1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂNLỰC ĐỂ GIẢM NGHÈO VÀ LÀM GIÀU BỀN VỮNG TRONGTHỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

14 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có hai vấn đề Việt nam đang gặp phải trong quá trình đổi mới và hội nhập: Một là: chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động so với các nước chung quanh, khoảng cách phát triển khôn

Trang 1

MÔN: X Ã HỘI HỌC NÔNG THÔN ỘI HỌC NÔNG THÔN H I H ỌC NÔNG THÔN C NÔNG THÔN

Đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ GIẢM NGHÈO VÀ LÀM GIÀU BỀN VỮNG TRONG

THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

(TRƯỜNG HỢP NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)

Hà nội – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

1 Đặt vấn đề 2

2 Các khái niệm liên quan 3

Nguồn nhân lực 3

Phát triển bền vững 3

T ng trăng trưởng ưởng 3ng Phát triển: 3

3 Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 4

4 Xu hướng phát triển nguồn nhân lực để giảm nghèo và làm giàu bền vững trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế 7

4.1 Thực trạng khuynh hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp của nông thôn Việt Nam 7

4.2 Xu hướng phát triển nguồn nhân lực 8

a, Về cơ cấu việc làm 8

b, Về chất lượng nguồn nhân lực 10

c, Về sự di chuyển của nguồn nhân lực 10

5 Kết luận 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

1 Đặt vấn đề

Từ khi Việt nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nước ta đã có những chuyển biến mới vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế, với việc tham gia nhiều tổ chức, đặc biệt là thành viên chính thức của WTO Đây là điều kiện thuận lợi thúc đẩy cho việc phát triển kinh tế, giao thương và tạo nhiều công ăn việc làm trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa

Biểu hiện của sự chuyển biến là sau 22 năm đổi mới, GDP tính theo đầu người tăng đáng kể (gấp 4 lần), đời sống của nhân dân nhìn chung được nâng cao rõ rệt Thành tựu nêu trên được thế giới đánh giá cao trong đổi mới, trong gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội của nền kinh tế đang chuyển đổi (nhận định của World Bank)

Bên cạnh sự chuyển biến, trong phát triển kinh tế - xã hội còn có nhiều vấn đề đặt ra Trong tiến trình phát triển, nhìn chung xã hội đang trải qua một sự thử thách bởi sự thiếu thốn các nguồn lực và môi trường ngày càng đi xuống và sự bùng nổ dân số và gia tăng các nhu cầu Trong khi đó tất cả các quốc gia đang tránh sử dụng quá tải các nguồn lực và ngăn chặn sự suy thoái của môi trường, tập trung hơn tới phát triển hiệu quả và sử dụng một cách tốt nhất nguồn lực con người Có hai vấn đề Việt nam đang gặp phải trong quá trình đổi mới và hội nhập:

Một là: chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động so với các nước

chung quanh, khoảng cách phát triển không thu hẹp được bao nhiêu; nếu lấy chỉ số thu nhập tính theo đầu người làm thước đo chung nhất, khoảng cách này

có xu hướng đang rộng thêm

Hai là: khả năng phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới mức trần, nước ta

đứng trước đòi hỏi phải bằng mọi cách chuyển từ lợi thế so sánh dựa trên lao động giá rẻ và nhờ cậy vào tài nguyên, môi trường sáng tạo ra lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên phát huy nguồn lực con người Song nước ta đang vấp phải 3 trở lực lớn: chất lượng còn thấp về nguồn nhân lực, sự bất cập lớn của kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuât, năng lực quản lý hẫng hụt nhiều mặt

Chưa lúc nào vấn đề phát triển con người và nguồn nhân lực trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng ở nước ta như giai đoạn hiện nay Đất nước đang bước vào một thời kỳ phát triển mới, những cơ hội và thách thức chưa từng có, điều này đòi hỏi phải có cách nhìn nhận mới về thực trạng nguồn nhân lực để tận dụng

Trang 4

tốt nhất những cơ hội đang đến, và vượt qua những thách thức, tránh khỏi sự tụt hậu

2 Các khái niệm liên quan

Nguồn nhân lực

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng

Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi) Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong

đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp) Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động

Nói chung, nguồn nhân lực được hiểu là những người có khả năng lao động, bao gồm: những người trong độ tuổi lao động, hoặc ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn còn khả năng lao động (lao động bổ sung) và nguồn nhân lực tiềm năng (dưới độ tuổi lao động)

Phát triển bền vững

Khi đề cập tới khái niệm phát triển bền vững người ta thường đề cập tới hai khái niệm tăng trưởng và phát triển

T ng tr ăng trưởng ưởng ng :

Tăng trưởng thường được hiểu đơn thuần về mặt số lượng tuyệt đối, tuy nhiên điều đó là chưa đủ, cần tính đến nhiều đặc trưng định lượng khác như các tỷ

lệ, hiệu quả,…

Phát triển:

có 3 nội dung cần tính đến trong phát triển:

- Tăng trưởng về số lượng chỉ là một mặt của phát triển

- Thay đổi về chất theo hướng tiến bộ

Trang 5

- Chuyển đổi cơ cấu theo hướng đa dạng hoá, phức thể hoá, thay thế bằng cấu trúc mới

Ở đây có thể nhận thấy rằng, sự phát triển nguồn nhân lực bền vững, không những đáp ứng đủ số lượng để đáp ứng được nhu cầu lao động trong tương lai

mà cần tính đến nâng cao tay nghề, trình độ kĩ năng và chuyên môn của người lao động

Sự phát triển bền vững tổng quát đòi hỏi phải cân đối 3 mục tiêu (nhu cầu, lợi ích, giá trị) kinh tế - xã hội – bảo vệ môi trường

Nói chung, phát triển bền vững có thể được hiểu là sự phát triển nhằm đáp

ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai là chưa đủ, cần tính đến nhu cầu thế hệ hiện tại

3 Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng kinh tế có lực lượng lao động nông thôn lớn nhất cả nước, trong đó đồng bằng sông Hồng chiếm tỷ lệ cao hơn, năm 2003 ở khu vực này có 7394705 lao động, chiếm 23.63% so với lực lượng lao động ở nông thôn của cả nước Rõ ràng, đây là nguồn lực lao động dồi dào, đảm bảo được lực lượng lao động cho phát triển kinh tế, sản xuất

Số lượng lao động nông thôn chia theo vùng (người), năm 2003

7394705

1150312

4340862

2475906

1607238

4060087

2938345 7331295

0

1000000

2000000

3000000

4000000

5000000

6000000

7000000

8000000

DBSH Đông Bắc Tây Bắc Bắc

Trung Bộ

Duyên hải Nam Trung Bộ

Tây Nguyên

Đông Bộ ĐB SCL

Tỷ lệ nguồn nhân lực trong tổng dân số ở các khu vực của đồng bằng sông Hồng cũng tương đối cao, ở nông thôn ngoại thành Hà Nội, từ năm 1997 đến

1 Nguyễn Tiệp, nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Hà nội, NXB Lao động – Xã hội, 2005, tr 233

Trang 6

Tổng số nhân khẩu ở Tam Sơn là 10500 người, trong đó tổng lao động là 5933 người, chiếm 56.5% Điều này đồng nghĩa với việc tổng số người ở trong độ tuổi lao động ở địa phương cao hơn so với số người ăn theo

Như vậy, dân số trong độ tuổi lao động hầu hết ở các địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đang ở trong giai đoạn thuộc thời kì “dân số vàng”

- đây là cơ hội phát triển kinh tế ở các khu vực này

Về cơ cấu lao động và trình độ chuyên môn Tỷ lệ nam và nữ trong độ tuổi lao động ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện tại không chênh lệch đáng kể, tuy nhiên có sự khác nhau trong cơ cấu nghề nghiệp Nam giới chủ yếu làm trong các nghề phi nông nghiệp, nữ giới sản xuất nông nghiệp là chính, thời gian nông nhàn họ cũng tham gia cũng nam giới trong sản xuất lao động để tìm kiếm thu nhập cho gia đình Ở các khu vực có làng nghề, chủ yếu nam giới

là lao động làm nghề chính

Ở Tam Sơn, tỷ lệ người có bằng trung cấp trở lên chiếm 9,9% so với số nhân khẩu thực tế của xã, trong số đó tỷ lệ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 45,5% Rõ ràng với truyền thống hiếu học và sự quan tâm đầu tư cho học hành, cơ bản đã mang lại cho Tam Sơn nguồn lực lao động có trình độ cao Trong những năm gần đây, cơ cấu lực lượng lao động có sự thay đổi do sự thay đổi về cơ cấu xã hội – nghề nghiệp Lao động ở các địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng có sự dịch chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đặc biệt là ở những xã phát triển làng nghề trong thời gian gần

đồng bằng sông Hồng được khảo sát (Ninh Hiệp, Đình Bảng, Yên Thường, Phù Đổng, Đa Tốn, Vũ Hội, Tam Sơn) thì chỉ có 2 xã là có tỷ lệ thuần nông hơn 50% (Yên Thường, 57.0%; Phù Đổng, 92.2%), còn lại chủ yếu ở các xã các hộ hỗn hợp là chính, 5/7 xã tỷ lệ hộ hỗn hợp trên 62%

Ở nông thôn ngoại thành Hà nội, năm 2002 tỷ lệ lao động làm nông, lâm, ngư nghiệp là 56.09%, trong công nghiệp và xây dựng là 24.62% và ở dịch vụ:

khu vực nông, lâm, ngư nghiệp cao hơn, tuy nhiên, cơ cấu lao động đó sẽ có

sự thay đổi mạnh, biểu hiện qua sự thay đổi trong phân bổ lao động nông thôn ngoại thành năm 1990 đến năm 2002

2 Tô Duy Hợp, Định hướng phát triển làng – xã đông bằng song Hồng ngày nay, 2003, tr.79

3 Nguyễn Tiệp, nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành… tr 239

Trang 7

Phân bổ lao động nông thôn ngoại thành theo 3 nhóm ngành, năm

1990 - 2002

86.6

73.72

56.09

24.62

19.29

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

100

Nông lâm ngư nghiệp Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Ở Tam Sơn, sản xuất sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ phát triển tại địa phương thì lao động làm trong các ngành nghề phi nông nghiệp dần chiếm tỷ lệ cao hơn so với nông nghiệp, tuy nhiên bởi đặc thù không ổn định do phải phụ thuộc vào thị trường và nguồn nguyên vật liệu nên các hộ gia đình vẫn giữ ruộng và sản xuất nông nghiệp

“Làm gỗ có năm thu nhập rất được nhưng có năm thu nhập rất chán, lỗ Cho nên bền vững nhất vẫn là làm ruộng, cứ vụ nào ăn vụ đấy, năm nào ăn vụ đấy,

ít năm mất mùa lắm, mất mùa cũng có cái để ăn chứ không như làm thợ mộc Làm thợ mộc hỏng một cái coi như hỏng hết ngay, có thể là lỗ luôn” (Nam,

TLN người dân)

Đại đa phần hộ gia đình làm hỗn hợp giữa cả nông và phi nông Những gia đình không trực tiếp mở xưởng sản xuất thì tranh thủ thời gian nông nhàn của nông nghiệp làm thêm trong các xưởng sản xuất gỗ Chăn nuôi nhỏ lẻ cũng tồn tại ít ở các hộ gia đình, đặc biệt là những khu vực phát triển mạnh nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ và các nghề liên quan đến thương mại, dịch vụ, vận tải Biểu hiện ở thôn Thọ Trai và thôn Dương Sơn, 100% hộ gia đình không chăn nuôi gia súc gia cầm Các hộ gia đình có chăn nuôi chủ yếu chuyển

hướng sang hình thức trang trại gia đình, bởi theo ý kiến của người dân “chăn

nuôi nhỏ lẻ tại hộ gia đình lãi ít, nuôi một hai con không bõ, nên không nuôi”

(TLN người dân Tam Sơn)

Bên cạnh nguồn nhân lực hiện tại đang trong độ tuổi lao động thì nguồn lực lao động bổ sung (trên độ tuổi lao động) và nguồn nhân lực tiềm năng (dưới

độ tuổi lao động) cũng chiếm tỷ lệ khá lớn trong cơ cấu lao động

Trang 8

Ở Tam Sơn đội ngũ nguồn lao động bổ sung và nguồn nhân lực tiềm năng chiếm tỷ lệ 43,5% Trong đó nguồn nhân lực tiềm năng có chất lượng khá cao với trình độ học vấn đa phần là từ cao đẳng, đại học trở lên

Ngoài nguồn lao động tại địa phương, với đặc thù nghề nghiệp hiện nay, sản xuất gỗ là chủ yếu, gần 50% hộ gia đình mở xưởng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tại nhà, trung bình mỗi xưởng thuê 3-4 công nhân, đã tạo công ăn việc làm và thu hút được nguồn lao động từ các tỉnh lân cận (Bắc Giang, Hải Dương…) đến địa phương để làm việc Nguồn lao động này chiếm hơn 50% trong số lao động tham gia sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ ở địa phương

4 Xu hướng phát triển nguồn nhân lực để giảm nghèo và làm giàu bền vững trong thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế

4.1 Thực trạng khuynh hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp của nông thôn Việt Nam

Những năm gần đây, trong quá trình đổi mới và tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung và ở khu vực Đồng bằng sông Hồng nói riêng, có thể do sức

ép của tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn dẫn đến sự chuyện dịch cơ cấu lao động Sự chuyển dịch đó có thể tính tới khuynh hướng nổi bật là làng – xã

cấu lao động nghề nghiệp: (1) nông nghiệp là chính (xã Phù Đổng (Gia Lâm,

Hà nội)), (2) Hỗn hợp nông nghiệp và phi nông nghiệp (xã Yên Thương (Gia Lâm, Hà Nội), xã Nam Giang (Nam Trực, Nam Định), xã Nguyên Xá (Đông Hưng, Thái Bình), xã Tam Sơn (Từ Sơn, Bắc Ninh)); (3) Làng nghề phi nông nghiệp hoàn toàn (làng Bát Tràng (xã Bát Tràng, Gia Lâm, Hà nội), làng Phù Lưu (xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh))

Xu hướng biến đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp, nhìn theo cơ sở khác nhau, như dựa vào xu thế phát triển chung, vào các cách thức, quan hệ hoạt động nghề nghiệp, hoặc nhìn theo con đường phát triển và lan tỏa… Theo góc nhìn phát triển và lan tỏa đối với hoạt động phi nông nghiệp thì “con đường phát triển của các hoạt động sản xuất phi nông ở nông thôn đồng bằng sông Hồng đang diễn ra theo hai hướng chính là từ một số làng nghề lan tỏa ra các vùng

4 Tô Duy Hợp, Định hướng phát triển làng – xã đông bằng song Hồng ngày nay, 2003

5 Lê Mạnh Năm, Sự biến đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp qua các làng – xã châu thổ sông Hồng, luận văn Thạc sỹ Xã hội học, năm 2001

Trang 9

Với thực tiễn phát triển xã hội theo hướng đô thị hóa và hội nhập quốc tế, sự chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp ở nông thôn đã, đang và sẽ phát triển theo mô hình chủ đạo sau:

Tỷ trọng lao động

xếp theo thứ tự

Thời kì nông nghiệp

Thời kì công nghiệp hóa

Thời kì hậu công nghiệp

1 LĐ nông nghiệp LĐ công nghiệp LĐ dịch vụ

2 LĐ công nghiệp LĐ nông nghiệp LĐ công nghiệp

Theo sơ đồ này thì lao động hoạt động trong nông nghiệp trong những năm tới ngày càng giảm, tỷ lệ thuận với các giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội, lao động trong công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên trong nguồn nhân lực xã hội Xu hướng này diễn ra mạnh mẽ cùng với quá trình công nghiệp hóa, đẩy mạnh tốc độ tăng năng suất lao động nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Khi đã công nghiệp hóa ở trình độ cao thì xu hướng này có sự biến động, không chỉ lao động nông nghiệp và ngay cả lao động công nghiệp cũng giảm để chuyển sang hoạt động dịch vụ

4.2 Xu hướng phát triển nguồn nhân lực

Có nhiều yếu tố tác động đến xu hướng phát triển nguồn nhân lực ở mỗi khu vực địa lý, trong đó yếu tố chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp được xem như là một yếu tố quyết định Sự chuyển dịch cơ cấu lao động nghề nghiệp dẫn đến sự thay đổi về chất lượng, cơ cấu việc làm và sự di chuyển của nguồn nhân lực

a, Về cơ cấu việc làm

Sự chuyển đổi về cơ cấu lao động nghề nghiệp đã dẫn đến lực lượng lao động trong nông nghiệp (lực lượng được xem là lao động truyền thống) chuyển dịch nhanh chóng trong việc đa dạng hóa ngành nghề, cơ hội tìm kiếm việc làm, hoạt động sang các lĩnh vực lao động phi nông nghiệp, dịch vụ và thương mại

làm ở ba khu vực kinh tế ở Đồng bằng sông Hồng có sự thay đổi khá nhanh: lao động làm trong khu vực I – Nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 72.71% xuống 53.56% (giảm 19.15%), lao động làm trong khu vực II – Công nghiệp và xây dựng tăng từ 9.91% lên 22.21% (tăng 12.3%), lao động làm trong khu vực III

6 Số liệu trích và phân tích lại từ cuốn lao động – việc làm ở Việt Nam 1996 – 2003, trung tâm tin học – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, NXB Lao động – Xã hội 2004, trang 35

Trang 10

– Dịch vụ tăng từ 17.38% lên 22.21% (tăng 6.85%) So với cơ cấu lao động chung của cả nước và các vùng kinh tế khác, giai đoạn 1996 – 2003 đồng bằng sông Hồng là vùng có tỷ lệ lao động ở khu vực I giảm mạnh nhất, tăng tỷ lệ lao động ở khu vực II cao nhất, tăng tỷ lệ lao động ở khu vực III tương đối cao (chỉ đứng sau Đông Nam Bộ)

Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế 1996 - 2003

72.71

53.56

9.91

22.21

0

20

40

60

80

100

120

Khu vuc 3 Khu vuc 2 Khu vuc 1

Số liệu phân tích ở trên thể hiện cho cả khu vực đồng bằng sông Hồng nói chung (bao gồm cả khu vực đô thị và khu vực nông thôn, miền núi), nhưng cũng gián tiếp đặc trưng cho xu hướng dịch chuyển cơ cấu nghề nghiệp chung của cả khu vực trong đó có nông thôn

Một ví dụ điển hình là ở xã Tam Sơn (Từ Sơn, Bắc Ninh) tỷ lệ lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp trước năm 2003 là 93.64% trong tổng số lao động toàn xã, chỉ có 50.1% hộ kết hợp sản xuất nông nghiệp và

tham gia các hoạt động phi công nghiệp, tỷ lệ hộ tham gia sản xuất nông

Phân bổ lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội như đã đề cập ở phân trên cũng cho ta thấy điều đó: tỷ lệ lao động làm trong nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm dần (từ 86.6% năm 1990, xuống 73.72% năm 1996, năm 2002 chỉ còn 56.9%), trong khi đó lao động làm trong nhóm ngành nghề công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên

b, Về chất lượng nguồn nhân lực

Tỷ trọng lao động được đào tạo kỹ thuật và chuyên môn cao ngày càng tăng trong nguồn nhân lực xã hội nói chung và đồng bằng sông Hồng nói riêng

7 Tô Duy Hợp, định hướng phát triển… , tr.118

8 Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kinh tế xã hội năm 2009, Ủy ban nhân dân xã Tam Sơn, 2010

Ngày đăng: 13/01/2016, 00:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w