trên thì giai ñoạn nhiễm HIV không triệu chứng rất phổ
biến Những người nhiễm HIV không có triệu chứng chiếm một tỷ lệ rất cao gấp
hàng trăm lần số bệnh nhân AIDS và rất khó kiểm soát Vì vậy nếu không có hiểu
biết và trách nhiễm thì họ có thể lây lan truyền HIV cho người khác
2.2.3 Các biện pháp phòng chống cơ bản
* Phòng lây qua ñường tình dục:
- Tình dục an toàn: sử dụng bao cao su ñúng cách trong quan hệ tình dục
Tình dục an toàn là cách quan hệ tình dục ñể giảm hoặc tránh nguy cơ bị nhiễm
HIV và các bệnh lây truyền qua ñường tình dục
- Sống chung thuỷ một vợ một chồng: chung thuỷ vốn là một ñức tính mà
người Việt Nam ta hằng coi trọng Dù không xét ñến khía cạnh ñạo ñức thì cũng có
thể thấy rõ chúng là một ñiều mang lại nhiều ích lợi Ở thời ñại hiện nay, chung
thuỷ không những bảo vệ hạnh phúc lứa ñôi mà còn có thể bảo vệ sức khoẻ con
người Chung thuỷ về tình dục góp phần tích cực ngăn chặn sự lan truyền con vi rut
HIV Tuy nhiên muốn chắc chắn phòng tránh ñược HIV thì cần cả hai người chung
thuỷ và biết chắc cả hai không nhiễm HIV.Không có quan hệ tình dục vơí gái mại
dâm
- Khám và chữa các bệnh lây truyền qua ñường tình dục kịp thời
- Không quan hệ tình dục nếu có thể
* Phòng lây qua ñường máu:
- Thực hiện an toàn truyền máu : ñảm bảo máu và các sản phẩm của máu
phải ñược xét nghiệm HIV trước khi truyền
- Bơm kim tiêm phải ñược khử trùng ñúng cách trước khi dùng
- Không dùng chung các dụng cụ cá nhân có dính máu
- Thụ tinh nhân tạo và nhận các bộ phận cơ thể không bị nhiễm HIV
* Phòng lây t ừ mẹ sang con:
Bằng các xét nghiệm máu phụ nữ trước khi có con ñể có thể có biện pháp kịp
thời tránh hậu quả ñáng tiếc cho cả mẹ và con Bởi vì tỷ lệ trẻ em sinh ra bị nhiễm
Trang 23HIV do mẹ chúng bị nhiễm là 30% có nghĩa là không phải tất cả những ñứa con
của các bà mẹ bị nhiễm HIV ñều bị nhiễm HIV
3 Một số ñặc ñiểm tâm lý cơ bản ở lứa tuổi học sinh PTTH (phổ thông trung
học)
Học sinh PTTH gồm các em lứa tuổi 15,16 ñến 17,18 tuổi tương ñương với
giai ñoạn giữa tuổi vị thành niên và tuổi ñầu thanh niên
Xác ñịnh tuổi PTTH cũng có nhiều những ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất
Sự bắt ñầu và kết thúc của lứa tuổi này không lệ thuộc cứng nhắc bất biến mà do
những ñiều kiện hoàn cảnh sống, hoàn cảnh xã hội, giáo dục khác nhau, một cách
cụ thể mà cũng có sự co giãn,linh ñộng
Ở lứa tuổi này do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh
trung ương và các giác quan do sự tích luỹ phong phú kinh nghiệm sống và tri thức
do yêu cầu ngày càng cao của hoạt ñộng học tập, lao ñộng, xã hội nên nhận thức
của học sinh PTTH học có những nét mới về chất
- Cảm giác tri giác ñạt ñến mức ñộ tinh nhạy của người lớn Ngưỡng tuyệt
ñối và ngưỡng sai biệt của những cảm giác nghe, nhìn, vận ñộng phát triển cao,
năng lực cảm thụ hội hoạ âm nhạc phát triển mạnh
- Đặc ñiểm nổi bật của sự phát triển cảm giác, tri giác học sinh PTTH là tính
có ý thức, có mục ñích, có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong các quá trình học tập
cũng như trong mọi hoạt ñộng khác
- Do sự nhạycảm của óc quan sát học sinh PTTH dễ phát hiện ra những ñặc
ñiểm của sự vật, hiện tượng cũng như con người
- Trí nhớ chủ ñịnh, có ý nghĩa và chiếm ưu thế Năng lực chú ý chủ ñịnh
cũng phát triển
- Ở giai ñoạn này các em ñã ñạt ñược các thao tác trí tuệ bậc cao như người
lớn ñó là tư duy hình thức và tư duy logic Cấu trúc hoạt ñộng trí tuệ có tính phức
tạp và phân hoá rõ rệt Học sinh PTTH có kỹ năng suy nghĩ ñộc lập và bước ñầu
Trang 24- Học sinh phổ thông trung học thường quan tâm nhiều ñến tình hình kinh tế
- chính trị - xã hội trên thế giới và trong nước Các em thường có sự ñánh giá trao
ñổi và tỏ thái ñộ của mình ñối với các vấn ñề ñó
- Học sinh phổ thông trung học sẵn sàng tham gia vào các hoạt ñộng phù hợp
với hứng thú, sở trường của mình Tâm lý chung của học sinh phổ thông trung học
là thích tham gia vào các công việc có ỹ nghĩa lớn lao muốn thử sức mình ở những
công việc khó khăn thậm chí nguy hiểm
- Nhìn chung, nếu ñược giáo dục trong bầu không khí lành mạnh thì sự phát
triển của họ thường tích cực Mặt khác nếu bị lôi cuốn vào nhóm tự phát không
lành mạnh thì họ cũng dễ bị hư hỏng lôi kéo vì kinh nghiệm sống còn hạn chế thích
cái mới lạ chưa phân biệt ñược cái tốt xấu
Trang 25KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Vài nét về tiến trình ñiều tra khảo sát:
Chúng tôi tiến hành ñiều tra khảo sát thông qua phiếu trưng cầu ý kiến với
311 phiếu gồm 130 học sinh nam và 180 học sinh nữ (một em không ghi giới) của
trường PTTH Tây Thuỵ Anh Đây là một trường cấp III hệ chính quy nằm ở phía
tây huyện Thái Thuỵ - Tỉnh Thái Bình
Tiến trình ñiều tra khảo sát ñược chia làm 2 ñợt :
- Đợt 1: Tháng 3 năm 2004 với số phiếu là 25 phiếu, sau quá trình rải phiếu
thử chúng tôi tiến hành rút kinh nghiệm, ñồng thời xem xét chỉnh sửa lại cả nội
dung, số lượng và hình thức của bảng hỏi cho hoàn chỉnh ñể tiếp tục lần rải phiếu
chính thức
- Đợt 2: Cuối tháng 3 ñầu tháng 4 năm 2004 Số phiếu rải ra là 330 phiếu, số
phiếu thu về hợp lệ là 311 phiếu
1 Nhận thức chung của học sinh trờng PTTH Tây Thuỵ Anh về HIV/AIDS
1.1 Nhận thức về bản chất của HIV, tác nhân gây bệnh AIDS
Đại dịch HIV ñang không ngừng phát triển và lây lan nhanh ở hầu hết các
nước trên thế giới Ở nước ta cũng không nằm ngoài sự hoành hành của ñại dịch
này Nó không chỉ ñể lại hậu quả nặng nề về mọi mặt cho một nhóm hay một vài
nhóm xã hội mà nó làm cho toàn xã hội phải ñương ñầu ñối diện với những cái chết
ñược báo trước Một trong những tác nhân gây lên tốc ñộ lan truyền nhanh chóng
của bệnh dịch là sự nhận thức không ñầy ñủ của ña số nhóm xã hội Trong ñó học
sinh, sinh viên là những nhóm người có trình ñộ nhất ñịnh, có những hiểu biết nhất
ñịnh về tác hại của ñại dịch HIV/AIDS và các con ñường lây nhiễm HIV Thế
như-ng số học sinh hiểu rõ về bản chất căn bệnh HIV/AIDS là gì ? các giai ñoạn phát
triển của bệnh thì chưa nhiều
Trang 26Để ñánh giá nhận thức của học sinh PTTH về HIV/ AIDS chúng tôi tiến
hành khảo sát ñiều tra những hiểu biết chung của học sinh PTTH về HIV Trước
tiên chúng tôi muốn ñiều tra nhận thức của học sinh PTTH về bản chất và tác nhân
gây bệnh AIDS với câu hỏi: “ Theo bạn, tác nhân gây bệnh AIDS là gì ?” và ñưa ra
năm phương án trả lời ñể các em lựa chọn : 1 Ký sinh trùng ; 2 Nấm ; 3 Vi rut ; 4
Vi khuẩn; 5 Không biết
Qua số liệu ñiều tra tại trường ña số các em ñều cho rằng tác nhân gây bệnh
AIDS là do vi rut với 289 học sinh chiếm 92,9%, có 17 học sinh trả lời không biết
tác nhân gây bệnh AIDS là gì chiếm 5,5% Còn các tác nhân khác như : có 7 học
sinh cho rằng tác nhân gây bệnh AIDS là do ký sinh trùng chiếm 2,3% , 7 học sinh
cho rằng nấm là tác nhân gây bệnh AIDS chiếm 2,3% và 2 học sinh ñồng ý với
ph-ương án vi khuẩn là tác nhân gây AIDS So sánh giữa học sinh nam và học sinh nữ
cũng so sánh giữa học sinh các khối trong trường thì việc nhận thức về tác nhân
gây bệnh AIDS không chênh lệch nhau nhiều
Bảng 1: Tác nhân gây AIDS
Phương án Khối 10 Khối 11 Khối 12 Chung Xếp
Như trong phần cơ sở lý luận chúng tôi ñã trình bày tác nhân gây AIDS
không phải là ký sinh trùng, nấm hay vi khuẩn mà chính là vi rut HIV HIV là một
loại vi rut gây suy giảm miễn dịch ở người ñược phát hiện vào năm 1981 Nó chính
là thủ phạm gây ra bệnh AIDS Hiện nay y học vẫn chưa tìm ñược thuốc trị con vi
Trang 27rut này HIV khi xâm nhập vào cơ thể có một thời gian ủ bệnh khá dài Thời gian
ñể vi rut HIV làm sinh ra bệnh AIDS là khoảng từ 2 ñến 10 năm Hệ miễn dịch với
thành phần chủ lực là bạch cầu, là lực lượng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công
của các loại mầm bệnh Bạch cầu theo máu ñi tuần tra khắp cơ thể chúng bảo vệ cơ
thể chống lại mầm bệnh nhiễm trùng từ bên ngoài xâm nhập Khi HIV vào cơ thể
nó tấn công ngay bạch cầu Hệ miễn dịch bị vô hiệu hoá và cơ thể không còn ñược
bảo vệ nữa, mọi mầm bệnh mặc sức hoành hành gây nên nhiều chứng bệnh nguy
hiểm dẫn ñến tử vong Nhiễm HIV là nhiễm suốt ñời
Từ kết quả số liệu ở bảng 1 chúng tôi thấy rằng nhận thức ñúng của học sinh
PTTH về tác nhân gây AIDS là vi rut chiếm 92,2% chỉ số này là rất cao (xếp thứ
nhất ) Như vậy là học sinh PTTH ñã có hiểu biết rất ñúng về tác nhân gây bệnh
Điều ñó cho thấy họ ñã hiểu ñược bản chất sự phát sinh bệnh AIDS Lý giải ñiều
này có thể là do học sinh PTTH là nhóm xã hội có trình ñộ nhận thức nhất ñịnh,
ñồng thời họ thường xuyên ñược tiếp cận với các thông tin cơ bản về HIV thông
qua ñài, ti vi, sách báo, qua các phong trào tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS
Vì vậy hầu hết các em học sinh ñều ít nhất có một ñôi lần nghe nói ñến vi rut HIV
và bệnh AIDS Đồng thời các em cũng có những quan tâm nhất ñịnh ñối với vấn ñề
này nên việc các em nhận thức ñúng về tác nhân gây bệnh AIDS là ñiều dễ hiểu
Chỉ có 2,3% số học sinh ñược nghiên cứu cho rằng tác nhân gây bệnh AIDS là ký
sinh trùng, 2,3 % số học sinh cho rằng nấm gây lên AIDS Điều này có thể là do số
học sinh này không có nhu cầu hiểu sâu về bệnh Những thông tin mà các em tiếp
nhận có thể là thông tin vỉa hè, bị méo mó, thiếu sự chính xác Tuy nhiên một ñiều
ñáng mừng là trong số 101 em học sinh lớp 10 và 106 học sinh lớp 12 ñược nghiên
cứu không có ai chọn vi khuẩn là tác nhân gây bệnh AIDS Chỉ có 2 học sinh lớp
11 chọn vi khuẩn là thủ phạm gây nên căn bệnh thế kỷ này Chứng tỏ ña phần học
sinh PTTH ñã phân biệt ñược sự khác nhau giữa vi rut, vi khuẩn, ký sinh trùng và
nấm Họ biết chắc chắn AIDS do một loại vi rut có tên là HIV gây lên Số người trả
lời không biết tác nhân gây lên bệnh AIDS là gì là 17 học sinh chiếm 5,5% trong
Trang 28ñó có 7 em lớp 10, 5 em lớp 11 và 5 em lớp 12 Điều này sẽ ảnh hưởng ñến các quá
trình nhận thức tiếp theo về căn bệnh AIDS, họ sẽ khó có thể phân biệt ñược giữa
HIV và AIDS khác nhau như thế nào Sự nhận thức không chính xác của họ sẽ dẫn
ñến việc họ có thể thực hiện những hành vi không ñược xã hội chấp nhận như tiêm
chích ma tuý, hoạt ñộng mại dâm là những con ñường dẫn ñến lây nhiễm HIV cao
1.2 Nhận thức về bản chất của AIDS
Để nghiên cứu sâu hơn nhận thức của học sinh PTTH về HIV/AIDS chúng
tôi tiếp tục ñưa ra câu hỏi “ Theo bạn căn bệnh AIDS là” với ba phương án trả lời :
1 Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải; 2 Hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm
sinh; 3 Không biết rõ
Việc tiếp nhận thông tin về HIV/AIDS ñể biết ñược mức ñộ nguy hại do căn
bệnh thế kỷ này gây ra, nhưng ñể hiểu rõ ở bước ñầu tiên thì phải biết ñược bản
chất của căn bệnh này từ ñó mới có thể hiểu ñúng và ñầy ñủ về căn bệnh này
Hệ miễn dịch là sự bảo vệ của cơ thể ñể chống lại mọi sự truyền nhiễm gây
nên bởi những vi sinh vật Những vi sinh vật có thể vượt qua da hoặc niêm mạc gây
nên bệnh tật Hệ miễn dịch sản sinh ra những kháng thể nhằm trung hoà các vi sinh
vật và làm hoạt hoá các tế bào máu ñặc biệt Những tế bào máu này hoạt ñộng ñể
tiêu diệt và loại những vi sinh vật này ra khỏi cơ thể Suy giảm miễn dịch là khi hệ
miễn dịch không hoạt ñộng như chức năng của nó, có nghĩa là khả năng chống
bệnh tật của cơ thể yếu ñi
“Mắc phải” nghĩa là không phải do di truyền, mà do mắc phải tác nhân gây
bệnh mà thành bệnh
“Hội chứng” là sự tập hợp nhiều triệu chứng, nhiêù bệnh tật
Khi ñưa ra câu hỏi ñiều tra về nhận thức của học sinh PTTH về bản chất của
AIDS chúng tôi thu ñược kết quả như sau : có 288 học sinh chiếm 92,9 cho rằng
căn bệnh là : hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, trong ñó có 164 nữ và 123
nam, 7 học sinh cho rằng bệnh AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh
Trang 29chiếm 2,3% và có 15 học sinh chiếm 4,8% còn không biết rõ về căn bệnh này Kết
quả cụ thể ñược thể hiện trong bảng sau ñây:
AIDS là khi cơ thể ở dạng suy giảm khả năng ñề kháng ñến mức không
chống lại ñược các mầm bệnh thông thường, nên mắc nhiều thứ bệnh AIDS dẫn
ñến chết người vì người bệnh không có khả năng hồi phục Người ñã phát bệnh
AIDS thì chắc chắn sẽ chết trong khoảng thời gian từ vài tháng ñến hai năm Các
chứng bệnh mà người AIDS mắc phải gọi là các bệnh cơ hội ( tức là bệnh tật nhân
cơ hội sức ñề kháng của cơ thể yếu mà tấn công) Theo tài liệu của trung tâm phòng
chống bệnh tật tại Hoa Kỳ thì AIDS là từ viết tắt của cụm từ tiếng anh : Acquired
Immuno Defsciency Syndrome nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người Nguyên nhân gây AIDS là do một loại vi rut gây suy giảm miễn dịch ở
người HIV
Như vậy qua diều tra có 92,6% số người trả lời ñúng về bản chất của bệnh
AIDS Đây là một con số khá cao chứng tỏ một ñiều ñáng mừng là các em học sinh
ñã có một sự hiểu biết ñúng ñắn về bản chất của bệnh AIDS Tuy nhiên vẫn còn
một số nhỏ 7 học sinh chiếm 2,3% cho rằng AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch
bẩm sinh Ngoài ra còn 15 học sinh chiếm 4,8% trả lời không biết rõ, có nghĩa là
không hiểu ñược bệnh AIDS là do mắc phải hay là do bẩm sinh Từ những nhận
thức sâu sắc về AIDS các triệu chứng biểu hiện, con ñường lây truyền và cách
Trang 30phòng tránh Do ñó họ có thể không có ý thức phòng tránh cho bản thân với căn
bệnh này, vì họ nghĩ rằng những người mắc bệnh là do bẩm sinh Nói chung tỉ lệ
cao người trả lời ñúng câu hỏi về bản chất của AIDS có thể là do công tác tuyên
truyền của trường ñể nâng cao nhận thức của các em về ñại dịch nguy hiểm này khá
hiệu quả, hoặc do các em có ý thức quan tâm ñến vấn ñề nóng bỏng này của xã hội
Và vì ñây mới là những kiến thức cơ bản nhất về HIV/AIDS mà mỗi người bình
thường trong xã hội ñều có thể biết qua các phương tiện thông tin ñại chúng
Khi so sánh nhận thức giữa nam và nữ thì nam lại có xu hướng nhận thức
ñúng nhiều hơn nữ, và tỉ lệ người trả lời không biết rõ AIDS là hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải hay bẩm sinh thì nữ cao hơn 11 người chiếm 6,1% trong ñó
nam là 4 học sinh chiếm 3,1% Số người trả lời sai hoàn toàn rằng AIDS là hội
chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh ở nữ cũng cao hơn nam 5 học sinh chiếm 2,8%
trong ñó nam chỉ có hai học sinh chiếm 1,5% Tuy nhiên con số chênh lệch như vậy
cũng không phải là cao Còn so sánh giữa các khối thì các em học sinh thuộc khối
11 trả lời ñúng chiếm tỷ lệ cao hơn ở khối 10 và khối 12 Sự không ñồng ñều nhận
thức về vấn ñề này có thể ñược lý giải như sau : các em học sinh khối 10 mới vào
trường chưa ñược tiếp cận nhiều thông tin HIV/AIDS nên các em nhận thức về nó
còn thiếu chính xác Còn các em lớp 12 thì do nhiều sức ép, ñặc biệt là do học sinh
cuối cấp phải tập trung nhiều thời gian cho học tập, ít có ñiều kiện tìm hiểu các vấn
ñề xã hội Còn các em học sinh lớp 11 có nhiều thời gian, ñiều kiện ñể quan tâm
ñến các vấn ñế xã hội ,do vậy nhận thức của các em về bản chất của AIDS cũng
chính xác hơn
Để tiếp tục tìm hiểu sự nhận thức của học sinh về căn bệnh AIDS chúng tôi
ñưa ra câu hỏi : “Theo bạn, HIV/ AIDS là” ,với 6 phương án trả lời : 1.Một thảm
hoạ cho xã hội ; 2 Là một ñại dịch nguy hiểm ; 3 Là một bệnh thông thường trong
xã hội ;4 là một hiện tượng bệnh lý trong xã hội ; 5 Một căn bệnh nan y ; 6 Là
vấn ñề xã hội
Trang 31Với câu hỏi này chúng tôi ñưa ra nhiều phương án trả lời ñúng và học sinh
có thể lựa chọn nhiều phương án khác nhau phù hợp nhất
Kết quả thu ñược là : Có 286 học sinh chiếm 86,2% cho rằng HIV/AIDS là
một thảm hoạ cho xã hội Đây cũng là một trong những cách nhìn nhận ñúng, bởi
vì HIV/ AIDS ñược phát hiện từ năm 1981 và cho ñến nay với tốc ñộ lan truyền
nhanh chóng, con số người nhiễm HIV ñược phát hiện ñã lên tới mức báo ñộng
Theo thông báo của uỷ ban phòng chống AIDS Việt Nam, tính ñến ngày
30/10/2003 Việt Nam ñã có 73.660 nhiễm HIV, trong ñó có 11.254 người ñã
chuyển sang AIDS và có 6.325 người tử vong vì bệnh AIDS Tuy nhiên ñây mới
chỉ là con số bề nổi ñược thống kê chưa phản ánh hết ñược thực trạng nhiễm HIV ở
Việt Nam
1.3 Nhận thức về tính chất nguy hiểm của HIV/AIDS
Với lý do tìm hiểu nhận thưc của học sinh trường PTTH Tây Thuỵ Anh về
mức ñộ nguy hiểm của HIV/AIDS chúng tôi ñặt câu hỏi : “Theo bạn, HIV/AIDS có
nguy hiểm không ?” ñồng thời ñưa ra 5 phương án trả lời : 1 Rất nguy hiểm ; 2
Nguy hiểm; 3 bình thường ; 4 không nguy hiểm; 5 Không biết
Kết quả thu ñược thể hiện trong bảng sau:
Bảng số 3: Nhận thức về tình chất nguy hiểm của HIV/AIDS
Phương án Khối 10 Khối 11 Khôi12 Chung
Trang 32Căn cứ vào kết quả ở bảng trên chúng tôi có nhận xét như sau: Trong số học
sinh của trường ñược hỏi có 282 học sinh chiếm 90,7% trả lời rằng HIV/AIDS rất
nguy hiểm, có 44 học sinh chiếm 14,1% trả lời là nguy hiểm, một con số nhỏ 3,5%
cho rằng mức ñộ nguy hiểm của căn bệnh này là bình thường, chỉ có 2 học sinh
chiếm 0,6% nói HIV/AIDS là không nguy hiểm và 8 học sinh chiếm 2,6% không
biết ñược bệnh này có nguy hiểm hay không, nguy hiểm ở mức ñộ nào Câu hỏi
này chúng tôi ñưa ra dạng câu hỏi ñóng có sẵn phương án trả lời với năm mức ñộ
nguy hiểm từ cao ñến thấp, từ mức rất nguy hiểm ñến mức không nguy hiểm
Kết quả thu ñược với 90,7% số người trả lời HIV/AIDS rất nguy hiểm chứng
tỏ các em ñã có những hiểu biết ñúng ñắn về căn bệnh thế kỷ này Bởi vì căn bệnh
này từ khi vào nước ta mới hơn mười năm mà nó ñã lan tràn nhanh chóng Cho ñến
nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn chưa tìm ñược vác xin phòng và trị ñặc
hiệu Vì vậy ñã nhiễm HIV là nhiễm suốt ñời và chắc chắn sẽ dẫn ñến tử vong
Người ta còn gọi căn bệnh này là những cái chết ñược báo trước Đặc biệt trong
thời kỳ ủ bệnh thuờng thì người bệnh không có biểu hiện triệu chứng cho nên
người bệnh có thể không biết mình ñang mang bệnh và vô tình có thể truyền bệnh
Trang 33cho người khác HIV/AIDS còn nguy hiểm vì khả năng ñột biến gen của HIV là rất
cao gây khó khăn cho việc sản xuất vác xin và thuốc ñiều trị Có thể nói rằng AIDS
là một hội chứng hết sức phức tạp, bệnh nhân chết không phải vì bệnh AIDS mà là
vì hệ thống miễn dich của cơ thể bị suy giảm nên xuất hiện các bệnh cơ hội mà
người bệnh không có khả năng chống ñỡ Bệnh gây hậu quả nghiêm trọng về kinh
tế, xã hội, tâm lý cho cá nhân, gia ñình và cộng ñồng Điều ñáng mừng là hầu hết
các em học sinh PTTH ñã nhận thức ñúng ñắn về tính chất nguy hiểm của bệnh Sự
hiểu biết này sẽ giúp các em có những bước ñệm ñể nhận thức sâu hơn về
HIV/AIDS từ ñó có biện pháp phòng tránh hiệu quả
Chiếm số lượng thấp ( 3,5% và 0,6% ) người ñược hỏi cho rằng HIV/AIDS
bình thường và không nguy hiểm Trong ñó so sánh giữa nam và nữ, giữa học sinh
các khối thì tỷ lệ chênh lệch là không ñáng kể Đây là những học sinh chưa nhận
thức ñúng ñắn về căn bệnh AIDS Họ chưa hiểu biết một cách ñầy ñủ rõ ràng về
mức ñộ nguy hiểm của căn bệnh thế kỷ này
Ngoài ra còn 8 học sinh chiếm 2,6% trả lời không biết về tính chất nguy
hiểm của bệnh AIDS, họ không phân biệt ñược mức ñộ nguy hiểm của nó ra sao
Điều này có thể do các em không quan tâm, không thật sự có mong muốn hiểu biết
về căn bệnh này một cách tự nguyện tự giác
HIV/AIDS tuy không di truyền nhưng khi ñã nhiễm HIV sớm muộn cũng sẽ
dẫn ñến cái chết Số người tử vong và căn bệnh này lại ña số thuộc lớp người trẻ
khoẻ, sau nữa là phụ nữ và trẻ em Đây là những nhóm người có vai trò quyết ñịnh
ñến tương lai của nói giống dân tộc, quốc gia cũng như của loài người Từ những sa
sút thiếu thốn về kinh tế sẽ ñưa cộng ñồng xã hội ñến những ñảo lộn về quan hệ xã
hôị Chính vì vậy mức ñộ rất nguy hiểm của căn bệnh này là lẽ ñương nhiên và mỗi
chúng ta cần thiết phải có nhận thức ñúng ñắn về nó
Tóm lại, sau khi ñưa ra những câu hỏi ñiều tra sự hiểu biết chung của các em
học sinh về HIV/AIDS chúng tôi có nhận xét như sau : Hầu hết các em học sinh ñã
Trang 34có ñược những kiễn thức chung nhất về căn bệnh này Các em ñã lựa chọn ñược
những phương án chính xác cho các câu hỏi mà chúng tôi ñưa ra
Với câu hỏi vè tác nhân gây bệnh thì ña phần các em ñã nhận thức ñúng
ñược vấn ñề rằng tác nhân gây bệnh AIDS là vi rut có tên là HIV chiếm 92,2% Chỉ
có 5,5% số học sinh trả lời không biết
Với câu hỏi nhận thức về bản chất của AIDS thì kết quả mà chúng tôi thu
ñược là 92,6% các em học sinh lựa chọn phương án ñúng là AIDS là hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải, chỉ có 2,3% lựa chọn phương án sai là AIDS là hội
chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh và có 4,8% số học sinh trả lời không biết
Với câu hỏi về mức ñộ nguy hiểm của căn bệnh AIDS thì cũng chiếm một
con số rất cao 90,7% trả lời phương anư ñúng là rất nguy hiểm, chỉ có một con số
không ñáng kể 0,6% trả lời không nguy hiểm và 2,6% số học sinh trả lời không
biết
Như vậy nói chung các em học sinh trường PTTH Tây Thuỵ Anh ñã nắm
ñược những kiến thức chung rất cơ bản của căn bệnh thế kỷ này Các em ñã hiểu
ñược căn bệnh AIDS là một hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải chứ không
phải là bẩm sinh và các em cũng trả lời chính xác ñược rằng tác nhân gây AIDS là
do vi rut gây nên chứ không phải là do nấm, vi khuẩn hay ký sinh trùng Đồng thời
các em cũng ñã có các nhìn nhận ñúng ñắn về mức ñộ nguy hiểm của căn bệnh này
Từ những kiến thức chung rất cơ bản mà các em có ñược ñó sẽ giúp các em dẽ
dàng hơn khi tiếp nhận các kiến thức sâu và cụ thể hơn về bệnh
2 Nhận thức về nguyên nhân, con ñường lây truyền HIV/AIDS
2.1 Nhận thức về con ñường lây truyền
Đây là một trong những mảng kiến thức rất quan trọng và cần thiết ñược
tuyên truyền giáo dục ñể không chỉ những nhóm người có nguy cơ cao mà mọi
người trong cộng ñồng ñều phải hiểu biết ñúng ñắn về nó Đặc biệt ñối với các em
học sinh ñang ñứng trước ngưỡng cửa vào ñời, là thế hệ tương lai của ñất nước thì
việc nhận thức của họ về vấn ñề này càng cần thiết phải ñược ñề cao hơn nữa
Trang 35Để tìm hiểu nhận thức của các em học sinh PTTH về cách lây truyền con
ñường lây truyền HIV/AIDS chúng tôi ñặt câu hỏi :
Theo bạn, HIV/AIDS ñược lây truyền qua con ñường nào là chính ?
Đồng thời ñưa ra 10 phương án ñể các em lựa chọn Kết quả thu ñược thể
hiện trong bảng sau
Bảng số 4: Nhận thức về con ñường lây truyền HIV/AIDS
Phương án Khối 10 Khối11 Khối12 Chung Xếp
chung chăn gối 3 3,0 4 3,9 5 4,7 12 3,9 7
9 Qua ăn uống 1 1,0 1 1,0 3 2,8 5 1,6
10 Con ñường khác 6 5,9 2 2,0 3 2,8 11 3,5 8
Trang 36Như vậy, qua bảng kết quả trên chúng tôi thấy rằng các em học sinh PTTH
nhận thức ñúng và chiếm tỷ lệ cao nhất ñó là các con ñường : tiêm chích ma tuý có
299 học sinh trả lời chiếm 96,1%; qua con ñường quan hệ tình dục có 284 học sinh
chọn chiếm 91,3 %; qua truyền máu và các sản phẩm của máu có 234 học sinh lựa
chọn chiếm 72,5%; qua con ñường từ mẹ truyền sang con có 284 học sinh chọn
chiếm 91,3% Đây là những người có nhận thức ñúng về con ñường lây truyền
nhiễm HIV/AIDS Vi rut HIV có nhiều trong máu, trong tinh dịch và dịch âm ñạo
của người bệnh Vì vậy HIV lây truyền qua ba con ñuờng chính : ñường tình dục,
ñường máu và từ mẹ sang con HIV lây qua ñường tình dục vì trong giao hợp thông
thường dương vật của người nam và âm ñạo của người nữ tiếp xúc với các dịch âm
ñạo của nhau Nếu người nam mang vi rut HIV thì HIV có thể ñi qua lớp niêm mạc
âm ñạo người nữ vào những mạch máu nhỏ li ti có rất nhiều dưới lớp niêm mạc
khiến người nữ bị nhiễm Nếu người nữ bị nhiễm HIV thì HIV có thể truyền sang
người nam qua niêm mạc ở lỗ dương vật hoặc qua lớp da bao phủ ở ñầu dương vật
ở phía ngoài Lớp da này mỏng nên trong khi giao hợp dễ bị những vết xước rất
nhỏ không nhận thấy tạo ñiều kiện cho HIV xâm nhập
Trang 37Trong bảng hỏi chúng tôi chia ñường máu thành hai : tiêm chích ma tuý,
truyền máu và cac sản phẩm của máu Gộp chung hai phương án này lại thành một
con ñường lây nhiễm là ñường máu
Qua kết quả chúng tôi thu ñược ở bảng trên thì ña phần học sinh trường
PTTH Tây Thuỵ Anh ñều nhận thức ñúng ba con ñường chính dẫn ñến sự lây
nhiễm HIV Điều này chứng tỏ các em ñược tiếp cận thông tin về HIV thông qua
các phương tiện khác nhau là tương ñối chính xác Hoặc ñiều ñó có thể ñược lý giải
là do công tác tuyên truyền giáo dục của trường rất chú trọng ñến vấn ñề các con
ñường lây nhiễm HIV cho học sinh Đồng thời có thể mức ñộ quan tâm của học
sinh ñối với vấn ñề này tương ñối cao, các em có ý thức tìm hiểu về nó ñể có biện
pháp phòng tránh cho bản thân và cho xã hội
Tuy nhiên, vẫn còn một số lượng nhỏ số sinh viên cho rằng con ñường dẫn
ñến lây nhiễm HIV là do các loại muỗi và côn trùng ( 31 học sinh chiếm 10% ) ;
chăm sóc người nhiễm HIV ( 27 học sinh chiếm 8,7% ) ; qua ñường hô hấp ( 12
học sinh chiếm 3,2% ); qua ăn uống( 5 học sinh chiếm 1,6% ) và qua các con
ñường khác là 11 học sinh chiếm 3,5% Đây là những học sinh có nhận thức hoàn
toàn sai lầm về các con ñường lây nhiễm HIV Vi rut HIV chỉ có nhiều trong máu,
trong dịch âm ñạo, trong tinh dịch và trong sữa mẹ, còn trong các dịch khác của cơ
thể như nước mắt, nước bọt lượng vi rut HIV là không ñáng kể không ñủ ñể lây
truyền HIV Vì vậy các sinh hoạt thông thường không thể lây nhiễm HIV Muỗi là
kẻ thù mang ñến cho chúng ta nhiều thứ bệnh, nhưng ñối với loại vi rut HIV thì
muỗi không có khả năng truyền bệnh Vì vậy việc học sinh nhận thức muỗi và côn
trùng ñốt là con ñường lây nhiễm HIV là hoàn toàn sai lầm Sự hiểu biết thiếu
chính xác này có thể là do các em suy luận một cách chủ quan Có thể vì các em
nghĩ rằng HIV lây qua ñường máu mà muỗi ñốt thì có liên quan ñến máu nên các
em cho rằng bị muỗi ñốt người nhiễm HIV ñốt thì có thể dẫn ñến lây nhiễm HIV
Ngoài ra các con ñường như hô hấp, ăn uống ngủ chung giường, chung chăn gối (
mà không có quan hệ tình dục ) thì tất nhiên là không thể làm lây nhiễm HIV
Trang 38Chăm sóc người nhiễm HIV chỉ cần cẩn thận một chút là cũng không thể lây nhiễm
HIV Bên cạnh ñó ở phương án số 8 là hôn nhau và ngủ chung giường thì cũng cần
phải nói thêm rằng: không thể khẳng ñịnh không lây nhiễm HIV nếu thực hiện hôn
sâu trong trường hợp hai người cùng bị loét, xước da ở trong miệng hay chảy máu
răng trong khi hôn sẽ có sự tiếp xúc máu mà một trong hai người bị nhiễm HIV Có
thể nói rằng vi rut HIV không dễ lây Đa số những việc chúng ta làm hàng ngày
ñều không lây Các em học sinh cần hiểu biết ñúng như vậy và có thái ñộ, hành vi
ñúng với người bị nhiễm HIV và cũng không cần lo lắng
Tuy số lượng học sinh nhận thức sai lệch kể trên tương ñối nhỏ nhưng cũng
là một ñiều ñáng trăn trở vì HIV/AIDS không còn mới mẻ gì với mỗi chúng ta, khi
mà cả thế giới ñang rầm rộ các phong trào phòng và chống AIDS, việc hiểu ñúng
ñắn về nó là môt ñiều thực sự cần thiết Đặc biệt, trong các trường PTTH càng cần
thiết phải ñẩy mạnh phong trào tuyên truyền phòng chống AIDS với những nội
dung cụ thể sâu sắc, phong phú hơn về AIDS ñể nâng cao nhận thức cho các em về
vấn ñề này Học sinh cần ñược trang bị tốt hơn nữa những kiến thức về con ñường
dẫn ñến lây nhiễm HIV
Trang 395 Truyền máu và các sản phẩm của máu 99 76,2 134 74,4
8 Hôn nhau nvà ngủ chung chăn gối 3 2,3 9 5,0
Về con ñường tiêm chích ma tuý mức ñộ chênh lệch về hiểu biết của học
sinh nam và học sinh nữ của trường là không ñáng kể ( 96,9% nam và 96,1% nữ)
Như vậy, cả nam và nữ ñều nhận thức rất tốt về con ñường tiêm chích ma tuý dẫn
ñến lây nhiễm HIV Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, tệ nạn ma tuý
ngày càng gia tăng, kéo theo số người nhiễm HIV nhiều lên Các phương tiện thông
tin ñại chúng hàng ngày hàng giờ ñều nói ñến tiêm chích ma tuý là con ñường ngắn
nhất dẫn ñến lây nhiễm HIV Có lẽ vì thế mà cả học sinh nữ và học sinh nam ñều
lựa chọn phương án này với con số rất cao Tỷ lệ người nhiễm HIV qua tiêm chích
ma tuý là 20 % số trường hợp nhiễm
Về con ñường lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục cho thấy nam trả lời thấp
hơn nữ ( nam là 115 học sinh chiễm 88,5% và nữ là 168 học sinh chiếm 93,3% )
Quan hệ tình dục bừa bãi thì xác xuất gặp người nhiễm HIV là rất cao ñặc biệt là
quan hệ tình dục với gái mại dâm Các kiểu quan hệ tình dục dù khác giới hay ñồng
giới ñều có khả năng lây truyền HIV nếu một trong hai người mang trong mình con
Trang 40vi rut này Tỷ lệ nhiễm HIV qua quan hệ tình dục là rất cao Các em học sinh cả
nam và nữ ñều nhận thức khá tốt về con ñường lây nhiễm này có thể là do gần ñây
trên các phương tiện thông tin ñại chúng ñặc biệt là trên ñài truyền hình nói rất
nhiều về con ñường lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục Hình thức tuyên truyền
ña dạng phong phú, ấn tượng ñặc biệt qua các bộ phim tuyên truyền khiến các em
có thể dễ tiếp thu vấn ñề hơn
Về con ñường lây truyền HIV từ mẹ sang con thì nữ có tỷ lệ nhận thức vấn
ñề này cao hơn nam : nữ có 167 học sinh lựa chọn chiếm 92,8% nam là 116 học
sinh chiếm 89,2% Khi người mẹ bị nhiễm HIV có thể truyền con vi rut này sang
cho con trong thời kỳ mang thai, hoặc có thể trong quá trình sinh ñẻ hay một phần
nhỏ là HIV có thể lây truyền khi mẹ cho con bú Tuy nhiên tỷ lệ nhiễm HIV từ mẹ
sang con chỉ chiếm 30% Có nghĩa là không phải bất cứ bà mẹ nào bị nhiễm HIV
khi sinh con ñều bị nhiễm vi rut này Nhận thức về vấn ñề này có sự chênh lệch
như vậy là do tương lai của các bạn nữ luôn phải thực hiện thiên chức làm mẹ nên
họ biết nhiều về con ñường lây nhiễm này cao hơn nam là tất nhiên và dễ hiểu
Như vậy, nhận thức về ñường lây truyền HIV của học sinh nữ nói chung cao
hơn nam ở các ñường lây truyền chính : mẹ sang con, tiêm chích ma tuý, quan hệ
tình dục
Về các con ñường khác như lây truyền do muỗi và côn trùng nam trả lời là
11 học sinh chiếm 8,5%, nữ là 20 học sinh chiếm 11,1% Lây truyền qua việc chăm
sóc người nhiễm HIV thì nam lại trả lời cao hơn 18 học sinh chiếm 13,8% trong khi
ñó nữ là 9 học sinh chiếm 5,0% Lây truyền qua ñường hô hấp nam là 4 học sinh
chiếm 3,1% và nữ là 6 học sinh chiếm 3,3% có một em không trả lời Qua con
ñường hôn nhau và ngủ chung chăn gối thì nam nhận thức tốt hơn hẳn nữ : ñộ
chênh lệch ở ñây là khá cao, chỉ có 3 học sinh nam ñồng tình với quan ñiểm này
chiếm 2,3% trong khi ñó nữ là 9 học sinh chiếm 5,0% Nhận thức về con ñường ăn
uống thì ñộ chênh lệch giữa nam và nữ là không ñáng kể : nam 2 học sinh chiếm