TIẾN TRÌNH CỦA NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌCMục đích bài học: học viên nắm được: • Mục đích, nội dung, yêu cầu của từng giai đoạn của một nghiên cứu xã hội học • Ý nghĩa ,mục đích và nội dung c
Trang 1BÀI 1 TIẾN TRÌNH CỦA NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC
Mục đích bài học: học viên nắm được:
• Mục đích, nội dung, yêu cầu của từng giai đoạn của một nghiên cứu
xã hội học
• Ý nghĩa ,mục đích và nội dung của từng phạm trù cơ bản trong tiến trình
• Biết cách viết một đề cương nghiên cứu sơ bộ
Nội dung bài giảng:
I.ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1
Tính mới
Quá trính nghiên cứu khoa học (NCKH) luôn là quá trình quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong NCKH không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước thực hiện
Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của một nghiên cứu khoa học
Nó luôn có khả năng dẫn tới những xung đột xã hội với các kết luận cũ
Tính tin cậy
Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có
khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với, những kết quả thu được hoàn
toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng
Khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những
điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có)
Tính thông tin
1 Theo “ Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học Vũ Cao Đàm NXBGD HN 2009 Trang 36-38
1 Bài giảng Phương pháp nghiên cứu Xã hội học.
Trang 2Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng Sản
phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là những thông tin về
quy luật vận động của sự vật, thông tin về một quá trình xã hội và các
tham số đặc trưng cho quá trình đó
Tính khách quan
Tính khách quan vừa là một đặc điểm của NCKH, vừa là một tiêu chuẩn
về phẩm chất của người nghiên cứu Trong xã hội học, đó là một giá trị chuẩn mực Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng
Tính rủi ro
Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có
thể gặp phải thất bại Đó là tính rủi ro của nghiên cứu Tuy nhiên trong
khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả Đây là một kết quả quan trọng Nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu
Tính kế thừa
Ngày nay hầu như không còn một công trình NCKH nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa
Tính cá nhân
Dù là một công trình NCKH do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện
trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến của cá nhân.
II.TIẾN TRÌNH CỦA NGHIÊN CỨU
Trang 3Giai đoạn Chuẩn bị: Xây dựng chương trình/đề cương nghiên cứu 2
Chương trình nghiên cứu là cơ sở phương pháp luận quan trọng cho cuộc nghiên cứu
Đây là khâu quan trọng đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định các nhiệm vụ khác của giai đoạn này Nó là cơ
sở lý luận cho việc giải quyết các nhiệm vụ khác của giai đoạn này nói riêng và của toàn bộ cuộc nghiên cứu nói chung
1 Xác định mục tiêu nghiên cứu 3
Mục tiêu nghiên cứu là những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong nghiên cứu Mục tiêu trả lời câu hỏi “Nghiên cứu gì?”
Trong một đề tài nghiên cứu bao giờ cũng có một mục tiêu xuyên suốt , mang tính chủ đạo, gọi là “Mục tiêu chung”; còn các mục tiêu khác là những “Mục tiêu cụ thể” Các mục tiêu cụ thể được xác định theo cấu trúc
cây mục tiêu Toàn bộ tập hợp mục tiêu nghiên cứu được gọi chung là đối
tượng nghiên cứu.
2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được xác định trong một giới hạn nhất định Nhìn
chung có 3 loại phạm vi cần quan tâm:
- Phạm vi của mục tiêu nghiên cứu hay đối tượng nghiên cứu: Lựa chọn những mục tiêu trong cây mục tiêu là thuộc quyền của người nghiên cứu, phụ thuộc vào các nguồn lực và quỹ thời gian thực hiện
đề tài
không gian tự nhiên,một khu vực hành chính, một cộng đồng, một nhóm xã hội…
2 Theo Phương pháp nghiên cứu XHH Phạm Quyết – Nguyễn Quý Thanh NXBĐHQGHN HN 2001 Trang 66
3 Theo “ Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học Vũ Cao Đàm NXBGD HN 2009 Trang 36-38
3 Bài giảng Phương pháp nghiên cứu Xã hội học.
Trang 4- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: là giới hạn phạm vi quãng thời gian diễn biến của sự kiện nghiên cứu Thông thường người nghiên cứu lựa chọn các mốc thời gian nhất định có ý nghĩa Lựa chọn các mốc thời gian phụ thuộc vào mục tiêu của cuộc nghiên cứu
3 Đặt tên đề tài
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài Tên một đề tài khoa học khác với tên của một tác phẩm văn học Tên của tác phẩm văn học có thể mang những ẩn ý sâu xa Tên của một đề tài khoa học thì chỉ được mang một nghĩa của vấn đề nghiên cứu, không được
phép hiểu theo hai hay nhiều nghĩa Yêu cầu khi đặt tên đề tài:
- Thể hiện được mục tiêu/đối tượng, phạm vi nghiên cứu (không gian, thời gian)
- Rõ nghĩa, cụ thể, ngắn gọn, một nghĩa
- Thuật ngữ khoa học xã hội học
Một số điểm cần tránh khi đặt tên đề tài:
- Không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin
Ví dụ:
…; Một số nghiên cứu bước đầu về…;
Trang 5sử dụng tùy tiện trong những trường hợp không chỉ rõ được nội dung thực tế cần làm, mà chỉ đưa những cụm từ chỉ mục đích để che lấp những nội dung mà bản thân tác giả cũng chưa có được sự hình dung
rõ rệt Vi dụ: (…) nhằm nâng cao chất lượng…; hoặc (…) góp phần vào…
- Tránh đặt tên đề tài theo kiểu diễn giải nội dung, có dạng như: “ Lạm phát-thực trạng, nguyên nhân, giải pháp”
4 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu hay luận điểm khoa học 4
Giả thuyết nghiên cứu hay luận điểm khoa học là một phán đoán đã được chứng minh về bản chất sự vật Quá trình xây dựng giả thuyết nghiên cứu bao gồm 2 bước: 1 Phát hiện vấn đề nghiên cứu hoặc câu hỏi nghiên cứu;
2 Đặt giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu (hay vấn đề nghiên cứu): là câu hỏi được đặt ra khi
người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học trong lý thuyết hiện có với thực tế mới phát sinh, đặt ra nhu cầu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn Đặt được câu hỏi nghiên cứu là giai đoạn quan trọng trên bước đường phát triển nhận thức
Tuy nhiên, đặt câu hỏi nghiên cứu lại chính là công việc khó nhất đối với người mới làm quen với công việc nghiên cứu
Trong nghiên cứu, câu hỏi đầu tiên cần đặt ra là: Cần chứng minh điều gì? Như vậy, thực chất việc phát hiện vấn đề khoa học chính là đưa ra được những câu hỏi để làm cơ sở cho việc tìm kiếm câu trả lời Có thể sử dụng các phương pháp sau để đặt câu hỏi nghiên cứu:
• Nhận dạng những bất đống trong tranh luận khoa học
4 Theo “ Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học Vũ Cao Đàm NXBGD HN 2009 Trang 56-57
5 Bài giảng Phương pháp nghiên cứu Xã hội học.
Trang 6Khi hai đồng nghiệp bất đồng ý kiến, có thể là do họ đã nhận ra những mặt yếu của nhau Đây là cơ hội thuận lợi để người nghiên cứu nhận dạng vấn đề mà các đồng nghiệp đã phát hiện, từ đó đặt câu hỏi nghiên cứu
Ví dụ, trong một cuộc hội thảo về các biện pháp khắc phục tệ nạn quay cóp trong thi cử, một đồng nghiệp cho rằng, cần phải xem quay cóp là sự xuống cấp về đạo đức của người học Trong khi đó, một đồng nghiệp khác lại cho rằng, quay cóp không phải là do sự xuống cấp đạo đức của người học, mà là do phương pháp dạy học và chương trình đào tạo đã quá lạc hậu
Sự bất đồng ý kiến này gợi ý người nghiên cứu đặt câu hỏi: Vậy quay cóp
là do sự xuống cấp đạo đức của người học hay là do phương pháp giảng dạy và chương trình giáo dục đã quá lỗi thời, dẫn đến việc người học chối
bỏ mớ kiến thức lỗi thời đó và sử dụng biện pháp quay cóp để đối phó với những kiến thức được nhồi nhét theo phương pháp cũ
• Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường
Người NC phải luôn biết đặt những câu hỏi ngược lại quan niệm thông thường
Chẳng hạn, trong khi nhiều người cho rằng, trẻ em suy dinh dưỡng là do các bà mẹ kém hiểu biết về dinh dưỡng của trẻ, thì có người đã nêu câu hỏi ngược lại: Các bà mẹ là trí thức chắc chắn phải hiểu biết về dinh
dưỡng trẻ em hơn các bà mẹ nông dân Vậy tại sao tỷ lệ trẻ suy dinh
dưỡng trong nhóm con cái các bà mẹ là trí thức lại cao hơn trong nhóm bà
mẹ là nông dân?
• Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế:
Nhiều khó khăn nảy sinh trong hoạt động thực tế không thể sử dụng
những biện pháp thông thường để xử lý Thực tế này đặt người NC trước
những câu hỏi phải trả lời, tức là xuất hiện vấn đề, đòi hỏi người nghiên
cứu phải đề xuất những giải pháp mới
Trang 7• Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu
Đôi khi câu hỏi nghiên cứu xuất hiện nhờ lời phàn nàn của người hoàn toàn không am hiểu lĩnh vực mà người nghiên cứu quan tâm
• Phát hiện mặt mạnh, mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệp
Mặt mạnh trong luận điểm, luận cứ và phương pháp nghiên cứu của đồng nghiệp sẽ được sử dụng làm luận cứ hoặc phương pháp để chứng minh luận điểm của mình Còn mặt yếu được sử dụng để phát hiện vấn đề (tức câu hỏi nghiên cứu), từ đó xây dựng luận điểm cho nghiên cứu của mình
• Những câu hỏi nghiên cứu xuất hiện qua quan sát (nghe, nhìn)
Đây là những câu hỏi xuất hiện ở người nghiên cứu do bất chợt quan sát được một sự kiện nào đó, cũng có thể rất ngẫu nhiên không phụ thuộc vào bất kỳ lý do , thời gian hoặc không gian nào
Giả thuyết “là một kết luận giả định về bản chất sự vật hay hiện tượng do người nghiên cứu đặt ra để theo đó xem xét, phân tích kiểm chứng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu” của (Vũ Cao Đàm, 1996)
Đối với một công trình nghiên cứu khoa học, giả thuyết có vai trò hết sức
to lớn, nó là cơ sở, là khởi điểm của một công trình nghiên cứu, đồng thời
nó cũng có vai trò định hướng cho công trình nghiên cứu đó
Việc đưa ra giả thuyết, việc thu thập thông tin từ thực tế xã hội để kiểm chứng và khẳng định giả thuyết là nội dung chủ yếu của nghiên cứu xã hội học, là con đường không thể thiếu trong việc phát triển lý thuyết xã hội học
5 Theo Phương pháp nghiên cứu XHH Phạm Quyết – Nguyễn Quý Thanh NXBĐHQGHN HN 2001 Trang 115-122
7 Bài giảng Phương pháp nghiên cứu Xã hội học.
Trang 8Giả thuyết là những dự đoán của chúng ta về những cái mà ta hy vọng và chờ đợi từ nghiên cứu Giả thuyết là sự cụ thể hóa của mục tiêu nghiên cứu
Trong một công trình nghiên cứu XHH, xây dựng giả thuyết và kiểm
chứng giả thuyết là một công việc quan trọng xuyên suốt quá trình nghiên cứu
Giả thuyết là mắt xích giữa quan điểm lý luận và cơ sở thực nghiệm của nghiên cứu, giúp ta khoanh lại phạm vi các yếu tố cần thiết cho giải quyết các vấn đề đặt ra
Giả thuyết phải được kiểm tra, luận chứng qua thực nghiệm
Giả thuyết phải phù hợp với những nguyên lý xuất phát của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Giả thuyết đưa ra không được mâu thuẫn hay đối lập với những lý luận, sự việc đã được thiết lập và kiểm chứng trong thực tế Có nghĩa là, giả thuyết luôn luôn phải phù hợp với tính quy luật và phải phối hợp với những sự kiện được khẳng định thực tế
Giả thuyết phải có thể kiểm tra/đo lường được nhờ thông tin thu được qua các phương pháp nghiên cứu XHH Tính có thể kiểm tra được của giả
thuyết nghiên cứu liên quan trực tiếp với quá trình tập hợp các nhân tố của hiện tượng nghiên cứu Các nhân tố này không thể trìu tượng, chúng phải
cụ thể và có thể kiểm tra/đo lường được qua con đường thực nghiệm
Việc phân tích logic về giả thuyết phải khẳng định được tính không được mâu thuẫn của nó
Giả thuyết mô tả: Đó là giả thuyết nhằm thiết lập trạng thái thực tế của các
sự kiện, các hiện tưong xã hội Trong trường hợp thu thập thông tin thực
Trang 9nghiệm thì các giả thuyết ở dạng này liên quan trước hết với thực tế thực nghiệm Loại giả thuyết này có thể dự đoán kết quả mong đợi ở con số tuyệt đối, ở tỷ lệ phần trăm.
Mô tả là không giải thích các tình huống quan sát được, song đó là tiền đề quan trọng cho việc giải thích Giả thuyết mô tả chưa thể cho ta biết được nguyên nhân của các sự kiện, các tình huống
Giả thuyết giải thích (giả thuyết nguyên nhân)
Giả thuyết giải thích cố gắng tìm ra nguyên nhân của các sự kiện xã hội
mà đã được thiết lập qua giả thuyết mô tả Mỗi một sự kiện xã hội thường
là kết quả của một nhóm các yếu tố nào đó Thực chất, giải thích nằm trong sự thiết lập mối quan hệ cần có giữa đặc điểm đặc trưng của đối tượng với quy luật khách quan nào đó
Việc lập giả thuyết giải thích không phải dễ dàng Trong trường hợp này cần sử dụng các tài liệu lịch sử, thống kê, kinh tế, xã hội học để chỉ ra được thực chất của vấn đề cho một công trình nghiên cứu khoa học
Giả thuyết mô tả và giả thuyết giải thích có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau Giả thuyết mô tả là tiền đề, cơ sở cho việc xây dựng giả thuyết giải thích
Giâ thuyết về xu hường ( giả thuyết về quy luật): Giả thuyết này chỉ ra tính lặp lại, tính bền vững, những xu hướng của một quá trình nào đó
5 Xác định cơ sở phương pháp luận
Xây dựng mô hình lý thuyết
Cần phải đưa ra được mô hình lý thuyết về đối tượng nghiên cứu, dựa vào
đó chúng ta có thể tiếp cận và nghiên cứu đối tượng
Mô hình lý thuyết còn hướng đến liên kết các yếu tố, giải thích các mối quan hệ lẫn nhau giữa các yếu tố của đối tượng nghiên cứu
9 Bài giảng Phương pháp nghiên cứu Xã hội học.
Trang 10Mụ hỡnh lý thuyết bao gồm cỏc khỏi niệm, cỏc phạm trự, cỏc quy luật cú liờn quan đến việc chứng minh cỏc giả thuyết, Nú giỳp ta chỉ ra được đầy
đủ cỏc chiều cạnh của vấn đề đú
Mụ hỡnh lý thuyết được coi như luận cứ logic, làm cho thụng tin thực
nghiệm thu được trở nờn cú ý nghĩa Mụ hỡnh lý thuyết giỳp ta chớnh xỏc húa nội dung cỏc khỏi niệm cần thiết của đề tài
Mụ hỡnh lý thuyết khụng chỉ cần thiết cho việc đi đến thống nhất trong cỏch hiểu về vấn đề, mà cũn giỳp cho việc xỏc định chớnh xỏc biờn giới của vấn đề nghiờn cứu, cũng như cơ sở khoa học cho việc chỉ ra cỏc yếu
tố, cỏc chiều cạnh, cỏc mối liờn hệ cấu thành nờn vấn đề đú
trả lời
Trong xây dựng chơng trình nghiên cứu, việc xác định các biến số và thực
hiện việc kết hợp Các biến số và sự kết hợp giữa các biến số.
Để tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra, để kiểm tra các giả thuyết trên cơ sở các thông tin thực nghiệm thì việc triển khai hệ thống các biến số, các chỉ báo là công việc hết sức quan trọng trong nghiên cứu Biến số là
đặc tính không bất biến về mặt giá trị Hệ số các biến số là phản ánh thuộc tính của đối tợng nghiên cứu Một vấn đề đặt ra đợc quan sát thông qua hệ thống các biến số và từ đó xây dựng các thang đo để đo lờng các biến số Triển khai các biến số là cơ sở để xây dựng chơng trình nghiên cứu trong nghiên cứu XHH là mối liên hệ giúp ta tiến hành nghiên cứu và đo lờng các khía cạnh khác nhau và mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng Trong nghiên cứu XHH biến số của nghiên cứu có thể đợc coi là các thang đo dựa trên
s khác biệt trong các câu giữa các biến số theo những nguyên tắc lý thuyết logic nào đó là cơ sở quan trọng trong việc trình bầy mô hình lý thuyết Chính sự liên kết này giúp chúng ta thấy đợc sự biến đổi trong mộ t biến
số có thể liên quan đến mức độ thay đổi trong các biến số khác nh thế nào Trong nghiên cứu xã hội học mức sinh nh ở đây đợc coi là biến phụ thuộc, còn tuổi kết hôn, trình độ học vấn của phụ nữ đợc coi nh các biến số độc lập Thực tế, có rất nhiều đè tài trong nghiên cứu XHH thực nghiệm thể hiện sự tác động của hai loại biến số này
Trang 11Biến số độc lập hay còn gọi là sự tác động, phản ánh những nguyên nhân dẫn đến kết quả nào đó.
Biến số phụ thuộc phản ánh một khía cạnh, thuộc tính của vấn đề hay vấn đề nghiên cứu mà bị thay đổi khi biến số tác động thay đổi Đó chính
là đáp lại sự tác động của biến số độc lập
Thông thờng, mô hình của một nghiên cứu XHH là kiểm tra mối liên hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Việc kiểm tra cũng thờng gặp khó khăn vì biến phụ thuộc còn có thể bị sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến độc lập đã xác định, hay nói một cách khác việc kiểm soát sự tác
đọng của các yếu tố khác trở lên rất khó thực hiện trong các nghiên cứu XHH, vì vậy nghiên cứu ần chỉ ra đợc mối liên hệ khi biến độc lập thay
đổi thì tất yếu dẫn đến sự thay đổi của biến phụ thuộc
Mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc cũng cần tuân theo các nguyên tắc của mối quan hệ nguyên nhân và kết quả, nghĩa là trong mối quan hệ đó cũng cần hội tụ đầy đủ các điều kiện cần thiết sau
- Một sự thay đổi trong biến độc lập phải có trớc về mặt thời gian so với
sự thay đổi trong biến phụ thuộc Về mặt logic điều này nghe có vẻ đơn giản, song áp dụng vào các hiện tợng xã hội thì sẽ gặp khó khăn hơn nhiều Trong nhiều trờng hợp, tồn tại sự tác động lẫn nhau giữa hai biến
số, song chúng ta khó xác định đợc đâu là biến nguyên nhân và đâu là biến phụ thuộc Vì vậy trong từng đề tài nghiên cứu khi muốn thiết lập mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc chúng ta cố gắng xác định trật
tự thời gian của các biến số
- Một điều kiện khác là phải có mối tơng quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Điều đ
có nghĩa là khi có một sự thay đổi trong biến độc lập thì tơng ứng sẽ có một sự thay đổi trong biến phụ thuộc
- Điều kiện thứ ba là trong biến cạnh tranh khác ngoài biến độc lập đã xác định phải thể hiện có ít biến tác động đến biến phụ thuộc hơn ( L therese Baker, 1997 ) Tất nhiên, việc cố gắng thiết lập biến độc lập và biến phụ thuộc không là mục tiêu của tất cả các đề tài nghiên cứu XHH thực nghiệm, song việc điều chỉnh thêm bớt giữa khía cạnh quan sát thực
11 Bài giảng Phương phỏp nghiờn cứu Xó hội học.
Trang 12nghiệm với khía cạnh giải thích lý thuyết của khoa học thờng là cách chung của việc thực hiện mộtt đề tài nghiên cứu khoa học.
Sau khi xác định các biến số, trong nghiên cứu XHH một sự cần thiết khác là tiến hành đo lờng các biến số đó Việc xây dựng hệ thống các chỉ báo để đo lờng các biến số cũng là công việc cần thiết trong giai đoạn xây dựng chơng trình nghiên cứu
Trong những đề tài nghiên cứu nhất định ngời ta thờng thể hiện mối liên
hệ giữa các biến số, nhất là mối liên hệ giữa các biến số độc lập và các biến số phụ thuộc qua một sơ đồ của khung lý thuyết Sơ đồ đó đợc tạo dựng ttrên cơ sở mô hình lý thuyết mà chúng ta đã chấp nhận nhằm để lý giải vấn đề nghiên cứu và mối liên hệ giữa các biến số cũng đợc xác định trên cơ sở những quy tắc logic thích hợp Nh vậy sơ đồ đó cũng phản ánh một cách đầy đủ mục tiêu và các giả thuyết mà tác giả đã xác định cũng
nh hớng của sự tác động và những biến số cần đo lợng để kiểm nghiệm các giả thuyết
6 Thao tỏc húa khỏi niệm
Cơ sở lý thuyết cho việc thao tác hoá các khái niệm
Trong nghiên cứu khoa học nhà nghiên cứu luôn luôn phải thao tác logíc
để chuyển từ khái niệm này sang khái niệm khác, từ khái niệm hẹp, ít trừu tợng, sang khái niệm rộng, trừu tợng hơn hoặc ngợc lại Các thao tác logíc
ấy bao gồm mở rộng, thu hẹp và phân chia khái niệm
Trong nghiên cứu nghiên cứu XHH thực nghiệm thao tác hoá khái niệm gắn liền với quá trình phân chia và cụ thể hoá khái niệm Nghĩa là quá trình biến các khái niệm ở mức độ trừu tợng phức tạp thành các khái niệm
cụ thể hơn, hẹp hơn, đơn giản hơn để qua đó chúng ta có thể quan sát, tiến hành ghi chép thực nghiệm về chúng Quá trình này đợc thực hiện thông qua hệ thống các chỉ báo của khái niệm Việc thao tác ở đây đợc gắn liền với quá trình mà theo cách nói của một vài tác giả là theo con đờng diễn giãi hoàn toàn hệ thống lý thuyết của khái niệm đến sự thể hiện thực nghiệm của nó ( S Mikhailov, 1980 )
Thực tế, các khái niệm phức tạp, trừu tợng của đề tài rất rễ dẫn đến mỗi ngời hiểu chúng theo mỗi cách khác nhau vì thế không thể tiến hành nghiên cứu thực nghiệm hay đo lờng đợc Nói cách khác, những khái niệm này không thể hiện hình trực tiếp trên các bảng hỏi vì theo đó ta không thể
Trang 13trực tiếp nhận đợc các câu trả lời chính xác theo cùng một nghĩa Khó khăn này chỉ có thể khăc sphục thông qua việc thao tac shoá các khái niệm, nghĩa là những khái niệm trừu tợng phức tạp đó cần phải đợc chuyển thành những khái niệm cụ thể hơn, hẹp hơn mà có thể đợc coi nh các chỉ báo của khái niệm trừu tợng hơn và cứ nh vậy để đạt đến mức độ cuối cùng là các chỉ báo thực nghiệm, tức là gắn với thực tế xã hội mà cho phép tiến hành quan sát và ghi chép thực nghiệm về chúng Những khái niệm cụ thể, đơn giản nh kết quả của quá trình thao tác sẽ cho phép mọi ngời hiểu
về chúng theo cùng một nghĩa và việc đo lờng mới đạt đợc mức độ chính xác cần thiết
Việc thao tác hoá các khái niệm đã đợc khá nhiều tác giả ở các nớc đề cập Một nhà nghiên cứu ngời Pháp cho rằng: Một hiện tợng, mà không thể trực tiếp quan sát đợc, nhng lại đểc lại “ các dấu vết “ mà, nếu đợc phân giải một cách chính xác thì có khả năng quan sát và phân tích nó (Lazarsfeld, P., 1970 ) Những “dấu vết” này chính là các chỉ báo của hiện tợng đó Nói chung các tác giả đều cho rằng trong nghiên cứu thực nghiệm khoa học xã hội nói chung và trong nghiên cứu XHH thực nghiệm nói riêng các hiện tợng xã hội đợc coi là đối tợng của các nghiên cứu này, th-ờng không thể đạt đợc sự quan sát trực tiếp, khi đó nhà nghiên cứu cần h-ớng đến việc khai thác các đặc tính của chúng mà đợc gọi là các biến số hay các chỉ báo cho phép chúng ta quan sát đợc và qua đó đo lờng các hiện tợng phức tạp Cách giải quyết này bao gồm 4 bớc: Thức nhất - xác
định khái niêm; thứ hai - chính xác hoá các khía cạnh của chúng ( xác
định các biến số ); thức ba - lựa chọn các chỉ báo quan sát đợc và cuối cùng là tổng hợp các chỉ báo thành các chỉ số Rõ ràng, các bớc đầu gắn liền với quan niệm của chúng ta về thao tác hoá các khái niệm và tiến hành đo lờng chúng nghĩa là cần xây dựng hệ thống các chỉ báo của khái niệm
Trong nghiên cứu XHH việc thao tác hoá khái niệm cũng đợc xuất phát từ chính quá trình nhận thức lý luận của XHH Thực tế, đặc tính và khối lợng của các thông tin thực nghiệm thu đợc trong các nghiên cứu XHH thực nghiệm không là tự phát mà đợc quyết từ chính đề tài và mục tiêu nghiên cứu Thông tin là hớng đến để kiểm nghiệm các giả thuyết đã nêu Nh vậy, tồn tại một mối quan hệ cần thiết giữa những khái niệm đợc nêu lên trong
13 Bài giảng Phương phỏp nghiờn cứu Xó hội học.