Tính cấp thiết của ñề tài Nhân cách của con người ñược hình thành thông qua 3 lĩnh vực: giao tiếp, hoạt ñộng và tự ý thức, trong ñó lĩnh vực hoạt ñộng bao gồm không chỉ hoạt ñộng lao ñộn
Trang 11 Tính cấp thiết của ñề tài
Nhân cách của con người ñược hình thành thông qua 3 lĩnh vực: giao tiếp,
hoạt ñộng và tự ý thức, trong ñó lĩnh vực hoạt ñộng bao gồm không chỉ hoạt
ñộng lao ñộng mà còn cả những hoạt ñộng ngoài giờ làm việc như ăn, ngủ, tắm,
giặt… và ñặc biệt là sự tham gia vào các hình thức vui chơi giải trí- một hoạt
ñộng không chỉ ñem lại cho con người sức khỏe về tinh thần, về thể chất, mà
còn giúp họ tăng thêm “vốn xã hội” Điều này cho thấy giải trí ñóng vai trò vô
cùng quan trọng trong việc giúp con người ñổi mới cuộc sống, làm gia tăng khả
năng sáng tạo… và nhất là tạo nên diện mạo văn hoá cá nhân - thước ño lối
sống của con người hiện ñại
Những người dẫn nhảy là một nhóm xã hội ñặc thù Họ có văn hóa riêng
của mình Văn hóa nhóm của những người dẫn nhảy ñược quy ñịnh bởi ñặc thù
nghề nghiệp của họ và ñược thể hiện rõ nét ở hoạt ñộng giải trí trong thời gian
rỗi Vì thế, tìm hiểu về hoạt ñộng giải trí trong thời gian rỗi của họ chính là một
công cụ hữu hiệu giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện nhất về nhóm người
dẫn nhảy Bởi lẽ, ñây là một nhóm xã hội mới xuất hiện ở nước ta trong hơn
chục năm trở lại ñây và trên thực tế phần lớn nhiều người trong xã hội lại chưa
có một cái nhìn khách quan về nhóm người này Những cái nhìn phiến diện vẫn
tồn tại dai dẳng
Chúng ta ñều biết, thời gian rỗi theo K.Marx phụ thuộc nhiều vào sự phát
triển của xã hội Xã hội phát triển, thời gian lao ñộng ñược rút ngắn thì khoảng
thời gian rỗi ngày càng gia tăng Thời gian gian rỗi gia tăng thì khoảng thời gian
dành cho các hoạt ñộng vui chơi, giải trí lại ngày càng nhiều Vì thế có thể nói
việc gia tăng thời gian rỗi chính là gia tăng các cơ hội tham gia hoạt ñộng giải trí
của con người Đối với những người dẫn nhảy, thời gian rỗi của họ không ñi
theo quy luật chung này của xã hội Do phải tham gia lao ñộng trong lĩnh vực
giải trí nên khi nhu cầu giải trí của xã hội gia tăng thì thời gian tham gia các hoạt
ñộng giải trí của họ lại phải giảm ñi Họ phải nỗ lực ñể hoàn thành vai trò xã hội
Trang 2của mình với tư cách một thành viên trong gia ñình và cũng với tư cách là một
công dân của xã hội
Vậy trong khoảng thời gian rỗi hạn hẹp ñó, nhóm những người dẫn nhảy
có tận dụng ñược khoảng thời gian này một cách tích cực và hiệu quả không?
Hoạt ñộng giải trí nào sẽ ñược họ lựa chọn thường xuyên?
Việc nghiên cứu về hoạt ñộng giải trí của những người dẫn nhảy là một
vấn ñề hết sức cấp thiết Nó không chỉ cho chúng ta một cái nhìn về các hoạt
ñộng giải trí của một nhóm xã hội mà còn hình thành nên một cái nhìn tổng
quan, toàn diện về họ- những người hiện ñang rất ñược xã hội quan tâm Điều
này ñòi hỏi phải ñược nhìn nhận một cách khoa học và hợp lí dưới góc ñộ xã hội
học văn hoá Đây cũng chính là ý tưởng gợi nên trong tôi hướng nghiên cứu ñề
tài: Hoạt ñộng giải trí trong văn hoá nhóm những người dẫn nhảy trên ñịa
bàn Hà Nội hiện nay
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
* Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu này không nhằm ñưa ra những luận ñiểm bổ sung cho lí
thuyết xã hội học mà nhằm làm sáng tỏ chúng trong những phát hiện bằng
những nghiên cứu thực nghiệm của mình
Trên cơ sở vận dụng những tri thức khoa học vào nghiên cứu thực tiễn
các lí thuyết, phương pháp, khái niệm của khoa học này có ñiều kiện ñể “va
chạm” với thực tế Từ ñó, tạo cơ sở ñể xã hội học có thể hoàn thiện hơn về phạm
trù lí luận, lí thuyết cũng như phương pháp nghiên cứu của mình
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp những người dẫn nhảy nhìn nhận ñược
thực trạng tham gia các hoạt ñộng giải trí của mình và từ ý nghĩa quan trọng của
hoạt ñộng giải trí ñối với cuộc sống họ sẽ có những hành ñộng tích cực hơn ñối
với việc tham gia các loại hình giải trí
Ngoài ra, các cơ quan chức năng cũng như những người có liên quan sẽ
có những biện pháp ñể việc tham gia vào hoạt ñộng giải trí của những người dẫn
Trang 33 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hoạt ñộng giải trí trong văn hoá nhóm của người dẫn khiêu vũ
* Khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu
Những người dẫn khiêu vũ trên ñịa bàn Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Nghiên cứu này chỉ giới hạn tìm hiểu: các loại hình giải trí
ñược nhóm xã hội này sử dụng thường xuyên trong thời gian rỗi
4 Mục tiêu nghiên cứu
• Tìm hiểu thực trạng hoạt ñộng giải trí của người dẫn nhảy
• Chỉ ra những yếu tố tác ñộng ñến việc lựa chọn các hoạt ñộng giải trí
• Tìm ra xu hướng và ñưa ra các khuyến nghị
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình thực hiện ñề tài này tôi ñã sử dụng một số tài liệu ñó là
kết quả khảo sát, các bài viết trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các công
trình nghiên cứu trước, một số trang web của chính phủ Các thông tin thu thập
từ tài liệu ñược kế thừa, sử dụng một cách có chọn lọc và sáng tạo
* Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Bảng hỏi ñược xây dựng trên cơ sở của nội dung nghiên cứu, bao gồm các
câu hỏi liên quan ñến nội dung nghiên cứu: nhận thức của người dẫn nhảy về
các hoạt ñộng giải trí, các loại hình thường ñược sử dung Đề tài ñược thực hiện
với 166 bảng hỏi, với các chỉ báo sau:
- Giới tính: Nam: 92.8% Nữ: 7.2%
- TĐHV: THCS trở xuống: - THPT: 44% - Tr.cấp: 19.3% -CĐ,ĐH: 17.5
- Thành phần xuất thân: - Nông thôn:56.6% - Đô thị: 43.4%
- Tình trạng hôn nhân: - Có gia ñình: 33.7% - Chưa có gia ñình: 66.3%
- Đã li hôn/li thân:2.4% -Goá: 0.6%
* Phương pháp phỏng vấn sâu:
Trang 4Tôi ñã phỏng vấn 5 ñối tượng có trình ñộ học vấn, tuổi tác, thành phần
xuất thân, tình trạng hôn nhân khác nhau ñể thu thập những thông tin về hoạt
ñộng giải trí của họ trong thời gian rỗi
* Phương pháp quan sát
Trong nghiên cứu này tôi ñã tiến hành những quan sát sau:
- Những cuộc trao ñổi trước và sau giờ làm việc của những người dẫn
nhảy về các hoạt ñộng giải trí mình ñang tham gia hoặc mới xuất hiện
- Thái ñộ của người dẫn nhảy khi nhắc ñến hoạt ñộng giải trí
- Quan sát thái ñộ của người ñược phỏng vấn bằng bảng hỏi và phỏng vấn
sâu trước những câu hỏi mà ñiều tra viên ñưa ra
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Hoạt giải trí giải trí của những người dẫn nhảy rất nghèo nàn
- Đặc thù về công việc chính là nhân tố chủ yếu dẫn ñến thực trạng hoạt
ñộng của những người dẫn nhảy không phong phú
- Thời gian tới hoạt ñộng giải trí của người dẫn nhảy ít có sự thay ñổi
Trang 5Vai trũ của những người quản lý cõu lạc bộ.
Hệ thống chớnh sỏch phỏp luật của Đảng và Nhà nước
Hệ thống truyền thụng văn húa
Hệ thống cỏc dịch
vụ giải trớ
Nhận thức của người dẫn nhảy về giải trớ
Hành ủộng tham gia
và hoạt ủộng giải trớ của người d ân nhảy
Các hoạt động giải trí của nhóm người dân
nhảy
Trang 6Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử ñóng vai trò là
nền tảng, là cơ sở phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu
Quan ñiểm duy vật biện chứng: Đặt hoạt ñộng giải trí trong mối tương
quan với ñiều kiện KT-XH, hoàn cảnh sống
Quan ñiểm duy vật lịch sử: Đặt nhóm xã hội này vào ñiều kiện cụ thể
Lí thuyết hành ñộng xã hội:
Trong xã hội học, hành ñộng xã hội thường gắn với các chủ thể hành
ñộng là các cá nhân Hành ñộng xã hội có những ñặc trưng sau:
- Có sự tham gia của yếu tố ý thức
- Là hành ñộng hướng ñến người khác
- Có tính ñịnh hướng mục ñích
- Phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh, môi trường của hành ñộng
Vận dụng lí thuyết hành ñộng xã hội vào nghiên cứu có thể thấy việc lựa chọn
các loại hình giải trí của người dẫn nhảy là một dạng hành ñộng xã hội
Lí thuyết lựa chọn hợp lí
Thuyết lựa chọn hợp lí cho rằng con người luôn hành ñộng một cách có
chủ ñích, có suy nghĩ ñể lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lí
nhằm ñạt ñược kết quả tối ña với chi phí tối thiểu
Vận dụng lí thuyết này vào nghiên cứu tôi muốn lí giải thực trạng lựa
chọn các loại hình giải trí trong văn hoá nhóm của những người dẫn nhảy
Lí thuyết biến ñổi xã hội
Biến ñổi xã hội: là một quá trình qua ñó những khuôn mẫu của các hành
vi xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội ñược thay ñổi
qua thời gian Biến ñổi xã hội có những ñặc trưng sau:
- Có sự khác biệt về thời gian và hậu quả
Trang 7- Là một hiện tượng phổ biến nhưng không giống nhau ở mỗi xã hội
Vận dụng lí thuyết này vào trong báo cáo có thể nhận thấy biến ñổi xã hội
chính là nhân tố quan trọng hàng ñầu dẫn ñến sự chú trọng của con người tới các
1 Làm những việc khác nhau với mục ñích nhất ñịnh trong ñời sống xã hội
2.Vận ñộng, cử chỉ, không chịu ngồi im,yên chỗ
3.Vận ñộng, vận hành ñể thực hiện chức năng nào hoặc gây tác ñộng nào ñó.”
- Giải trí
Theo ñại từ ñiển Tiếng Việt- Nguyễn Như Ý –NXB văn hoá thông tin,
1998, “Giải trí là làm cho ñầu óc thư giãn, cơ thể hết mệt mỏi, tinh thần vui vẻ”
Như vậy:Hoạt ñộng giải trí là những hoạt ñộng có mục ñích mang lại sự
thoải mái cho con người
1.2 Văn hoá nhóm:
Là thứ văn hóa do nhóm xây dựng nên Nhóm mất ñi thì văn hóa của
nhóm cũng mất ñi
1.3 Khiêu vũ:
Theo từ ñiển Oxford NXB Đại học Oxford, 1994 ñịnh nghĩa về hoạt ñộng
khiêu vũ như sau: Khiêu vũ ñược coi là một hoạt ñộng giải trí mang tính nghệ
thuật, trong ñó các ñộng tác ñược trình diễn theo một bản nhạc và tiết tấu ñặc
thù
1.4 Khái niệm người dẫn khiêu vũ
Người dẫn khiêu vũ ñược coi là hiệu quả thông tin gây ra bởi tác ñộng do
chuyển ñộng của một phần cơ thể người dẫn thông qua một hay nhiều chiều kết
nối ñến người theo
Trang 8Người dẫn khiêu vũ không nhất thiết là nam và người theo không nhất
thiết là nữ Tuy nhiên, theo quan niệm thông thường, kỹ thuật dẫn ñối với bạn
nam, theo ñối với bạn nữ là một trong những kỹ năng quan trọng của khiêu vũ
Người dẫn khiêu vũ là người giữ vị trí quan trọng trong cặp nhảy trên sàn,
ñể có thể thực hiện ñược những ñộng tác khéo léo thông qua thông tin trong cặp
nhảy Người dẫn khiêu vũ phải là người ñòi hỏi có kỹ năng, có sự hiểu biết các
bước nhảy và kinh nghiệm truyền kỹ thuật khiêu vũ cho người theo với chuyển
ñộng chính xác và tín hiệu của người dẫn thông qua các kết nối
Trang 9KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
1 Hoạt ñộng giải trí của nhóm người dẫn nhảy- trên ñịa bàn Hà Nội
1.1 Hoạt ñộng giải trí trong văn hoá nhóm những người dẫn nhảy
Biểu ñồ 1: Thời gian tham gia hoạt ñộng giải trí trong ngày (ñơn vị %)
Dữ liệu trên biểu ñồ cho thấy thời gian tham gia vào hoạt ñộng giải trí của
nhóm những người dẫn nhảy hết sức hạn hẹp Mặc dù có tới 91.6 % cho rằng
hoạt ñộng giải trí là cần thiết ñối với cuộc sống cuả con người nhưng chỉ có
15.7% những người dẫn nhảy có hoạt ñộng giải trí cấp ngày từ 1-2h Đa phần
thời gian dành cho giải trí của họ là 30 phút -1h mỗi ngày- số này chiếm tới
83.7% Cá biệt còn có 0.6% những người chỉ có dưới 30 phút/ 1 ngày dành cho
hoạt ñộng giải trí Lí giải ñiều này bằng thuyết lựa chọn hợp lí cho thấy: Chi phí
phải bỏ ra cho các hoạt ñộng giải trí là thời gian, tiền bạc thậm chí chính là cơ
hội việc làm của bản thân họ (bởi lẽ thời gian tham gia vào các thiết chế giải trí
lại chính là thời gian làm việc của họ), còn phần thưỏng nhận ñược chỉ là sự vui
vẻ trong chốc lát, sự giải toả căng thẳng trong một thời gian ngắn Sự không cân
ñối giữa chi phí và phần thưởng ñã dẫn ñến thực trạng những người dẫn nhảy ít
khi tham gia vào các hoạt ñộng giải trí, thậm chí họ không có hoạt ñộng giải trí
Ý kiến sau sẽ làm rõ hơn về vấn ñề này: “Tầng lớp như anh em mình thời gian
dành cho công việc quá nhiều làm gì còn thời gian dành cho giải trí Giải trí
của những người ở tuổi kiếm ra nhiều tiền, họ giải trí theo cách khác Người ta
ñi bar, ñi vũ trưòng sành ñiệu, người ta lại muốn ñi chơi tennis, bowling , bọn
Trang 10anh kinh tế chưa ổn ñịnh, phải kiếm tiền ñã Bỏ việc mà ñi chơi, vừa mất tiền, có
khi lại mất cả việc nữa thì nguy” (Nam-30 tuổi- CLB Thăng Long HN)
Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau: có thể là nguyên nhân kinh tế
như cách lí giải từ thuyết lựa chọn hợp lí song có thể do: các thiết chế không gần
nơi cư trú, thậm chí giờ mở cửa của nó không phù hợp với thời gian rỗi của
những người thuộc nhóm xã hội này, hoặc mặc cảm về nghề nghiệp vì nghề này
vẫn còn chịu nhiều ñịnh kiến của xã hội cũng khiến cho họ ít tham gia vào các
hoạt ñộng giải trí mà thường thu mình lại Tuy nhiên, dù xuất phát từ nguyên
nhân nào thì việc không tham gia hoặc ít khi tham gia các hoạt ñộng giải trí của
nhóm xã hội này cũng là sự lệch lạc trong nhận thức Bởi lẽ mặc dù nhận thức
về vai trò của các hoạt ñộng giải trí rất ñúng ñắn, song hành ñộng của họ không
phản ánh ñược ñiều này Vậy trong thời gian rỗi những hoạt ñộng nào thường
ñược người dẫn nhảy sử dụng cũng là một câu hỏi cần phải giải ñáp
Thực tế, hoạt ñộng giải trí chỉ có thể diến ra trong thời gian rỗi Giải trí
cấp ngày diễn ra trong khoảng thời gian rỗi cấp ngày, nghĩa là khoảng thời gian
sau khi ñã trừ ñi các hao phí thời gian cho việc lao ñộng kiếm sống (hoặc học
tập), việc gia ñình, việc riêng (vệ sinh thân thể, chăm sóc sức khoẻ ), ngủ ăn
uống, nghỉ ngơi Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ cấu thời gian trong ngày của
người dẫn nhảy ñược phân bổ: lao ñộng kiếm sống (4-6 giờ), ăn nghỉ (4 giờ),
ngủ (8-9 giờ), việc riêng (2 giờ), việc gia ñình (2giờ) Như vậy, thời gian rỗi cấp
ngày của họ chiếm trung bình chỉ khoảng (1-2 giờ) Điều ñáng bàn là họ không
tận dụng hết khoảng thời gian này cho hoạt ñộng giải trí mà biến nó thành thời
gian cho các hoạt ñộng khác Chúng ta ñã biết không phải mọi hoạt ñộng diễn ra
trong thời gian rỗi ñều là hoạt ñộng giải trí Nếu trong thời gian rỗi, ai ñó tranh
thủ ñi làm thêm thì thời gian rỗi biến thành thời gian lao ñộng Nếu ai khác lại
dành thời gian rỗi ñể ngủ- nghỉ, chăm sóc sức khoẻ hoặc sắc ñẹp thì thời gian rỗi
trở thành thời gian ñáp ứng nhu cầu vật chất Trong các trường hợp trên thời
gian rỗi ñã sử dụng không ñúng với bản chất của nó là dành cho hoạt ñộng giải
trí
Trang 11Đối với những người dẫn nhảy việc không tham gia các loại hình giải trí
thuộc vào cả hai trường hợp trên Về vấn ñề này chúng tôi thu ñược ý kiến sau:
“Vì mình ra ñây là ñể làm việc, hướng nghiệp sau này, không phải ra ñi chơi
Mục tiêu chính là phải làm việc, chứ không phải chỉ ra ñây ăn với chơi Nói
chung là kiếm ñược ñồng nào thì phải cố Với lại ở ngoài này bạn bè cũng
không có nhiều, chỉ có mấy anh em ở ñây chơi thân với nhau Lúc nào rỗi rãi
mà có người mời ñi dẫn riêng thì anh ñi Vừa kiếm thêm tiền mà cũng vừa luyện
tập các ñiệu nhảy” (Nam- 25 tuổi- CLB Festion)
Tóm lại, dù tham gia hoạt ñộng nào trong thời gian rỗi mà quên ñi hoạt
ñộng giải trí thì cũng là một lệch lạc trong hành ñộng của nhóm người này
Bảng 1: Các loại hình giải trí thường ñược sử dụng (ñơn vị: %)
Bảng số liệu cho thấy loại hình giải trí phổ biến nhất ñối với người dẫn
nhảy là ñánh bài ăn tiền: có 94.6% người coi ñây là hình thức giải trí sử dụng
thường xuyên, ñi uống rươụ bia với bạn bè cũng là hoạt ñộng giải trí thường
ñược sử dụng với 45.8% số người ñược hỏi Về vấn ñề này tôi ñã thu ñược ý
kiến sau: “Những ngày lấy lương cuối tháng, anh em lại rủ nhau ñi nhậu nhẹt tí,
gọi là giao lưu với nhau Bình thường thỉnh thoảng cũng gọi nhau ñi uống rượu
cái này ông cha ta từ xưa ñã nói rồi”trai vô tửu như cờ vô phong” (Nam-26
tuổi- CLB Thăng Long)
ñi uống cafe với bạn bè 35.3
ñi uống rượu bia với bạn bè 45.8
tham gia thể dục thể thao 44.6
Trang 12Vận dụng thuyết hành ñộng xã hội của M.Weber giải thích hiện tưọng này
ta thấy: việc lựa chọn hình thức giải trí: ñánh bài ăn tiền và rủ nhau ñi uống bia,
rựơu là hành ñộng duy lí truyền thống Từ xưa trong truyền thống của người
Việt trong những ngày lệ hội ñánh tá lả uống rượu vẫn thường ñược sử dụng
như hoạt ñộng giải trí 56.6% người lao ñộng trong công việc này lại có xuất
thân từ nông thôn, những nếp sống, thói quen truyền thống ăn sâu vào họ Đó là
một lí do khiến hai loại hình giải trí này ñược họ sử dụng thường xuyên
Một hoạt ñộng giải trí khác tuy mới xuất hiện ở Việt nam từ năm 1997
nhưng thu hút ñược rất nhiều tầng lớp trong xã hội- cả những người dẫn nhảy là
hoạt ñộng lên internet Có tới 48.2% số người dẫn nhảy thưòng xuyên lên
internet trong thời gian rảnh rỗi Họ lên mạng ñể liên lạc với bạn bè hoặc chơi
ñiện tử hay phim chưởng, rất ít người tìm kiếm thông tin, ñọc sách báo Đây là
một ñặc thù riêng của họ Về vấn ñề này chúng tôi ñã thu ñược ý kiến sau:
“Thỉnh thoảng anh cũng lên internet- nhưng chỉ lên chơi ñiện tử hay xem phim
chưởng thôi chứ không lên mạng tìm kiếm thông tin như sinh viên bọn em ñâu.”
(Nam- 27 tuổi- CLB Festion)
Ngoài ra, một loại hình giải trí khá mới và những người dẫn nhảy tiếp cận
nhanh chóng là ñi uống cafe, có 35.3% số người ñược hỏi thường ñi uống cafe
như một hoạt ñộng giải trí “Buổi trưa anh thường hay ñi uống cafe với vợ Ăn
cơm xong rồi uống, thói quen này gần như bất di bất dịch Uống cafe vừa khiến
mình tỉnh táo mà ñơn giản với anh nó làm cho anh thấy thoải mái, tạo hứng thú
làm việc tiếp cho buổi chiều” (Nam- 33 tuổi- CLB Dancing Queen )
Một hình thức giải trí khác rất phổ biến trong xã hội là ñọc sách báo và
xem tivi Nó không chỉ cung cấp tri thức, thông tin, mà còn là một trong những
phương tiện giải trí hữu hiệu Tuy nhiên: chỉ có 29.5% người dẫn nhảy lấy việc
ñọc sách báo, xem tivi là hình thức thức giải trí thường sử dụng Từ góc ñộ xã
hội học có thể thấy ñây là hành ñộng duy lí công cụ Vì ñể một hoạt ñộng giải trí
trở thành thưòng xuyên thì mỗi người phải có những suy tính hợp lí, phải có
những cân nhắc ñể lựa chọn hình thức giải trí không chỉ phù hợp với sở thích
Trang 13của họ Người dẫn nhảy ña số là người ngoại tỉnh nên khi mức sống thấp, mức
ñộ ổn ñịnh của công việc không cao, nay làm chỗ này, mai làm chỗ khác, chủ
yếu thuê nhà sống thì việc không mua sắm ñồ ñạc ñể thuận tiện cho việc di
chuyển luôn ñược quan tâm chính Sau những suy tính thì ñây có vẻ là hình
thức giải trí không phù hợp
Một phát hiện của chúng tôi qua nghiên cứu này là tác ñộng của âm nhạc
tới những người dẫn nhảy Chúng ta ñều biết, âm nhạc giúp con người giải toả
những ức sau thời gian làm việc căng thẳng, tạo sự thư giãn Nghe nhạc, xét về
bản chất là sự chuyển ñổi của não từ hoạt ñộng lao ñộng sang hoạt ñộng thẩm
mỹ Vì vậy nó mang tính giải trí cao Tuy nhiên, chỉ có 16.5% người dẫn nhảy
sử dụng âm nhạc như một loại hình giải trí Đối với người dẫn nhảy thì có mối
tương quan theo chiều ngược lại giữa âm nhạc với sức khỏe 66.3% người ñược
hỏi cho rằng tai của họ có vấn ñề sau một thời gian làm nghề này Điều này là
do ñặc tính nghề nghiệp: hàng ngày phải nghe nhạc với một âm lượng lớn, tới
mức ñộ nhiều người chỉ muốn về nhà nghỉ ngơi ngay sau khi ca làm kết thúc
Nhìn nhận vấn ñề này từ góc ñộ xã hội học có thể nhận thấy hành ñộng
không lựa chọn âm nhạc là phương tiện ñể giải trí là một hành ñộng xã hội của
nhóm người này Ở trong hoàn cảnh- ñặc thù nghề nghiệp như vậy thì hành ñộng
không lựa chọn âm nhạc là một loại hình giải trí là phù hợp với hoàn cảnh và
môi trường làm việc của những người dẫn nhảy
Như vậy hoạt ñộng giải trí cấp ngày của những người dẫn nhảy rất nghèo
nàn Điều này xuất phát từ ñặc thù công việc của họ Nên dù có nhu cầu các loại
hình giải trí khác bên ngoài như: ñi bơi, chơi bowlinh, ñi xem phim thì họ
cũng khó có thể ñáp ứng nhu cầu do các thiết chế này ñã ñóng cửa Tìm hiểu kỹ
hơn trong tương quan với tình trạng hôn nhân cho thấy:
Trang 14Bảng 2: Tương quan tình trạng hôn nhân với loại hình giải trí (%)
Loại hình giải trí Tình trạng hôn nhân
chưa có gñ có gñ li thân/hôn goá Tổng
uống rượu bia với bạn 47.3 46.1 5.3 1.3 100
Qua bảng số liệu chúng ta có thể nhận thấy ở loại hình giải trí ñược tham
gia nhiều nhất là: ñánh bài ăn tiền ñã có sự phân biệt rõ rệt theo tương quan với
tình trạng hôn nhân Những người chưa có gia ñình do chưa có những ràng buộc
cụ thể với một ai ñó cũng như chưa có những trách nhiệm thực sự ñối với những
người thân trong gia ñình nên họ thoải mái hơn trong việc chi tiêu, cũng như tự
do trong việc lựa chọn loại hình giải trí Vì thế trong những người tham gia vào
việc ñánh bài ăn tiền có tới 63.8% những người chưa có gia ñình Trong khi ñó,
những người có gia ñình bao giờ cũng chịu những ràng buộc nhất ñịnh từ phía
người thân: trách nhiệm với cuộc sống của vợ, con, những áp lực từ phía gia
ñình trong việc lựa chọn các loại hình giải trí phù hợp Vì thế trong tương quan
này chỉ có 33.1% những người ñã có gia ñình tham gia vào loại hình giải trí
ñánh bài ăn tiền Đối với những người goá bụa và li hôn hay li thân thì chỉ số
này còn ít hơn rất nhiều, chỉ khoảng 3% số người tham gia vào hoạt ñộng này có
tình trạng hôn nhân như trên Điều này do cơ cấu mẫu Hiện nay mặc dù tình
trạng li hôn/li thân ñang tăng nhanh song tình trạng này vẫn ñang nằm trong sự
kiểm soát của nhà nước Vì thế, số lượng người có tình trạng hôn nhân như vậy
Trang 15Vận dụng thuyết lựa chọn hợp lí ñể giải thích hoạt ñộng ñánh bài của
những người dẫn nhảy trong tương quan với tình trạng hôn nhân như sau: Đối
với những người chưa có gia ñình chi phí họ phải bỏ ra là tiền và phần thưởng
họ nhận lại ñược cũng có thể là tiền và cũng thể là nhiều tiền hơn, bên cạnh ñó
là họ còn nhận ñược sự vui vẻ và thoả mãn nhu cầu của cá nhân Vì thế, khi cân
nhắc giữa chi phí và phần thưởng họ sẽ cảm thấy phần thưởng nhận ñược có vẻ
lớn hơn- mặc dù ít khi như vậy Vì thế, họ tham gia vào hoạt ñộng này Còn với
những người có gia ñình: chi phí họ phải bỏ ra lớn hơn rất nhiều so với những
người chưa có gia ñình Ngoài chi phí về tiền họ còn có thể phải bỏ ra chi phí về
tình cảm gia ñình, danh dự bản thân Một ñịnh kiến tồn tại từ lâu ñời và ăn sâu
vào tư tưởng người Việt là: Người ñàn ông phải có trách nhiệm nuôi sống gia
ñình Vì thế, khi tham gia vào các hoạt ñộng giải trí mang ñầy tính rủi ro như
ñánh bài ăn tiền thì bản thân những người này ngoài sự ràng buộc trực tiếp từ
những người thân trong gia ñình còn chịu những ràng buộc gián tiếp nhưng hết
sức mạnh mẽ là: ñịnh kiến xã hội Chi phí lớn khiến họ phải có những cân nhắc
cụ thể
Một loại hình giải trí có sự cân bằng tương ñối giữa những người dẫn
nhảy có tình trạng hôn nhân khác nhau là: ñi uống rượu bia với bạn bè Trong số
những người tham gia vào hoạt ñộng này có: 47.3% là người chưa có gia ñình
và 46.1% người ñã có gia ñình Như vậy, ñây là một hoạt ñộng giải trí có ñược
sự tham gia khá ñồng ñều giữa những người có tình trạng hôn nhân khác nhau
Vận dụng lí thuyết hành ñộng xã hội của Max.Weber, có thể thấy ñây là hành
ñộng duy lí truyền thống Người Việt từ xưa ñã có câu “Nam vô tửu như cờ vô
phong”, trong tất cả các hoạt ñộng tập thể, chén rượu ñã trở thành vật không thể
thiếu giúp cho con người có sự giao lưu với nhau Ngày nay, trên tất cả các bàn
tiệc, các hoạt ñộng hội hè, hiếu hỉ thì uống rượu cũng là một nét văn hoá Những
người dẫn nhảy ña phần là nam giới, vì thế họ càng chịu những ảnh hưỏng sâu
sắc của những tư tưởng này
Đi chơi với bạn bè là hình thức giải trí không có sự khác biệt giữa những
người có tình trạng hôn nhân khác nhau: Có 46.3% những người ñã có và chưa
Trang 16có gia ñình tham gia vào hoạt ñộng này Theo thuyết lựa chọn hợp lí: hành ñộng
lựa chọn hình thức giải trí này là sự cân bằng giữa chi phí bỏ ra: thời gian, tiền
bạc và phần thưởng nhận ñược không chỉ là sự vui vẻ trong tinh thần mà còn
mở rộng quan hệ xã hội, tăng cường tình cảm bạn bè Vì vậy việc tụ tập bạn bè
ñược không chỉ những người chưa có gia ñình mà cả những người có gia ñình
rất hứng thú Đây là một hành ñộng xã hội, hành ñộng xuất phát từ nhu cầu
muốn giao lưu của con người với nhau, từ ñó xuất hiện ñộng cơ ñể họ có thể tìm
ñến với nhau, kết hợp với hoàn cảnh phù hợp họ sẽ sử dụng những hình thức
thức giải trí phù hợp ñể ñạt ñược mục ñích
Về hoạt ñộng giải trí mới du nhập vào nước ta: ñi uống cafe có sự phân
biệt rõ rệt trong tương quan với tình trạng hôn nhân Trong số những người
tham gia vào hoạt ñộng này có 55.9% người ñã có gia ñình
Tóm lại trong tương quan với tình trạng hôn nhân, có sự khác biệt trong
việc lựa chọn các hình thức giải trí phù hợp Tuy nhiên cũng có một số hoạt
ñộng giải trí như tụ tập bạn bè hay rủ nhau ñi uống rượu bia không có ranh giới
giữa những người chưa có gia ñình và những người ñã có gia ñình Vậy trong
tương quan giữa thành phần xuất thân và các loại hình giải trí ñược lựa chọn có
sự khác biệt gì giữa những người có nguồn gốc xuất thân khác nhau:
Trang 17Bảng 3: Tương quan giữa thành phần xuất thân với các loại hình giải trí
ñược lựa chọn (ñơn vị %)
Các loại hình giải trí Thành phần xuất thân
Đi chơi với bạn bè 63.4 36.6 100
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy: mức ñộ chênh lệch trong việc lựa chọn các
loại hình giải trí giữa những người ngoại tỉnh và Hà Nội là không ñáng kể Tuy
nhiên gần như ở tất cả các lĩnh vực giải trí tỉ lệ những người Hà Nội tham gia
ñều cao hơn so với những người ngoại tỉnh Đặc biệt là ñi uống cafe: trong số
những người tham gia loại hình này có tới 71.2% là người Hà Nội, chỉ có 28.2%
những người ngoại tỉnh tham gia vào hoạt ñộng giải trí này Từ thuyết biến ñổi
xã hội có thể thấy: sự thay ñổi về tư tưởng xã hội trong việc tiếp nhận văn hoá
nước ngoài ñã mang ñến một hình thức giải trí khá mới mẻ là ñi uống cafe Sự
thay ñổi này tác ñộng mạnh mẽ nhất tới những người dân thành phố và người
dân Hà Nội là một trong những nhóm xã hội như thế Đối với loại hình giải trí
uống cafe họ cũng nhanh chóng tiếp cận và thích nghi coi nó như một món ăn
tinh thần không thể thiếu
Ngược lại những người ngoại tỉnh vẫn chịu ảnh hưởng từ cách chi tiêu
của những người làm nông nghiệp Vận dụng thuyết hành ñộng xã hội của
M.Weber có thể thấy việc ít tham gia vào hoạt ñộng ñi uống cafe của người
ngoại tỉnh là hành ñộng duy lí truyền thống Người Việt chủ yếu làm nông
nghiệp, thời vụ thất thường, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên khí hậu nên họ căn