Lời cảm ơn Trước tiên các tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới Câu lạc bộ Tình nguyên trẻ, báo sinh viên Việt Nam, những người đã giúp chúng tôi tiến hành cuộc điều tra về trẻ đường
Trang 1Trẻ đường phố Việt Nam
Những nguyên nhân truyền thống và những nguyên nhân mới, mối quan hệ giữa các
nguyên nhân này trong nền kinh tế đang phát triển
Tháng 7, năm 2005
Dương Kim Hồng*Diễn đàn Phát triển Việt Nam
Kenichi Ohno∗Diễn đàn Phát triển Việt Nam
và Viện nghiên cứu chính sách quốc gia sau đại học Nhật Bản
Tóm tắt
Trẻ đường phố tại Việt Nam, một đất nước đang phát triển và hội nhập
khá nhanh, xuất hiện do một hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm
những nguyên nhân truyền thống như trẻ bị mồ côi, có cha mẹ ly dị và
những nguyên nhân mới như nguyên nhân kinh tế Trong bài viết này, các
tác giả đã điểm lại định nghĩa và phân loại trẻ đường phố các nghiên cứu
trước đây Tình hình trẻ đường phố ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
cũng được so sánh trong điều kiện thời gian thay đổi Bài viết cũng nêu
lên một cách phân loại trẻ đường phố mới dựa trên tiêu chí nguyên nhân
và hoàn cảnh Trong đó, nguyên nhân được phân thành gia đình tan vỡ,
vấn đề nhận thức, và di cư kinh tế Hoàn cảnh được phân thành những
đảm bảo hiện tại và đầu tư cho tương lai Bài viết cũng chỉ ra rằng nguyên
những trẻ lang thang do nguyên nhân gia đình không hạnh phúc là nhóm
trẻ khó hỗ trợ nhất trong khi đó thì nhóm trẻ di cư kinh tế lại luôn mong
muốn được đi học và có một cuộc sống tốt hơn Tuy nhiên, xu hướng phát
triển của trẻ lang thang lại luôn gặp những trở ngại và bị gián đoạn, thậm
chí là lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn Và vì không phải trẻ đường phố
nào cũng giống trẻ đường phố nào, những can thiệp trợ giúp trẻ cũng cần
phải điều chỉnh sao cho phù hợp với nhu cầu của từng nhóm trẻ
∗ Dương Kim Hồng là nghiên cứu viên tại Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) Hà Nội, và Kenichi Ohno
Trang 2Lời cảm ơn
Trước tiên các tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới Câu lạc bộ Tình nguyên trẻ, báo sinh viên Việt Nam, những người đã giúp chúng tôi tiến hành cuộc điều tra về trẻ đường phố tại Hà Nội vào tháng 6 năm 2004
Chúng tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ của Bộ lao động, thương binh và xã hội, Sở lao động, thương binh và xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em
Hà Nội, Ủy ban dân số, gia đình, trẻ em quận Hoàn Kiếm, quận Ba Đình, quận Thanh Xuân và quận Tây Hồ đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, cung cấp những nhận xét chân thành và những số liệu rất quý giá
Chúng tôi cũng rất biết ơn những cán bộ của tổ chức Terre des hommes Foundation, những người đã chia sẻ với chúng tôi những kinh nghiệm làm việc và những số liệu quý giá về trẻ đường phố tại thành phố Hồ Chí Minh Nếu không có những thông tin này, nghiên cứu của chúng tôi chắc hẳn sẽ không thể hoàn chỉnh được
Trong quá trình viết, chúng tôi cũng nhận được rất nhiều những nhận xét, đóng góp quý giá từ những vị khách đến tham dự hội thảo mà Diễn đàn Phát triển Việt Nam tổ chức và đồng tổ chức ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tại Việt Nam và ở Tokyo và Osaka tại Nhật Bản Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các vị khách đã đến tham dự những hội thảo này
Những buổi hội thảo của chúng tôi có được sự thành công nói trên là nhờ có sự nhiệt tình giúp đỡ rất lớn trong công tác tổ chức của Tiến sỹ Trương Thị Minh Sâm, Phó Viện trưởng, Giám đốc trung tâm Kinh tế học và Phát triển, Trung tâm khoa học, xã hội và nhân văn quốc gia, Viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và chị Azko Hayashida, Viện nghiên cứu chính sách quốc gia sau đại học (GRIPS), Tokyo
Chúng tôi hiểu rằng nghiên cứu này vẫn còn rất nhiều hạn chế Những lỗi có thể có trong nghiên cứu này chỉ thuộc trách nhiệm của hai tác giả Chúng tôi cũng rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và nhận xét từ phía độc giả Xin chân thành cảm ơn
Trang 31 Dẫn nhập
Trẻ đường phố hiện đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc của Việt Nam nói chung và của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (Tp HCM) nói riêng Gần đây hình ảnh những trẻ đường phố lang thang bán kẹo cao su trong các quán ăn, hay trẻ đánh giày tại các góc phố đã không còn xa lạ với người dân thành phố Đôi khi người ta gọi chúng là trẻ đường phố hoặc trẻ “bụi đời” Tuy nhiên, nguyên nhân, cơ chế nào đã khiến những trẻ này bỏ học và lang thang trên đường phố hiện vẫn là một vấn đề cần phải phân tích sâu hơn và cụ thể hơn Những nguyên nhân như gia đình quá nghèo, cha mẹ ly dị có thể coi
là nguyên nhân chung của trẻ đường phố ở các nước đang phát triển, nhưng bên cạnh đó cũng còn có những nguyên nhân cá biệt khác cho trẻ đường phố ở Hà Nội và Tp HCM, hai thành phố đang trải qua những biến chuyển kinh tế và xã hội to lớn
Trẻ lang thang trên đường phố do rất nhiều nguyên nhân khác nhau Đối với một số em, đường phố là lối thoát cho những bất hạnh và bạo hành trong gia đình Đối với một số em khác, cuộc sống trên đường phố góp phần đem lại thu nhập cho gia đình, để giết thời gian
và để giải trí Ngoài ra, những giá trị xã hội và gia đình truyền thống bị phá vỡ, trẻ thiếu tinh thần ham học cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều trẻ không được chăm sóc và phát triển bình thường
Những trẻ làm việc và sống trên đường phố thường có rất ít kiến thức về quyền trẻ em cũng như không nhận biết được về rất nhiều rủi ro của cuộc sống đô thị khi không có sự hướng dẫn của người lớn Rất nhiều trẻ phải chịu những áp lực căng thẳng từ việc kiếm sống hàng ngày Một số trẻ uống rượu hoặc dùng ma túy để quên đi những căng thẳng và những trải nghiệm bất hạnh mà chúng gặp phải Một số trẻ được đào tạo để trở thành trẻ
ăn xin chuyên nghiệp Không ít trẻ đã phạm pháp hoặc tham gia vào các băng nhóm phạm pháp Một số trẻ khuyết tật bị đem bán cho những người lạ và bị bắt đi xin ăn trên đường phố Những trẻ em gái thường gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm hơn vì các em thường là đối tượng của việc xâm phạm tình dục
Nhờ có chính sách đổi mới, đời sống người dân Việt Nam đã được cải thiện đáng kể từ cuối những năm 1980 Những thông số quốc gia cho thấy GDP bình quân đầu người đã tăng từ 156 USD vào năm 1992 lên 482 USD vào năm 2002 (Tổng cục thống kê 2004) Vào năm 1993, tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo đói là 58% nhưng đến năm 1998 tỷ lệ này chỉ còn 37,4% và đến năm 2002 thì tỷ lệ này chỉ còn 28,9 % (Tổng cục thống kê
1999, 2004) Với những thành tựu này, Việt Nam là một nước có thành tích tốt nhất trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Mặc dù vậy, phát triển và hội nhập nhanh cũng khiến cho một số vấn đề xã hội truyền thống trở nên khó khăn hơn và không ít những vấn đề mới cũng phát sinh Khi thu nhập bình quân tăng lên, một số vấn đề trở nên phúc tạp hơn và bức xúc hơn, trẻ lang thang là một trong những vấn đề nảy sinh đó1
Trang 4
Những thành phố đang thay da đổi thịt hàng ngày như Hà Nội và Tp HCM hiện đang có nhiều cơ hội và nhu cầu về việc làm mới như giúp việc nhà, đánh giày, bán hàng rong cho dân cư trong thành phố và khách du lịch, những công việc mà những ít người dân thành phố tham gia Để đáp ứng nhu cầu này và mong muốn có thêm thu nhập đã khuyến khích nhiều lao động nông thôn ra thành phố làm việc Kiếm sống trên đường phố đôi khi nguy hiểm và mệt nhọc hơn việc cấy cày ở nông thôn, tuy nhiên làm việc trên thành phố lại đem lại nguồn thu nhập cao hơn Những người dân nông thôn vẫn ra thành phố làm ăn mặc dù họ phải sống xa quê hương, xa gia đình Hơn nữa, nhịp sống thành thị nhộn nhịp cùng với những cơ hội được học tập, đào tạo và việc làm đã thu hút các thanh niên nông thôn di cư ra thành thị Những nhân tố này chính là lực kéo cho nguồn di cư từ nông thôn
ra thành thị
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, cuộc sống nông thôn Việt Nam cũng có nhiều thay đổi đáng kể, trong đó có cả những thay đổi tích cực và tiêu cực Những đổi mới nâng cấp trong hệ thống điện đường trường trạm đã làm cho cuộc sống ở các vùng nông thôn được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có không ít các vấn đề mới nảy sinh Cách suy nghĩ cũng như trình độ học vấn của những người dân nông thôn không thể bắt kịp được với sự thay đổi kinh tế và xã hội nhanh chóng Những giá trị truyền thống bị mai một lãng quên trong khi những giá trị mới của cuộc sống nông thôn vẫn chưa xuất hiện Đất trồng trọt cho tính theo đầu người cho nông dân ngày càng giảm
do áp lực từ việc gia tăng dân số và việc thay đổi mục đích sử dụng của đất canh tác Điều này tạo ra một lượng lao động dư thừa ở các vùng nông thôn Đây chính là những lực đẩy cho nguồn di cư từ nông thôn ra thành phố của cả trẻ em và người lớn
Hiện nay đã có không ít các nhà nghiên cứu, các cán bộ nhà nước, cũng như các cán bộ
cơ sở, những người làm việc trực tiếp với trẻ em thiệt thòi ở khu vực thành phố Cũng đã
có không ít những nghiên cứu và những báo cáo về vấn đề này với những mục đích và phương pháp luận khác nhau Dựa trên một số nghiên cứu sẵn có, chúng tôi muốn phân tích sâu hơn nữa vấn đề trẻ em đường phố và tập trung vào phân tích những tác động đặt trong mối tương quan với sự phát triển kinh tế Việt Nam
Bài viết có bố cục như sau Phần tiếp theo là phần giới thiệu về một số định nghĩa và cách phân loại trẻ đường phố Phần 3 điểm lại một số những nghiên cứu về trẻ đường phố
ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có một điều tra gần đây của VDF Phần 4 phân tích những nguyên nhân và tình trạng của trẻ đường phố và mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố này Những sự dịch chuyển động giữa các nhóm trẻ ở những điều kiện khác nhau cũng được đề cập tới Phần 5 trình bày một số nghiên cứu tình huống của một
số trẻ đường phố trước đây Phần 6 là phần kết luận
2 Thế nào là một trẻ đường phố?
Trẻ đường phố là một trong những thuật ngữ phổ biến nhất được các tổ chức quốc tế và
các cơ quan có liên quan sử dụng cho nhóm trẻ được đề cập đến trong nghiên cứu này của chúng tôi Thuật ngữ này cũng được chấp nhận ở Việt Nam và được sử dụng chính
Trang 5thức trong các bộ và các cơ quan trực thuộc chính phủ Tuy nhiên, gần đây, một số nhà
nghiên cứu trong các cơ quan nhà nước của Việt Nam chuyển sang dùng thuật ngữ trẻ
lang thang và kiếm sống trên đường phố Trong bài tham luận này, thuật ngữ trẻ đường phố vẫn được sử dụng vì đây vẫn là thuật ngữ đã và đang được dùng rộng rãi và phổ biến
trên thế giới
Ngoài việc đề cập đến việc lựa chọn thuật ngữ sử dụng, phần này còn đề cập đến những khó khăn trong việc xây dựng một thuật ngữ hoàn chỉnh và việc xác định số lượng trẻ theo định nghĩa tương ứng Hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một con số chính xác cho
số trẻ lang thang lao động và kiếm sống trên đường phố, con số ước tính được các tổ chức đưa ra cũng rất khác biệt Rõ ràng là vấn đề định nghĩa và xác định số lượng có liên quan chặt chẽ với nhau Để có thể so sánh được các con số về trẻ lang thang đường phố được xác định tại những địa điểm và thời gian khác nhau thì cần phải có một số liệu được thu thập theo một định nghĩa thống nhất - hoặc ít nhất cũngtương tự Ngoài ra, trẻ em đường phố rất khác nhau và không đồng nhất hoàn toàn Mỗi trẻ có một hoàn cảnh gia đình khác nhau, một lý do khác nhau phải sinh sống trên đường phố, có trình độ học vấn khác nhau và những yêu cầu khác nhau cần được đáp ứng Một cách phân loại hiệu quả
sẽ đem lại một cách hiểu đúng và chính xác hơn về những vấn đề và những nhu cầu của từng nhóm trẻ đường phố
2.1 Những định nghĩa của chính phủ và các tổ chức quốc tế
Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa trẻ đường phố Phần này sẽ giới thiệu về một số định nghĩa được sử dụng rộng rãi hiện nay, đó là định nghĩa của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA), định nghĩa của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) và định nghĩa của Terre des hommes Foundation, một tổ chức phi chính phủ của Thụy Sỹ hoạt động ở Việt Nam từ năm 1989
Theo MOLISA, trẻ đường phố là một trong mười nhóm trẻ2 có hoàn cảnh đặc biệt Trẻ
em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không
ổn định, hoặc là trẻ em cùng với gia đình đi lang thang (Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua, kỳ họp lần thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, trang 2) Theo định nghĩa này, tổng
số trẻ em lang thang trên cả nước ước tính khoảng 19.000 em trong năm 2003, trong đó các em lang thang ở Hà Nội chiếm khoảng 1.500 và ở Tp Hồ Chí Minh là khoảng gần 9.000 em MOLISA không tiến hành phân loại trẻ em lang thang
UNICEF định nghĩa trẻ em đường phố là những trẻ dưới 18 tuổi dành phần lớn thời gian của mình trên đường phố Theo UNICEF, trẻ em đường phố có thể được chia làm 3 nhóm
khác nhau: Trẻ sống trên đường phố, trẻ lao động trên đường phố và trẻ lang thang sống
cùng gia đình trên đường phố Trẻ sống trên đường phố là những trẻ đã mất mối liên hệ
cùng gia đình và phải sống một mình trên đường phố Trẻ lao động trên đường phố là
2 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm (1) trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; (2) trẻ em
Trang 6những trẻ dành toàn bộ hoặc phần lớn thời gian trên đường phố để lao động kiếm sống cho gia đình hoặc cho bản thân trẻ (những trẻ này có thể vẫn còn gia đình và không thường xuyên ngủ qua đêm trên đường phố) Trẻ lang thang sống cùng gia đình trên đường phố là những trẻ sinh sống cùng gia đình và lang thang kiếm sống trên đường phố Những định nghĩa và cách phân loại của Terre des hommes cũng tương tự như định nghĩa
và cách phân loại của UNICEF Do vậy mà những nghiên cứu của UNICEF và Terre des hommes khá tương đồng để có thể so sánh được Trong cuộc điều tra được tiến hành vào năm 2000 của tổ chức Terre des hommes (2004), trẻ đường phố được định nghĩa là những trẻ “dưới 18 tuổi, kiếm tiền bằng những nghề không ổn định ngoài đường phố như xin ăn, lượm rác, bán hàng rong, phu khuân vác, đánh giày, móc túi, ăn cắp vặt và thuộc bất cứ nhóm nào trong những nhóm sau:
Bảng 1 Cách phân loại trẻ đường phố của tổ chức Terre des hommes
A2: Không ngủ ngoài đường
B Trẻ em ngủ ngoài đường với gia đình hoặc người bảo hộ
C Trẻ em sống ở nhà nhưng làm việc trong những môi trường “nguy hiểm”
điều kiện sau: (1) làm việc ban đêm; (2) làm công việc không thường xuyên
mại dâm hay ma cô; (3) ăn xin; và (4) sử dụng hoặc bán ma túy
Nguồn: Biên soạn từ tài liệu của tổ chức Terre des hommes (2004), tr.19
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu sử dụng cách định nghĩa của tổ chức Terre des
hommes kèm theo một số thay đổi nhỏ Trẻ đường phố được hiểu là: Những trẻ dưới18
tuổi thường xuyên phải kiếm sống trên đường phố thông qua những công việc không ổn định
2.2 Những khó khăn trong việc thu thập số liệu
Giả sử tất cả các tổ chức đều thống nhất sử dụng chung một định nghĩa và cách phân loại trẻ đường phố, mà điều này rất khó có thể xảy ra, thì việc thu thập số liệu cũng không vì vậy mà dễ dàng hơn vì trẻ đường phố thường hay ẩn tránh và di chuyển trên một địa bàn rộng lớn hoặc có những trẻ chỉ lang thang trong một khoảng thời gian nhất định trong năm
Sự ẩn tránh của trẻ đường phố là một trong những khó khăn lớn nhất trong các cuộc nghiên cứu và điều tra Một số lao động trẻ em thường dễ nhìn thấy hơn như: trẻ đánh
Trang 7giày, trẻ đẩy xe ba gác, trẻ ăn xin, và những trẻ bán dạo những đồ rẻ tiền, áo phông, sách
du lịch, kẹo cao su, vé số hoặc kết quả xổ số Ngoài những em này, còn có một số các trẻ đường phố khác khó nhìn thấy hơn như: những trẻ bán ma túy, trẻ có liên quan đến hoạt động mại dâm và những trẻ chỉ làm việc về đêm Ví dụ tại chợ Cầu Muối Tp HCM, thường xuyên có một nhóm trẻ nhặt rau rơi thường làm việc từ 2 giờ đến 5 hoặc 7 giờ sáng Những trẻ này sẽ ngủ bù vào thời gian ban ngày Chính vì vậy, nếu cuộc điều tra về trẻ đường phố được tiến hành vào ban ngày thì những em này sẽ không nằm trong đối tượng được điều tra (Terre des hommes Foundation 2004)
Có rất nhiều trẻ đường phố thường xuyên di chuyển địa bàn hoạt động từ nơi này qua nơi khác để tìm khách hàng Một số trẻ đường phố sẵn sàng di chuyển tới bất kỳ nơi nào miễn là các em có thể tìm kiếm được một cơ hội sinh nhai Chính sự dịch chuyển rất thất thường này của trẻ đường phố đã tạo nên những trở ngại cho việc xác định số lượng trẻ Một số trẻ lại thường xuyên thay đổi nghề kiếm sống
Hơn thế nữa, các hoạt động trên hè phố thường mang tính chất theo mùa Một cuộc điều tra được tiến hành vào mùa hè sẽ cho kết quả khác với một cuộc điều tra được tiến hành vào mùa đông Kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự tăng giảm số trẻ đường phố
Theo tiến sỹ Trần Trọng Khuê, viện Khoa học xã hội tại Tp HCM và cô Nguyễn Thị Thanh Minh, Ủy ban dân số gia đình trẻ em tp.HCM, số lượng trẻ đường phố trung bình ước tính tại tp.HCM vào năm 2003 là khoảng 8.000 em Tuy nhiên, con số này cũng còn biến đổi rất nhiều trong năm Số lượng trẻ đường phố luôn luôn tăng cao nhất vào thời điểm mùa hè khi trẻ em không phải đến trường Những trẻ sống trong các gia đình nông thôn khó khăn thường nhân dịp nghỉ hè lên thành phố làm thêm kiếm tiền phụ giúp gia đình Các em bỏ nhà lên thành phố và tham gia vào việc bán hàng dạo hoặc nhặt rác Thu nhập mà một trẻ như vậy có thể kiếm được một tháng có thể gấp 10 lần số tiền mà cha
mẹ chúng ở nhà kiếm được khi làm nghề nông3 Hay nói cách khác, một trẻ lao động hè như vậy có thể kiếm được một khoản tiền tương đương với số tiền mà cả gia đình kiếm được trong vòng một năm Vì vậy, trẻ thường sẵn sàng hy sinh kỳ nghỉ hè của mình để có được một khoản thu nhập tương đối dành cho gia đình Đây là một cách lý giải rất dể hiểu cho việc số lượng trẻ đường phố tăng vọt vào thời điểm mùa hè tại các thành phố lớn
Trong những ngày lễ lớn như Ngày Quốc Khánh hoặc dịp Seagames 22, số lượng trẻ đường phố cũng thay đổi đáng kể Để chuẩn bị cho những dịp này, công an thành phố thường xuyên đi thu gom những trẻ đường phố và người lang thang vô gia cư vào các trường trại Trong suốt khoảng thời gian diễn ra các chiến dịch thu gom, nhiều trẻ đường phố đã lẩn trốn khỏi những khu vực kiếm sống hàng ngày4 Để đối phó lại các chiến dich
3 Những thông tin được thu thập trong cuộc hội thảo được VDF tổ chức tại Tp HCM vào tháng 8 năm
2004 Tiến sỹ Minh cho biết một ví dụ về một trẻ đường phố quê ở Huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi
có mức thu nhập bình quân hàng tháng vào khoảng 100.000 đồng, nếu làm nghề bán vé số dạo ở tp HCM
Trang 8thu gom này, trẻ đường phố hoặc là ăn mặc chỉnh tề hơn để tránh bị để ý hoặc tạm thời di chuyển sang các khu vực vùng biên để tránh bị thu gom Chính vì vậy, nếu các cuộc điều tra bỏ qua các yếu tố này thì kết quả điều tra sẽ rất dễ gây ra những hiểu lầm cho người
sử dụng
Để kiểm soát được sự di chuyển và thay đổi của trẻ đường phố, các cuộc điều tra nên được tiến hành vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm và nhiều thời điểm khác nhau trong một ngày, sự phân bố thời gian điều tra như vậy sẽ cho phép các nhà nghiên cứu thu thập được những thông tin chi tiết về sự di chuyển của trẻ đường phố và nắm bắt được xu thế chung Tuy nhiên, hầu hết các cuộc điều tra đều không được tiến hành theo hình thức này do những sự hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn nhân lực
3 Những so sánh giữa hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh,
trước đây và hiện nay
Trong số các cuộc điều tra về trẻ đường phố ở Việt Nam, chúng tôi chọn ra 4 điều tra để tiến hành so sánh Trong đó, có hai cuộc điều tra được tiến hành ở Tp HCM, hai cuộc điều tra được tiến hành ở Hà Nội Và trong đó, hai cuộc điều tra được tiến hành trước đây gần 10 năm, và hai cuộc điều tra được tiến hành gần đây Bốn cuộc điều tra đó là:
(i) Terre des hommes Foundation, Trẻ bụi đời tại Thành phố Hồ Chí Minh (1992)
Cuộc điều tra được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1992
(ii) Terre des hommes Foundation, Nghiên cứu về trẻ em đường phố ở Thành phố
Hồ Chí Minh (2004) Cuộc điều tra được tiến hành vào năm 2000 và được bổ
sung kết quả từ các cuộc thảo luận nhóm của các phỏng vấn viên được tiến hành vào năm 2002
(iii) Nguyễn Văn Buồm và Jonathan Caseley, Điều tra về tình hình trẻ đường phố
tại Hà Nội (tháng 3 năm 1996) Cuộc điều tra được tiến hành vào tháng 11 và 12
Cuộc điều tra đầu tiên được tổ chức Terre des hommes tiến hành vào 6 tháng đầu năm
1992 tại 7 địa điểm khác nhau trong thành phố là: Khu vực Bến Nghé (Quận 1), khu vực chọ Bến Thành (Quận 1), khu vực chợ Cầu Mống, Cầu Muối (Quận 1), khu vực chợ Lớn (Quận 5), khu vực ga Sài Gòn (Quận 3), khu vực Bến xe miền Tây (Quận Bình Chánh),
Trang 9và khu vự bến xe Văn Thánh (Quận Bình Thạnh) Tại mỗi khu vực, các trẻ đường phố được lựa chọn để phỏng vấn một cách ngẫu nhiên Tỷ lệ giới tính của các trẻ được phỏng vấn được lựa chọn trên cơ sở gần nhất với tỷ lệ số trẻ nam/nữ thực tế trên đường phố Các cuộc điều tra được ba cán bộ dự án và các tình nguyện viên tiến hành thông qua một bảng câu hỏi phỏng vấn
Cuộc điều tra thứ hai của Terre des hommes được tiến hành điều tra vào năm 2000 với một số điều chỉnh theo thời gian Khu vực nghiên cứu là chợ Cầu Muối, khu vực Cầu Mống, khu vực Phạm Ngũ Lão, khu vực Bến Nghé, khu vực Văn Thánh, khu vực ga Sài Gòn, khu vực Chợ Lớn, khu vực Bến xe Miền Tây và khu vực chợ Bến Thành Những điều tra viên tiến hành điều tra trong 11 ngày ở mỗi khu vực Các điều tra viên trước tiên tiến hành điều tra những thông tin tổng hợp về cộng đồng trẻ lang thang đường phố nhằm xác định một nhóm đại diện cho những phỏng vấn cá nhân Phương pháp phỏng vấn đề ra
đã được thử nghiệm trên thực tế Sau đó, các điều tra viên tiến hành một buổi hội thảo để chọn lọc một phương pháp phỏng vấn thích hợp Tại buổi hội thảo này các điều tra viên cũng đề ra những cách phân loại trẻ đường phố, định nghĩa và cách lựa chọn nhóm phỏng vấn đại diện thích hợp, phương pháp cũng như cách phỏng vấn cá nhân, thu thập số liệu
và viết báo cáo Dựa trên những kết quả thảo luận, bảng câu hỏi và kỹ thuật phỏng vấn cũng được cân đối, điều chỉnh lại Sự hỗ trợ liên tục của các điều phối viên khảo sát của Terre des hommes Foundation và những cuộc họp tất cả các nhóm thường xuyên đã tạo điều kiện cho việc theo dõi tiến trình công việc
Cuộc điều tra của hai điều tra viên Buồm và Caseley diễn ra vào năm 1995 tại 4 quận nội thành tại Hà Nội là quận Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, quận Đống Đa và quận Ba Đình và tại một huyện ngoại thành (trước đây) là huyện Gia Lâm Công cụ điều tra là một bảng câu hỏi có hai phần tách rời được sử dụng để phỏng vấn riêng biệt Các cuộc họp trao đổi giữa các phỏng vấn viên được tiến hành hàng tuần để thảo luận về tiến độ của cuộc điều tra và giải quyết các vấn đề phát sinh mà các nhóm điều tra có thể gặp phải
Cuộc điều tra gần đây nhất là cuộc điều tra của VDF được tiến hành vào tháng 6 năm
2004 tại 4 quận ở Hà Nội là quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân và quận Tây
Hồ Công cụ điều tra là một bảng câu hỏi Tham gia điều tra có một nghiên cứu viên của VDF và 3 cán bộ cơ sở của Câu Lạc Bộ Tình Nguyện Trẻ của Báo Sinh Viên Việt Nam Dưới đây là một số điểm khác biệt nổi bật cũng như những thay đổi diễn ra theo thời gian của trẻ em đường phố ở Hà Nội và Tp HCM dựa trên những kết quả điều tra của 4 cuộc điều tra nói trên Tuy nhiên, vì quy mô điều tra cũng như địa điểm điều tra của 4 cuộc điều tra không giống nhau nên sự so sánh kết quả điều tra của các cuộc điều tra có thể chưa hoàn toàn chính xác Do đó, việc xem xét và vận dụng các kết quả điều tra một cách
kỹ lưỡng là rất cần thiết Mặc dù còn có nhiều điểm hạn chế việc phân tích dựa trên kết quả thu thập được từ những cuộc điều tra nói trên vẫn đảm bảo phản ánh đúng bức tranh chân thực về vấn đề trẻ lang thang đường phố ở hai thành phố lớn
Trang 103.2 Những xu hướng của số lượng trẻ lang thang đường phố
Báo cáo thống kê hàng năm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chỉ ra rằng số trẻ đường phố tăng lên hàng năm một cách đáng kể Vào năm 1997, tổng số trẻ lang thang đường phố là 13.377 trẻ, năm 1998 là 19.047 trẻ và năm 2001 là 21.016 trẻ Những con
số này cho thấy số trẻ đường phố mới xuất hiện hàng năm nhiều hơn số lượng trẻ từ bỏ cuộc sống trên hè phố hoặc những đối tượng không còn được coi là trẻ đường phố nữa khi chúng đã trưởng thành hơn Báo cáo thống kê hàng năm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng chỉ ra rằng trẻ đường phố thường tập trung ở hai đô thị lớn là Hà Nội
và Tp HCM Mặc dù trải qua những sự kiện lớn của cả nước như Seagames 22, số lượng trẻ đường phố có tạm thời giảm xuống, nhưng nhìn chung hàng năm tổng số trẻ lang thang đường phố vẫn tăng lên rõ rệt ở cả Hà Nội và Tp HCM
Hình 1 cho thấy, theo báo cáo của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, số lượng trẻ lang thang đường phố ở Tp HCM giảm xuống trước và sau những sự kiện trọng đại Nhìn chung số lượng trẻ đường phố tăng đều và ổn định theo từng năm, tính đến năm
2001, nhưng số lượng trẻ lang thang đột ngột giảm sau khi luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua Tuy nhiên, liệu việc số lượng trẻ lang thang đường phố có tiếp tục giảm xuống hàng năm hay chỉ đây chỉ là sự thay đổi tạm thời thì vẫn chưa khẳng định được
Mặc dù các cán bộ chính quyền đều khẳng định rằng số lượng trẻ lang thang giảm xuống đáng kể sau chương trình đưa trẻ lang thang về quê hòa nhập cộng đồng năm 2003, nhưng thực chất vấn đề trẻ lang thang vẫn còn gây rất nhiều bức xúc Hiện nay, vẫn chưa
có một số liệu chính thức đáng tin cậy nào về trẻ lang thang đường phố ở Hà Nội trong một vài năm trở lại đây Theo những điều tra của VDF, số lượng trẻ đường phố hiện nay
so với những năm trước đây không hề giảm mặc dù sự xuất hiện của trẻ đường phố ít hơn
và rải rác rộng hơn Một số nhận định cho rằng vấn đề trẻ lang thang đường phố
chỉ có thể được giải quyết khi vẫn đề đói nghèo ở nông thôn được giải quyết một cấch triệt để Do vậy, liệu số lượng trẻ đường phố sẽ ổn định như hiện nay, hay còn tiếp tục thay đổi hiện vẫn là một câu hỏi mở
Trang 11Hình 1 Trẻ em đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh
Source: DOLISA, Ho Chi Minh City.
3.3 Trẻ đường phố đến từ đâu?
Phần lớn trẻ đường phố đến từ các vùng nông thôn, hiếm có trường hợp trẻ đến từ các thành phố Nhưng nếu xem xét một cach cụ thể thì những trẻ đường phố ở Tp HCM và những trẻ đường phố ở Hà Nội cũng có khá nhiều khác biệt về xu hướng phát triển và những đặc thù riêng
Theo cuộc điều tra tiến hành vào năm 1992, 49,5% trẻ đường phố ở Tp HCM đến từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền nam trung bộ Ngoài những trẻ ở Tp HCMC và đến từ các vùng lân cận, phần lớn trẻ (86%) đều đến từ các tỉnh phía nam Tại thời điểm
đó, những trẻ đến từ các tỉnh phía bắc và bắc trung bộ không có nhiều ở Tp HCM (tỷ lệ tương ứng là 7% và 6,5%)
Tính đến năm 2000, có nhiều trẻ lang thang đến từ nhiều vùng quê khác tập trung tại Tp HCM hơn, mặc dù vẫn có tời 74% trẻ đến từ các tỉnh phía nam Tuy nhiên cách phân loại trẻ đường phố cũng đem lại những thông tin chi tiết hơn Hơn 70% số trẻ nhóm A, B và nhóm C (Xem bảng 1 trên đây) đến từ các tỉnh phía nam và nam trung bộ, trong khi đó có tới 60% trẻ thuộc nhóm D (vì lý do kinh tế) đến từ các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ Điều này chỉ ra rằng, trong những năm gần đây, phần lớn trẻ miền Bắc đến Tp HCM đều
là những lao động di cư Những trẻ thuộc nhóm D có những thái độ và hành vi khác với những trẻ thuộc nhóm khác vì cuộc sống cũng như công việc của chúng “ổn định” hơn cho dù thu thập hàng tháng của các em này thường rất thấp
Trang 12Hình 3 Quê quán của trẻ đường phố tại Tp HCM theo cuộc điều tra năm 1992
Mekong delta 25.5%
South Central provinces 24%
Suburb areas 24.4%
HCMC 16%
China 0.5%
Hanoi 1.5%
No answer 1.5%
Nguồn: Terre des hommes Foundation (1992)
Hình 4 Quê quán của trẻ đường phố tại Tp HCM theo cuộc điều tra năm 2000
Hanoi 0.6%
Mekong delta 24.6%
South Central Provinces 16.6%
HCMC 16.6%
North East Provinces 16.6%
Trang 13Trong cuộc điều tra tiến hành vào năm 1995 của Buồm và Caseley, phần lớn trẻ được phỏng vấn đến từ tỉnh Thanh Hóa (27%) Tiếp đó là những trẻ đến từ tỉnh Hải Hưng (nay
là Hải Dương và Hưng Yên) (21%) Những trẻ nhà ở Hà Nội chiếm 17% và tiếp thưo là những trẻ đến từ Hà Nam (14%)
Cũng giống như tại Tp HCM, ngày càng có nhiều trẻ đến từ nhiều tỉnh khác nhau hơn tập trung tại Hà Nội hơn trong vòn 9 năm trở lại đây Tỷ lệ trẻ đến từ các miền quê lang thang tại Hà Nội được phản ánh cụ thể trong Hình 6
Hai cuộc điều tra nói trên đã khẳng định lại những điều được dự đoán trước của những cán bộ làm việc hoặc tiếp xúc với trẻ đường phố Phấn lớn trẻ đến từ các vùng nông thôn, trong đó số trẻ Thanh Hóa là đông nhất5 Mặc dù đến năm 2004, cuộc điều tra chưa tìm ra được bất kỳ trẻ lang thang tại Hà Nội nào đến từ các tỉnh phía nam.6
Ngược lại, là một trung tâm kinh tế của cả nước, Tp HCM có sức hấp dẫn đối với nguồn lao động nhập cư hơn Hà Nội Thậm chí còn có không ít những trẻ đường phố tại Tp HCM đến từ Hà Nội và Campuchia (tỷ lệ tương ứng là 0,6%) trong khi đó tại Hà Nội gần như không có một trẻ lang thang miền Nam hoặc nước ngoài nào
Hình 5 Quê quán của trẻ đường phố Hà Nội theo cuộc điều tra năm 1995
Thanh Hoa 27%
Hai Hung 21%
Hanoi 17%
Other Northern Provinces 16%
Nguồn: Buồm và Caseley (1996)
5 Thanh Hóa là một tỉnh nghèo ven biển nằm về phía Bắc Hà Nội Người dân Thanh Hóa từ trước đây đã có phong trào rời bỏ quê hương ra sinh sống và làm việc tại các thành phố lớn Hiện có 2 làng ở Thanh Hóa là Quảng Hải, Quảng Thái và Quảng Lợi đặc biệt nhiều người được biết đến vì là nơi có nhiều lao động di cư đến Hà Nội và Tp.HCM nhất
Trang 14Hình 6 Quê quán của trẻ đường phố Hà Nội theo cuộc điều tra năm 2004
Other Northern Provinces 12%
Hai Phong 4%
Lang Son 4%
Thai Binh 4%
Nghe An 7%
Bac Giang 7%
Nam Dinh 8%
Ha Nam 9%
Hung Yen 9%
Phu Tho 12%
Thanh Hoa 24%
Nguồn: Điều tra của VDF (2004)
Đối với những trẻ nam, các em thường làm các công việc đánh giày, bán vé số, móc túi,
và ăn cắp vặt ở chợ Trong khi đó, các em gái thường đi bán vé số và bán dạo trên đường phố Những trẻ còn nhỏ tuổi thường làm nghề xin ăn và nhặt phế liệu vì các em quá nhỏ không có đủ sức lao động để làm các việc khác ví dụ như khuân vác Những trẻ lớn tuổi hơn sau khi đã tích lũy được một số những kinh nghiệm nhất định thường muốn làm các việc như bán dạo trên phố Rất nhiều em cùng một lúc làm hai công việc hoặc nhiều hơn Hai đồ thị sau đây sẽ chỉ ra sự phân bố nghề nghiệp của trẻ đường phố Tp HCM và Hà Nội trong các cuộc điều tra được tiến hành vào năm 1992 và năm 2000
Trang 15Hình 7 Nghề nghiệp của trẻ đường phố Tp HCM theo điều tra năm 1992
Street vending Scavenging Begging
Portering
Nguồn: Terre des hommes Foundation (2004).
Hình 8 Nghề nghiệp của trẻ đường phố Tp HCM theo điều tra năm 2000
Lottery selling Pilfering Street vending Scavenging
Begging
at risk
Migrant children Street family
Trang 16Gần đây số trẻ đường phố làm nghề bán vé số dạo và đánh giày đặc biệt tăng cao ở Tp HCM, mặc dù trong cuộc điều tra năm 1992 thì chưa có trẻ đường phố nào làm hai công việc này Mặt khác số trẻ xin ăn lại giảm đi đáng kể
Đối với những trẻ lang thang nam ở Hà Nội, công việc thường làm nhất của các em là đánh giày và bán kết quả xổ số Nhặt phế liệu và bán hàng rong là hai công việc được các
em gái tham gia nhiều hơn Trong cuộc điều tra vào năm 1992, năm công việc mà trẻ thường làm nhất là xin ăn (9%), nhặt phế liệu (14%), bán hàng rong(23%), đánh giày (29%) và lao động chân tay (20%)
Trong hai cuộc điều tra gần đây tại Hà Nội, một cuộc điều tra được tiến hành vào năm
2003 (của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) và một cuộc điều tra được tiến hành vào năm 2004 của VDF, kết quả của hai cuộc điều tra này đều cho một kết quả tương tự về những công việc phổ thông nhất đối với trẻ đường phố tại Hà Nội
Hình 9 Nghề nghiệp của trẻ đường phố tại Hà Nội theo điều tra năm 1992 và 2003
Hand labor
Street vending
Shoe shining
Nguồn: Buồm và Caseley (1996) và những số liệu chưa được xuất bản của Ủy
ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thành phố Hà Nội (2003)
3.5 Một ghi nhận về những trẻ bán vé số
Mặc dù các công việc thường làm của trẻ lang thang đường phố tại Tp HCM và Hà Nội
có khá nhiều điểm trùng hợp, tuy nhiên, có một số công việc mà chỉ có những trẻ đương phố ở Hà Nội hoặc ở Tp HCM mới làm Một ví dụ điểm hình là việc bán vé số
Trang 17Ở Tp HCM, việc bán vé số là một công việc khá phổ biến cho các trẻ lang thang ở mọi lứa tuổi “Hệ thống phân phối” vé số tại Tp HCM dường như được “phát triển” hơn ở Hà Nội với hàng loạt các đại lý nhận phân phối vé số, sau đó lại tổ chức cho các em lang thang đi bán vé số Những đại lý này do một số người lớn đứng ra nhận vé số từ công ty
xổ số của nhà nước sau đó phân phối lại cho các em lang thang đi bán Mọi rủi ro trong kinh doanh đều do các đại lý này đứng ra chịu và đại lý sẽ trả lại cho các em lang thang
số tiến vé số chưa bán hết vào cuối ngày Những người đứng ra tổ chức này đôi khi còn cung cấp cả thức ăn và chỗ ở cho trẻ Tất cả lợi nhuận thu được từ việc bán vé số đều thuộc về quyến sở hữu của trẻ
Ở Hà Nội, việc phân phối vé số lại có quy mô nhỏ hơn Vé số được công ty xổ số của nhà nước bán cho những người bán dạo hoặc cho những bàn đại lý bán vé số nằm rải rác trên thành phố Không có trẻ lang thang nào tham gia vào công việc này và cũng không có người lớn nào đứng ra tổ chức cho trẻ lang thang bán vé số nhưng ở Tp HCM Tuy nhiên, những tiếng rao “Kết quả đây” của các em lang thang vào mỗi buổi chiều lại làm
“sôi động” cả thành phố Hàng ngày khoảng từ 5 giờ 30 đến 7 giờ tối, hàng trăm trẻ tập trung ở các trung tâm quay xổ số ở phố Tăng Bạt Hổ và phố Huế để ghi lại kết quả mới
và đem rao bán tới mọi ngõ ngách khắp Hà Nội Các em ghi lại kết quả rồi in sao ra làm nhiều bản bằng giấy than sau đó đem bán với giá 500 đồng một tờ kết quả Mỗi buổi tối một đứa trẻ nhanh chân cũng có thể kiếm được trung bình khoảng 10.000 đồng Ở Tp HCM, trái lại, lại không có trẻ đường phố nào làm công việc bán kết quả xổ số vì kết quả
xổ số thường được các đại lý vé số phát không cho người mua ngay sau khi kết quả được công bố
4 Cách phân loại mới dựa trên nguyên nhân và tình trạng hiện tại của trẻ đương phố
Mặc dù đã có không ít những cách phân loại trẻ đường phố đã được giới thiệu và áp dụng, ví dụ như cách phân loại trẻ của Terre des hommes Foundation (Bảng 1), cách phân loại này một mặt nào đó khá hữu dụng cho các cuộc điều tra, nhưng chúng ta vẫn cần có một cách phân loại trẻ lang thang có cấu trúc chặt chẽ và tổng quát hơn để có thể tiến hành được những nghiên cứu sâu hơn nữa Trong phần này, chúng tôi đề xuất một cách phân loại trẻ lang thang đường phố dựa trên những nét khác biệt của trẻ về nguyên nhân trở thành trẻ đường phố và những điều kiện hoàn cảnh hiện tại của trẻ và mối quan
hệ giữa hai yếu tố này Để có thể phân tích được điều kiện hoàn cảnh hiện tại của trẻ, chúng ta cần phải thảo luận về những yếu tố thiệt thòi của trẻ (như nghèo đói, các vấn đề sức khỏe, khủng hoảng tinh thần v.v ) và việc thiếu những đầu tư cho tương lai (như giáo dục, đào tạo, triển vọng nghề nghiệp v.v )
4.1 Những nguyên nhân
Những nguyên nhân khiến những trẻ còn đang trong tuổi đi học phải bỏ học kiếm sống
trên hè phố có thể được phân chia ra làm 3 nhóm chính sau đây: Gia đình tan vỡ, nhận