1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự toàn cầu hóa của tâm lý học và lô-gích Tây phương so với một số quan điểm Phật học về con người

22 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 341,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự toàn cầu hóa của tâm lý học và lô-gích Tây phương so với một số quan điểm Phật học về con người.. Dẫu sau, tôi mong rằng công trình nghiên cứu Phật học Việt Nam sẽ có nhiều cách nói h

Trang 1

Sự toàn cầu hóa của tâm lý học và lô-gích Tây phương

so với một số quan điểm Phật học về con người

(The Globalization of Western Psychology and Logic Compared to

Bài được thuyết trình trong Hội thảo khoa học quốc tế

"Phật Giáo trong thời đại mới: Cơ hội và thử thách" – Tp Hồ Chí

Minh, Việt-Nam, 15-16.07.2006

Tác giả :

Bác sỹ Lương Cần Liêm

Bác sỹ tâm thần, Tiến sĩ tâm lý học

Giảng viên trường đại học Y Paris, Pháp

Chủ tịch Hội Pháp-Việt Tâm-thần và Tâm-lý Y-học

Vậy nếu có những điều nhầm lẫn thì tôi xin quí vị tha thứ tôi truớc

Dẫu sau, tôi mong rằng công trình nghiên cứu Phật học Việt Nam sẽ có nhiều cách nói hiện đại, có những phương thức đơn giản để trình bày sự thật của Đạo và của đời, không rườm rà với nhiều từ ngữ làm người xa Đạo và làm Đạo tránh đời Hôm nay, tôi xin nói đề tài : Sự toàn cầu hóa của tâm lý học và lô-gích Tây

phương so với một số quan điểm Phật học về con người

A Thời kỳ phát triển nhân loại từ lúc chữ viết ra đời, đã trải qua năm thời lịch sử

tư tưởng văn minh

Trang 2

1 -Lúc đầu là thời thần bí và thần thoại (mystique et mythologique) thì người Giao Chỉ là con rồng cháu tiên

2 - Sau đó tới thời tôn giáo (religieux) rồi qua

3 - Thời siêu hình trừu tượng (métaphysique)

4 - Cách mạng lịch sử hiện đại đã bắt đầu vào cuối thế kỷ thứ 18 dẫn đến thời khoa học ngày nay

5 - Thế kỷ thứ 21 thuộc thời khoa học sau hiện đại (période scientifique moderne) với những phát minh độc đáo về khoa học, kỹ thuật, nghề nghiệp và con người

post-Nói cách khác, những thời kỳ đó là kho tàng kinh nghiệm văn minh của nhân loại,

và là kho tàng tồn tại và hiện thực trong từng người một

Chính vì thế mà ta có thể vận dụng ngay đây, ý niệm Phật học để nói cái Nghiệp

tập thể là một nền văn minh tổng hợp kinh nghiệm và lịch sữ tập thể

Ví dụ, "nghiệp dân khổ" do các Pha-ra-ông xây Kim-tự-tháp đã trở thành "nghiệp hạnh phúc" của dân Ai-Cập làm chủ phát triển du lịch nước họ

Vậy, sự nghiệp của dân tộc là nhân quả như một tài sản quí báu ẩn kín, mà mỗi người sẵn sàng mang ra "dùng" như một tiềm năng, như một kế thừa

Tôi xin nói Nghiệp là vốn

Đó là vốn tinh thần và vốn văn hóa với những cái tốt và những cái xấu của nó mà mỗi thế hệ con người phải nhận trách nhiệm cải tiến để thừa hưởng, tức là hưởng một kế thừa trước khi trao lại cho thế hệ sau

Như vậy, người văn minh biết văn minh với chính mình, khi mình thật tình và từ tốn minh bạch Nghiệp xa, Nghiệp gần và Nghiệp lịch sử hiện đại của mình Như vậy, cuộc sống văn minh khoa học ngày nay, có và còn khía cạnh huyền bí thần thoại, còn và có khía cạnh tôn giáo, có và còn những hiện tượng siêu hình trừu tượng

Sẽ không bao giờ có một người "khoa học" sống và suy nghĩ như một máy điện

tử

Về lịch sử tư tưởng, chúng ta nhận xét hai thời kỳ có tính cách dứt khoát

Thời đầu tiên xảy ra vào thế kỷ thứ năm trước âm lịch

Trang 3

Tại Hy Lạp cạnh bờ Địa Trung Hải có ba vị Socrate, Platon và Aristote, thì ở

phương Đông có ba vị Lão Tử, Khổng Tử và Thích Ca Mâu Ni Phật

Họ đem đến cho nhân loại một bước nhẩy vọt tư tưởng hệ về hiểu biết (saut

épistémologique)

Sau các vị đó, các nền văn minh lớn dứt khoát đổi cách suy nghĩ và xây dựng những phương pháp luận mới mẻ, phong phú và đi vào chi tiết

Thời thứ nhì là thời sau hiện đại [hoặc "hậu hiện đại"] mà chúng ta đang sống

Nó bắt đầu từ thế kỷ thứ 19, với những phát minh khoa học, kỹ thuật và tư tưởng

Hạ tầng cơ sở về hiểu biết đã tương đối hoàn thành nhưng ta phải điều chỉnh lại

và suy nghĩ thêm những vấn đề liên quan đến việc khai triển lý thuyết và áp dụng

kỹ thuật vào môi trường và xã hội

Ví dụ, lý thuyết vật lý học về ánh sáng tương đối rõ nhưng phải đợi hơn 40 năm mới có kỹ thuật điều khiển ánh sáng laser, và đợi 15 năm sau mới ra kỹ nghệ DVD

Ví dụ thứ nhì là kinh tế và môi trường phát triển trên cơ sở dầu hỏa và dầu khí Khi trái đất nóng hơn từ 2 đến 5 độ, vào khoảng năm 2050-2060, thì đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập một phần ba, và một phần ba bị nước mặn hoặc nước

lợ xâm vào

Như vậy, ý thức tập thể là một ngành của tâm lý tập thể

Trong phong trào toàn cầu hoá, văn hóa không phải một hàng hóa bình thường, nhưng kinh tế dùng những sản phẩm văn hóa như là một sản phẩm phát triển văn hóa

Nói cách khác, văn hóa không phải hàng hóa nhưng sản phẩm văn hóa đã là văn

hóa Ta nhận thúc cái đó tùy theo quan điểm văn minh của ta mà Nghiệp tập thể

có một ảnh hưởng rất quan trọng

Ngành tâm lý không thể tách rời khỏi văn hóa, kinh tế và lịch sử

Ví dụ, nếu nhà ở là sản phẩm của một văn minh cá nhân mỗi gia đình một nhà thì đến một ngày nào đó, chúng ta không thể "chứa" ông nội hay bà ngoại đến ghé thăm Nói cách khác, sản phẩm kinh tế thay đổi tâm lý văn hóa con người

Chúng ta ra quán kêu trà Lipton trong một tách nước nóng thì có vẻ lịch sự hơn là xin một chút nước trà nóng !

Trang 4

B Ngành khoa học tâm lý ra sao ?

Ngành này là sản phẩm văn hóa phương Tây, cần được đối chiếu với những hiểu biết Á châu về con người

Nhiều bạn nghĩ rằng phương Đông không có một "ngành" tâm lý học thật sự vì không có ai ra một "lý thuyết" về con người để dựng lên một bộ môn "nội địa" với những phương pháp nghiên cứu khoa học và những suy nghỉ có hệ thống

Lời nói này hơi nông cạn vì chúng ta ngồi đây nói chuyện với nhau

Tâm lý Á Đông không bắt nguồn trên một chủ thuyết về "con người là một bộ máy hay một bộ phận" hay một "lý thuyết về hạnh phúc và giải thoát"

Phương pháp không đi từ phía trên, lấy "lý thuyết áp dụng xuống đời sống xã hội" rồi kiểm chứng sự việc cụ thể

Tâm lý Á Đông bắt đầu bằng quan sát thực tế con người

Từ thái độ duy vật này mà xây dựng những quan điểm tổng quát và ý niệm tổng hợp về cuộc sống

Khi đi từ "dưới lên trên" thì phương pháp luận Á Đông là một phương pháp vô cùng cụ thể, nhân đạo và dân chủ

Như vậy, một bên thì tâm lý Âu châu xem cuộc sống tình dục, mà nói "đời là

khoái trá" Con người va chạm với thực tế, nên sanh ra những thiếu thốn và gặp

những trở ngại làm khổ

Bên kia, tâm lý nhà Phật nhận xét hiện thực "Đời là khổ "

Đó không phải là hậu quả của một mô hình về hạnh phúc

Chung với đó, sự "không hiểu biết" và cái "dốt" của con người là một thực tế thứ hai không có gì là "khoái trá"

Vậy tôi xin lượt hai nền tảng văn minh Âu và Á, trên ba điểm cơ bản như sau

1 Về vai trò triết học

Nền giáo dục Tây Âu để lại cho Á châu nhiều bài bản ghi các ông Socrate, Platon

và Aristote là nhà triết học cơ bản duy nhất của văn minh nhân loại toàn cầu

Trang 5

Gần đây, các nước châu Á ráo riết quay về nguồn gốc để phát huy kiến thức triết học đặc thù của vùng mình

Thật vậy, định nghĩa cổ điển của triết học Tây phương là ba vị Lão Tử, Gotama

Siddhattha và Khổng Tử không phải là nhà triết học Họ không có viết luận sách

Đạo giáo của Lão Tử, Khổng giáo và Phật giáo là những lời "giáo dục", là những bài "dạy đời" nói về cuộc sống, nói về vũ trụ

Đây cũng không phải là "một tôn giáo thật sự" vì kinh điển của họ không do Chúa Trời hướng dẫn ghi chép

Hơn nữa, có quá nhiều trường phái, không có một hệ tổ chức duy nhất, và không

có một Người giáo chủ chỉ đạo Sự thật (Chỉ đạo trong nghĩa Hán Nôm chỉ đường)

2 Về nguồn gốc văn hoá của tâm lý

Ngành tâm lý Tây phương phát triển theo hai hướng dưới sự ảnh hưởng của triết học và văn hóa Do Thái, Hy Lạp và La Mã

Hướng đầu nghiên cứu sản phẩm của trí óc như một bộ phận, một máy của cơ thể

con người Bộ óc có tinh thần, có tâm lý, có suy nghĩ hướng về mục tiêu có lợi ích, có năng suất hữu hiệu cao Như thế, chúng ta có thể áp dụng tâm lý vào xí nghiệp, vào xã hội học, vào kinh tế chính trị, vào thị trường tiêu thụ (psychologie sociale)

Hướng thứ nhì phân tích tâm lý (psychanalyse - phân tâm học) như một bộ máy

đặt dưới sự chỉ đạo của sinh lý và tình dục nhằm đem lại cho con người lí thú, hạnh phúc và cho loài người tồn tại

Như thế, nội tâm có hai phần

Phần nổi là cái Ý Thức (le Conscient), và phần ngầm là cái Vô (Ý ) Thức

(l'Inconscient) Vô Thức điều khiển Ý Thức và hành vi con người

Quan điểm định nghĩa Vô Thức là nó không có giới hạn, không bị ràng buộc bởi thời gian, bởi không gian và không theo qui luật mâu thuẫn

Trong khi đó, Ý Thức phải đối phó với những ràng buộc này mới đi vào xã hội và tập thể được

Những khó khăn thực hiện tâm lý khoái trá, gây ra những triệu chứng bệnh tâm lý

và bệnh xã hội

Trang 6

Như thế, mối dây lịch sử định nghĩa giữa Vô Thức và Tâm linh là đạo Công Giáo Cái Vô Thức là một dạng còn "vô thần" của linh hồn con người, trước khi ý thức mình có một "bộ phận" của hồn Chúa trong mình - Thần Linh con người, phi không gian, phi thời gian và phi mâu thuẫn

Do đó, mặc cảm tội lỗi của con người là kế thừa của lỗi nguyên thủy do cập chàng

Adam với nàng Eve, ham sinh dục mà cải lời "cấm tìm biết" do Chúa ban ra,

muốn vượt qua cái " dốt " của họ về sinh lý tồn tại Sau "ngày thứ bảy sinh ra trần gian", Chúa cho người biết thủ tục làm " lễ xin rửa tội " vào ngày "Chúa Nhật" [gọi "lễ Mi-Sa "]

Nói đến cùng, lương tâm người công giáo chỉ chịu trách nhiệm tội lỗi trước Chúa khi trình diện Thiên Đàng

Ở trần gian, người Công giáo chịu trách nhiệm trước những người hay "cơ quan" đại diện của Chúa ở các nhà thờ trên thế giới, một cách nói đến vấn đề toàn cầu hóa tôn giáo

Do dó, luật tâm lý là cá nhân chịu trách nhiệm bản thân những gì mình làm

Và trách nhiệm cá nhân có thể tách rời với trách nhiệm tập thể, thậm chí có thể độc lập với tập thể

Á châu không có ý niệm " Chúa ở trên trời cai quản "mà chỉ có truyền thống quan niệm "Trời" là một sức mạnh vô hình theo thứ tự bộ ba "Thiên-Địa-Nhân"

(Tục lệ dân gian kêu Trời Đất chứng kiến như thí dụ Trời đánh, tránh bữa ăn) Thêm vào đó, chúng ta phải biết là khi chữ Quốc ngữ chuyển từ tiếng Hán-Nôm sang bảng chữ La-tin, thì một số ý niệm triết học, tôn giáo và chính trị mới được nhập vào văn hóa Việt Nam

Cũng như ý niệm nói về Chúa (vua chúa, chúa trời, Thiên tử và Thượng đế), về Thần (thần triều và thiên thần), về Tôi (cái tôi, tôi tớ và bản ngã)

3 Về biện chứng luận trong tâm lý

Từ cuối thế kỷ thứ 19, một số phong trào tư tưởng ra đời để khai triển thế nào là

quan hệ biện chứng giữa tinh thần và vật chất

Vật chất đi trước và có tính cách quyết định tinh thần con người, là một phương pháp kinh tế luận

Phương pháp luận này là con đẻ của truyền thống tư tưởng vừa tôn giáo, vừa triết học

Trang 7

* Về triết học thì dựa trên René Descartes của Pháp, và Friedrich Hegel và Emmanuel

Kant của Đức Theo các vị này thì mọi vấn đề đều có hai vế

Khi biện chứng vô hình, thì vế duy tâm và vế duy vật luôn luôn đưa đến vị trí mâu thuẫn Khi mâu thuẫn đối kháng thì phải giẩi quyết bằng đấu tranh tuyệt đối

* Về tôn giáo thì từ đạo Công Giáo

Chúa cho bắt đầu bằng vật chất, tạo " Thiên Địa " thiết lập một môi trường đầy đủ trên mặt đất

Sau đó, "vào ngày thứ bảy", Ngài qua giai đoạn thứ nhì là uốn nắng con người ra hình Nhân, cho ra đời bằng một hơi thở cấu tạo ra lời nói

Nói như vậy, bộ ba "Thiên-Địa-Nhân" chỉ là một cách nói văn hóa của "Thánh Tam-vị" (La Sainte Trinité)

"Lô-gích" của phương pháp luận kinh tế là tìm vị trí biện chứng, để tìm cơ hội biện chứng bổ sung, biết lúc nào biện chứng đối kháng thành biện chứng đối nghịch

Do đó, tình hình cần ta phân ranh cho biết ai chi ai xuất, ai có ai không có, ai thắng ai thua, ai vô thức hay ai ý thức, v.v

Biện chứng máy móc này thu hẹp điều kiện thực tế thiên nhiên và xã hội con người Câu trả lời vấn đề duy tâm và duy vật bằng qui luật tranh chấp, rất xa với tâm lý con người

Thật vậy, con người không phải là một hàng hoá kinh tế bình thường, đánh giá theo phương pháp kinh tế luận như một bộ máy "sản xuất và tiêu thụ", ví dụ sản xuất khoái trá và sinh dục, sản xuất nhu cầu và tiêu thụ con người như một con số lao động

Lô-gích Á đông nói tâm lý, tình cảm và lý trí con người vừa là sức mạnh ban đầu của các dự án sống, vừa là động cơ sản xuất vật chất và phi vật chất của con người và xã hội

Nói cách khác, Con Người là điều kiện duy nhất của biện chứng tại vì con người không thể mâu thuẫn với chính bản thân mình

Như vậy, biện chứng Á đông xem con người như một " căn biện chứng âm dương

cân đối và đề huề "

Trang 8

Vật chất quyết định tinh thần và cùng một lúc và trong một động cơ, tinh thần

quyết định vật chất

Hiện tượng học nêu rõ phép biện chứng là do điều kiệnvật chất và điều kiện tinh thần - chớ không phải đơn thuần vật chất và tinh thần mà thôi - Hai điều kiện tổng hợp này xuất phát từ con người, để con người xây dựng mình và xây dựng môi trường

Với cái nhìn đó, tôn giáo là một phương pháp đạo đức giáo huấn - giáo dục và

huấn luyện - có sinh hoạt tư tưởng duy vật và duy tâm trên một chức năng tâm lý gọi là lòng tin tưởng

Như vậy, Nghiệp vừa là vốn lịch sữ, vừa là lòng tin nơi tương lai

C Xem bốn quan điểm Phật học về con người

1 Cái " Tôi tâm lý "trong văn hóa Âu châu và theo nhà Phật

Theo Âu châu, cái "Tôi" được cấu trúc (structurer) bằng ngôn ngữ

Khi tôi nói, thì lời nói của Tôi xác nhận tôi là tôi Và khi tôi lên tiếng, thì những lời đó qui định thân phận tôi là người

Như vậy, tôi thực hiện nội dung lời nói ; tôi trung thành với ý của tôi như một lời hứa của tôi đối với tôi và đối với bên ngoài

Như thế, Tôi ra mắt tôi và ra mắt người đời và xã hội

Ta gọi đó là vinh dự và thể diện như một bàn chứng cấu tạo hiện-thể

Từ đó, "thương người như thể thương thân" mới có giá trị (Xin nói thêm đây là chữ "Thể" thuộc ý niệm Á đông không có tương đương trong triết học Âu châu)

Khi tôi phát ngôn với tư cách một người công dân thì tôi cư xử, hành động, suy nghĩ như một công dân được bình đẳng, và người ta nhận tôi như thế Ngược lại, trong xí nghiệp thì tôi để qui chế "công dân" ở nhà mà lấy nón "công nhân làm thợ" đội vào nhận kỷ kuật

Như vậy, lời là cái qui định tư cách và nhân cách con người

Cái bề trong của cái Tôi đó rất vững chắc, làm trung tâm của cuộc sống

Nhờ cái bề ngoài nên cái Tôi biết chỗ hư, chỗ hỏng để sửa sai từ thuở bé đến khi tuổi già Cái Tôi đó không vô thường và không vô ngã!

Trang 9

Phật học không giới hạn cái "Tôi" theo tâm lý hữu dụng này

Do đó, có người thấy đây đã là một sự thiếu kém của văn hóa phương Đông Thử xem thuyết "Không-không" của nhà Phật thì mình hiểu như thế nào?

Cái "Tôi" cấu tạo bằng ngôn ngữ, có phần đúng

Nhưng, đây không đủ để diễn tả toàn diện sự thật con người thường xuyên thay đổi, với những lúc im lìm không cần ra lời

Chúng ta lẩn quẩn trong vòng thuyết "12 Nhân Duyên" của nhà Phật

Chúng ta còn luân chuyển trong Luân hồi của thế giới ngôn ngữ

Đây là "thế gian Sắc giới" qui định bởi ngôn ngữ, một thế gian mà lời nói là một công cụ suy nghỉ ràng buộc con người

Lời nói là cái cọ sơn tô màu cho đời ra nhiều "sắc" khác biệt đối chọi với nhau, ra những "giới" tranh đua với nhau

Tâm lý con người "xê dịch" giữa hai thế giới

Đó là thế giới "con người" trong vòng luân hồi sinh tử, và thế giới "lời nói" theo cái sinh tử của từng lời đã nói, của những lời chưa nói mà đã là lời chết, và những lời sắp nói hay không cần phải nói

Như vậy, sau khi nhân loại "sản xuất" cái "Tôi" để phát triển xã hội, thì cái "Tôi"

biến từng người một thành tù nhân của ngôn ngữ mình

Ta có thể "xả" trong nghĩa buông thả, để ra khỏi vòng ngôn ngữ, chớ không phải

"nói xả" để xả giận, xả sinh và xả trách cuộc đời

Vì thế, nếu tâm lý không ý thức vai trò ngôn ngữ thì đến một lúc nào đó - và lúc

đó ta không biết trước được -, chúng ta hết làm chủ và hết biết nghe người bạn mà chỉ biết đấu khẩu

Đến lúc đó, thay gì dùng lời để suy nghĩ giác ngộ, thì ta cố tìm một ẩn ý nơi người

ta mà sanh ra bệnh sợ hãi hay bệnh suy diễn trầm trọng

Cái "Sợ" và cái "Dốt" tạo nghi vấn cho những người bước chân vào thế giới "địa

ngục" - ngục trên đất - lệ thuộc hoàn toàn vào những nội tâm không còn biết giá

trị "thông tin"

Trang 10

Thế giới địa ngục đó là "thế gian Dục giới" đặt dưới sự chỉ đạo của những gì thúc giục, và cám dỗ chúng ta ra ngoài tầm tự do suy nghĩ và ngoài quyền định đoạt của con người

Cái "Tôi" giác ngộ là một cái Tôi hiểu được lô-gích của ngôn ngữ

Ta cần có ngôn ngữ như là một công cụ giải thoát, nhưng ta cũng thấy nó là một công cụ giam cầm

Phương pháp biến chế tâm lý như thế nào ?

"Tôi hãnh diện Tôi là tôi" có nghĩa là "Tôi" thành một nhân vật

Khi tôi là một nhân vật, thì con người tôi - trên phương diện nào đó - đã tự biến

mình thành một món vật, và chấp nhận mình như một đồ vật, một động vật

Phương pháp tâm lý tự nhiên của ngôn ngữ là "món vật hóa" (réification)

Không ai tránh khỏi động cơ này: có ngôn ngữ, là có "món vật hoá" và đây là điều kiện duy nhất để trao đổi

Như vậy, địa bàn ngôn ngữ thu gọn con người thành một món đồ kinh tế vì có sự

trao lời và trao đổi giữa người và người

Từ đó, luân lý con người và đạo đức xã hội bị ảnh hưởng, có khuynh hướng quản

lý con người như một "yếu tố điều hành lao động và thị trường"

Như thế, giác ngộ là giải thoát khỏi một loại thế giới chỉ qui định bằng lời nói, tin tức và lợi nhuận

Đó là ý nghĩa của cái Tôi vô thường, vô ngã: có như không, không như có

Đường đó là con đường dẫn đến thế giới Niết Bàn, cái thế gian thứ ba của Tam Giới gọi là "thế gian Vô-sắc giới" không bị qui định bởi "sắc" màu của cuộc sống, những sắc màu của lời nói dùng để che khuất bản chất thật của mọi việc

Như vậy, giác ngộ là giải phóng khỏi vòng ngôn ngữ, khỏi vòng nhân duyên và nhân quả của những "Lời" còn ảnh hưởng trên tôi

Có lẽ chốn Niết Bàn không xa lắm: đó là một nơi, một chốc lát, một tâm trạng mổi khi xuất hiện khác nhau, thì khác nhau

Cái khác nhau đó không nhất định là mâu thuẫn

Trang 11

Nếu có mâu thuẫn thì mâu thuẫn cũng vô thường, có như có và có như không, vì nội tâm con người không mâu thuẫn với nhân quả của mình

2 "Đời là khổ" hay "đời là sung sướng" ?

Hai câu hỏi này không có một trả lời "khách quan"

Tây phương quan niệm rằng sự đau khổ là hậu quả của thiếu thốn: cơ bản là thiếu tình thương, thiếu tình cảm, thiếu sự thừa nhận và dỉ nhiên, thiếu vật chất

Lý tưởng con người là đạt chỗ đứng sung sướng thú vị nhưng vì sự ham muốn và

có yêu cầu bên ngoài nên con người thấy đời quá cấm đoán, cuốc sống còn thiếu thốn, tức đời là khổ

Ham muốn cũ nuôi dưỡng ham muốn mới, và cứ như thế mà con người xây dựng

ý niệm hạnh phúc qua công trình tích lũy, tích lũy đồ và tích lũy tình yêu

Tánh đua đòi đi chung với cảm xúc sai lầm tội lỗi; đi chung với ý muốn thành công mà sợ không thành công

Đây là cái khổ thứ nhì của cuộc sống chỉ có kinh tế tranh đua

Bài dạy của "Dược Sư Phật" nói thật rõ: Đời và Đạo là hai bờ đường dẫn lối tôi thoát khỏi tôi

Khó khăn và hưởng thụ là hai thử thách để trả lời câu hỏi này: Đời làm sung sướng và Đạo để giải khổ

Khi nghe nói đạo Phật quan niệm " đời là khổ " thì một số học giả Tây phương nghĩ rằng đạo Phật là một đạo bi quan, vô thần và mê tính vì không có Chúa dẫn đường, và không có một kinh thuyết thống nhất

Phật giáo là một suy nghĩ không tích cực, có một quan niệm sống rất buồn về con người, về đời và về xã hội

Với quan điểm này thì quả thực văn minh, tâm lý và kỹ thuật phương Tây là quá tốt, đem lại cho loài người những sung sướng đẹp nhất của thiên đàn

Tôi xin hiểu như thế này

Nếu đời là sung sướng thì ta "thương thuyết" với đời sống riêng của mình

Nếu đời là khổ thì ta "thương thuyết" với cái "nghiệp" để ra khỏi vòng lẩn quẩn luân hồi

Ngày đăng: 13/01/2016, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w