- Năm 1986 công trình nghiên cứu "tính phê phán và tự ñánh giá trong hoạt ñộng học tập của A.I.Rubach cho rằng "Tự ñánh giá là thành phần không thể tách rời của tự ý thức của sự phản ánh
Trang 1I Một số nét tổng quan về vấn ñề nghiên cứu
Trong những năm gần ñây, vấn ñề tự ñánh giá luôn thu hút sự quan tâm
chú ý của các nhà Tâm lý học ñặc biệt là nghiên cứu khả năng tự ñánh giá của
học sinh ở các lứa tuổi khác nhau Nhìn chung các công trình nghiên cứu ñều
cho rằng: Tự ñánh giá là hình thức phát triển cao của tự ý thức, là thành phần
quan trọng của sự phát triển nhân cách
1 Ở Liên Xô
Các công trình nghiên cứu khả năng tự dánh giá của học sinh ở các lứa
tuổi khác nhau ñề cập tới bản chất, con ñường hình thành tự dánh giá và vai trò
của tự ñánh giá trong sự hình thành và phát triển nhân cách
- Năm 1986 công trình nghiên cứu "tính phê phán và tự ñánh giá trong
hoạt ñộng học tập của A.I.Rubach cho rằng "Tự ñánh giá là thành phần không
thể tách rời của tự ý thức của sự phản ánh chính bản thân mình cũng như mối
quan hệ của mình với người khác, với người xung quanh Các tác giả ñồng thời
khẳng ñịnh mối quan hệ giữa tự ý thức và tự dánh giá: tự ñánh giá là hình thức
phát triển cao nhất của tự ý thức
- Trong một nghiên cứu của mình A.I.Lipkina ñã ñưa ra quan niệm của
mình về tự ñánh giá của học sinh phổ thông như sau "tự ñánh gía là thái ñộ của
con người ñối với các năng lực của mình, với những khả năng và những phẩm
chất nhân cách cũng như ñối với bộ mặt bên ngoài của mình" Bà ñã nêu ra một
số ñặc ñiểm sau: Việc ñưa các em vào ñánh giá hoạt ñộng của chính mình và
ñánh giá sản phẩm của các bạn khác là tạo cho các em một thái ñộ ñúng ñắn
trong việc phê bình, ñánh giá sản phẩm của mình và của người khác Do ñó hình
thành cho các em quan niệm ñúng ñắn về những thành công hay thất bại của
mình
- E.A.Cebracova: nghiên cứu vai trò của tự ñánh giá trong việc hình thành
niềm tin của học sinh, niềm tin vào chính mình và nhữnh ñiều kiện hìh thành nó
Trang 2(Luận án phó tiến sĩ năm 1986) Bà ñã coi niềm tin vào mình như một trong
những thành phần của tự ñánh giá Bà và những cộng sự ñã nghiên cứu:
+ Tự ñánh giá của học sinh lớp 4,5,6 có ñặc ñiểm gì?
+ Tự ñánh giá ñược phát hiện có phải là ñặc tính cho hoạt ñộng này hay là
ñược biểu hiện trong các hoạt ñộng khác Qua các nghiên cứu của bà ñã nêu
ñược ý nghĩa: ñối với tự ñánh giá ở học sinh cần phải tổ chức như thế nào ñể nó
có thể hình thành thái ñộ ñúng ñắn với mình
- P.I.Ivasenco nghiên cứu: những ñặc ñiểm của tự ñánh giá của học sinh
lớp lớn trong hoạt ñộng lao ñộng (Tạp chí những vấn ñề tâm lý số 5) tác giả cho
rằng "những học sinh có thành tích học tập khác nhau sẽ tự ñánh giá khác nhau
Sự tự ñánh giá của các cá nhân không chỉ khác nhau về mức ñộ phù hợp mà còn
khác nhau trong việc lựa chọn luận cứ ñể tự ñánh giá
- X.L.Rubinxtein cho rằng: trong sự phát triển của tự ý thức ñã hình thành
và phát triển hàng loạt các mức ñộ từ nhận thức ñơn giản về bản thân tới sự nhận
thức ngày càng sâu sắc hơn Trong mức ñộ nhận thức sâu sắc ñó gắn với một sự
tự ñánh giá
- B.G.Ananhev ñã nghiên cứu khả năng tự ñánh giá của học sinh cà ñưa ra
kết luận: sự xuất hiện khả năng tự ñánh gía những phẩm chất nhân cách của trẻ
em gắn liền với trình ñộ phát triển ngày càng cao hơn, gắn với sự lĩnh hội ngôn
ngữ những quy tắc chuẩn mực và những mối quan hệ xã hội trong trò chơi, trong
tập thể
- A.V.Petrovxki cũng ñề cập ñến vấn ñề tự ñánh giá trong ñó ông nêu ra 2
phương thức tự ñánh giá của học sinh:
+ So sánh mức ñộ kì vọng của mình với kết quả ñạt ñược
+ So sánh về mặt xã hội-so sánh kết quả ñạt ñược của mình với ý kiến của
những người xung quanh về bản thân mình
2 Các nước khác
Có nhiều công trình nghiên cứu về tự ñánh giá khác của các nha Tâm lý
học trên thế giới
Trang 3+ Hình ảnh bản thân có tính phân hóa ở nhà trường, xã hội và thể chất
+ Hình ảnh bản thân có tính tổng quát ñược xem xét ở bình diện giá trị
của bản thân trong nhóm, trong cộng ñồng
- Một số tác giả ở Tây Âu như D.R.Krathwohl, B.B.Maria cho rằng: Tự
ñánh giá là khả năng tự biết quan sát mình về các mặt thể chất, tâm lý có ở bản
thân
- Đặc biệt là công trinh nghiên cứu của tiến sĩ Tâm lý học S.Fraz "khả
năng tự ñánh giá phù hợp ñối với thái ñộ học tập và thái ñộ tập thể ở học sinh
các lớp 5,7,9
Năm 1982 Franz cho xuất bản cuốn sách"phát triển tự ñánh giá của học
sinh", bà ñã ñưa ra ý kiến:
+ Nghiên cứu và so sánh khả năng tự ñánh giá của học sinh về thái ñộ học
tập và thái ñộ ñối với tập thể
+ Đề ra phương án ñể phát triển khả năng tự ñánh gía của học sinh
3 Ở Việt Nam
Trong những năm gần ñây, việc nghiên cứu mới bắt ñầu ñược chú ý quan
tâm, ñặc biệt là ñối với học sinh
- Công trình nghiên cứu của PTS Lê Ngọc Lan "Mối quan hệ giữa khả
năng tự ñánh giá phù hợp của học sinh với thái ñộ học tập và ñộng cơ học tập
(1982) Trong công trình này tác giả ñã phát hiện ra một số ñặc ñiểm sau:
+ Sự tự ñánh giá có liên quan chặt chẽ với những yếu tố bên trong của
nhân cách, sự tự ñánh giá về thái ñộ học tập có liên qua chặt chẽ với ñộng cơ
Trang 4+ Các em gái đánh giá thái độ học tập của mình phù hợp hơn các em trai
- Cơng trình nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Nho và các cộng sự "Một số
đặc điểm về khả năng tự đánh giá của học sinh cuối bậc tiểu học" Bài viết bàn
về khái niệm tự đánh gía đăng trên tạp chí Tâm lý học số 3/1998
- Một số cơng trình nghiên cứu về Tự đánh giá của một số tác giả khác
như: Đỗ Ngọc Khanh (2005) "Nghiên cứu sự tự đánh giá của học sinh chung
học cơ sở ở Hà Nội" Ngồi ra cịn cĩ các luận án, khĩa luận tốt nghiệp quan
tâm và nghiên cứu vấn đề này cũng như bước đầu rút ra những nhận xét về mối
quan hệ giữa tự đánh giá bản thân với những thành tích học tập, phẩm chất đạo
đức, lựa chọn nghề nghiệp
II Các khái niệm liên quan tới đề tài
1 Khái niệm đánh giá
Cĩ rất nhiều các định nghĩa khác nhau về đánh giá, mỗi tác giả xuất phát
từ các gĩc độ khác nhau đều đưa ra các định nghĩa khác nhau nhằm nhấn mạnh
khía cạnh nào đĩ của vấn đề
- Theo nhà giáo dục học Mỹ Kalftyler: Đánh giá là một quá trình xác định
được các mức độ thực hiện của các mục tiêu trong chương trình giáo dục
- Nhà giáo dục Pháp Robert Mager cho rằng: Đánh giá là mơ tả tình hình
học sinh và giáo viên để dự đốn cơng việc và giúp học sinh tiến bộ
- Theo GS Trần Trọng Thủy: Đánh giá là cơ chế tâm lý quan trọng trong
quá trình nhận thức và lĩnh hội các khách thể của hiện thực như một giá trị Nĩ
được hiểu là hành động lý tính nhờ đĩ con người thực hiện được việc lựa chọn
giữa các khách thể để xếp một bộ phận của chúng vào một giá trị
- GS Trần Bá Hồnh quan niệm: Đánh giá là một quá trình hình thành
những nhận định phán đốn về kết quả cơng việc dựa vào sự phân tích những
thơng tin thu được đối chiếu với mục tiêu đề ra nhằm đề xuất những quyết định
thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả
cơng việc
Từ những định nghĩa trên chúng tơi cĩ thể nhận xét thấy rằng:
- Đánh giá là một quá trình được tiến hành một cách cĩ hệ thống
Trang 5- Đánh giá ñể xác ñịnh mức ñộ ñạt ñược của học sinh về mục tiêu ñào tạo
dựa vào sự phân tích những thông tin thu ñược và ñối chiếu với mực tiêu ñề ra
- Đánh giá bao gồm sự mô tả về mặt ñịnh tính hat ñịnh lượng những hành
vi (hoạt ñộng) của người học cùng với những nhận xét về hành vi này
- Đánh giá nhằm ñề xuất những quyết ñịnh thích hợp ñể cải thiện tình
trạng ñiều chỉnh nâng cao hiệu quả của hoạt ñộng
2 Khái niệm Tự ñánh giá
"Tự ñánh gía là giai ñoạn phát triển cao của tự ý thức" (Theo
V.Plecôvich) Bởi vậy khi nghiên cứu vấn ñề tự ñánh gía ta phải xuất phát từ
vấn ñề tự ý thức
2.1 Tự ý thức
Trong quá trình phát triển ý thức cá nhân và hình thành nhân cách có một
thời ñiểm nhận thức ra cái Tôi - nảy sinh tự ý thức của cá nhân.Tự ý thức là gì?
Có rất nhiều các quan ñiểm khác nhau về tự ý thức:
- Theo từ ñiển Tâm lý học của Liên Xô, xuất bản năm 1983 tự ý thức
ñược coi là "Thái ñộ có ý thức của cá nhân ñối với nhu cầu, năng lực, ý hướng
và ñộng cơ hành vi, các rung cảm hay trải nghiệm của bản thân mình" là "thái ñộ
ñối với bản thân như một chủ thể hoạt ñộng có ý thức xã hội"
- Trong từ ñiển thuật ngữ Tâm lý học và phân tâm học ( xuất bản ở New
york năm 1966) tự ý thức ñược hiểu theo 3 nghĩa:
+ Điều kiện cảm xúc của sự tập trung chú ý cao ñến ấn tượng về những
người khác và do ñó về những hành vi của bản thân xem như nền tảng của
những ấn tượng ñó
+ ý thức về bản thân mình
+ ý thức về sự tồn tại của bản thân mình như một cá nhân có bản sắc riêng
Như vậy về mặt thuật ngữ trong các từ ñiển chuyên ngành khác nhau ñều
có chung một sự thống nhất:
+ Tự ý thức là ý thức của cá nhân hướng vào chính bản thân mình
+ Tự ý thức ñi ñến xác ñịnh ñược vị trí, vai trò, giá trị của bản thân trong
mối quan hệ với người khác và với xã hội
Trang 6- Theo V.A.Kruchetxki: Tự ý thức là sự nhận thức về bản thân như một
thành viên của các mối quan hệ với thế giới xung quanh, với những người khác
về hành vi, hành ñộng, suy nghĩ, cảm giác, toàn bộ các phẩm chất ña dạng của
nhân cách
- I.Checxcônôva cũng ñề cập tới tự ý thức và nhấn mạnh chức năng ñiều
khiển hành vi của nó Bà ñã ñi ñến kết luận: "Tựa ý thức với tư cách là một dạng
ñặc biệt của ý thức trong ñời sống tâm lý nhân cách có chức năng tự ñiều khiển
ý thức bản thân và mối quan hệ của chính mình"
A.V.Pêtrôpski quan niêm rằng: "Tự ý thức là một cấu trúc tâm lý phức tạp
bao gồm: ý thức về tính ñồng nhất của mình, ý thức về cái Tôi của bản thân, ý
thức về những thuộc tính và phẩm chất tâm lý của mình, một hệ thống xác ñịnh
những ý kiến tự ñánh giá về mặt ñạo ñức xã hội"
- Theo nhà tâm lý học Đức S.Franz thì tự ý thức là "sự nhận thức về chính
bản thân mình, là sự trở lên có ý thức về những nhận thứccảm xúc riêng của bản
thân
- Theo PGS.Trần Trọng Thủy, tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau:
+ Cá nhân nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài ñến nội dung tâm
hồn, ñến vị thế và các quan hệ xã hội
+ Có thái ñộ ñối với bản thân, tự nhận xét, tự ñánh giá
+ Tự ñiều chỉnh, ñiiêù khiển hành vi theo mục ñích tự giác
- Phạm Hoàng Gia trong bài "ý thức và tự ý thức" ñã kể ra những biểu
hiện của tự ý thức và chức năng của nó: "Tự ý thức biểu hiện ra ở dấu hiệu tự
nhận thức về mình (về bề ngoài, nội dung tâm hồn, quan hệ xã hội ), có thái ñộ
ñối với mình (tự phê bình, tự ñánh giá, ) và có khả năng tự kiềm chế, tự thúc
ñẩy và tự kiểm tra
- PGS Lê Văn Hồng trong cuốn "Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư
phạm" khi bàn về tự ý thức cũng ñã vạch ra nội dung của tự ý thức bao gồm:
+ Tự ý thức về ñặc ñiểm cơ thể
+ Tự ý thức về hành vi
+ Tự ý thức về những phẩm chất ñạo ñức, tính cách và khả năng của mình
Trang 7Như vậy là khi nói ñến tự ý thức là nói ñến việc nhận thức chính bản thân
mình, họ tách mình ra khỏi chính mình ñể nhìn nhận, so sánh ñánh giávà tỏ thái
ñộ ñối với bản thân, tự nhận xét, tự ñánh giá Khi có khả năng tự ý thức con
người tiến hành tự ñiều chỉnh, tự giáo dục nhằm tự hoàn thiện mình Do ñó tự ý
thức ñược hình thành và phát triển tùy theo mức ñộ nhận thức thế giới khách
quan và nhận thức thế giới chủ quan của mỗi cá nhân Tự ý thức hình thành và
phát triển trong mối quan hệ gắn bó với ý thức của cá nhân Tự ñánh giá là một
mặt biểu hiện, là mức ñộ phát triển cao của tự ý thức T ự ý thức phát triển tới
một giai ñoạn nhất ñịnh thì tự ñánh giá mới hình thành Sự tự ñánh giá về bản
thân mỗi con người, mỗi lứa tuổi là rất khác nhau, mỗi cá nhân nhận thức về
mình cũng có những khác biệt so với người khác ñánh giá về họ
2.2 Tự ñánh giá
2.2.1 Định nghĩa
Tự ñánh giá là một trong những phẩm chất quan trọng, một trình ñộ phát
triển cao của nhân cách, nó là chỉ số của mức ñộ phát triển tự nhận thức và là
thành phần cơ bản của tự ý thức; trong bậc thang phản ánh thì ñây là trình ñộ
phản ánh của phản ánh (tự phản ánh) Trong thứ bậc của nhận thức, tự ñánh giá
nằm ở bậc thanh cuối cùng khi con người tự nhìn nhận, phê phán ñánh giá chính
mình Vì có vai trò, ý nghĩa quan trọng như vậy từ xa xưa con người ñã cố gắng
vươn tới trình ñộ phát triển cao này của nhân cách
Tự ñánh giá ñúng ñắn có giá trị ñịnh hướng, ñiều chỉnh hoạt ñộng, hành vi
của chủ thể nhằm ñạt mục tiêu, mục ñích, lý tưởng sống một cách tự giác Nó
giúp con người không chỉ có khả năng làm chủ ñược tự nhiên, xã hội mà còn
làm chủ chính bản thân mình Năng lực "biết người, biết mình" trở thành một
ñòi hỏi tất yếu cần ñược hình thành và phát triển ở trẻ em nói riêng của con
người nói chung
Vậy tự ñánh giá là gì? Đây là một khái nịêm chưa ñược thống nhất, có
nhiều quan niệm khác nhau khi bàn tới vấn ñề "Tự ñánh giá"
- Trong cuốn Từ ñiển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng (chủ biên) ñã ñưa
ra quan niệm như sau: Tự ñánh gía là "cá nhân ñánh giáchính mình, dánh giá
Trang 8những năng lực, phẩm chất và vị trí của mình so với những người khác", "là sự
ñiều chỉnh quan trọng hành vi của cá nhân, mối quan hệ qua lại của con người
với những người xung quanh, tính tự phê phán, tính ñòi hỏi của bản thân, mối
quan hệ qua lại ñối với những thành tích và thất bại của người ñó ñều phụ thuộc
vào tự ñánh giá"
- A.I.Lifkina quan niệm: "Tự ñánh gía là thái ñộ của con người với những
năng lực của mình, những khả năng và những phẩm chất nhân cách cũng như
ñối với bộ mặt bên ngoài của mình"
Bà còn cho rằng: "Tự ñánh giá là một cấu trúc phức tạp, nó phản ánh cái
mà ñứa trẻ nhận ra về mình từ những người khác và cả những tích cực riêng
ñang lớn mạnh hướng vào sự nhận thức các hành ñộng, các phẩm chất nhân cách
của mình"
Như vậy theo tác giả ñứa trẻ từ chỗ nhận thứcñược hành ñộng và các
phẩm chất nhân cách từ người khác và từ tính tích cực của ñứa trẻ mà nó tỏ thái
ñộ với những phẩm chất năng lực nhân cách và bộ mặt bên ngoài của nó
- Theo I.A.Polôva thì: thuật ngữ tự ñánh giá là biểu tượng của con người
về chính mình ñã ñược hình thành một cách bền vững Thứ ñến ñó là quá trình
tự ñánh giá mình mà ở ñó là biểu tượng của nhân cách về mình ñược nảy sinh
Ông nhấn mạnh "Biểu tượng về nhân cách của mình như sản phẩm của tự ñánh
giá như một quá trình tạo ra những ñiều kiện cho nhau khi tạo thành sự thống
nhất"
Như vậy Polôva ñã chỉ ra ñược bản chất của tự ñánh giá là giai ñoạn phát
triển cao, là biểu hiện của tự ý thức bao gồm quá trình nhận thức chính mình và
thái ñộ với chính mình
- V.P.Lepcovich, E.I.Xavônkô cho rằng: Tự ñánh giá ñó là sự ý thức
chính bản thân về sức mạnh thể lực, năng lực trí tuệ, ñộng cơ, mục ñích hoạt
ñộng, thái ñộ của bản thân ñối với mọi người xung quanh, với hiện thực khách
quan và với chính bản thân mình
- R.J.Shavelslon, J.J.Hubner, G.C.Stanton coi tự ñánh giá là quá trình chủ
thể nhận thức hình ảnh bản thân theo các cấp ñộ:
Trang 9+ Hình ảnh bản thân có tính phân hóa ở nhà trường, xã hội và thể chất
+ Hình ảnh bản thân có tính tổng quát ñược xem xét ở bình diện giá trị
của bản thân trong nhóm, cộng ñồng
- S.Franz ñã phân tích bản chất của tự ñánh giá một cách sâu sắc và toàn
diện xuất phát từ phạm trù ý thức và tự ý thức Theo bà: "Sự tự ñánh giá là một
hình thức ñặc biệt của hoạt ñộng nhận thức của nhân cách", "sự tự ñánh giá là
một chỉ số của mức ñộ tự nhận thức của một nhân cách"
S.Franz phân tích tự ñánh giá trong quá trình cấu thành tự ý thức:
+ Đứng ở góc ñộ phản ánh, tự ñánh gía là một quá trình nhận thức hướng
vào bản thân mình với kết qảu của quá trình ñó Tự nhận thứclà một quá trình
phong phú và phức tạp bao gồm các thành phần sau:
1 Quá trình cung cấp tài liệu
2 Quá trình dẫn tới sự xác ñịnh ñơn giản về bản thân
3 Quá trình dẫn tới sự ñánh giá
4 Tự phê phán, tỏ thái ñộ với bản thân
+ Đứng ở góc ñộ nhận thức, Bà coi tự ñánh giá là một quá trình cấu thành
của nhận thức, là mức ñộ phát triển cao của nó Bà cho rằng: "Tự ñánh giá là
một dạng ñặc biệt của nhận thức, của nhân cách" "Tự ñánh giá là phát biểu của
cá nhân về mức ñộ biểu hiện của những hiện tượng tâm lý, ñạc ñiểm tâm lý và
có thể có những phương thức thái ñộ ñang tồn tại ở bản thân"
Tóm lại việc ñưa ra một số quan niệm về khả năng tự ñánh giá cho thấy
mỗi tác giả xuất phát từ góc ñộ của mình ñã nhấn mạnh nội dung này hay nội
dung khác trong khái niệm tự ñánh giá Người thì nhấn mạnh mặt thái ñộ, người
thì nhấn mạnh mặt nhận thức, người thì nhấn mạnh mặt quan hệ song họ ñều
thống nhất ở một ñiểm ñều coi tự ñánh giá có bản chất là sự nhận xét, ñánh giá
về chính mình, là sự phát biểu cuảt chủ thể về chính mình, tự ñánh giá là một bộ
phận, một giai ñoạn phát triển cao của tự ý thức
Các tác giả cũng ñã nêu ra ñược tính toàn diện của tự ñánh giá, nghĩa là tự
ñánh gái về bản thân bao gồm cả những yếu tố về diện mạo, thể chất cũng như
Trang 10những ñặc ñiểm, những phẩm chất tâm lý nhân cách.Các tác giả cũng thống nhất
một ñiều là ñối tượng của tự ñánh giá chính là bản thân chủ thể, là những biểu
hiện của thế giới nội tâm ở mỗi con người Tự ñánh giá là ñiều kiện bên trong
của tự ý thức, tự hoàn thiện nhân cách
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về tự ñánh giá của các tác giả ñi
trước PTS Vũ Thị Nho cũng ñã ñưa ra một ñịnh nghĩa về tự ñánh giá ñược ñăng
trên Tạp chí tâm lý học số 3/1998 Tác giả cho rằng: "Tự ñánh giá là một hoạt
ñộng nhận thức ñặc biết của con người, trong ñó ñối tượng nhận thức chính là
bản thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu thập, xử lý thông tin về chính mình chỉ
ra ñược mức ñộ giá trị nhân cách tồn tại ở bản thân từ ñó có thái ñộ, hành ñộng,
hoạt ñộng phù hợp nhằm tự ñiều chỉnh, tự giáo dục ñể hoàn thiện và phát triển"
Định nghĩa trên ñã chỉ ra ñược:
- Tự ñánh giá là một hoạt ñộng có ñối tượng Nếu ñối tượng của ñánh giá
là hiện thực khách quan tồn tại ngoài chủ thể thì ñối tượng của tự ñánh giá chính
là cái Tôi, cái bản ngã của chủ thể
- Để ñánh giá ñược chủ thể phải tiến hành hoạt ñộng nhận thức: thu thập
thông tin về chính mình, phân tích so sánh, tổng hợp, khái quát, các thông tin
ñể rút ra những nhận ñịnh, kết luận về mình, chỉ ra ñược nhân cách có ở bản
thân
- Sau khi ñã xác ñịnh ñược giá trị nhân cách của bản thân chủ thể sẽ tỏ
thái ñộ với chính mình: tự hào hay bi quan, chán nản; hài lòng hay không hài
lòng về những cái ñó
- Tự ñánh giá không phải dừng lại ở mức biết, có tính thụ ñộngmà nó
mang tính tích cực, có giá trị ñịnh hướng, ñiều chỉnh hành vi, hoạt ñộng của chủ
thể nhằm vươn tới mức hoàn thiện hơn
Tự ñánh giá quan niệm như trên là một trình ñộ cao của sự phát triển nhân
cách, nó có vai trò ý nghĩa rất lớn trong việc tự giáo dục, tự hoàn thiện Tự ñánh
giá như vậy không phải là cái "vốn có, cái tự có" mà là sản phẩm của quá trình
sống, hoạt ñộng, giao lưu, học tập của chủ thể với nhóm và cộng ñồng người
Trang 11Như vậy là mức ñộ hoàn thiện của tự ñánh giá phụ thuộc vào khả năng, trình ñộ
phát triển của mỗi cá nhân, mỗi lứa tuổi
Nằm trong phạm trù nhận thức, tự ñánh giá của con người cũng phát triển
theo một quy trình, một logic nhất ñịnh Lúc ñầu tự ñánh giá mới chỉ dừng lại ở
mức ñộ hiểu biết những ñặc ñiểm bản thân bên ngoài, hình thức như:giới tính,
hình dáng nghĩa là cá nhân có thể tự giới thiệu: Tôi là ai? Tiếp theo con người
mới dần dần tự nhận thức về những phẩm chất tâm lý, nhân cách tồn tại ở mình,
phân tích, so sánh ñể thấymức ñộ của mình so với các thang giá trị mà xã hội
thừa nhận Đó là giai ñoạn tự ñánh gía nhằm trả lời cho câu hỏi: Tôi là người
như thế nào? Tôi có những năng lực và phẩm chất gì? Tôi có xứng ñáng
không? Cuối cùng tự ñánh giá là cá nhân tự suy ngẫm, phân tích, phê phán ñể
khái quát lên nhữngñiểm mạnh, ñiểm yếu của mình, tìm nguyên nhân ñể lý giải
những ñiều ñó Một quá trình tự ñánh giá như vậy là cơ sở, ñiều kiện bên trong
dẫn tới việc tự giáo dục, tự hoàn thiện mình một cách tự giác, tích cực ñể vươn
lên ngày càng cao hơn trong sự phát triển
2.2.2 Đặc ñiểm của tự ñánh giá
Từ các góc ñộ nghiên cứu khác nhau các tác giả ñã nêu ra những ñặc ñiểm
khác nhau của tự ñánh giá:
a Tính phù hợp của tự ñánh giá
Tự ñánh giá là hình ảnh về những ñặc ñiểm, phẩm chất, năng lực, thái
ñộ của bản thân trong các tình huống của hiện thực khách quan Tính phù hợp
của tự ñánh giá diễn tả sự tự ñánh giá ñúng, khách quan, chính xác những hiện
tượng ñược ñánh giá.Cụ thể cá nhân ñánh giá ñúng mức ñộ của các hiện tượng
tâm lý có ở bản thân
Cá nhân muốn biết xem mình có ñánh giá ñúng mình hay không thì phải
dựa vào ý kiến ñánh giá của người xung quanh Cá nhân ñánh giá ñúng bản thân
ñược coi là tự ñánh giá.Cá nhân ñánh giá ngươi khác và người khác ñánh giá cá
nhân gọi là ñánh giá bên ngoài Sự ñánh giá này phải phù hợp với thực tế khách
quan mà ca nhân có Tự ñánh giá ñược coi là không phù hợp khi tự ñánh giá quá
cao hay quá thấp so với những cái vốn có của mình
Trang 12b Tính phân biệt và khái quát của tự ñánh giá
Trong các lĩnh vực hoạt ñộng khác nhau, mức ñộ biểu hiện của các phẩm
chất,năng lực của cá nhân là có sự khác nhau hay nói cách khác là cá nhân có
tự ñánh giá, phân biệt với các dạng hoạt ñộng khác Từ sự nhận xét từng mặt, cá
nhân có sự ñánh giá chung về nhữgn phẩm chất, năng lực, những thuộc tính
của nhân cách, khi ñó tự ñánh giá có tính khái quát Giữa tính khái quát và tính
phân biệt của tự ñánh giá luôn có sự thống nhất chặt chẽ với nhau
c Độ cao, thấp của tự ñánh giá:
Độ cao thấp của tự ñánh giá có nghĩa là ñề cập tới tiêu chuẩn của tự ñánh
giá của mỗi người, tiêu chuẩn ấy ñược xây dựng trên cơ sở những chuẩn mực,
quy tắc xã hội của tập thể.Tiêu chuẩn ñánh giá ñược xã hội thừa nhận thông qua
lăng kính chủ quan của mỗi người, cá nhân tiếp nhận nó, ñối chiếu mình với nó
ñể nhận biết ñược những biểu hiện riêng của mình vào vị trí nào ñó trong hệ
thống chuẩn mực ñịnh sẵn Thông qua mức ñộ cá nhân chỉ ra chúng ta biết ñược
ñộ cao, thấp của tự ñánh giá
d Tính bền vững của tự ñánh giá
Tính bền vững của tự ñánh giá ñược xác ñịnh trong mối liên hệ với những
yêu cầu khác nhau và những khoảng thời gian khác nhau, nó liên quan tới một
số ñặc ñiểm tâm lý cá nhân: phụ thuộc vào tính bền vững của sự tự khẳng ñịnh
trong nhân cách và tính bền vững về mặt xã hội của nhóm, tính bền vững của
hình ảnh bản thân gắn liền với tính bền vững của tình cảm cá nhân
2.2.3 Nội dung của tự ñánh giá
Tự ñánh giá có tính toàn diện, nghĩa là tự ñánh giá về bản thân bao hàm
cả những yếu tố về diện mạo, thể chất cũng như những ñặc ñiểm, phẩm chất tâm
lý nhân cách "Có thể nói tất cả những gì thuộc về cá nhân ñều trở thành ñối
tượng của sự tự ñánh giá Tự ñánh giá có nội dung rất phong phú và ña dạng:
những ñặc ñiểm về thể chất, khả năng riêng, những biểu hiện thái ñộ riêng lẻ,
những phương thức thái ñộ và thuộc tính nhân cách nói chung Tuy nhiên tùy
theo yêu cầu của hoạt ñộng, do những ñặc ñiểm lứa tuổi mà trong một thời ñiểm,
Trang 13một giai đoạn nhất định của cuộc đời, tự đánh giá của cá nhân chủ yếu hướng
vào một hoặc một số nội dung"
T.V.Dragunova trong cơng trình nghiên cứu về tâm lý học lứa tuổi đã chỉ
ra rằng: ở lứa tuổi thiếu niên, khi tự đánh giá về bản thân chúng thường nhằm
vào các đặc điểm hình thức bên ngồi Càng lớn lên cá nhân càng chú ý tới
những phẩm chất nhân cách hơn, đều đi sâu phân tích thế giới nội tâm, đánh giá
những phẩm chất tâm lý, những nét tính cách bản thân
Nhà Tâm lý học Nga I.A.Palaxova đã vạch ra những bước cụ thể trên con
đường phát triển của nội dung tự đánh giá như sau:
- Khả năng dự đốn trước kết quả của những hành động riêng lẻ
- Khă năng đánh giá về những năng lực riêng của mình
- Cĩ sự hình dung khái quát về nhiều khả năng của mình, những khát
vọng đạt được mục đích ở những mức độ nhất định
- Sự hình dung của cá nhân về nhân cách bản thân
Theo R.R.Tramata các nội dung của tự đánh giá khơng xuất hiện cùng
nhau ở cá nhân, nĩ diễn ra theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Đứa trẻ đánh giá mình hạn chế trong những hành động của
những hành vi
- Giai đoạn 2: Tự đánh giá bao gồm cả những trạng thái nội tâm, khả năng
và những phẩm chất đạo đức Sự hình thành giai đoạn thứ 2 - giai đoạn cao của
tự đánh giá bắt đầu từ tuổi vị thành niên và kéo dài suốt cuộc đời con người
cùng với sự tích lũy kinh nghiệm xã hội và sự phát triển trí não của cá nhân
Trong cơng trình nghiên cứu "Sự tự đánh giá phù hợp về thái độ học tốn
của học sinh cao đẳng sư phạm Hà Nội" tác giả Nguyễn Thị Lan Hương đã nhận
xét: "Nội dung của tự đánh giá như một bức tranh đầy biến động Tính phong
phú, đa dạng và nội dung đánh giá quan hệ gắn bĩ với tính chất phức tạp của
hoạt động theo các giai đoạn tuổi Hoạt động càng đa dạng và mang tính gián
tiếp thì nhân cách càng phát triển và do đĩ nội dung tự đánh giá cũng như khả
năng tự đánh giá của cá nhân càng được nâng cao Chính vì vậy khi xem xét tự
đánh giá của mỗi người phải dựa trên cơ sỏ hoạt động của người đĩ"
Trang 14Nội dung của tự ñánh giá không chỉ dừng lại ở việc xác ñịnh mức ñộ tồn
tại giá trị của nhân cách mình, không chỉ dừng lại ở mức biết ñể mà biết có tính
thụ ñộng mà nó còn mang tính tích cực Cá nhân tìm ra nguyên nhân lý giải tại
sao mình lại như thế và từ ñó ñề ra biện pháp, cách thức khắc phục ñể tự hoàn
thiện mình
Tóm lại, nội dung của tự ñánh giá không phải là cái "nhất thành bất biến"
mà nó tùy thuộc vào tính chất hoạt ñộng của mỗi cá nhân, vào sự phát triển của
ý thức, nhân cách mà cá nhân tự ñánh giá mình ở nội dung nào Việc xác ñịnh
nội dung tự ñánh giá sẽ giúp cá nhân xác ñịnh ñược những vấn ñề cần có trong
việc xây dựng hệ thống giá trị riêng của cá nhân có hiệu quả
2.3 Tự ñánh giá bản thân
Sự tự ñánh giá bản thân ñã ñược nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ
XIX Một trong những người ñầu tiên nghiên cứu về tự ñánh giá bản thân là
William James Phân tích những trải nghiệm của khách thể và tầm quan trọng
của cái Tôi, tác giả kết luận rằng: những thành tích ñạt ñược trong những lĩnh
vực hoạt ñộng nào ñó và những nguyện vọng có ý nghĩa quan trọng tới sự ñánh
gía bản thân Trong hoạt ñộng người ta luôn so sánh thành tích ñạt ñược với
nguyện vọng ñề ra Nếu thành tích của hoạt ñộng ñạt ñược như nguyện vọng cá
nhân ñề ra thì sẽ có sự tự ñánh giá bản thân cao; nếu có sự chênh lệch thì sự
ñánh giá là thấp hơn Theo James thì sự tự ñánh giá bản thân=Thành công/khả
năng
Nhà xã hội học G.H.Mead thì cho rằng nguyên nhân của quá trình cá nhân
gia nhập vào nhóm xã hội là do cá nhân nội tâm hóa những ý tưởng và thái ñộ
ñược thể hiện bởi những nhân vật quan trọng trong cuộc sống của cá nhân ñó,
chấp nhận chúng (một cách vô thức) và thể hiện chúng ra ngoài nhơ là cái riêng
của mình Cá nhân ñánh giá cao bản thân khi ñược những người khác chấp nhận;
ñánh giá thấp và hạ mình xuống khi họ bác bỏ, từ chối hoặc hạ thấp người ñó
Cá nhân từng bước trở thành một con người xã hội trong trải nghiệm riêng của
mình và cư xử với bản thân theo kiểu như vậy, khi ñó cá nhân cố gắng hình
dung bản thân như các giá trị và tính cách mà những người khác quy cho họ