1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến thực trạng hoạt Động giải trí trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên trong thời gian hiện nay

37 455 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 503,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó còn là sự xuất hiện những tệ nạn xã hội núp bóng các hoạt ñộng vui chơi giải trí của thanh niên… Nghiên cứu về nhu cầu giải trí của thanh niên một mặt cho chúng ta thấy thanh niên ngà

Trang 1

Từ xưa ñến nay, lao ñộng luôn là hoạt ñộng cần thiết của con người nhằm tạo

ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu sinh tồn của cá nhân và xã hội Trong quá trình

lao ñộng, con người luôn cần có sự ñầu tư thời gian và công sức ñể có thể ñạt hiệu

quả cao nhất Sự cố gắng ñó ñôi khi khiến con người rơi vào trạng thái căng thẳng,

mệt mỏi, gây ảnh hưởng không tốt ñến kết quả lao ñộng trong thời gian tiếp theo

của họ Chính vì thế, giải trí ñã trở thành nhu cầu của mọi cá nhân, nhóm xã hội

nhằm lấy lại sự thăng bằng sau thời gian lao ñộng cần thiết của mỗi người Giải trí

giúp các thành viên xã hội xoá tan ñi cảm giác mệt mỏi, tái sản xuất sức lao ñộng

của họ, khiến cho quá trình sản xuất, cống hiến của họ không bị gián ñoạn Nói

như vậy ñể thấy vai trò của giải trí là rất quan trọng trong ñời sống của mỗi cá nhân

xã hội

Sau hơn mười năm ñổi mới, nền kinh tế của nước ta ñã có nhiều biến chuyển

mạnh mẽ Thu nhập bình quân ñầu người tăng, mức sống của các gia ñình ñược cải

thiện, nhu cầu của cá nhân cũng ngày một cao hơn không chỉ là nhu cầu vật chất,

mà còn là nhu cầu văn hoá tinh thần Nó ñòi hỏi một sự ñáp ứng tốt nhất, kịp thời

nhất và có hiệu quả nhất

Thanh niên là những người chủ tương lai của xã hội Xã hội hiện ñại ñòi hỏi

ở họ khả năng tư duy, mong ñợi ở họ sự cố gắng không ngừng ñể chiếm lĩnh thành

công trong học tập và công việc Nhu cầu giải trí trong thanh niên là vô cùng lớn,

nhất là thanh niên ñô thị nói chung, trong ñó có thanh niên Hà Nội

Có thể nói thanh niên Hà Nội hiện nay ñang hàng ngày hàng giờ tiếp cận với

những phương tiện thông tin ñại chúng hiện ñại, với Internet và rất nhiều loại hình

giải trí mà chỉ mới cách ñây một vài năm còn khá hiếm hoi Tính ña dạng của các

loại hình giải trí ñã khiến cho cơ hội lựa chọn xu hướng giải trí của thanh niên ñược

mở rộng hơn rất nhiều Tuy nhiên, việc sử dụng các loại hình này cũng như sự ñáp

Trang 2

ứng nhu cầu giải trí cho thanh niên vẫn còn nhiều bất cập Đó là sự thương mại hoá

các loại hình giải trí ở các thiết chế Nhà nước như sân vận ñộng, rạp hát… Đó cũng

là sự du nhập của những băng ñĩa ngoài luồng có nội dung không lành mạnh Đó

còn là sự xuất hiện những tệ nạn xã hội núp bóng các hoạt ñộng vui chơi giải trí của

thanh niên…

Nghiên cứu về nhu cầu giải trí của thanh niên một mặt cho chúng ta thấy

thanh niên ngày nay ưa chuộng loại hình giải trí nào, từ ñó có thể ñưa ra những

ñịnh hướng phù hợp ñối với họ - thế hệ tương lai của ñất nước; mặt khác cho biết

sự biến ñổi nhu cầu này trong thời gian qua

1 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

Không gian nghiên cứu: Hà Nội

Thời gian nghiên cứu: Tháng 7-10 năm 2006

2 Mục ñích nghiên cứu:

Nghiên cứu nhu cầu giải trí trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên (thông

qua việc khảo sát kết quả ñiều tra trong các nghiên cứu của các tác giả trước ñó)

Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn ñến thực trạng hoạt ñộng giải trí trong thời

gian nhàn rỗi của thanh niên trong thời gian hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

1 Lược thuật kết quả ñiều tra của các tác giả về nhu cầu và hoạt ñộng giải trí

của thanh niên trong thời gian nhàn rỗi

2 Phân tích các nguyên nhân dẫn ñến thực trạng nói trên

3 Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm giúp thanh niên lựa chọn loại

hình giải trí phù hợp

4 Phương pháp nghiên cứu:

1 Phương pháp phân tích tài liệu: Chúng tôi tiến hành phân tích các công

trình thực nghiệm, kết quả những ñề tài nghiên cứu liên quan, số liệu thống kê…

liên quan ñến thực trạng và sự biến ñổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội phục

vụ cho ñề tài

Trang 3

2 Phương pháp quan sát: được chúng tơi sử dụng để tìm hiểu và đánh giá

thực trạng và sự biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội trong thời gian vừa

qua

3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tơi tiến hành phỏng vấn sâu 6 đối

tượng là đồn viên thanh niên Hà Nội nhằm tìm hiểu ý kiến của họ về cách thức

giải trí của họ, cũng như nhận định của họ về sự biến đổi nhu cầu giải trí của thanh

niên trong thời gian vừa qua

Trang 4

NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA THANH

NIÊN

1 Nhu cầu

Theo từ ñiển tóm tắt Xã hội học (tiếng Nga) “Nhu cầu là ñòi hỏi ñiều gì ñó

cần thiết ñể ñảm bảo hoạt ñộng sống của cơ thể, của nhân cách con người, của

nhóm xã hội hoặc toàn xã hội nói chung, là nguồn thôi thúc nội tại của hoạt ñộng”

Khái niệm trên cho thấy nhu cầu mang tính sinh học, nhằm ñáp ứng những

ñòi hỏi của sự phát triển sinh học của con người, song mặt khác nhu cầu cũng mang

tính xã hội thể hiện ở chỗ dù là của riêng cá nhân nhưng nhu cầu chỉ có thể ñược

ñáp ứng nhờ nền sản xuất xã hội Nhu cầu của con người là giống nhau nhưng ở

mỗi thời ñại, mỗi xã hội lại ñáp ứng chúng theo các cách khác nhau Nhu cầu còn

ñược ñáp ứng trong khuôn khổ của phong tục tập quán cộng ñồng và bị quy ñịnh

bởi văn hoá cộng ñồng

Có nhiều loại nhu cầu, các loại nhu cầu khác nhau không tồn tại ñơn lẻ, tách

rời mà nằm trong mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc tương tác lẫn nhau trong một

chỉnh thể thống nhất Nhu cầu giải trí là một nhu cầu thiết yếu của con người nằm

trong hệ thống ñó

2 Thời gian rỗi:

K.Marx ñã chia thời gian của con người ra làm hai loại: thời gian lao ñộng và

thời gian tự do Thời gian lao ñộng là khoảng thời gian dành cho những hoạt ñộng

thuộc lao ñộng sản xuất nhằm ñảm bảo sự sống còn cá nhân Đây còn là thời gian

dành cho việc giải quyết các nhu cầu ăn, mặc, ở Như vậy, thời gian lao ñộng tức là

khoảng thời gian ñáp ứng các nhu cầu sinh tồn của con người Ngược lại, thời gian

tự do là khoảng thời gian còn lại ngoài thời gian lao ñộng, dành cho những hoạt

ñộng mà cá nhân có quyền tự quyết ñịnh

Trang 5

Như vậy, tuy chưa sử dụng khái niệm thời gian rỗi, Marx cũng ñã từng coi

thời gian tự do là khoảng thời gian dành cho sự thoải mái, cho giải trí và mở ra một

khoảng trời cho những hoạt ñộng tự do và sự phát triển

Theo Từ ñiển tóm tắt Xã hội học (tiếng Nga), thời gian rỗi ñược coi là khái

niệm ñồng nghĩa với thời gian tự do, nghĩa là “phần thời gian ngoài lao ñộng của cá

nhân (nhóm xã hội) còn lại sau khi ñã trừ ñi chi phí thời gian cho những hoạt ñộng

cần thiết không thể thiếu” Sự xuất hiện và phát triển khái niệm thời gian rỗi cũng

ñược từ ñiển này quan niệm với tư cách là một bộ phận cấu thành trong cơ cấu của

thời gian tự do

Tóm lại có thể hiểu thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong ñó con người

không bị thúc bách bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ

khách quan nào Nó ñược dành cho các hoạt ñộng tự nguyện theo sở thích của chủ

thể nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người

Chúng ta có nhiều cấp ñộ thời gian rỗi khác nhau như thời gian rỗi cấp ngày,

thời gian rỗi cấp tuần, thời gian rỗi cấp kì, dịp, thời gian rỗi cấp năm, thời gian rỗi

cấp ñời người

Thời gian rỗi ñối với các cấp ñộ khác nhau cho phép con người thực hiện

những hoạt ñộng giải trí khác nhau Vì thế khi nghiên cứu về nhu cầu giải trí không

thể không nghiên cứu theo các cấp ñộ thời gian rỗi này

3 Giải trí

Theo từ ñiển xã hội học “Giải trí là một dạng hoạt ñộng của con người, ñáp

ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học”

và “giải trí không phải là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của ñời sống

cộng ñồng”

Giải trí không ñối lập và tách rời với lao ñộng cũng như lao ñộng, giải trí là

một bộ phận cấu thành của hoạt ñộng sống của con người Nó là dạng hoạt ñộng

hoàn toàn tự do mà cá nhân có toàn quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ

hệ thống chuẩn mực xã hội Nó ñồng thời cùng là hoạt ñộng không vụ lợi, nhằm

Trang 6

mục ñích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần ñể ñạt sự thư giãn, thanh thản trong tâm

hồn, và cao hơn nữa là ñạt tới những rung cảm thẩm mỹ của cá nhân như thưởng

thức nghệ thuật, chơi các trò chơi, sinh hoạt tôn giáo… là hoạt ñộng giải trí và thời

gian rỗi dành cho giải trí ñược gọi là thời gian rỗi

4 Nhu cầu giải trí

Giải trí là nhu cầu của con người vì nó ñáp ứng những ñòi hỏi bức thiết của

cá nhân, nếu thiếu nó thì sự phát triển của cá nhân không thể ñầy ñủ và toàn diện

Sau thời gian lao ñộng mệt mỏi và căng thẳng, các hoạt ñộng giải trí trở nên vô

cùng cần thiết cho việc tái sản xuất sức lao ñộng của con người Nhu cầu giải trí là

ñộng cơ của hoạt ñộng giải trí

Giải trí là hoạt ñộng thẩm mỹ diễn ra trong thời gian nhàn rỗi, mà thời gian

rỗi có những cấp ñộ khác nhau cho nên hoạt ñộng giải trí cũng ñược phân theo

những cấp ñộ tương ứng như giải trí cấp ngày, giải trí cấp tuần, giải trí cấp năm

Trong xã hội hiện ñại, thời gian rỗi có xu hướng gia tăng nên nhu cầu giải trí cũng

trở nên phong phú và ña dạng hơn

Đối với Việt Nam, từ tháng 1/1999 nhờ có chế ñộ làm việc 5 ngày/ tuần, thời

gian rỗi cấp tuần chiếm phần ña số tuyệt ñối trong quỹ thời gian rỗi của công chức

nhà nước Ví dụ với năm 2000, tổng số ngày nghỉ cuối tuần: 106 ngày, các ngày

nghỉ khác: 10 ngày, ngoài ra còn nghỉ phép 15 ngày (ñối với cán bộ công nhân

viên), nghỉ hè 60 ngày (ñối với sinh viên và giáo viên cao ñẳng, ñại học) hoặc 90

ngày (ñối với học sinh, giáo viên phổ thông) Chính những khác biệt về quy mô

thời gian nhàn rỗi như trên ñã dẫn tới những thay ñổi trong cơ cấu hoạt ñộng giải trí

của những ñối tượng này

5 Thanh niên Hà Nội

Khái niệm thanh niên Hà Nội trong chuyên ñề này ñược hiểu là những người

từ 15 - 30 tuổi, ñang sinh sống, học tập hoặc làm việc ổn ñịnh trong các ngành dân

sự, ñược phép ñăng kí hộ khẩu hoặc ñược tạm trú dài hạn tại nội thành Hà Nội

Theo cách hiểu này, thanh niên Hà Nội gồm cả người nơi khác về Hà Nội sinh sống

Trang 7

lâu dài hoặc ngắn hạn (một vài năm, ví dụ như sinh viên) Tuy nhiên khái niệm

thanh niên Hà Nội không bao gồm những thanh niên sống tại Hà Nội một cách tạm

thời hoặc theo thời vụ (ví dụ như thanh niên nông thôn về tìm việc trong dịp nông

nhàn) Những thanh niên ñang phục vụ trong các lực lượng vũ trang cũng không

thuộc diện ñối tượng nghiên cứu Về nơi cư trú, tác giả chỉ xem xét những thanh

niên sống trong nội thành Hà Nội, ñây ñược xem là khu vực có nhiều loại hình hoạt

ñộng giải trí hơn

II NHU CẦU GIẢI TRÍ VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI NHU CẦU GIẢI TRÍ

TRONG THỜI GIAN NHÀN RỖI CỦA THANH NIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 Nhu cầu và hoạt ñộng giải trí trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên

Như trên ñã nói, giải trí trong thời gian nhàn rỗi ñóng vai trò quan trọng

trong việc tái sản xuất sức lao ñộng của con người Mỗi cá nhân, nhóm xã hội lại có

nhu cầu giải trí ở mức ñộ khác nhau, do quỹ thời gian rỗi, sở thích của cá nhân,

nhóm… ñó quy ñịnh Theo các nhà văn hoá học, thời gian nhàn rỗi ñược chia làm

nhiều cấp ñộ, trong ñó, 3 cấp ñộ thường ñược nhắc ñến nhất là thời gian nhàn rỗi

cấp ngày, cấp tuần và cấp năm Dưới ñây chúng ta sẽ cùng xem xét nhu cầu và hoạt

ñộng giải trí của thanh niên Hà Nội theo 3 cấp ñộ thời gian nhàn rỗi này

a Hoạt ñộng giải trí trong thời gian nhàn rỗi cấp ngày của thanh niên Hà Nội

“Giải trí ñối với trẻ em là sự lớn lên, là sự vươn tới cuộc sống Còn ñối với

người lớn, ñó là sáng tạo, là sự ñổi mới cuộc sống” Như vậy giải trí không ñơn

thuần chỉ là giải toả căng thẳng, lấy lại sự cân bằng cho trí não, mà giải trí thực sự

là sự ñổi mới cuộc sống diễn ra ñều ñặn hàng ngày của con người, ñặc biệt ñối với

ñối tượng thanh niên, lứa tuổi ñang có những biến ñổi lớn về tâm - sinh lý, về nhân

cách thì giải trí ñối với họ càng cần thiết hơn bao giờ hết

Tính ñến thời ñiểm năm 2005, các loại hình giải trí giành cho thanh niên

ngày càng trở nên phong phú, ña dạng hơn, ñặc biệt là thanh niên ở thủ ñô Hà Nội

Bên cạnh các loại hình giải trí cũ còn xuất hiện khá nhiều những loại hình mới (như

chat trên mạng Internet, chơi games, ñánh tennis, chơi bowling, hát karaoke, hoặc

Trang 8

“nấu cháo ñiện thoại”…) Nếu như vào thời kỳ trước ñổi mới năm 1986, các loại

hình vui chơi giải trí chỉ có ñược thông qua các trang báo (số lượng ñầu báo cũng

rất hạn chế), qua các dịp lễ hội, qua việc gặp mặt bạn bè… thì ñến khoảng ñầu thập

niên 90 của thế kỷ XX, báo chí, truyền hình, phát thanh… ñã trở nên ngày càng phổ

biến hơn, các kênh truyền hình không ngừng có những cải tiến lớn nhằm ñáp ứng

tốt hơn nhu cầu của công chúng Năm 2000, Internet trở thành phổ biến khi bùng

nổ các ñiểm dịch vụ trên toàn quốc Đến nay, tại Hà Nội cũng như các thành phố

lớn khác những tấm biển báo của dịch vụ Internet xuất hiện ở mỗi góc phố, thậm

chí trong những ngõ hẻm Điều ñó ñã góp phần làm phong phú hơn các hoạt ñộng

giải trí trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên bởi bản thân thanh niên là tầng lớp

hết sức nhanh nhạy, dễ thích ứng với những ñiều mới lạ

Giải trí cấp ngày diễn ra trong thời gian rỗi cấp ngày, nghĩa là khoảng thời

gian còn lại sau khi ñã trừ ñi các hao phí thời gian cho việc lao ñộng (hoặc học tập),

việc gia ñình, việc riêng (vệ sinh thân thể, chăm sóc sắc ñẹp…), ngủ, ăn uống, nghỉ

ngơi Dưới ñây là bảng các hoạt ñộng trong thời gian nhàn rỗi cấp ngày của thanh

niên Hà Nội theo nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Tá

a Bảng 1: Hoạt ñộng giải trí trong thời gian rỗi cấp ngày 1

Hình thức hoạt

ñộng giải trí

Tỷ lệ và mức ñộ tham gia Năm 1996 Năm 2000

Trang 9

Bảng trên cho thấy nếu như năm 1996 thứ tự ưu tiên của các loại hình giải

trí là ñọc sách báo, sau ñó là xem T.V, rồi ñến tiếp bạn bè, thì ñến năm 2000, trật

tự ưu tiên ñã có nhiều biến ñổi khác biệt: vị trí số 1 thuộc về hình thức nghe nhìn

qua T.V, nghe nhạc chiếm vị trí thứ 2, sau ñó là chơi thể thao, ñọc sách báo, và

cuối cùng là tiếp bạn Do số mẫu chọn nghiên cứu trong hai năm là không ñồng

nhất nên việc xem xét chỉ thông qua sự sắp xếp thứ tự loại hình giải trí ñược ưa

thích

Như vậy, T.V ñã trở thành phương tiện giải trí khá thông dụng, thu hút tỷ lệ

33.93% số người ñược hỏi Năm 2000, loại hình giải trí xem T.V thực tế ñã “tiếm”

ngôi ñầu bảng của việc ñọc sách báo vốn giữ vị trí số 1 vào năm 1996 Về nguyên

nhân lý giải hiện tượng này, nhiều ý kiến phỏng vấn sâu cho rằng có thể nói do

thanh niên Hà Nội ngày nay hầu như có rất ít thời gian vui chơi giải trí, tiếp cận

thông tin, song họ lại có mong muốn ñược liên tục cập nhật thông tin, và T.V

chính là phương tiện hữu ích ñáp ứng nhu cầu ñó của họ Thêm vào ñó, nội dung

chương trình T.V ngày càng trở nên phong phú ña dạng hơn với nhiều kênh truyền

hình ñặc sắc và mang tính “chuyên môn hoá” cao ñộ, như VTV1 chứa những

thông tin tổng hợp, VTV2 có nội dung khoa học và giáo dục, VTV3 chuyên về văn

hoá thể thao giải trí… Rất nhiều trò chơi ñã ñược ñưa lên truyền hình, thu hút ñông

ñảo bạn xem truyền hình như trò chơi: “Đường lên ñỉnh Olympia”, “ở nhà chủ

nhật” Thời lượng phát sóng tăng lên ñáng kể khiến cho mọi ñối tượng trên cả

nước ñều có cơ hội ñược tiếp cận với truyền hình Theo một ý kiến phỏng vấn sâu:

“Tôi rất ngại ñọc báo, vì nếu ñọc thì mất thời gian, trong khi không phải ngày nào

cũng có thể mua ñược báo ñể cập nhật thông tin, chính vì thế tôi chọn xem T.V, vì

có thể vừa xem vừa ăn cơm cùng cả nhà, hơn nữa ngày nào biết thông tin của ngày

ấy” Rõ ràng, T.V tỏ ra có ưu thế hơn hẳn so với sách báo trong việc cập nhật

thông tin hàng ngày cho thnah niên Hơn thế, một ý kiến khác cho biết: “Năm

1996 số gia ñình có T.V, dù là gia ñình ñó ở Hà Nội, cũng ít hơn thời ñiểm năm

2000, vì thế người ta ñọc báo nhiều hơn xem T.V vào năm 1996 là tất nhiên”

Trang 10

Nếu như trong nghiên cứu năm 1996, số liệu về những người ưa thích nghe

nhạc còn chưa xuất hiện thì ñến năm 2000 nó ñã vượt lên xếp vị trí số 2 Giải thích

hiện tượng trên có thể thấy nó có mối quan hệ mật thiết với sự có mặt ngày càng

phổ biến của thị trường ñầu máy CD, VCD, DVD… và thị trường băng ñĩa ca

nhạc Qua quan sát có thể thấy nếu như vào năm 1996, số lượng các gia ñình sử

dụng dàn máy nghe ñĩa còn khá hiếm hoi, thì ñến năm 2000, con số ñã tăng nhanh

ñáng kể theo ñà phát triển của nền kinh tế - xã hội, dàn máy nghe ñĩa ñã trở thành

phương tiện giải trí khá thông dụng trong hầu hết các gia ñình ở Hà Nội Băng ñĩa

nhạc ñược sản xuất ồ ạt, bao gồm cả nhạc trong nước và nhạc quốc tế Nếu như ở

thời ñiểm năm 1996, việc mua một ñĩa VCD ưng ý là vô cùng khó khăn, thì ñến

năm 2000, thị trường băng ñĩa nhạc Trung Quốc có thể ñáp ứng mọi yêu cầu của

người mua với mức giá khá rẻ (khoảng 9.000ñ - 20.000ñ/ñĩa) Hơn thế nữa, sự có

mặt của chương trình “MTV ca khúc quốc tế” phát trên truyền hình cũng góp phần

phổ biến, “quảng cáo” cho nhạc trẻ quốc tế, làm xuất hiện và gia tăng nhu cầu giải

trí bằng hình thức nghe nhạc trong tầng lớp thanh niên thủ ñô Các kênh truyền

thanh của ñài tiếng nói Việt Nam cũng xuất hiện nhiều chương trình ca nhạc hấp

dẫn với những người dẫn chương trình thu hút ñược nhiều cảm tình của thanh niên,

như chương trình “MTV most wanted”, hay chương trình “Ca khúc Việt Nam chọn

lọc”… cũng là những nhân tố không nhỏ trong việc làm cho nhu cầu nghe nhạc

của thanh niên gia tăng ñáng kể trong thời gian 1996 - 2000

Loại hình giải trí thứ 3 ñược ưa thích là hoạt ñộng thể thao Điều này ñược

nhiều bạn trẻ lý giải nguyên nhân chủ yếu là do thanh niên Hà Nội ñã thực sự coi

thể thao là một loại hình giải trí, thư giãn, khoảng thời gian từ năm 2000 hầu như

ñã ñánh dấu sự hình thành một phong trào tập luyện thể thao trong thanh niên Một

nguyên nhân khác có thể thấy là họ coi chơi thể thao là một hình thức tập luyện ñể

có một sức khoẻ dẻo dai hơn

Đọc sách báo bị giảm từ vị trí số 1 trong năm 1996 xuống vị trí thứ 4 trong

năm 2000 Điều này có thể ñược lý giải là vào thời ñiểm năm 1996 các loại hình

Trang 11

giải trí khác còn chưa ñược phổ biến so với các loại hình có ñược bằng phương

tiện ñọc là sách báo Nhưng ñến năm 2000, ưu ñiểm của sách báo ñã phải nhường

chỗ cho các loại hình nghe nhìn Tính “kén ñộc giả” của sách báo, và hơn nữa ñể

tiếp cận thông tin từ sách báo cần phải có một lượng thời gian rất lâu dài cũng

khiến cho thanh niên không còn ưa thích sách báo như ở thời ñiểm năm 1996 Việc

giá thành của sách báo, tạp chí cao cũng là một nguyên nhân không nhỏ lý giải cho

sự “ tụt hạng” của loại hình giải trí này so với loại hình giải trí rẻ hơn, lại tiện ích

hơn là các phương tiện thông tin ñại chúng khác Một ý kiến phỏng vấn sâu cho

biết: “Tôi rất muốn có một giá sách ñầy ñủ các cuốn sách truyện mà mình thích,

nhưng hình như càng ngày sách càng ñắt hơn, tôi không thể mua nổi”

Hình thức giải trí tiếp bạn bè vẫn ổn ñịnh ở thứ hạng cuối cùng trong thang

bậc các loại hình giải trí ñược ưa thích Theo nhiều ý kiến phỏng vấn sâu thì thông

thường, thanh niên chỉ tìm ñến bạn bè khi có chuyện không vui, hoặc khi có các

loại hình giải trí tập thể khác (như sinh nhật, hoặc ñi picnic…), và vì lí do này mà

các hoạt ñộng tiếp bạn bè không trở thành thường xuyên trong thanh niên Hà Nội

Như vậy, quan bảng kết quả ñiều tra về sự biến ñổi các loại hình giải trí của

thanh niên Hà Nội trong thời gian nhàn rỗi 1996-2000, có thể thấy rõ ràng xu

hướng sử dụng thời gian nhàn rỗi của thanh niên Hà Nội hiện nay là gắn với những

hoạt ñộng nhằm thu ñược nhiều thông tin trong một khoảng thời gian ngắn Điều

này tỏ ra hoàn toàn phù hợp với lối sống nhanh nhạy, hiện ñại của thanh niên khi

bước vào thế ký XXI

Những tổng kết trên ñây của tác giả Phan Thanh Tá chỉ cho thấy nhu cầu và

hoạt ñộng giải trí trong thời gian rỗi của thanh niên Hà Nội ñến thời ñiểm năm

2000 Theo nghiên cứu mới ñây của tác giả Đinh Triết, trong thời gian rỗi cấp

ngày, những hình thức giải trí phổ biến nhất của thanh niên Hà Nội là (theo thứ tự)

là xem ti vi, nghe nhạc, chơi các môn thể thao phổ thông hoặc ñọc sách báo Tỷ lệ

thấp hơn một chút là ñi chơi với bạn bè Nhìn chung hoạt ñộng giải trí ñược thanh

niên Hà Nội ưa thích nhất là “xem ti vi” Và hai chương trình họ thường xem nhất

Trang 12

là chương trình giải trí và phim Bên cạnh ti vi là ñầu ñĩa và với hàng ngàn cửa

hàng bán và cho thuê băng ñĩa ở Hà Nội thì nhu cầu xem băng ñĩa của người dân

Hà Nội ñược thỏa mãn một cách dễ dàng2

Đối với việc nghe nhạc như một loại hình giải trí của thanh niên, những thể

loại âm nhạc càng phổ thông (pop/rock) hoặc càng ñơn giản và sôi ñộng (nhạc trẻ)

càng có tỷ lệ thanh niên ưa thích cao3 vì chúng phù hợp ñặc ñiểm tâm lý lứa tuổi

của họ Nhạc cổ ñiển - thể loại âm nhạc bác học - hầu như chưa ñạt ñược sự quan

tâm của thanh niên Hà Nội, bởi nó cần một tri thức âm nhạc tương ñối cao mà mặt

bằng dân trí Việt Nam chưa thể có ñược Nhạc truyền thống dân tộc chỉ chiếm một

tỷ lệ khiêm tốn trong sự ưa thích của thanh niên có lẽ vì tiết tấu chậm rãi và những

ca từ ñược thả âm nhấn nhá của nó không bắt kịp nhịp sống nhanh vội, gấp gáp và

có phần “ñơn giản hóa” của thanh niên hiện nay Trong khi ñó, nhạc cách mạng

ñược một bộ phận ñáng kể thanh niên Hà Nội ưa thích và thường nghe như những

ca khúc giải trí Điều này gợi ý rằng, mọi lĩnh vực của cuộc sống (kể cả lĩnh vực

chính trị vốn bị coi là khô cứng), nếu ñược “âm nhạc hóa” một cách thích hợp, ñều

có thể ñược chuyển tải tới thanh niên một cách nhẹ nhàng và hữu hiệu

Các hoạt ñộng thể thao sau giờ làm việc dường như ñã trở thành hoạt ñộng

không thể thiếu sau quá trình lao ñộng, học tập của không chỉ thanh niên mà còn

ñối với các giai tầng khác trong xã hội Trong nghiên cứu của mình, tác giả Đoàn

Minh Châu ñã nhận thấy ñây là hoạt ñộng chiếm vị trí thứ ba trong cơ cấu các hoạt

ñộng giải trí trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên Hà Nội hiện nay

Hoạt ñộng thứ tư trong thời gian rỗi cấp ngày của thanh niên Hà Nội là “ñọc

truyện, sách báo” Đây là sở thích "cổ ñiển" của nhiều tầng lớp xã hội, nhất là thanh

niên Ở ñây không ñề cập tới nhu cầu ñọc với mục ñích học tập, nâng cao kiến thức

mà chỉ xem xét nhu cầu ñọc giải trí Xét từ góc ñộ này, những loại sách báo mà

thanh niên Hà Nội ñọc giải trí là truyện Việt Nam, truyện nước ngoài, báo Tiền

2

Đinh Triết 1999 “Chính sách và cơ chế tài chính ñối với hoạt ñộng ñiện ảnh”, Văn hóa nghệ thuật, (2), tr.14

3

Đoàn Minh Châu (1998), Nâng cao hiểu biết về văn hóa truyền thống ñể xây dựng bản lĩnh văn hóa cho thanh niên

Hà Nội trong bối cảnh giao lưu - hội nhập quốc tế hiện nay, Báo cáo ñề tài NCKH cấp thành phố

Trang 13

phong, Tuổi trẻ, báo An ninh4 Đối với báo, thanh niên Hà Nội có xu hướng ưa

chuộng những báo phổ thông, những thông tin ñời thường cụ thể, tính giải trí cao,

không ñòi hỏi phải suy ngẫm, tìm hiểu

Cho ñến thời ñiểm hiện nay, có thể nhận thấy nhu cầu giải trí của thanh niên

Hà Nội trong thời gian nhàn rỗi cấp ngày không thực sự quá khác biệt so với thời

ñiểm năm 2000, 2001 Sự khác biệt lớn nhất, có chăng là việc họ có thêm một dạng

thức giải trí mới - truy cập Internet, lướt web Mạng Internet ñã cung cấp cho thanh

niên một phương tiện thông tin mới, nhanh nhạy hơn, cập nhật hơn và giúp họ có

những hiểu biết toàn diện hơn về cuộc sống hiện ñại Điều ñó có nghĩa là, thanh

niên Hà Nội hiện nay vẫn ổn ñịnh với xu hướng thiên về việc tiêu thụ những sản

phẩm nghe nhìn tại chỗ và các hoạt ñộng thể thao Những hoạt ñộng khác như

thưởng thức nghệ thuật tại các thiết chế văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim…), sáng

tạo nghệ thuật không chuyên (câu lạc bộ sở thích) ít ñược thực hiện hơn

b Hoạt ñộng giải trí trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần của thanh niên Hà Nội

Mặc dù mỗi ngày con người ñều có khoảng thời gian nhất ñịnh tái sản xuất

sức lao ñộng song các hoạt ñộng giải trí cấp ngày là những hình thức quen thuộc

(mà do ñiều kiện thời gian rỗi cấp ngày hạn chế khó thay ñổi ñược), do ñó nó

dường như ñã tạo ra những nhàm chán, giảm hiệu quả giải trí Điều này ñòi hỏi một

sự thay ñổi ñể gây hưng phấn thực sự cho trí não, giúp nó ñủ sức ñón nhận một kỳ

làm việc dài ngày tiếp theo Đó chính là chức năng của giải trí cấp tuần

Theo kết quả ñiều tra của tác giả Phan Thanh Tá, hoạt ñộng giải trí của thanh

niên trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần cũng có những biến ñổi khá mạnh mẽ trong

thời gian 1996-2000

b Bảng 2 : Hoạt ñộng giải trí trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần 5

Hình thức hoạt ñộng giải trí

Tỷ lệ và thứ tự tham gia Năm 1996 Năm 2000

Trang 14

Bảng 2 cho thấy: Nếu như vào năm 1996 thứ tự ưa thích của các hoạt ñộng giải trí

ñược sắp xếp theo : Xem phim, ca nhạc ñứng ở vị trí thứ 1, vị trí thứ 2 thuộc về

tham quan, du lịch, thứ 3 là ñi chơi với bạn bè, dạo chơi xếp vị trí thứ 4; thì ñến

năm 2000, trật tự ưa thích ñã có nhiều khác biệt, sắp xếp lần lượt theo: 1/ Đi chơi

với bạn bè, 2/ Tham quan, du lịch, 3/ Làm những việc ưa thích, 4/ Chơi thể thao, 5/

Xem phim, ca nhạc, và thứ 6 là dạo chơi

Cũng sử dụng nguồn số liệu nêu trên, tác giả Đinh Thị Vân Chi cho biết

trong hai ngày cuối tuần, thanh niên Hà Nội thường giải trí ngoài trời như ñi chơi

với bạn bè, dã ngoại, làm những việc ưa thích hoặc chơi thể thao

Thứ nhất, “ñi chơi với bạn bè” thực chất là giải trí với nhóm sở thích Đây là

môi trường xã hội hóa rất tự nhiên và hiệu quả, thông qua tương tác liên cá nhân

Hình thức “ñi chơi với bạn bè” bao gồm nhiều hoạt ñộng ña dạng như ñi uống cà

phê, ñi giải khát, ăn kem, ăn quà… của các nhóm có cùng sở thích, ñặc biệt là học

sinh PTTH Tại các thiết chế văn hoá như rạp hát, các hoạt ñộng như ñi xem phim,

ca nhạc, sân khấu chưa thực sự ñược thanh niên Hà Nội ưa thích Điều này có thể

lý giải do sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông và ñầu ñĩa tỏ ra phù hợp

hơn với thị hiếu và khả năng thụ hưởng sản phẩm văn hoá của thanh niên Tuy

nhiên số liệu ñiều tra của ngành ñiện ảnh gần ñây cho thấy: số người thích xem

phim không hề giảm, thậm chí sở thích ñối với các loại phim có thay ñổi theo chiều

Trang 15

hướng chúng ta mong ñợi6 Nhưng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật tại các thiết chế

văn hóa không tồn tại biệt lập mà thường ñan xen với các nhu cầu khác (giao tiếp

với bạn bè, trưng diện các trang phục mới…) Do vậy nếu các rạp không cùng lúc

thỏa mãn những nhu cầu ñó thì thanh niên sẽ chọn ñịa ñiểm khác (hình thức khác)

ñể thưởng thức nghệ thuật Bên cạnh xem phim là thưởng thức âm nhạc (nghe

nhạc, xem biểu diễn ca nhạc, hát karaoke…) Trong ñó hát karaoke và hát tại các

quán cà-phê - nhạc không ñơn thuần là một hình thức giải trí mà còn là một phương

tiện thử nghiệm khả năng âm nhạc và tự thể hiện Ngoài ra hoạt ñộng “ñi chơi với

bạn bè” ở cấp tuần còn thể hiện qua việc ñi câu cá giải trí hay dạo chơi, ñến với

thiên nhiên…dưới những hình thức rất ña dạng

Loại hình hoạt ñộng giải trí thứ hai trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần mà

thanh niên thường tham gia là những cuộc dã ngoại Trong dịp cuối tuần, các

chuyến ñi thường gói gọn trong ngày, ñôi khi cũng có những chuyến ñi qua ñêm

do gia ñình hoặc tập thể tổ chức nhưng nhiều hơn cả là do thanh niên tự tổ chức

Qua quan sát có thể thấy ña số thanh niên ñi du lịch nhằm giải toả, “xả hơi” sau

một tuần làm việc căng thẳng Mục ñích ñi du lịch của họ khá ñơn giản, họ cho

rằng ñây là dịp ñể họ gặp mặt bạn bè Đi du lịch với họ không nhất thiết xuất phát

từ mong muốn tìm hiểu, khám phá tự nhiên và văn hoá, nên việc tổ chức cũng

tương ñối gọn nhẹ Đến năm 2000, khả năng ñi tham quan, du lịch của thanh niên

còn tỏ ra dễ dàng hơn, do họ có tới 2 ngày nghỉ cuối tuần, thay cho chỉ có 1 ngày ở

thời gian trước kia

Hoạt ñộng giải trí thứ ba mà thanh niên Hà Nội thường tham gia trong thời

gian rỗi cấp tuần là làm những việc ưa thích: vẽ, làm thơ, may vá, nội trợ, hoặc “ñi

dạo” siêu thị… Thanh niên ñặc biệt coi ñây là một loại hình giải trí thiết thực, giúp

họ thể hiện ñược khả năng sáng tạo của mình mà trong những ngày bận rộn với

công việc họ ñã phần nào xao nhãng

6

Phùng Anh Thơ (1998) “Mấy vấn ñề của ñiện ảnh Việt Nam, Ấn tượng và suy ngẫm…”, Văn hóa nghệ thuật, (2), tr

63 - 65

Trang 16

Xem phim ñã “tụt hạng” từ vị trí số 1 năm 1996 xuống vị trí thứ 5 năm

2000 Lý giải ñiều này có ý kiến cho rằng ñó là do sự giảm sút chất lượng của các

loại hình nghệ thuật ñược trình chiếu ở rạp hát, rạp chiếu phim…, trong khi khán

giả trẻ tuổi ở thủ ñô ngày càng trở nên khó tính hơn trong việc thưởng thức các

loại hình nghệ thuật này Theo một ý kiến phỏng vấn sâu: “Các rạp chiếu phim như

rạp Dân chủ, trung tâm chiếu phim Quốc gia… giờ ñây ña số chiếu các phim của

nước ngoài nên ñôi khi mong muốn ñược thưởng thức một bộ phim trong nước

cũng cảm thấy quá khó khăn” Một ý kiến khác cho rằng: “Bây giờ các chương

trình phát trên T.V theo dõi còn không “xuể”, nói gì ñến việc ñi xem ở rạp?” Hơn

nữa, thị trường băng ñĩa ngày nay cũng ñáp ứng khá ñầy ñủ nhu cầu mua ñĩa phim,

ca nhạc của bạn trẻ, thể loại lại vô cùng phong phú Một bạn nói: “Đi ñến rạp xem

phim thà mua ñĩa về nhà xem còn hơn, vừa không phải ra ngoài, vừa không mất

tiền mua vé, mà lại có thể xem ñược nhiều lần” Quả thật, thanh niên Hà Nội ngày

nay tỏ ra ưa thích việc tiếp cận phim ảnh tại nhà hơn là tại các ñịa ñiểm khác Một

lý do khác là họ có thể xem phim trực tiếp trên mạng Internet, mà Internet hiện

ñang có một sức lôi cuốn lớn ñối với các bạn trẻ thủ ñô Hơn thế, thanh niên Hà

Nội hiện nay còn bị cuốn hút bởi các loại hình giải trí khác, như chơi bowling,

hoặc tổ chức các ñợt ñi thăm quan tập thể…., vì thế họ có thể “bỏ quên” việc xem

phim ở rạp

Ngoài ra, trong thời gian rỗi cấp tuần, thanh niên Hà Nội còn tham gia các

hoạt ñộng thể thao thông thường So với cấp ngày thời gian và ñịa ñiểm hoạt ñộng

thể thao cấp tuần không có gì khác, ñiều khác biệt duy nhất là vào cuối tuần các

hoạt ñộng này ít bị hạn chế về thời gian và thường ñông người tham gia hơn H×nh

thøc d¹o ch¬i tá ra kÐm hÊp dÉn, biÓu hiÖn qua thø bËc xÕp h¹ng cuèi cïng cña nã

Như vậy, bảng số liệu về việc sử dụng thời gian rỗi cấp tuần trong hoạt ñộng

vui chơi giải trí ñã cho thấy ưu thế rõ ràng ñã thuộc về các hoạt ñộng tập thể, mà

ñiển hình là việc ñi chơi với bạn bè, ñi tham quan, du lịch, những hoạt ñộng ngoài

trời, ñến với thiên nhiên Đây là ñiểm khác biệt cơ bản nếu so với khuôn mẫu giải

Trang 17

trớ cấp ngày Ở cấp tuần thanh niờn Hà Nội thể hiện rừ hơn sự năng ủộng vốn là ủặc

tớnh của tuổi trẻ Giải trớ cấp tuần dự diễn ra với tần suất thấp hơn cấp ngày nhưng

lại cú xu hướng trở thành khuụn mẫu ứng xử, khuụn mẫu văn húa chứ khụng ủơn

thuần là khuụn mẫu giải trớ Hoạt động cá nhân khá khiêm tốn và thiên về xu hướng

cá nhân chủ động tìm đến hoạt động giải trí được ưa thích nhiều hơn

Những xu hướng biến ủổi nhu cầu giải trớ của thanh niờn Hà Nội giai ủoạn

1996-2000 ủược trỡnh bày trờn ủõy tỏ ra khụng cú nhiều khỏc biệt so với thời ủiểm

từ năm 2000 ủến nay Cú nghĩa là trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần thanh niờn Hà

Nội vẫn dành nhiều thời gian giải trớ cho những hoạt ủộng tập thể, với những hoạt

ủộng thăm thỳ thiờn nhiờn Như một ý kiến phỏng vấn sõu cho biết: "Cả tuần ủó ủi

làm rồi khụng ủược gặp mặt bạn bố, ủến cuối tuần phải tranh thủ gặp chuyện trũ, ăn

uống thoải mỏi ủể ủến tuần sau lại tiếp tục làm việc" Gặp mặt bạn bố trong cỏc

buổi ủi chơi, dó ngoại dường như ủó trở thành nhu cầu ủối với thanh niờn Hà Nội

hiện nay

c Hoạt ủộng giải trớ trong thời gian nhàn rỗi cấp năm của thanh niờn Hà Nội

Giải trớ cấp năm diễn ra trong thời gian nhàn rỗi cấp năm Thời gian nhàn rỗi

cấp năm là khoảng thời gian con người ủược nghỉ ngơi dài ngày sau một năm lao

ủộng, ủể thay ủổi khụng khớ, thoỏt khỏi những lo toan, những khú khăn thường

ngày Thời gian rỗi cấp năm ủụi khi cũng là thời gian “buộc phải nghỉ” ủối với

những người quỏ say mờ làm việc, tỏch họ khỏi cụng việc vỡ lợi ớch của chớnh họ

Do ủú, hầu hết người lao ủộng tập thể ủều cú thời gian rỗi cấp năm thể hiện qua kỳ

nghỉ hàng năm

Đối với ủối tượng thanh niờn, phần ủụng trong số họ ủều cú một kỳ nghỉ

hàng năm (nghỉ hố ủối với học sinh, sinh viờn và nghỉ phộp ủối với những người ủó

ủi làm) Chỉ những người làm nghề tự do thỡ kỳ nghỉ này cú thể cú hoặc khụng

Nhưng dự cú kỳ nghỉ cố ủịnh hay khụng thỡ phần lớn thanh niờn Hà Nội ủều thu

xếp ủi nghỉ ủõu ủú (ủi tham quan, tắm biển) hoặc về quờ thăm họ hàng Đối với

hoạt ủộng này (khỏc với cỏc hoạt ủộng cấp ngày và tuần) ta thấy cú vai trũ tổ chức

Trang 18

của các cơ quan tập thể, chứ không chỉ gia ñình và nhóm sở thích Mỗi năm cơ

quan ñều có khoản kinh phí tổ chức ñi nghỉ tập thể cho nhân viên Hoạt ñộng này

ñã thành “truyền thống” như một tiêu chí ñánh giá sự chăm lo cuộc sống vật chất

và tinh thần cho nhân viên7

Nhìn chung, các hoạt ñộng giải trí cấp năm diễn ra không thực sự sôi nổi như

ñối với thời gian nhàn rỗi cấp ngày và cấp tuần Các hoạt ñộng hầu hết mang tính

tập thể cao, hoạt ñộng cá nhân diễn ra không thực sự phổ biến

d Sự biến ñổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội theo thời gian

Lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi nhanh nhạy với cái mới, họ năng ñộng và

mang nhiều nhiệt huyết với cuộc sống Đối với hoạt ñộng giải trí, có thể nói thanh

niên với cá tính sôi nổi của mình thực sự là tầng lớp ñi ñầu trong việc ñưa những

hoạt ñộng giải trí trở thành phổ biến hơn trong ñời sống xã hội Trong thời gian vừa

qua, chúng ta ñã chứng kiến nhiều sự ñổi thay trong các loại hình dịch vụ giải trí

Sự có mặt của chúng chính là lý do quan trọng khiến cho nhu cầu giải trí của thanh

niên biến ñổi theo Thêm vào ñó, những thành tựu kinh tế - xã hội của nước nhà ñã

khiến cho ñiều kiện vật chất ñược cải thiện, tạo tiền ñề quan trọng ñể thanh niên

ngày nay có thể thụ hưởng các hoạt ñộng giải trí mà trước ñây có phần còn xa lạ

ñối với thế hệ thanh niên ñi trước Tuy nhiên, có thể nhận thấy thời gian gần ñây,

những biến ñổi loại hình giải trí của thanh niên có phần chững lại, sự vận ñộng vẫn

ñang diễn ra, song mức ñộ và quy mô biến ñổi có phần suy giảm hơn so với khoảng

thời gian 1996-2000 Thực tế cho thấy các dịch vụ giải trí dường như cũng ñã ñạt

tới “ngưỡng” Như một ý kiến phỏng vấn sâu cho biết: “Mấy năm gần ñây tôi

không thấy có loại hình giải trí gì mới mẻ cả Chỉ thấy số ñầu sách nhiều hơn,

Internet phổ biến hơn, games online cũng phong phú hơn ( ) Thời gian trước ñây

sự biến ñổi cách giải trí diễn ra rõ ràng hơn Chẳng hạn tôi ñọc tin trên mạng thay

vì ñọc trên báo Còn bây giờ thì tôi có nhiều việc trên mạng hơn là chỉ ngồi ñể ñọc

tin như trước ñây” Một cách ñại thể, nếu nói theo quan ñiểm triết học, chúng ta có

7

Đinh Thị Vân Chi, Nhu cầu giải trí của thanh niên, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003 Tr 109

Ngày đăng: 13/01/2016, 00:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hỡnh vui chơi giải trớ chỉ cú ủược thụng qua cỏc trang bỏo (số lượng ủầu bỏo cũng - Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến thực trạng hoạt Động giải trí trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên trong thời gian hiện nay
nh vui chơi giải trớ chỉ cú ủược thụng qua cỏc trang bỏo (số lượng ủầu bỏo cũng (Trang 8)
Bảng 2 cho thấy: Nếu như vào năm 1996 thứ tự ưa thớch của cỏc hoạt ủộng giải trớ - Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến thực trạng hoạt Động giải trí trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên trong thời gian hiện nay
Bảng 2 cho thấy: Nếu như vào năm 1996 thứ tự ưa thớch của cỏc hoạt ủộng giải trớ (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w