2.3.1 Chăm sóc sức khỏe Sức khỏe của người cao tuổi vào những năm tháng cuối đời là kết quả của rấtnhiều yếu tố khác nhau, được hình thành trong suốt cuộc đời như trạng thái sức khỏebẩm
Trang 1A PHẦN DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tỉ lệ sinh đẻ giảm, điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt,tuổi thọ trung bình kéo dài, cùng với những nguyên nhân chính trị - xã hội khác khiếncho tỉ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng “kỉ nguyêncủa người cao tuổi” sẽ nổi lên trong thế kỉ 21 Những dự báo trên đã thành hiện thựckhi nhóm người cao tuổi nhất thế giới tại thời điểm năm 2005 chiếm 18% tổng dân sốtoàn thế giới, 24% tại các quốc gia phát triển và 15% tại các quốc gia kém phát triển
Dự kiến đến năm 2025 sẽ đạt tới 1,2 tỷ người cao tuổi chiếm khoảng 20% dân số thếgiới
Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số với tốc độ ngày càngnhanh Theo kết quả sơ bộ Tốc độ tăng dân số 2009, tỷ lệ người cao tuổi hơn 9% Tuổithọ bình quân chung là 72,8 tuổi Tuổi thọ bình quân của Việt Nam đang tăng nhanh
so sánh giữa hai cuộc Tốc độ tăng dân số 1999 và 2009, tuổi thọ bình quân của namtăng 3,7 tuổi từ 66,5 tuổi lên 70,2 tuổi Nữ tăng 5,5 tuổi từ 70,1 tuổi lên 75,6 tuổi Số
cụ hơn 100 tuổi tăng gấp 2 lần so với Tốc độ tăng dân số 1999 (khoảng 7.200 cụ).Theo dự báo nước ta bước vào giai đoạn già hóa dân số vào năm 2015 nhưng thực tếhiện nay là ngay từ những năm 2010 Theo phân tich và nhận định của các nhà nhânkhẩu học kinh tế trong nước và ngoài nước, cơ cấu dân số Việt Nam đã bước vào giaiđoạn “Cơ cấu dân số vàng” hay “cửa sổ cơ hội dân số” hoặc “dư lợi dân số” Thôngthường cơ cấu dân số của một quốc gia sẽ chuyển đổi từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấudân số “Dư lợi nhân khẩu học” rồi tiếp đến cơ cấu dân số già Dân số Việt Nam có sựchuyển đổi đặc biệt tức là vừa bước vào giai đoạn nhiều người trong tuổi lao độngnhưng đồng thời cũng già hóa Chỉ tiêu về chất lượng dân số tuy đạt mục tiêu Chiếnlược dân số Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 đề ra, nhưng mức xuất phát điểm cònthấp về cả thể chất, trí tuệ và tinh thần Mặc dù tuổi thọ bình quân đạt 72,8 tuổi vàonăm 2009, song tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi và đứng thứ 116/182 nước trên thếgiới Người cao tuổi là mối quan tâm không chỉ của cá nhân, gia đình mà cả xã hội vìđây là nhóm đối tượng đặc thù – những người không còn làm việc một cách chính thứctrong mọi lĩnh vực nghề nghiệp Chuyển sang hoạt động trong môi trường mới với
Trang 2nhiều thay đổi đòi hỏi bản thân người cao tuổi phải thích nghi, hòa nhập với gia đình,cộng đồng và xã hội
Người cao tuổi có những ưu thế về đóng góp của họ với gia đình, xã hội, về kinhnghiệp sống và khả năng tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển Tuy nhiên, với đặcđiểm tâm lí nổi bật của người cao tuổi là nuối tiếc tuổi trẻ, hay hoài cổ Họ thườngnhắc đến quá khứ nhiều hơn hiện tại, rất tự hào với kinh nghiệm sống đã qua củamình Họ nhạy bén với cái mới, cái hiện đại, với sự biến động của lịch sử, các sự kiệndiễn ra hàng ngày Nhiều cán bộ viên chức sau khi về hưu, từ chỗ hết sức bận rộn vớicông việc nay lại rỗi rãi, không có việc gì làm, bị hụt hẫng, đồng thời lại thấy mìnhmất vị trí, quyền lực trong xã hội Họ cảm thấy không còn được kính nể, trong vọngnhư trước đây, từ đó nảy sinh stress tâm lí Cùng với sự suy giảm về sức khỏe, ngườicao tuổi nghĩ mình trở thành người thừa đối với gia đình và xã hội, mình không cònvai trò hữu ích nữa, không ai cần mình nữa Vì vậy họ cảm thấy bị bỏ rơi, cô đơn nênsinh tủi phận, buồn bã Do đó, tính tình người cao tuổi cũng thay đổi, họ trở lên cốchấp, bảo thủ, hay bám lấy cái cũ và bị gánh nặng quá khứ đè nén Chính vì những tâmsinh lí đó mà người cao tuổi cần được sự trợ giúp, quan tâm không những từ gia đình
mà cần thiết phải có sự hỗ trợ từ xã hội, chính quyền địa phương, Đảng và Nhà nước
Nhận thấy việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi hiện nay đang là vấn đề bứcthiết và cân được quan tâm nên em đã chọn đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với người caotuổi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn (khảo sát tại Phường Nguyễn Văn Cừ - TP QuyNhơn)”.Trên cơ sở khảo sát và tìm hiểu, đưa ra một số giải pháp nhằm hỗ trợ xã hộicho người cao tuổi tại Quy Nhơn nói riêng và người cao tuổi Việt Nam nói chung
2 Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu về vấn đề hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại Thành phố QuyNhơn
3 Nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu các đặc trưng về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi (sức khỏe – y tế,tinh thần, vật chất) ở Thành phố Quy Nhơn
Tìm hiểu những yếu tố xã hội – văn hóa của người cao tuổi như về giới tính, độtuổi, nghề nghiệp trước đây, thu nhập, …
Trang 3Làm rõ việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi thông qua sự giúp đỡ về: chămsóc sức khỏe, trò chuyện thăm hỏi, sinh hoạt hàng ngày, tiền/vật dụng lớn, thực phẩm/vật dụng nhỏ, việc làm/ sản xuất kinh doanh.
Đưa ra các giải pháp và định hướng đối với việc hỗ trợ xã hội cho người caotuổi
Cuối cùng, trên cơ sở phân tích và nhận định về vấn đề, luận văn đưa ra kếtluận và một số kiến nghị đối với việc hỗ trợ xã hội cho người cao tuổi, nhằm nâng cao
sự trợ giúp của cộng đồng và xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe, tinh thần cũngnhư vật chất cho người cao tuổi
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là việc hỗ trợ xã hội đối với người caotuổi, Khách thể nghiên cứu là quá trình sống của người cao tuổi (có độ tuổi từ 60 trởlên) Phạm vi nghiên cứu là khảo sát tại Phường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố QuyNhơn, Tỉnh Bình Định
5 Các giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận và những lí thuyết tiếp cận đã trình bày ở trên, tác giả đưa racác giả thuyết mà luận văn phải kiểm chứng:
- Giả thuyết thứ nhất: Người cao tuổi tại Thành phố Quy Nhơn đã thiết lập cho
mình một mạng lưới xã hội ở mức độ rộng hẹp nhất định, giúp họ giải quyết nhữngkhó khăn cả về vật chất và tinh thần trong cuộc sống
- Giả thuyết thứ hai: Sự hỗ trợ xã hội của người cao tuổi có sự khác nhau tùy
thuộc vào: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập
+ Về giới tính: có sự hỗ trợ xã hội khác nhau giữa cụ ông và cụ bà
+ Về độ tuổi : người cao tuổi càng cao thì sự hỗ trợ xã hội tăng so với nhữngngười cao tuổi trong độ tuổi “trẻ” hơn
+ Về nghề nghiệp: Người cao tuổi là hưu trí có xu hướng nhận được sự hỗ trợ
xã hội nhiều hơn so với người cao tuổi thuộc nhóm nghề khác
+ Về thu nhập: Người cao tuổi có thu nhập thấp nhận được sự hỗ trợ xã hội íthơn so với những người cao tuổi có thu nhập cao
- Giả thuyết thứ ba: Người cao tuổi sống bằng lao động hiện tại được hưởng trợ
cấp xã hội hàng tháng nhưng quy định độ tuổi được nhận trợ cấp xã hội
Trang 4- Giả thuyết thứ tư: Người cao tuổi ở những điều kiện sống, hoàn cảnh sống
khác nhau có sự hỗ trợ xã hội khác nhau
6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lí luận
Với mục đích tìm hiểu thực tế để nâng cao hiệu quả trong quá trình học tập vànghiên cứu Những thông tin thực nghiệm thu được từ thực tế sẽ đóng góp thêm vàonguồn tham khảo cho việc phân tich và nghiên cứu lí luận của xã hội học người caotuổi ở khía cạnh hỗ trợ xã hội
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu sau vềlĩnh vực này
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận trong nghiên cứu luận văn này là phương pháp duy vật biệnchứng
Phương pháp điều tra xã hội học cụ thể
Một số phương pháp chung: diễn dịch, quan sát, lắng nghe, phân tich, tổnghợp
7.2 Phương pháp cụ thể và kĩ thuật điều tra
7.2.1 Thu thập thông tin
Trang 57.2.1.1 Thu thập thông tin tư liệu
Thu thập những luận văn, khóa luận, sách, bài báo, bài viết trích trên các tạpchí, phương tiện truyền thông, … về vấn đề hỗ trợ xã hội và người cao tuổi
7.2.1.2 Thu thập thông tin định lượng
Phỏng vấn dựa trên phiếu thu thập ý kiến Phiếu điều tra gồm tất cả 26 câu hỏi.Bảng hỏi được chia làm ba phần: Phần một với 5 câu hỏi về đặc điểm nhânkhẩu – xã hội của đối tượng dùng để mô tả đặc điểm mẫu điều tra, đồng thời cũng lànhững phân tổ chính khi xử lý thông tin định lượng Phần hai gồm 19 câu hỏi mô tả vềđặc trưng hỗ trợ xã hội của người cao tuổi về mọi mặt: vật chất, tinh thần, sức khỏe – y
tế Phần ba gồm 2 câu hỏi khảo sát thêm về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
7.2.1.3 Thu thập thông tin định tính
Nhằm làm rõ hơn những nội dung liên quan tới việc hỗ trợ xã hội đối với ngườicao tuổi, tôi tiến hành phương pháp thu thập thông tin định tính thông qua phỏng vấnsâu Cụ thể là phỏng vấn sâu 6 người cao tuổi trong mẫu dựa vào những đặc điểm giớitính và nghề nghiệp: 3 cụ ông/ cụ bà là hưu trí, 3 cụ ông/ cụ bà là dân thường
Bên cạnh đó, phương pháp quan sát cũng được thực hiện nhằm tìm hiểu trựctiếp sinh hoạt và các mối quan hệ diễn ra trong gia đình và cộng đồng của người caotuổi
7.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Trong điều kiện hạn chế trước số lượng người cao tuổi khá lớn trên địa bànthành phố, trước tiên áp dụng phương pháp chọn mẫu điển hình Phường Nguyễn Văn
Cừ với đặc trưng có dân số đông nhất so với các phường với diện tich 143 ha có 2.667
hộ với 12.105 nhân khẩu, dân tộc Kinh chiếm trên 11.000, có 587 tín đồ tôn giáo Đivào cụ thể trong phường, mẫu điều tra lại một lần nữa ấn định theo mẫu điển hình Cụthể, chon 3 khu vực 1, 3, 8 Trong mỗi khu vực chọn người cao tuổi theo mẫu ngẫunhiên Tổng số mẫu được chọn là 130 người, trong đó khu vực 1 là 35 người, khu vực
3 là 40 người và khu vực 8 là 55 người
7.2.3 Phương pháp xử lí thông tin
7.2.3.1 Tư liệu thu thập được
Về thông tin tư liệu: Tất cả những thông tin thu thập được, tổng thuật hoặc lượcthuật theo những chu đề: Tổng quan tình hình nghiên cứu, xác lập một số lí thuyết,khái niệm làm cơ sở lí luận, xây dựng giả thuyết nghiên cứu Tiếp theo, mô tả bối cảnhkinh tế, văn hóa, xã hội thành phố Quy Nhơn, mô tả chân dung người cao tuổi trongmẫu nghiên cứu, mở đầu cho nghiên cứu thực nghiệm, nối tiếp xử lí thông tin địnhtính, định lượng
Trang 67.2.3.2 Thông tin định lượng
Sau khi thu thập thông tin, xử lí bảng hỏi bằng cách thống kê, xét mối tươngquan trong các câu hỏi, để từ đó có một kết luận chính xác nhất
7.2.3.3 Thông tin định tính
Các thông tin thu được tôi phân loại, chọn lọc dưới dạng trích dẫn từ các biênbản gỡ băng hay báo cáo quan sát kết hợp với những thông tin định lượng số liệuthồng kê để dẫn giải và phân tich vấn đề
Trang 7B NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ HỖ TRỢ XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI1.Khái quát tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1 Người cao tuổi trên thế giới
Theo thống kê, thế giới hiện có 497 triệu, chiếm gần 2/3 NCT sống ở các nướcnghèo và khoảng hơn 180 triệu người sống trong cảnh nghèo khó Theo dự báo, đếnnăm 2045, số người trên 60 tuổi trên thế giới sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi Ởcác nước trung bình và kém phát triển, hơn 50% người trên 60 tuổi vẫn làm việc, chủyếu ở các thành phần phi chính thức Thế giới cũng đang chứng kiến ¾ người cao tuổisống trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu; 2/3 số NCT bịbệnh kinh niên sống ở các nước tủng binh và kém phát triển
Ở nhiều nước Châu Phi, NCT là người chăm sóc chủ yếu đối với 40% người bịHIV/AIDS hoặc trẻ em bị mồ côi do AIDS Trong những thế kỷ qua, sự gia tăng ngườicao tuổi trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm Trong thế kỷ này, nóđặt ra những thách thức lớn nhưng cũng không ít cơ hội Hàng triệu người cao tuổi ởcác nước phát triển trung bình và thu nhập thấp đang đối mặt với những vấn đề vềnghèo đói và bệnh tật
Tuy vậy, các chính sách phát triển quốc tế và các hoạt động thường không baogồm người cao tuổi Chương trình phát triển Thiên niên kỷ không trực tiếp liên quanđến tuổi già Trong khi cam kết giảm tỷ lệ người cực nghèo xuống 50% vào năm 2015,người cao tuổi hầu như dùng lại ở nửa còn lại của người nghèo Khi nói về chăm sócsức khoẻ, người cao tuổi vừa là người tự chăm sóc mình, lại vừa là những người chămsóc người khác Sự gia tăng “người cao tuổi già” là thách thức lớn, đặc biệt đối với giađình và cộng đồng Đồng thời, nhiều người cao tuổi phải chăm sóc cháu do bố mẹ các
em ra thành thị làm việc kiếm tiền hoăc bệnh tật-chết do HIV/AIDS hay các bệnh liênquan
Ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, hàng triệu người cao tuổi sống dướimức nghèo đói, phần lớn họ không có nghỉ hưu Họ không có cả lương hưu tối thiểu,phải làm việc để đảm bảo cuộc sống và thường làm những công việc không an toàn,
Trang 8được trả công thấp đến khi họ không thể làm việc được nữa hoặc bệnh tật, ốm đau.Những người không làm việc được phải sống trong cảnh bần cùng Khủng hoảng kinh
tế thế giới, dẫn đến sự tăng giá cả sinh hoạt, thức ăn, giao thông và nhà ở…làm tồi tệthêm cuộc sống của họ Các hộ gia đình nghèo ảnh hưởng nhiều nhất đến người già vàtrẻ em trong gia đình Những người cao tuổi trong gia đình phải chăm sóc trẻ em màcha mẹ các em di cư ra thành thị kiếm tiền Những người cao tuổi ở các nước có thunhập trung bình và thấp không có cơ hội cải thiện cuộc sống Vai trò của họ đối với giađình và cộng đồng thường không được biết đến và đánh giá đúng mức Đặc biệt, đốivới những người sống ở các địa phương nghèo hoặc bị tác động xấu của môi trườngthường có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng của các cuộc xung đột hoặc các nguyên nhânkhác về chính trị, môi trường không ổn định tạo ra sự thiếu an toàn cho họ
Tuy vậy, người cao tuổi toàn cầu vẫn đang thể hiện các cơ hội về tiềmnăng,kinh nghiệm, khả năng sâu rộng của họ Thu nhập và sức khoẻ ở tuổi già là mụctiêu, kể cả đối với các nước nghèo, để đảm bảo cho sự tham gia của người cao tuổi đốivới xã hội Đây cũng là một trong những lý do mà HAI đặt chủ đề cho chiến lược hànhđộng đến năm 2015 là: “Khi người cao tuổi nói, chúng ta lắng nghe” Đối phó vớikhủng hoảng kinh tế toàn cầu, sự gia tăng tỷ lệ người cao tuổi, đại dịch HIV/AIDS, sự
kỳ thị và bạo lực đối với người cao tuổi, Tổ chức Người cao tuổi quốc tế sẽ đáp ứngvới những nhu cầu và khả năng của người cao tuổi cũng như nâng cao nhận thức củacác cơ quan, tổ chức cũng như của toàn xã hội về những vấn đề sau:
1 Nâng cao năng lực người cao tuổi trong đảm bảo an sinh thu nhập
2 Nâng cao khả năng người cao tuổi và những người trợ giúp họ trong chămsóc sức khoẻ, các dịch vụ hỗ trợ
3 Nâng cao khả năng để người cao tuổi tham gia tích cực vào giải quyết cáctrường hợp khẩn cấp và hồi phục
4 Tạo ra các phong trào mang tính quốc tế và quốc gia trợ giúp NCT vượt qua
sự kỳ thị và bảo đảm các quyền của họ
5 Hỗ trợ mạng lưới toàn cầu của các tổ chức để các tổ chức của NCT và làmviệc cho NCT có hiệu quả
Để làm được điều này, trong thời gian tới, Tổ chức NCT quốc tế dự kiến sẽ tăng2/3 các dịch vụ trực tiếp hỗ trợ NCT và gia đình họ Đồng thời tăng cường các hoạt
Trang 9động thúc đẩy cải thiện cách nhìn nhận về chế độ lương hưu, dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ, tăng thêm sự đáp ứng phù hợp trong những trường hợp khẩn cấp để đem lại lợiích cho nhiều triệu người cao tuổi và tăng cường mở rộng chính sách, công tác vậnđộng cùng với các hoạt động hỗ trợ trong các trường hợp khẩn cấp HAI cũng đã đặt ra
15 chỉ tiêu cụ thể trong những năm tới là:
- Trợ giúp để 20% NCT ở 30 nước có thu nhập trung bình và thấp được nhậntrợ cấp của Chính phủ
- Các hộ gia đình có NCT ở 25 nước cải thiện được thu nhập và an ninh lươngthực
- Người cao tuổi ở 15 nước có khả năng có khả năng phòng ngừa và quản lýbệnh mãn tính
- Người cao tuổi ở 20 nước có khả năng đảm bảo tiếp cận miễn phí các dịch vụchăm sóc sức khoẻ thân thiện
- Các dịch vụ phù hợp phòng chống HIV/AIDS được cấp cho NCT ở 12 nước
- Người cao tuổi ở 25 nước được nhận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầuphù hợp
- Người cao tuổi được nhận các dịch vụ trực tiếp của HAI và các tổ chức đối tác
để phòng ngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp
- Sẽ có 10 tổ chức nhân đạo được công nhận và đáp ứng nhu cầu trong phòngngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp của NCT
- Người cao tuổi tổ chức các hoạt động để thực hiện quyền nhận dịch vụ, đượctrợ giúp ở 25 nước
- Người cao tuổi ở 15 nước được trợ giúp để ngăn chặn và giảm thiểu sự kỳ thịliên quan đến tuổi già
- Các tổ chức chủ chốt của HAI sẽ phát triển liên minh toàn cầu gồm hàng triệucác tổ chức, cá nhân trợ giúp NCT
- 120 tổ chức, công nhận giá trị và tiêu chuẩn của HAI, hình thành mạng lướitoàn cầu chia sẻ và thừa nhận chương trình, các sáng kiến mang tính quốc gia, khu vực
và quốc tế
- Hoạt động ở 50 nước thể hiện sự thay đổi về luật pháp, chính sách đáp ứngquyền của NCT
Trang 10- Nhận thức của Anh và 5 nước OECD về Chương trình quốc tế về NCT sẽđược truyền thông qua các cuọc vận động và chương trình đào tạo.
- Tập huấn, chia sẻ thông tin và cơ hội hợp tác là những dịch vụ cơ bản củamạng lưới hỗ trợ NCT quốc tế do Ban thư ký quốc tế cung cấp
1.2 Người cao tuổi Việt Nam
Theo Bùi Thế Cường trong cuốn sách “ Trong miền an sinh xã hội – những nghiên cứu về người cao tuổi Việt Nam” xuất bản năm 2005, nghiên cứu người cao
tuổi trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, các nhà y khoa
là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về người cao tuổi Năm
1970, thành lập chương trình Nghiên cứu Y học Tuổi già và mười năm sau trở thànhđơn vị nghiên cứu Y học Tuổi già của Bộ Y tế
Năm 1977, chương trình nghiên cứu y học người cao tuổi do Phạm Khuê chỉđạo thực hiện cuộc khảo sát lớn đầu tiên về sức khỏe người cao tuổi trên một mẫu gồm13.399 người từ 60 tuổi trở lên ở phía Bắc Cuộc khảo sát tập trung cung cấp một bứctranh dịch tễ học về bệnh tật và sức khỏe của người cao tuổi miền Bắc Tháng 9 năm
1984, Bệnh viện Việt Xô đã tiếp tục tìm hiểu sức khỏe và đời sống của người cao tuổithông qua khảo sát các cụ nghỉ hưu Hà Nội Vào thời điểm giữa hai thập niên 1980 và
1990, các bác sĩ lão khoa tiến hành một cuộc khảo cứu với bảng hỏi có tham khảochương trình nghiên cứu do Tổ chức Y tế Thế giới tiến hành ở vùng Tây Thái BìnhDương, đánh dấu bước tiến về nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam trong lỗ lực hộinhập thế giới Các kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết người cao tuổi có hoàn cảnhkinh tế khó khăn, phải làm thêm nhiều việc để tăng thu nhập
Năm 1989, những nghiên cứu dân số và lao động về tuổi già bắt đầu với mộtbáo cáo quan trọng về người cao tuổi theo yêu cầu của ESCAP được hoàn thành Đây
là báo cáo dân số học đầu tiên về tuổi già Việt Nam được giới thiệu ra quốc tế Tiếpsau đó là những khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về người cao tuổi,những khảo sát là công cụ quan trọng của quá trình làm chính sách Có thể kể đếnnghiên cứu của Trịnh Văn Lễ về người nghỉ hưu, tác giả chỉ ra chế độ bảo hiểm xã hộiđối với người nghỉ hưu hình thành rất sớm từ 1950 Đến đầu năm 1991, Viện bảo vệsức khỏe người cao tuổi có chủ trì một hội thảo lớn về lão khoa xã hội Các công trình
Trang 11giới thiệu và được xuất bản Đây là mốc quan trọng cho nghiên cứu xã hội học ngườicao tuổi.
Năm 1983, trong khuôn khổ một chương trình nghiên cứu quốc gia về nhà ở,một nhóm nhà xã hội học tiến hành khảo sát thực nghiệm về đời sống người nghỉ hưunội thành Hà Nội về các vấn đề như: Trách nhiệm gia đình, Làm thêm, Giúp đỡ giađình, con cái, Uy tín trong gia đình, … Tiếp đó là nghiên cứu thực nghiệm về ngườicao tuổi tại làng An Điền (Hải Hưng) giữa năm 1991 với nhiều phát hiện mới về ngườicao tuổi dùng làm chỉ dẫn cho những nghiên cứu tiếp theo Giữa năm 1993, một khảo
sát trong khuôn khổ dự án của ESCAP “Phát triển chính sách cấp địa phương để người cao tuổi tham gia vào quá trình phát triển” mở ra hướng nghiên cứu xã hội học
tham gia
Trong những năm 1990, chương trình nghiên cứu người cao tuổi ở Viện xã hộihọc đưa ra một dự kiến khá tổng quát, muốn tìm hiểu vấn đề từ các góc độ nghiên cứulịch sử và thực nghiệm đối với hoàn cảnh sống cũng như thể chế an sinh xã hội của
người cao tuổi Chương trình được biết đến với tên gọi “ Nghiên cứu tuổi già và người cao tuổi” (Aging and Adults Reseach, IOS – AAR).
Đầu năm 1990, nhóm người về hưu từ khu vực nhà nước chiếm khoảng ¼ tổng
số người cao tuổi Vì vậy, để tài về hưu một lần nữa được quan tâm Một phân tichthống kê về nhóm người về hưu được thực hiện vào năm 1992 với sự giúp đỡ của VụBảo trợ Xã hội Phân tich chủ yếu nhấn mạnh đến cơ cấu nhóm hưu trí, những phân bốkhông đồng đều và tuổi về hưu Sau những nghiên cứu thăm dò ở Hải Hưng và HàNội, năm 1993, một cuộc khảo sát đã được thực hiện tại Hải Hưng nhằm thu thập dữliệu về đời sống người cao tuổi
Như vậy trong thập niên 1980 người cao tuổi ở Hà Nội đã được các nhà y khoa
và xã hội học nghiên cứu khá nhiều Mười năm sau, AAR tiến hành hai cuộc điều trađịnh lượng ở Hà Nội vào các năm 1993 và 1994 nhằm tìm hiểu các vấn đề giúp đỡ giađình người cao tuổi như: mạng lưới thân thuộc, được lắng nghe, giúp đỡ tài chính, khiđau ốm, … Có thể thấy vấn đề trợ giúp người cao tuổi đã được các nhà nghiên cứuquan tâm nhưng chỉ mới ở cấp độ gia đình mà thôi
Từ năm 2000 trở đi cũng có nhiều nghiên cứu, bài viết về người cao tuổi do cácnhà khoa học xã hội tiến hành Có thể kể đến công trình nghiên cứu của các tác giả
Trang 12như Nguyễn Phương Lan “Tìm hiểu đời sống văn hóa người cao tuổi” dưới góc độ văn hóa học, Nguyễn Trung Nghĩa với khóa luận Xã hội học “ Tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ công nhân viên hưu trí” tại Thành phố Hồ Chí Minh Kết
quả các nghiên cứu cho thấy, tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần là nhu cầu cấpthiết đối với người cao tuổi
Như vậy, qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu về người cao tuổi từ trước tớinay, xét về phạm vi nghiên cứu cho thấy, phần nhiều những cuộc nghiên cứu ngườicao tuổi tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh lân cận khác Cuộckhảo sát đầu tiên được thực hiện ở phía Nam do Trương Sỹ Ánh và cộng sự tiến hànhvào năm 1997 với cỡ mầu 840 người từ 60 tuổi trở lên tại 28 điểm nghiên cứu ở Thànhphố Hồ Chí Minh và 6 tỉnh xung quanh Trong khi đó người cao tuổi miền Trung lại ít
được chú ý, có chăng là nghiên cứu về “ Người cao tuổi ở miền Trung và Nam Bộ Việt Nam năm 2000 – phác thảo về một số kết quả nghiên cứu định tính” của Bế Quỳnh
Nga đề cập đến vấn đề lao động và sắp xếp gia đình người cao tuổi Luận văn nghiêncứu về vấn đề hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi ở Thành phố Quy Nhơn sẽ bổ xungthêm vào nghiên cứu người cao tuổi tai khu vực miền Trung
2 Các khái niệm liên quan tới đề tài
Trợ giúp xã hội có đặc điểm:
- Thuế được dùng để tài trợ cho các chương trình xã hội đa dạng để chi trả trợcấp
- Trợ cấp được chi trả khi các điều kiện theo quy định được đáp ứng
Trang 13- Thẩm tra tài sản (thu nhập, tài sản và vốn) thường dùng được xác định mứchưởng trợ cấp.
2.2 Phúc lợi xã hội
Thuật ngữ phúc lợi xã hội sử dụng vài chục năm qua ở nước ta với những phạm
vị khác nhau Là một mảng hiện thực xã hội, phúc lợi xã hội có thể được xem xét như
là một hế thống hay một thiết chế mà chức năng xã hội của nó là đảm bảo những nhucầu xã hội thiết yếu của các tầng lớp dân cư theo những điều kiện của cấu trúc xã hội.Đồng thời việc xác định nhu cầu này là do cấu trúc xã hội quy định Thông thường,phạm vi các nhu cầu cơ bản này liên quan tới nhu cầu về lương thực, thực phẩm, việclàm, thu nhập, …
Nhìn từ góc độ cơ cấu xã hội, hệ thống phúc lợi xã hội tác động vào các điềukiện an sinh xã hội của các nhóm xã hội theo hướng đảm bảo công bằng xã hội, đặcbiệt chú trọng các nhóm xã hội yếu thế Trong ý nghĩa đó, phúc lợi xã hội cho ngườicao tuổi là một trong những vấn đề đáng quan tâm Chăm lo phúc lợi cho người caotuổi giúp họ đảm nhận những vai trò xã hội mới, đó là công việc có ý nghĩa to lớn đốivới việc phát triển xã hội Vì không chỉ trong xã hội truyền thống, nơi mà người caotuổi được tôn kính do họ nắm vững kho tri thức kinh nghiệm sản xuất, lịch sử vàtruyền bá những kinh nghiệm có ý nghĩa, mà ngay cả trong xã hội hiện đại, người caotuổi vẫn là một lớp người không thể thiếu trong việc truyền đạt các di sản văn hóa, chủtrì những lễ nghi, hòa giải những tranh chấp trong cộng đồng, … Người cao tuổi cầnthiết cho gia đình và xã hội, là tài nguyên có giá trị chứ không phải gáng nặng nhưtrong suy nghĩ của chúng ta
Phúc lợi xã hội có quan hệ mật thiết với hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
2.3 Người cao tuổi
Người cao tuổi hay người già là một thuật ngữ dùng để chỉ những người nhìnchung đã có nhiều tuổi Lâu nay ta vẫn quen dùng khái niệm “người già” Theo từ điểntiếng Việt, già tức là “ở vào tuổi có những hiện tượng sinh lý suy yếu dần trong giađoạn cuối của quá trình sống tự nhiên” Như vậy, về mặt thuật ngữ “người già” hoặc
“người cao tuổi” cũng chỉ là hai cách gọi khác nhau mang cùng một nội dung chỉ
“người đã nhiều tuổi so với tuổi đời trung bình” Theo quy đinh hành chính quốc tế,
Trang 14người từ 60 tuổi trở lên gọi là người cao tuổi Luận văn sử dụng thuật ngữ “người caotuổi”.
3 Cơ sở lí luận của vấn đề hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
Người phương Đông từ lâu đã rất quen thuộc với hình ảnh về cái lưới trời lồnglộng bao bọc lấy con người, quy định danh phận của con người Trong khoa học xãhội, C.Mác đã đưa ra quan niêm gốc về mối quan hệ giữa con người và xã hội nói
chung và quan hệ sản xuất nói riêng Mác viết “Tổng hợp lại những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội” Theo Mác, bản
chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt mà
“Trong tính hiện thực cố hữu, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Con người sống thành xã hội, tồn tại và phát triển như một thực thể xã hội, vì thế
liên hệ xã hội là một nền tảng của cuộc sống Mọi cá nhân đều có liên hệ với ngườikhác (bố mẹ, anh em, họ hàng, xóm giềng, bạn bè, thể chế xã hội, …) bằng cách nào
đó, nằm trong một cấu trúc xã hội phức tạp bao quanh mình Liên hệ xã hội phát triển
và thay đổi của cá nhân và bối cảnh sống
Như vậy, mỗi cá nhân để tồn tại và phát triển, phải tham gia vào các mối quan
hệ xã hội, thực hiện những tương tác và những sự trợ giúp của các cá nhân khác trong
xã hội, qua đó, vai trò và vị trí của cá nhân sẽ được thể hiện
Tuổi già trong xã hội được xem xét ở ba cấp độ với những đặc điểm chungđược chia sẻ: Ở cấp độ cá nhân, tuổi già được đánh dấu bởi sự suy giảm sự sắc bén củacác giác quan, sự nhanh nhạy của các dây thần kinh vận động và sự suy giảm các dâythần kinh nhận thức Đó là những yếu tố nền quan trọng trong quá trình tham gia vào
xã hội của người cao tuổi cũng suy giảm, thậm chí mất đi Ở cấp độ gia đình, tuổi giàđược đặc trưng bởi sự tương tác liên thế hệ, về các vai trò cũng như sự thay đổi khảnăng và trách nhiệm trong gia đình Ở cấp độ mạng lưới xã hội, những đặc trưng là sựtiêu hao liên tục những mối rang buộc xã hội, sự gia tăng những khó khăn của ngườicao tuổi trong việc thực hiện những hoạt động xã hội để duy trì những mối liên kết xãhội, sự suy giảm cơ hội phục hồi các quan hệ xã hội và thiết lập các quan hệ mới Hơnnữa, tuổi già thường đi theo nó là những nhược điểm yếu đuối về thể chất Kết quả làkhó khăn cho người cao tuổi duy trì sự chủ động cá nhân của họ trong cuộc sống hàngngày, chính vì những lí do đó mà người cao tuổi cần được quan tâm và trợ giúp từ gia
Trang 15đình và xã hội, để họ có thể có được tâm trang vui vẻ thoải mái, không mặc cảm vìtuổi già sức yếu, giúp người già sống vui, sống khỏe và sống có ích.
Trong mỗi hành động xã hội có nhiều nhân tố bên ngoài chi phối Những tácđộng đó là các điều kiện khách quan như các thiết chế kinh tế, xã hội, văn hóa, chínhtrị Ngoài ra, còn chịu sự chi phối bởi tính chủ quan của mỗi cá nhân Trong luận văn,nhân tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp tới việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi ởThành phố Quy Nhơn là quá trình biến đổi kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở địaphương nhưng năm gần đây Đồng thời, những nhân tố thuộc về đặc điểm nhân khẩu –
xã hội của người cao tuổi như giới tính, độ tuổi, thu nhập, nghề nghiệp, … cũng ảnhhưởng trực tiếp đến việc hỗ trợ xã hội đối với họ Bởi vì các thiết chế trong xã hội tácđộng đến người cao tuổi không phải lúc nào cũng giống nhau cũng như người cao tuổi
có những đặc điểm nhân khẩu khác nhau có những hỗ trợ xã hội khác nhau Điều nàygiải thích vì sao trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh, người cao tuổi lại có nhữnghành động xã hội khác nhau và khác với sự mong đợi của xã hội Từ cơ sở trên thấyrằng, nghiên cứu người cao tuổi nói chung và hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi nóiriêng nên dựa trên quan điểm duy vật biện chứng sẽ cho ta cái nhin toàn diện về vấnđề
4 Cách tiếp cận luận văn
Việt Nam là một nước đang phát triển, số người cao tuổi đang có xu hướngtăng nhanh Theo dự báo, Việt Nam sẽ chính thức trở thành một quốc gia có dân số giàvào năm 2014 (tỉ lệ người trên 60 tuổi lớn hơn 10% dân số) Như vậy, chỉ trong vòng 3năm nữa nước ta sẽ phải đối mặt với các khó khăn do việc “già hóa dân số” mang lại.Hiện nay, hệ thống cơ sở hạ tầng và mặt bằng kinh tế chưa cao Nếu ta không chuẩn bịtốt ngay từ bây giờ thì trong những năm tới đây áp lực của việc “già hóa dân số” sẽngày càng đè nặng lên xã hội Hậu quả là việc chăm sóc mang tính toàn diện đối vớingười cao tuổi ở nước ta khó có thể thực hiện tốt được
Chính vì vậy, trong luận văn này, đối tượng tác giả chọn để nghiên cứu như tên
đề tài đã dẫn, đó là hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi Vấn đề chăm sóc sức khỏe – y
tế, tinh thần, vật chất cho người cao tuổi là vấn đề rất được quan tâm không chỉ ở mức
độ gia đình mà còn ngoài xã hội Tác giả sử dụng một số cách tiếp cân như hỗ trợ xãhội (bao gồm hỗ trợ về sức khỏe – y tế, tinh thần, vật chất), lí thuyết tương tác xã hội,
Trang 16cách tiếp cận “chiến lược sống” hay “sinh kế bền vững”, các lí thuyết nghiên cứungười cao tuổi như lí thuyết gỡ bỏ, lí thuyết hoạt động Đồng thời, trên cơ sở thực tiễntình hình người cao tuổi tại Thành phố Quy Nhơn, thu thập các thông tin cần thiết củađịa phương liên quan tới người cao tuổi, sử dụng các thông tin thực nghiệm thực hiệnbằng bảng hỏi, một số thông tin từ phỏng vấn sâu các đối tượng để giải quyết nhiệm
đề hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi để có những kiến nghi, đề xuất hơn nữa trongviệc trợ giúp mọi mặt cho người cao tuổi,về chăm sóc sức khỏe – y tế, cũng như vềmặt tinh thần, vật chất, trên cơ sở đó phát huy hơn nữa vai trò hỗ trợ xã hội đối vớingười cao tuổi tại Thành phố Quy Nhơn hiện nay
5 Các lí thuyết tiếp cận
5.1 Lí thuyết tương tác xã hội
Tương tác xã hội là những hình thức thông tin và giao tiếp xã hội của ít nhất haichủ thể hành động Tương tác xã hội được quy từ hai khái niệm: quan hệ xã hội vàhành động xã hội, nó được coi là quá trình hành động và hành động đáp trả lại của mộtchủ thể này với một chủ thể khác Các kiểu tương tác xã hội này không phải chỉ xemxét theo kiểu mặt đối mặt mà quan hệ tương tác đó chỉ có ý nghĩa khi đặt chúng trongcác hành động xã hội và quan hệ xã hội
Như vậy, các hành động xã hội là cơ sở, tiền để của tương tác xã hội Bất cứ hànhđộng nào của con người khi đặt trong tương quan với các chủ thể khác đều trở thànhtương tác xã hội Trong đời sống xã hội, con người tham gia rất nhiều các hoạt độngkhác nhau, tùy theo ý muốn cũng như hoàn cảnh mà cá nhân đó có thể tham gia một sốhoạt động nào đó
Trang 17Lí thuyết tương tác xã hội đã cho thấy sự đa dạng của các mối tương tác diễn ratrong xã hội Các dạng hoạt động đó xét cho cùng chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu kháchquan của con người như ăn uống, sinh hoạt, nơi ở, sinh hoạt văn hóa tinh thần, … Vậndụng lí thuyết tương tác xã hội vào nghiên cứu người cao tuổi giúp làm sáng tỏ nộidung vấn đề ở chỗ: chỉ ra được phương thức tồn tại của chủ thể trong xã hội Ngườicao tuổi là một nhóm xã hội đặc thù tiêu biểu cho một lối sống đặc thù Là sự tổng hòacác điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, do đó phương thức sống của họ vừaphản ánh dấu ấn xã hội vừa mang nét đặc thù của nhóm xã hội riêng biệt Ngoài ra,tương tác xã hội còn là cơ sở để tìm hiểu nội dung và bản chất các hoạt động đang diễn
ra của người cao tuổi
Lí thuyết tương tác còn cho rằng, người cao tuổi nếu vẫn tiếp tục tich cực thamgia vào xã hội thì sẽ được điều chỉnh tốt nhất Người cao tuổi nên giữ vai trò tich cựctrong xã hội bằng cách thay những hoạt động đã mất bằng những hoạt động mới Thựcchất người cao tuổi cũng có nhu cầu tương tác xã hội không kém các nhóm khác trong
xã hội Nói cách khác, quá trình tương tác xã hội của người cao tuổi ít hay nhiều đềuthể hiện tính tich cực chính trị, xã hội Vì vậy, phát huy được sự chủ động tich cực,sáng tạo của người cao tuổi trong công cuộc xây dựng gia đình, cộng đồng là nhữngđóng góp quý báu từ nhóm xã hội này
5.2 Cách tiếp cận “chiến lược sống” hay “sinh kế bền vững”
“Chiến lược sống” (livelihood strategy) hay “sinh kế bền vững” (sustainablelivelihood) là các khái niệm mới còn chưa có sự thống nhất Các khái niệm này được
sử dụng đầu tiên như một khái niệm phát triển vào những năm 1990 Chambers vàConway (1991) đã có những ý tưởng đầu tiên về khái niệm này như sau: “Sinh kế”được cấu thành bởi con người và khả năng của họ; những ý nghĩa trong cuộc sống baogồm thức ăn, thu nhập và tài sản có giá trị (tài sản có giá trị hữu hình như các nguồntài nguyên … và tài sản có giá trị vô hình như phương tiện để tiếp cận nguồn tàinguyên đó) Một “sinh kế” được xem là bền vững về mặt xã hội khi nó có thể ngănchặn cũng như phục hội việc suy sụp và những cú sốc trong cuộc sống của mỗi cánhân và mở ra những triển vọng mới cho tương lai của họ và các thế hệ sau
Nhìn chung, “livelihood” hay “sinh kế” nhấn mạnh tới những đặc điểm sau đâycủa cuộc sống con người: (1) mối tương tác giữa phương kế sinh nhai của con người
Trang 18tới môi trường (nhấn mạnh tới tính thích nghi với môi trường và sự hòa hợp với môitrương); (2) mối quan hệ với mạng lưới xã hội; (3) cách hiểu toàn diện về khả năngcủa con người; (4) tính bền vững của phương kế sinh nhai.
Cách tiếp cân “chiến lược sống” hay “sinh kế bền vững” cung cấp khung phântich rộng cho phần lớn các nghiên cứu phát triển Là phương pháp nhìn nhận sự phứctạp trong sinh kế bền vững của con người và vô số chiến lược sống đã được con ngườichấp nhận để làm thay đổi cuộc sống của họ Chiến lược và năng lực con người phụthuộc vào sự rủi ro, tài sản gia đình và cấu trúc xã hội, chính sách cũng như quá trình
đề xuất hoạt động sinh kế cho con người
Như vậy, cách tiếp cận “chiến lược sống” hay “sinh kế bền vững” tập trung vàocon người và các phương kế sinh sống của họ Đối tượng tiếp cận trực tiếp của nó lànhững nhóm được coi là yếu thế trong xã hội như phụ nữ nghèo, trẻ em lang thang,người cao tuổi, … Đó là những nhóm đối tượng luôn phải đối mặt với nhiều rủi rotrong cuộc sống Trong những hoàn cảnh sống khác nhau họ sẽ chọn cho mình một
“chiến lược sống” hay “phương kế” thích hợp nhất Và cũng chính “chiến lược sống”
đó cũng giúp cho cá nhân thích nghi cũng như vượt qua được những rủi ro, khó khăntrong cuộc sống
Áp dụng cách tiếp cận “chiến lược sống” trong luận văn nhằm xem xét, tìmhiểu người cao tuổi đã có những chiến lược trong cuộc sống hàng ngày như thế nào,hoàn cảnh sống ra sao Và với mỗi hoàn cảnh sống khác nhau, người cao tuổi chọn chomình “chiến lược sống” riêng Và cũng dựa vào từng hoàn cảnh sống đó lại có biệnpháp hỗ trợ xã hội khác nhau đối với người cao tuổi
5.3 Các lí thuyết nghiên cứu người cao tuổi
5.3.1 Lí thuyết gỡ bỏ
Lí thuyết gỡ bỏ liên quan tới việc gỡ bỏ người cao tuổi khỏi vị trí trách nhiệm
xã hội trong hoạt động có thứ tự của xã hội Lí thuyết gỡ bỏ là nỗ lực ban đầu nhằmgiải thích bằng cách nào, tại sao xã hội định nghĩa người cao tuổi khác với lớp trẻ Ápdụng quan điểm của Talcott Parsons, Elane Cumming và William Henry (1961) đặt líthuyết gỡ bỏ trên thực tế sinh học của con người dần tàn tạ và sau cùng là chết, xã hộiphải tìm ra một số biện pháp Quá trình này được thực hiện bằng sự chuyển giao cóthứ tự nhiều vai trò và địa vị khác nhau từ người lớn tuổi sang những người trẻ hơn
Trang 19Như thế, các mẫu địa vị và vai trò vẫn còn ổn định mặc dù con người đảm nhận nhiềuđịa vị và vai trò phải được chuyển giao cho lớp trẻ trong khi người lớn vẫn còn hoạtđộng chức năng hiệu quả.
5.3.2 Lí thuyết hoạt động
Lí thuyết hoạt động (lí thuyết thay thế) liên quan đến mức độ hoạt động xã hộicao đối với sự thỏa mãn cá nhân ở tuổi già Lí thuyết phần lớn được phát triển nhằmđáp lại lí thuyết gỡ bỏ Lí thuyết hoạt động gợi đến mô hình tương tác xã hội Tiếp cậnnày nhấn mạnh cá nhân xây dựng thế giới bản ngã và nhận dạng xã hội trên cơ sở địa
vị và vai trò của họ trong xã hội
Lí thuyết hàm ý người cao tuổi nên cố gắng giữ vai trò trong xã hội bằng cáchthay thế những hoạt động đã mất bằng những hoạt động mới Vì thế lí thuyết hoạtđộng ám chỉ tuổi già phải được xem là giai đoạn cuối đời sống mà cá nhân có nhiềukhả năng thay đổi, phản ánh nhu cầu và khả năng của từng cá nhân
Như vậy, lí thuyết hoạt động là phản ứng quan trọng với lí thuyết gỡ bỏ vì nótập trung sự chú ý đến chính bản thân người cao tuổi hơn nhu cầu xã hội
Tiểu kết: Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, em đã tìm hiểu được một
số những lí thuyết cùng như các vấn đề có liên quan tới đề tài Trong chương 1 này,
em đã nêu ra cơ sở lí luận cho đề tài, cách tiếp cận luận văn, các lí thuyết tiếp cận, các
lí thuyết nghiên cứu người cao tuổi cũng như những khái niệm liên quan tới vấn đềnhằm làm rõ hơn đề tài nghiên cứu đó là “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địabàn Thành phố Quy Nhơn” Ngoài ra, e đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, là nhữnghướng nghiên cứu và những giả thuyết này sẽ được chứng mình qua quá trình khảo sátthực trạng hỗ trợ xã hội tại thành phố Quy Nhơn
Trang 20CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN
2.1 Bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội thành phố Quy Nhơn
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định Phía Đông là biển Đông, phía Tây giáp huyện Tuy Phước, phía Bắc giáp Tuy Phước và Phù Cát, phía Nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên Quy Nhơn nằm trong pham vi tọa
độ từ 13o 36’ đến 13o 54’ vĩ Bắc, từ 109.22’ kinh Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 400 dặm về phía Nam, cách thành phố Pleku (Tây Nguyên) 105 dặm Với tổng diện tich là 284,28 km2 , dân số khoảng 284.000 người,
có 16 phường và 5 xã Ngày nay, Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại I với ưu thế
về vị trí địa lí, có cảng biển và cơ sở hạ tầng đô thị phát triển Quy Nhơn được Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong ba trung tâm thương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ (cùng với Đà Nẵng và Nha Trang) Quy Nhơn đang từng bước chỉnh trang đô thị, xây dựng và nâng cấp để trở thành một trong những trung tâmchính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội và du lịch, là đô thị lớn nằm trong chuỗi đô thị của các vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (nguồn: theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Sự biến đổi về kinh tế: Hiện nay cơ cấu các ngành kinh tế của Quy Nhơn có sự
chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỉ lệ ngànhnông lâm ngư nghiệp trong GDP Tỉ trọng nông, lâm, thủy sản – công nghiệp và xâydựng – dịch vụ trung GDP năm 2006 đạt: 36,7% - 28% - 35,3% (kế hoạch: 35% - 30%
- 35%; năm 2005: 38,4% - 26,7% - 34,9%) Tổng sản phẩm địa phương (GDP) cả năm
2006 là 12% (ước tăng cao hơn tốc độ tăng năm 2005 là 0,9%), trong đó, giá trị tăngthêm của các ngành nông, lâm, thủy sản tăng 8,21% Riêng nông nghiệp tăng 10,54%.Công nghiệp, xây dựng tăng 17,94% Riêng công nghiệp tăng 17,53% Dịch vụ tăng12,32% Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 1255 USD/người (nguồn: theoBách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Sự biến đổi cơ cấu dân cư, lao động và lành nghề: Thành phố Quy Nhơn là nơi
hội tụ khá đông đảo cư dân ở khắp nơi trên đất nước Ngoài người dân bản địa còn cóngười Bắc di cư và người dân các tỉnh lân cận như Quảng Ngãi, Phú Yên, đặc biệt là
Trang 21vùng Tây Nguyên, trong đó có cả bốn dân tộc anh em: Bana, Chăm, Hrê và ngườiKinh Sự biến đổi kinh tế và dân cư cũng đồng thời tạo ra sự chuyển dịch lao động vàngành nghề giữa các khu vực kinh tế, tạo nên thị trường lao động sôi động và cạnhtranh mạnh mẽ, và làm giảm tỉ lệ gia tăng thất nghiệp hiện nay là 5,1% (năm 2004 là5,24%) Theo Niên giám thống kê năm 2005, số người được sắp xếp làm việc tính theođơn vị người: dân số trong độ tuổi lao động là 150.468 người, trong đó số người cókhả năng lao động là 148.598 người và số người ngoài độ tuổi lao động có việc làm là6.878 người( nguồn: số liệu theo Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn năm 2005).
Sự biến đổi văn hóa: Những năm gần đây thành phố Quy Nhơn rất chú trọng tới
việc giữ gìn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởngdụng văn hóa ngày càng cao của cư dân thành phố Nhiều hoạt động văn hóa, thôngtin, thể thao được tổ chức chào mừng kỉ niệm ngày lễ lớn, những ngày lễ kỉ niệmtruyền thống của các ngành nghề … Đại hội thi đua yêu nước toàn tỉnh lần thứ V giaiđoạn 2001 - 2005, thi đấu võ thuật cổ truyền toàn quốc năm 2005, triển lãm Mĩ thuậtkhu vực miền Trung và Tây Nguyên lần thứ X năm 2005, … Đặc biệt, một số hoạtđộng văn hóa, văn nghệ hướng đến riêng đối tượng người cao tuổi như tổ chức cáccuộc thi “Về nguồn”, “Sống vui, khỏe, có ích”, thi giao lưu ca hát giữa các hội Ngườicao tuổi, các Câu lạc bộ dưỡng sinh, … thu hút sự quan tâm và sự tham gia đông đảocủa người cao tuổi (nguồn: số liệu theo Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn năm2005)
Sự biến đổi trong chính sách xã hội và phúc lợi xã hội: Qua hơn 20 năm đổi
mới, thành phố đã tiến hành thực hiện chi trả cho các đối tượng chính sách kịp thời,chu đáo, lập quỹ phúc lợi để giúp đỡ người nghèo, người cao tuổi Thành phố đã đưa
ra nhiều cuộc vận động chăm lo cho đời sống người cao tuổi đặc biệt là người cao tuổinghèo, cô đơn nhằm giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần cho họ Có thể kể đến cáccuộc vận động của Hội người cao tuổi thành phố chăm lo Tết cho người cao tuổi, cuộc
“Chạy bộ vì người cao tuổi”, phong trào “Ông bà con cháu hiếu thảo”, hay “Người conhiếu thảo” được nhân rộng để tạo nên sự gắn kết về tình cảm giữa người cao tuổi vớicon cháu Hội người cao tuổi cũng luôn kêu gọi sự đóng góp của các thành viên trongHội về tiền bạc tấm áo, miếng ăn cho một số người cao tuổi nghèo, cô đơn, không nơinương tựa Kêu gọi các cụ tham gia vào hội Người cao tuổi để có nơi sinh hoạt tinh
Trang 22thần cũng như giúp đỡ về vật chất trong cuộc sống, cống hiến sức lực của mình, trởthành người có ích cho gia đình và xã hội (nguồn: theo Niên giám thống kê thành phốQuy Nhơn năm 2005).
2.2 Chân dung của người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu
2.2.1 Giới tính và độ tuổi
Tổng cộng có 130 phiếu điều tra được chia cho 3 khu vực của phường NguyễnVăn Cừ là khu vực 1, khu vực 3 và khu vực 8 Kết quả về khảo sat giới tính người caotuổi cho thấy, có sự phân chia tương đối giữa cụ ông và cụ bà, cụ thể là cụ ông chiếm41,5% và cụ bà chiếm 58,5% Về tuổi tác, người cao tuổi có độ tuổi từ 60 – 69 tuổichiếm 42,3 % trong tổng số người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu và chiếm tỉ lệ caonhất (trong đó cụ bà có tỉ lệ cao hơn cụ ông, cụ thể là 47,9% so với 33,3%), đây đượcxem là nhóm “trẻ” của lớp người cao tuổi Nhóm 70 – 79 tuổi chiếm 33,8% (tỉ lệ cụông cao hơn cụ bà là 35,1 so với 32,9) Nhóm 80 – 89 tuổi chiếm 27,0%(tỉ lệ cụ ôngcao hơn cụ bà là 24,6 so với 16,4), nhóm trên 90 tuổi chiếm 3,1% (tỉ lệ cụ ông cũngcao hơn cụ bà là 7,0 và 2,7)
2.2.2 Trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân
Theo số liệu tìm hiểu về trình độ học vấn của người cao tuổi cho thấy, phần lớnngười cao tuổi có mức học vấn phổ cập (hết Tiểu học là 36,2%; THCS là 23,8%;THPT là 20,8), tỉ lệ người cao tuổi có trình độ học vấn ở bậc Trung cấp, Cao đẳng, Đạihọc là 16,9%, không có người cao tuổi có học vấn trên ĐH Có thể thấy mức học vấncủa người cao tuổi như trên ở mức tương đối khá Kết quả này được lí giải từ phongtrào bình dân học vụ nở rộ trong cả nước và tại Tỉnh Bình Định nói riêng sau Cáchmạng tháng Tám và phong trao bổ túc văn hóa sau ngày thống nhất đất nước Tuynhiên, tỉ lệ người mù chữ cũng chiếm 2,3% Với các kết quả thu được về trình độ họcvấn của người cao tuổi ở trên ta cũng dễ có thể hiểu được lớp người cao tuổi càng cao
sẽ tương ứng với hoàn cảnh lịch sử của đất nước và trong số đó nhiều người không cóđiều kiện để học tâp
Cụ ông có trình độ học vấn cao hơn cụ bà, ở đại học, cao đẳng và trung cấpchuyên nghiệp tỉ lệ cụ ông là 24,5% tương ứng với cụ bà là 9,1%; Ở trung học phổthông cụ ông là 24,5 tương ứng với cụ bà là 20,7% Tỉ lệ cụ bà có trình độ học vấn tiểuhọc và trung học cơ sở cao hơn cụ ông, cụ thể ở bậc tiểu học tỉ lệ cụ bà là 36,4% tương
Trang 23ứng với cụ ông là 32,1%, ở bậc THCS tỉ lệ cụ bà là 29,9% còn cụ ông là 16,9% Tỉ lệ
mù chữ ở cụ bà cũng cao hơn cụ ông là 3,9% tương ứng với 1,9%
Kết quả khảo sát tình trạng hôn nhân của người cao tuổi cho thấy, 42,3% ngườicao tuổi đang sống với vợ hoặc chồng, trong đó tỉ lệ cụ ông đang sống cùng vợ caohơn cụ bà đang sống cùng chồng (48,1% so với 41,0%) và phần lớn thuộc nhóm tuổi
từ 70 tới 79 tuổi (chiếm 53,2%) Trong khi đó người cao tuổi sống một mình chiếm tỉ
lệ khá cao, nguyên nhân lớn nhất đó là góa vợ/chồng chiếm 50,8% (cụ bà cao hơn cụông là 56,4 so với 40,7 và tập trung ở độ tuổi 80 – 89 là 69,3%) Nguyên nhân dongười cao tuổi li thân, li hôn chiếm 3,8% (trong đó cụ ông chiếm tỉ lệ cao hơn cụ bà là3,8% so với 1,3%) Nguyên nhân do người cao tuổi chưa từng kết hôn chiếm 1,5%(tập trung ở cụ ông chiếm 3,8%) Đây là những con số cho ta thấy người cao tuổikhông chỉ thiệt thòi về hạnh phúc tuổi già mà còn phải chịu cảnh hiu quạnh cô đơn Vàđối với tỉ lệ người cao tuổi tái hôn chiếm 1,5%, bằng với tỉ lệ người cao tuổi chưa từngkết hôn (cụ ông là 1,9% và ở cụ bà là 1,3%, ở độ tuổi 70 – 79 tuổi là 2,1%)
2.2.3 Nghề nghiệp trước đây
Phần lớn những người trong mẫu khảo sát từng là cán bộ công nhân viên chứcnhà nước trước đây (bao gồm hưu trí công nhân viên chức và hưu trí quân đội) chiếm44,6%, trong đó cụ ông chiếm tỉ lệ cao hơn cụ bà là 52,8% so với 45,5% Người caotuổi thuộc nhóm nghề công nhân và nông dân có tỉ lệ bằng nhau, đều là 20,8% Tuynhiên, đối với nhóm hoạt động nông nghiệp tỉ lệ cụ ông cao hơn cụ bà là 22,6% so với19,5%; đối với nhóm nghề công nhân tỉ lệ cụ bà cao hơn cụ ông là 20,8% so với16,9% Nhóm nghề buôn bán nhỏ chiếm 10,8% trong đó tỉ lệ cụ bà cao hơn cụ ông là10,4% so với 5,7% Chỉ có 3,1% tỉ lệ người cao tuổi từng làm kinh tế hộ gia đình và tỉ
lệ cụ bà cao hơn cụ ông trong nhóm nghề này, cụ thể là 3,9% so với 1,9% Và quakhảo sát thực tế cho thấy phần lớn người cao tuổi sống ở ngoại thành hoặc ở một vùngmiền khác chuyển vào thành phố vì nhiều lí do khác nhau và sau đó, gia đình định cưtại thành phố
Có thể nhận thấy phần nghề nghiệp trước đây của người cao tuổi khá đa dạng
2.2.4 Thu nhập và lao động hiện nay
Nguồn thu nhập của người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu cũng khá đa dạng,tùy vào từng hoàn cảnh và công việc của người cao tuổi trước đây cung như hiện tại
Trang 24Nguồn thu nhập chính trong mẫu khảo sát được thể hiện theo trật tự sắp xếp như sau:Người cao tuổi được hưởng lương hưu chiếm 49,3% (trong đó cụ ông ông cao hơn cụ
bà là 55,2% so với 48,3% thuộc độ tuổi 60 – 69 là 42,6%, 70 – 79 là 42,3%, 80 – 89 là70,0% và trên 90 tuổi là 80%) Thu nhập từ lao động hiện tại chiếm 19,6% (tỉ lệ cụ bàcao hơn cụ ông là 19,8% so với 17,2% thuộc độ tuổi 60 – 69 là 18,0%, 70 – 79 là28,8%, 80 – 89 là 10,0% và trên 90 tuổi là 0,0%) Đầu tư, lãi suất, cho thuê chiếm12,2% (trong đó tỉ lệ cụ ông cao hơn cụ bà là 13,8% so với 9,3% thuộc độ tuổi 60 – 69
là 18,0%, 70 – 79 là 9,6%) Kinh tế hộ gia đình chiếm 9,5% (tỉ lệ cụ bà cao hơn cụ ông
là 10,5 so với 6,9 thuộc độ tuổi 60 – 69 là 16,4%, 70 – 79 là 9,6%, 80 – 89 là 0,0% vàtrên 90 tuổi là 20, 0%) Có 8,1% người được con cháu giúp đỡ (tỉ lệ cụ bà cao hơn cụông là 9,3% so với 5,2% thuộc độ tuổi 60 – 69 là 4,9%, 70 – 79 là 9,6%, 80 – 89 là10,0%) Tỉ lệ người cao tuổi được trợ cấp xã hội chỉ chiếm 1,4% (cụ bà cao hơn cụông là 2,3% so với 1,7%) và người khác giúp đỡ là 0,0%
Về bình quân thu nhập, người cao tuổi có thu nhập thấp nhất là 500 ngàn đồng
và cao nhất là 3 triệu 8 trăm nghìn đồng Nguồn thu nhập này dao động trong khoảng
từ 1 triệu đồng tới 2 triệu đồng chiếm cao nhất là 43,1%, từ 2 triệu đồng tới 3 triệuđồng chiếm 36,2%, trên 3 triệu đồng chiếm 13,8% và thấp nhất là từ 500 ngàn đồngtới 1 triệu chiếm 6,9%
Cụ bà có thu nhập dưới 1 triệu đồng cao hơn cụ ông (5,3% so với 1,8%) và cụ
bà cũng có thu nhập từ 1 triệu đồng tới 2 triệu cao hơn cụ ông (54,7 so với 32,7%).Tuy nhiên, ở mức thu nhập cao hơn là từ 2 triệu đồng tới 3 triệu đồng và trên 3 triệuđồng thì cụ ông có mức thu nhập cao hơn cụ bà (45,4% so với 32,0% và 20,0% so với8,0%)
Người trong nhóm tuổi từ 60 – 69 có thu nhập cao hơn ngoài 70 tuổi
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rõ qua các con số ở trên, người cao tuổi cómức thu nhập trung bình so với mặt bằng thu nhập chung Và với mức thu nhập đó đốivới người cao tuổi chỉ đủ chi trả cuộc sống khá đắt đỏ nơi đô thị, nhiều người cao tuổiphải tìm đến sự trợ giúp của con cháu hoặc dù đã già vẫn phải làm việc để có thể đủchi trả cuộc sống hàng ngày cho gia đình và bản thân Đây có thể được coi là mộttrong những khó khăn của người cao tuổi tại Quy Nhơn nói riêng và người cao tuổi nóichung
Trang 25Và trong mẫu khảo sát có tới 41,5% người cao tuổi hiện vẫn đang tham gia laođộng trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau như buôn bán tạp hóa, bán quán ăn,giữ trẻ, bán vé số, … hay những công việc nặng nhọc hơn là đạp xích lô, thợ hồ, chạy
xe ôm, xe ba gác, … Trong số những người cao tuổi này có sự tham gia của cụ bànhiều hơn cụ ông (46,1% so với 42,6%) và phần lớn trong độ tuổi còn sức lao động từ
60 – 69 tuổi (chiếm 58,5%) Những công việc này tạo thêm thu nhập cho người caotuổi những cũng có những công việc vất vả và nặng nhọc gây ảnh hưởng không nhỏtới sức khỏe vì phải lao động cực nhọc Một thực tế ở đô thị nhỏ như Quy Nhơn tìmđược việc khi về già không đơn giản Xét về khía cạnh nào đó, việc làm đối với ngườicao tuổi không chỉ có ý nghĩa về mặt thực tế mà còn có ý nghĩa to lớn về mặt tâm lý,đối với người cao tuổi, tâm lý tự ti, mặc cảm rằng mình không còn có ích, không thểtham gia làm việc được sẽ gây cho người cao tuổi một cảm giác chán trường và mặccảm trong cuộc sống, vì thế công việc tạo nên niềm vui, nhiều người thấy được mình
có ích, giúp người cao tuổi sống vui, sống khỏe hơn
Từ những phân tich trên có thể đưa ra một chân dung tổng quát nhất về ngườicao tuổi trong mẫu nghiên cứu như sau:
Về giới tính, cụ bà có tỉ lệ cao hơn cụ ông Đại đa số người cao tuổi có độ tuổi
từ 60 – 69 tuổi Mặt bằng trình độ học vấn của người cao tuổi tương đối khá, hầu hếtđạt mức phổ cập giáo dục, một bộ phận người cao tuổi có trình độ trung cấp chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học Một bộ phận khác, do điều kiện, hoàn cảnh không được họchành nên không biết chữ Phần lớn người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu đang sốngmột mình, nguyên nhân do: góa vợ/chồng, li hôn/li thân, chưa kết hôn Tỉ lệ người caotuổi đang sống với vợ/chồng cũng khá cao Thành phần nghề nghiệp của người caotuổi trước đây cũng khá đa dạng, trong đó cán bộ công nhân viên chức chiếm phầnđông, tiếp theo là khối nông dân, khối công nhân, khối buôn bán nhỏ và cuối cũng làkhối kinh tế hộ gia đình Người cao tuổi chủ yếu dựa vào 3 nguồn thu nhập chính là từlương hưu, lao động hiện tại và đầu tư, lãi suất, cho thuê với mức thu nhập bình quânmột tháng từ 500 ngàn đồng tới 3 triêu 8 trăm ngàn đồng Hiện nay, có một bộ phậnngười cao tuổi vẫn tham gia lao động ở các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, từ laođộng chân tay đến lao động trí óc
Trang 262.3 Thực trạng hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn Thành phố Quy Nhơn (khảo sát tại Phường Nguyễn Văn Cừ - thành phố Quy Nhơn).
2.3.1 Chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe của người cao tuổi vào những năm tháng cuối đời là kết quả của rấtnhiều yếu tố khác nhau, được hình thành trong suốt cuộc đời như trạng thái sức khỏebẩm sinh, chế độ dinh dưỡng, điều kiện sống, các thói quen về lối sống và văn hóa,những thành đạt và thăng tiến của cá nhân, khả năng hòa nhập cộng động, tình trạnghôn nhân, bệnh lý, … Tất cả những yếu tố đó có ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏecủa người già, và vì vậy mà sức khỏe là một trong những mối quan tâm, lo lắng khôngchỉ của người cao tuổi mà còn của cả gia đình, cộng đồng
Nghiên cứu không tìm hiểu hiện trạng vấn đề sức khỏe của người cao tuổi màhướng tới sự trợ giúp xã hội người cao tuổi khi ốm đau, để thấy được vai trò của việc
hỗ trợ xã hội đối trong việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Bảng 2.1 Người giúp đỡ gần nhẩt khi đau ốm,%.
Người giúp đỡ gần nhất khi đau ốm Số lượng Tỉ lệ(%)
nghiên cứu Khi được hỏi “ Ai là người giúp đỡ ông bà gần nhất khi đau ốm?” thì
nguồn trợ giúp được người cao tuổi nhắc đến nhiều nhất đó là vợ hay chồng của họ
(chiếm 26,9%) Cụ bà 72 tuổi, , khu vực 8 cho biết : “ Con cái còn phải lo chuyện của
Trang 27chúng nó, còn ông còn bà thì hai ông bà tự chăm sóc cho nhau, chứ nhiều khi như thế lại thích hơn, dù sao thì vợ chồng bao năm nay cũng hiểu tính của nhau hơn con cái, ông thích ăn gì thì bà mua, trái gió trở trời là bà biết mà mua thuốc liền”.Như vậy, có
thể thấy người bạn đời là những người gần gũi nhất trong quãng đời còn lại của ngườicao tuổi, do đó khi ốm đau bệnh tật là những lúc cần sự chăm sóc, chia sẻ của ngườichồng hay người vợ và không phải tự nhiên lại có câu “con chăm cha không bằng bàchăm ông”
Người con trai đã kết hôn được người cao tuổi nói đến như nguồn chăm sóc thứhai (chiếm 20,0%) Có thể hiểu được điều này từ việc người cao tuổi phần lớn đangsống với ít nhất một người con trai đã kết hôn nên người con trai đó phải có tráchnhiệm chăm sóc cha mẹ khi đau ốm Và hơn thế nữa, người Việt Nam ta từ xưa vẫnquan niệm cha mẹ thì luôn ở với con trai
Tiếp theo đó là nguồn trợ giúp của người con gái đã kết hôn và con dâu khingười cao tuổi đau ốm (chiếm 13,8%) điều đó cho thấy vai trò của người con gái khikết hôn cũng như người con dâu trong gia đình Thể hiện xu hướng khẳng định vai tròcủa người con gái đã xây dựng gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe cho bố mẹ Một
số thông tin định tính thi được trong quá trình khảo sát “ con trai thì nó lo tiền bạc thội, còn chăm sóc tận tình, chu đáo thì chỉ có mấy cô con gái với con dâu, ốm đau không đi lại được nó bưng bát tới tận miệng, rồi thay đồ, giặt giũ cũng là mấy đứa con gái thôi ” cụ bà 68 tuổi, khu vực 1 cho biết Ngày nay, với mức sống của người dân
ngày một tăng và lối sống mới hình thành dần trong con người Việt Nam ta, việc
“người con gái đi lấy chồng thì phải an phận nhà chồng” chỉ ở một mức nào đó, ngườicon gái đi lấy chồng vẫn thường xuyên thăm hỏi, trông nom bên nhà ngoại, thể hiệntrách nhiệm làm con, hiếu thảo cả hai bên chứ không ràng buộc như ngày xưa Khi cha
mẹ đau ốm, tất cả con cái trong gia đình đều có trách nhiệm thay nhau chăm sóc cha
mẹ, không đùn đẩy trách nhiệm cho bất kí một cá nhân nào, cha mẹ cũng có thể yêntâm hơn trong khi dưỡng bệnh Và một điều đáng chú ý hơn nữa là tình cảm giữa “mẹ
chồng nàng dâu” cũng được cải thiện rõ rêt, cụ bà 80 tuổi, tại khu vực 8 cho hay “con dâu tôi nó tốt lăm, chồng đi làm cả ngày, có 2 mẹ con ở nhà với mấy đứa cháu, tôi có
ốm đau, bệnh tật gì nó biết hết, chăm lo chu đáo, già rồi nên cậy con là chính …”.
Trang 28Những người con ở xa không về được khi cha mẹ đau ốm thì cũng gửi tiền,quà, … về gián tiếp động viên, an ủi để người cao tuổi có thể an tâm trị bệnh, cụ ông
tại khu vực 1 cho biết: “ nhà tôi sinh được 4 người con, mỗi đứa một nơi, ở đây có 2 ông bà già, mỗi tháng chúng nó gửi mỗi đứa một ít thêm vào nuôi bố mẹ, xa mà không giàu có gì nên khi ốm đau nhẹ cũng gửi tiền rồi gọi điện hỏi thăm …”
Phân tổ theo giới tính người cao tuổi cho thấy, thứ tự sắp xếp các nguồn chămsóc sức khỏe khi bị bệnh của các thành viên trong gia đình có sự khác nhau Cụ ông kểlần lượt là cụ bà, con dâu, con trai đã kết hôn,con gái đã kết hôn còn cụ bà là con trai,chồng, con gái đã kết hôn, con trai chưa kết hôn (bảng 3) Ngoài ra, khi được hỏi câu
hỏi “ các thành viên trong gia đình có chú ý tới sức khỏe của ông bà hay không?”, câu
trả lời là có 49,2% ở mức độ thường xuyên, bình thường là 42,3%, không thườngxuyên chỉ chiếm 3,8% và khó trả lời là 4,6% Điều này cho thấy là người cao tuổi ngàycàng được con cái chú ý hơn về mặt sức khỏe trong gia đình
Càng về già, người cao tuổi càng cần được chăm sóc chu đáo hơn vì thế nhữngngười con trong gia đình là một phần quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe ngườicao tuổi, thể hiện rõ ở độ tuổi, càng về già, người cao tuổi được con chăm sóc nhiềuhơn, cụ thể, đối với sự chăm sóc của người con trai đã kết hôn mức độ quan tâm tăngdần : người cao tuổi từ 60 – 69 tuổi là 16,9%, 70 – 79 là 24,4%, 80 – 89 là 25,9%, sựchăm sóc của người con dâu đối với người cao tuổi từ 60 – 69 tuổi là 7,6%, 70 – 79 là11,1%, 80 – 89 là 18,5% và trên 90 tuổi là 60,0%, điều này cho thấy người con dâugần gũi nhất với người cao tuổi khi về già và chăm sóc người cao tuổi thuận tiện nhất.Điều này cho thấy được, càng về già người cao tuổi càng cần phụ thuộc con cái nhiềuhơn
Một vấn đề đáng quan tâm là ở đây, các nhóm tuổi càng cao thì tỉ lệ góavợ/chồng cũng tăng theo cụ thể là ở độ tuổi 60 – 69 là 44,2%, 80 – 89 là 69,3% và trên
90 tuổi là 80,0% và như thế, người cao tuổi còn lại, đặc biệt là các cụ bà góa chồngphải chịu nhiều khó khăn trong việc đảm bảo sức khỏe bởi sự mất đi của người chồng
và đây cũng là nguyên nhân mà người cao tuổi phụ thuộc vào con cái như đã nói ởtrên
Có thể thấy, kiểu gia đình đô thị các thế hệ sống chung trong cùng một gia đìnhvới mối quan hệ khăng khít là điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe các
Trang 29thành viên trong gia đình, đặc biệt là người cao tuổi Gia đình là nơi có ảnh hưởng lớnnhất và gần gũi nhất đối với sự suy giảm hay ổn định sức khỏe của người cao tuổi, cụ
bà tại khu vực 3 cho biết “ Tôi sống cùng với với vợ và hai thằng con trai nên khi ốm đau bọn nó đều có cả, nên cũng đỡ lo …” Hơn nữa, chính vì trong gia đình giữa con
cháu, người cao tuổi tìm được cảm giác bình yên, sự thỏa mãn và vui vẻ, đặc biệt cảmgiác có ích là cảm giác trực tiếp làm cho người cao tuổi cảm thấy sảng khoái hay u uất.Các quan hệ trong gia đình như quan hệ giữa cụ ông và cụ bà, giữa con cái với nhauhoặc giữa con cái với cháu chắt có ảnh hưởng rất lớn tới tình cảm, tâm trạng, nguồntrợ giúp về tài chính những lúc các cụ khỏe mạnh, ốm đau hay bệnh tật Sự đầm ấm,hạnh phúc trong gia đình khiến tinh thân các cụ thêm phấn chấn và bớt đi sự mặc cảmtuổi giả cũng như lão hóa ngày càng rõ rệt Tuy nhiên, với tốc độ phát triển kinh tê –
xã hội ngày càng tăng thì việc chăm sóc sức khỏe cha mẹ thường xuyện cũng bị hạnchế, chỉ những lúc đau ốm hay bệnh tật thì người cao tuổi mới được sự trợ giúp củacon cái,hơn thế nữa, hiện nay người cao tuổi đang là người chăm sóc con cháu tronggia đình
Sự giúp đỡ về mặt sức khỏe khi đau ốm không chỉ có những người thân tronggia đình mà con có anh chị em ruột, cháu ruột chiếm 4,6% Những mối quan hệ dòngtộc trong gia đình cũng góp một phần vào khi người cao tuổi đau ốm, có nhiều giađình anh chị em ruột sống gần nhau nên thuận tiện cho việc thăm hỏi và trông nom khi
người cao tuổi đau ốm Nói như cụ bà 69 tuổi thuộc khu vực 3 “ anh chị em sống gần nhau, nhà có mỗi thằng con trai mà đi làm ăn suốt nên đau ốm các chị tới thăm rồi trông nom thường xuyên …” Cụ bà nhân được sự chăm sóc cao hơn cụ ông (8,3% so
với 0,0%)
Ngoài những nguồn trợ giúp sức khỏe của nhưng người thân trong gia đình haydòng họ thì người cao tuổi nhận được nguồn trợ giúp quan trọng bên ngoài gia đình làhàng xóm, láng giềng chiếm 6,2% Ông bà ta có câu “ hàng xóm tối lửa tắt đèn cónhau” hay “bán anh em xa, mua láng giềng gần” và nhất là đối với người cao tuổi thìnhững người hàng xóm, láng giềng có một vị trí khá quan trong, gần gũi về không gian
sống nên người cao tuổi có thế nhờ bất cứ lúc nào, hay khi đau ốm “chỉ cần ho một tiếng là cụ hàng xóm đã chạy sang thăm hỏi xem bị bệnh gì không” (cụ ông 76 tuổi,
khu vực 8) Tuy sự gần gũi của hàng xóm, láng giềng không bằng con cái trong nhà
Trang 30nhưng lại thường xuyên hơn họ hàng, cụ bà 78 tuổi, khu vực 1 cho hay “ con cái ở xa,
bà sống ở đây có một mình nên nhờ cậy hàng xóm là chủ yếu, ốm đau ới một tiếng là
họ đã chạy sang giúp mình rồi …” Sự giúp đỡ của người hàng xóm thể hiện tình làng
nghĩa xóm và ăn sâu vào con người Việt Nam ta từ ngàn đời xưa Theo kết quả thuthập được thì cụ ông được sự trợ giúp từ hàng xóm láng giềng nhiều hơn cụ bà (6,9%
so với 4,2%)
Bạn bè, đồng nghiệp chỉ chiếm 2,3% đối với nguồn trợ giúp về chăm sóc sứckhỏe đối với người cao tuổi Cụ ông được bạn bè, đồng nghiệp tới thăm hỏi khi bịbệnh hay đau ốm nhiều hơn cụ bà là 5,2% so với 1,4% Không có cụ nào trên 90 tuổiđược bạn bè, đồng nghiệp tới thăm hỏi khi bị bệnh hay đau ốm
Bảng 2.2: Nguồn thu nhập – sự quan tâm, thăm hỏi của chính quyền địa phương Chính quyền địa
phương
Nguồn thu
nhập
Quan tâm thăm hỏi Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
Sốlượng
Tỉlệ(%)
Sốlượng
Tỉlệ(%)
Sốlượng
Tỉlệ(%)Kinh tế hộ gia đình
Lương hưu
Trợ cấp xã hội
Lao động hiện tại
Đầu tư, lãi suất, cho thuê
Con, cháu giúp đỡ
Người khác giúp đỡ
12901300
2,985,30,02,98,80,00,0
1144120990
11,746,81,121,39,69,60,0
3108530
15,05,00,040,025,015,00,0
(Phụ lục 4 – 2)Nguồn thu nhập có ảnh hưởng tới sự quan tâm thăm hỏi của chính quyền địaphương đối với người cao tuổi, người cao tuổi có lương hưu đươc chính quyền địaphương quan tâm, thăm hỏi thường xuyên chiếm tới 85,3% Còn đối với người caotuổi có nguồn thu nhập từ kinh tế hộ gia đình và lao động hiện chiếm 2,9%, nguồn thunhập từ đầu tư, lãi suất cho thuê là 8,8% Nhưng nhìn chung, mức độ quan tâm thămhỏi của chính quyền địa phương đối với người cao tuổi khi ôm đau ở mức thỉnh thoảngcao nhất là 63,1%, ở mức quan tâm, thăm hỏi là 24,6% còn chưa bao giờ là 12,3%.Còn nói tới các chương trình, dự án chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi tại điaphương thì số liệu thu được là không chiếm tới 63,8%, có là 13,8% và khó trả lời là
Trang 3122,3% Điều nay cũng chứng tỏ, chính quyền địa phương chưa có những dự án,
chương trình chăm sóc sức khỏe thiết thực tới người cao tuổi, chỉ dừng lại ở “ tuyên truyền về sức khỏe hoặc nghe bản tin sức khỏe, mà cũng không thường xuyên, có khi năm mới tổ chức 1 lần”, cụ ông 65 tuổi, tại khu vưc 1 nói Đối với những quyền lợi về
y tế mà người cao tuổi được hưởng thì mặt bằng chung là người cao tuổi là hưu tríđược hưởng 100%, con những người cao tuổi lao động thì vẫn phải mua bảo hiểm y tếnhư những người khác
Đoàn thể, Hội, Câu lạc bộ không được kể đến như một nguồn hỗ trợ khi ngườicao tuổi đau ốm nhưng trên thực tế nó đảm bảo sức khỏe cho người cao tuổi, đối vớituổi già, khi tham gia các hoạt động cộng đồng sẽ làm cho tinh thần và thể chất củangười cao tuổi tốt hơn, sức khỏe được đảm bảo hơn Việc tham gia vào các buổi sinhhoạt đoàn thể của người cao tuổi vừa nhằm mục đích giải trí, tâm sự, động viên, giúp
đỡ nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống thì cũng vừa hỗ trợ về mặt vật chất
“ Hội người cao tuổi có quỹ hội, dùng vào những lần các cụ bị đau ốm, nằm viện hay qua đời, hội đều đóng góp tiền, mỗi lần như thế là 200 ngàn đồng, quỹ này do hội viên đóng góp hàng tháng”, theo cụ bà 62 tuổi, tổ trưởng hội người cao tuổi khu vực 8 cho
biết Tuy nhiên, sự hỗ trợ không nhiều do hội hạn hẹp về kinh phí nhưng là một sựđộng viên tinh thần đối với người cao tuổi Như vậy, người cao tuổi có thể hòa nhậpvào cộng đồng thông qua những hoạt động sinh hoạt tập thể, các tổ chức xã hội, cácloại hình Câu lạc bộ được thừa nhân là yếu tố tich cực nhằm ổn định và củng cố sứckhỏe theo hướng tốt nhất Những tổ chức này nối liền hoạt động của người cao tuổitrong gia đình với xã hội, nơi mà sau khi hết tuổi lao động họ dường như phần nào bịtách rời
Có thế thấy được các nguồn trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trong việcchăm sóc sức khỏe có ý nghĩa vô cùng to lớn Các mối quan hệ trong gia đình và ngoài
xã hội tạo nên một mạng lưới giúp đỡ về mặt sức khỏe cho người cao tuổi Nhữngngười cao tuổi lúc khỏe mạnh cũng luôn ở tâm trạng lo sợ, cô đơn, khi bị đau ốm haybệnh tật thì điều đó càng làm cho người cao tuổi suy giảm về cả mặt sức khỏe và tinhthân, vì vậy mà những nguồn hỗ trợ người cao tuổi không chỉ trong gia đình mà cònngoài gia đình là liều thuốc quý để giúp người cao tuổi chiến thắng bệnh tật
2.3.2 Trò chuyện, thăm hỏi
Trang 32Đối với người cao tuổi, trò chuyện thăm hỏi là một trong những điều quan trong
để người cao tuổi có thể lạc quan hơn trong cuộc sống, qua trò chuyện, người cao tuổi
có thể trút bỏ những tâm tư, gánh nặng trong suy nghĩ của mình Trong đó cấp độ gầnnhất và thường xuyên nhất là gia đình người cao tuổi Sự hỗ trợ đa dạng trong hoạtđộng trò chuyện thăm hỏi trong gia đình làm cho hoạt động này trở nên phong phúhơn Sự hỗ trợ người cao tuổi ngoài gia đình là hàng xóm, láng giềng cũng góp mộtphần không nhỏ
Bảng 2.3: Người thường xuyên trò chuyện với người cao tuổi,%.
Thường xuyên trò chuyện Số lượng Tỉ lệ(%)
Con trai chưa kết hôn sống cùng nhà 4 3,0
Con trai chưa kết hôn không sống cùng
nhà
Con gái chưa kết hôn sống cùng nhà 4 3,0
Con gái chưa kết hôn không sống cùng
nhà
Trang 33mức độ trò chuyện giữa người cao tuổi với con gái đã kết hôn cũng ngày một tăng lên.Ngoài ra, con dâu cũng được người cao tuổi nhắc đến (chiếm 6,1%), người con traichưa kết hôn sống cùng nhà và người con gái chưa kết hôn sống cùng nhà chiếm 3,0%,bạn bè đồng nghiệp chiếm 5,1%, anh chị em ruôt, cháu ruôt chiếm 2,3% Con rể vàcon gái chưa kết hôn không sống cùng nhà không được người cao tuổi nhắc tới Nộidung các cuộc trò chuyện của con cháu với người cao tuổi xoay quanh những câuchuyện vui, hỏi thăm sức khỏe, ăn uống, chi tiêu trong gia đình, chuyện hàng xóm lánggiềng, chuyện dòng họ, … Và đó cũng là những dịp để người cao tuổi hỏi thăm tìnhhình sức khỏe, học hành của con cháu cũng như bộc lộ những mong muốn, nguyệnvọng của mình, tìm được sự đồng cảm với con cháu và phần nào thu hẹp khoảng cáchgià và trẻ, nhất là giữa ông bà và cháu.
Xét theo giới tính người cao tuổi cho thấy, tấn suất trò chuyện của các thànhviên trong gia đình được cụ ông và cụ bà đánh giá như sau: đối với cụ ông thì bắt đầu
từ vợ, con trai đã kết hôn, hàng xóm láng giềng, bạn bè, đồng nghiệp, con gái đã kếthôn, con dâu và anh chị em ruôt, cháu ruột; đối với cụ bà là chồng, hàng xóm lànggiềng, con gái đã kết hôn, con trai đã kết hôn, con dâu, con trai và con gái chưa kếthôn sống cùng nhà, con trai chưa kết hôn không sống cùng nhà và anh chị em ruột,cháu ruột (bảng 4)
Càng về già, tỉ lệ người cao tuổi trò chuyện với người bạn đời của mình thấphơn, nguyên nhân do càng về già người cao tuổi càng phải sống cô đơn do người bạnđời của họ mất đi, nhưng bên cạnh đó thì người được người cao tuổi tìm đến để tròchuyện là hàng xóm, láng giềng tăng lên về độ tuổi cụ thể là 60 – 69 là 20,4%, 70 –79% là 18,6%, 80 – 89 là 22,2%, trên 90 tuổi là 33,3% Ngoài gia đình thì nhữngngười hàng xóm là những người gần nhất với người cao tuổi, một số người cao tuổigóa bụa và không sống chung với con cái thì đối với họ chỉ có người bạn hàng xóm là
người gần gũi nhất, theo cụ bà 73 tuổi, tại khu vực 8 “ sống một mình, nên chỉ có tâm
sự, trò chuyện với người hàng xóm, ngày nào hai bà cũng tâm sự, chia sẻ những câu chuyện hàng ngày, già rồi nên cần người nói chuyện cho khuây khỏa …” Những
thông tin phỏng vấn sâu cho thấy, nội dung các cuộc trò chuyện của người cao tuổi vớihàng xóm, láng giềng của cụ ông, cụ bà cùng hướng tới những vấn đề chung ở khuphố, những sự việc xung quanh những con người tại nơi ở, hay những vấn đề thời sự,
Trang 34kinh tế, chính trị, xã hội mà các cụ thăm dò được qua các phương tiện thông tin đại
chúng như báo, đài, tivi, internet, … “ ông đọc báo hàng ngày, rồi lại bàn luận chính trị với mấy ông hàng xóm, giờ nhiều tin lắm cháu à ” [cụ ông 84 tuổi, khu vưc 1] hay “ bình thường đi chợ có tin gì hay thì bà về lại ngồi chia sẻ với bà hàng xóm cho vui”[cụ
bà 66 tuổi, khu vực 3] Và theo như những gì thu thập được từ phỏng vấn thì tròchuyện của cụ ông khác với cụ bà, những cụ ông thường trò chuyện với nhau về cácvấn đề chính trị, kinh tế hay ôn lại những kỉ niêm thời còn chiến tranh, đối với các cụ
bà thì xoay quanh các câu chuyện là gia đình, thăm hỏi sức khỏe, trao đổi những kinhnghiệm trong chuyện trông cháu hay bếp núc, giá cả chợ búa, quần áo, … Nhưng nhìnchùng, những cuộc trò chuyện vui thường làm cho tinh thần người cao tuổi cảm thấysảng khoái và yêu cuộc đời hơn
Người con trai đã kết hôn cũng là người mà người cao tuổi hay trò chuyện vàtăng lên theo độ tuổi là 60 – 69 tuổi là 11,1%, 80 – 89 tuổi là 33,3%, ngoài ra vị trí củangười con gái đã kết hôn và người con dâu cũng là những người được người cao tuổitrò chuyện, chia sẻ tâm sự tăng theo độ tuổi, được thể hiên đó là đối với người con gái
đã kết hôn: 60 – 69 tuổi là 11,1%, trên 90 tuổi là 16,7 , người con dâu là 60 – 69 tuổi là3,7%, 80 – 89 tuổi là 11,1%, trên 90 tuổi là 16, 7% Hiện nay, người cao tuổi ít nhiều
có con cái trò chuyện thăm hỏi hàng ngày, phần lớn sự tương tác này diễn ra trực tiếpgiữa người cao tuổi với con cháu của họ còn trong trường hợp con cái họ làm ăn xacha mẹ, hình thức trò chuyện gián tiếp qua điện thoại hay internet Như vậy, duy trìhoạt động trò chuyện, thăm hỏi thường xuyên của gia đình có vai trò quan trọng vềtinh thần đối với người cao tuổi
So với việc trò chuyện với con cháu và những người hàng xóm thì hoạt động tròchuyện của bạn bè với người cao tuổi có tần suất thấp hơn chiếm 5,3% (trong đó cụông cao hơn cụ bà là 10.5%)và cũng giảm theo độ tuổi từ 60 – 69 là 5,6%, 70 – 79 là6,9%, 80 – 89 là 3,7%, trên 90 tuổi là 0,0% Nguyên nhân do việc gặp gỡ giữa ngườicao tuổi với bạn bè, đồng nghiệp cũ không thường xuyên như những người hàng xómnên mức độ trò chuyện cũng ít hơn, hơn thế nữa, người cao tuổi càng già thì các quan
hệ xã hội cũng càng giảm do tuổi già, sức yếu Mặc dù vậy thì những cuộc trò chuyện,gặp gỡ bạn bè làm cho người cao tuổi thỏa mãn nhu cầu giao tiếp bạn bè, được tâm sự,chia sẻ với những người có chung đặc điểm nghề nghiệp, văn hóa xã hội, các vấn đề
Trang 35sức khỏe, gia đình, tin tưc về những người bạn cũ, cơ quan cũ, … Ngoài ra, trò chuyệngiúp cho người cao tuổi biết được những thông tin mới mẻ trong đời sống xã hội, làmtăng thêm vốn hiểu biết cho họ.
Kết quả cũng cho thấy, họ hàng người cao tuổi có hoạt động trò chuyện thấphơn các mối quan hệ khác chiếm 2,3% (trong đó cụ bà cao hơn cụ ông là 2,7% so với1,8%) và cũng giảm dần theo độ tuổi là từ 70 – 79 là 4,7%, 80 – 89 là 3,7%, nguyênnhân do mối họ hàng không sống gần với nơi sống của người cao tuổi, vì thế việc tròchuyện thăm hỏi thường nhằm vào những mục đích nhất định
Kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng, thông qua trò chuyện, người cao tuổithường cho biết những vấn đề quan trọng với người gần gũi và quan tâm họ nhất, đó làngười chồng/vợ chiếm 33,1% và người con trai là 30,8% Hai người này là nhữngngười được người cao tuổi tin tưởng và thường xuyên tâm sự, chia sẻ những điều quantrọng trong cuộc sống như về tiền bạc, thu chi, những quyết định mang tính chất quan
trọng trong cuộc đời của họ “bà thường chia sẻ với ông về những điều quan trọng như
là cưới xin cho coi cái, thu chi những khoản lớn trong gia đình, hay mua nhà, mua đất, …những điều này ông hiểu và rõ hơn bà” [cụ bà 67 tuổi, khu vực 1], những điều
quan trọng thường được người cao tuổi bàn bạc và đưa ra quyết định khi có ý kiến của
người họ tin tưởng, giao trách nhiệm, với cụ ông đã mất vợ ở khu vưc 8 nói rằng “bà nhà ông mất từ hồi chiến tranh, sinh 3 đứa con mà ông ở với con trai cả, nên điều gì cũng nói với nó, nhất là những điều quan trọng” Người con gái được người cao tuổi
cho biết những vấn đề quan trọng của mình chiếm 13,8%
Như vậy, hoạt động trò chuyện, thăm hỏi hay chia sẻ những vấn đề quan trọngtrong cuộc sống giữa người cao tuổi với các thành viên trong gia đình và ngoài giađình là hoạt động có ý nghĩa quan trọng về mặt tinh thần Thông qua việc trò chuyệnhàng ngày tạo nên sợi dây gắn kết, hỗ trợ về mặt tinh thần đối với người cao tuổi Vớiđặc điểm tâm sinh lí nổi bật của người cao tuổi là nuối tiếc tuổi trẻ, hay hoài cổ Họthường nhắc đến quá khứ nhiều hơn hiện tại, rất tự hào về kinh nghiệm sống của mình.Tuy nhiên, họ nhạy bén với cái mới, với sự biến động của lịch sử hay các sự kiện diễn
ra hằng ngày Nên thông qua trò chuyện, họ có thể được thể hiện mình, tìm đượcnhững người có thể nghe họ trò chuyện, tâm sự, làm giải tỏa những tâm lí mặc cảm, tự
ti của vấn đề lão hóa, từ đó có thể làm cho người cao tuổi an tâm hơn để sống và tham
Trang 36gia vào hoạt động xã hội Và đây cũng là một cách thức hiệu quả khi hỗ trợ xã hội vềmặt tinh thần đối với người cao tuổi.
2.3.3 Hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày
Phần lớn người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu đều tự có thể lo được các côngviệc trong sinh hoạt hàng ngày chiếm 37,3%, tự phục vụ các công việc hàng ngày của
cụ ba cao hơn cụ ông (42,7% so với 32,7%) Tuổi càng cao thì việc tự phục vụ bảnthân càng giảm, cụ thể là ở độ tuổi từ 60 – 69 là 44,4%, 70 – 79 tuổi là 41,9%, 80 – 89
là 29,6%, trên 90 tuổi là 16,7% Nguyên nhân do tuổi cao sức khỏe giảm sút nhanhchóng, kèm theo đó là giảm khả năng vận động khiến người cao tuổi không thể tựphục vụ bản thân mình ngày càng khó khăn hơn với những người già yếu, bệnh tật.Đối với những người cao tuổi này thì gia đình chính là chỗ dựa quan trọng nhất giúp
đỡ họ trong sinh hoạt hàng ngày cũng như các hoạt động khác
Bảng 2.4: Người trợ giúp người cao tuổi trong sinh hoạt hàng ngày,%.
Người trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày Số lượng Tỉ lệ(%)
Trang 37gái chỉ chiếm 9,0%, do người con gái đi lấy chồng nên không thể thường xuyên chăm
sóc trong công việc hàng ngày “khỏe thì không sao, chứ già rồi bệnh tật triền miên nên nhiều khi cũng không lo được ngày cả việc giặt giũ, thay đồ nên con cái lo hết mấy chuyện đó, ông ở với đứa con trai cả nên chuyện gì nó cũng lo ” [cụ ông 82 tuổi, khu vực 1] Trợ giúp của người con trai đối với cụ ông và cụ bà là ngang nhau (16,4%
so với 16,0%), càng về già, người con dâu có một vị tri quan trọng trong sinh hoạthàng ngày của người cao tuổi, cụ thể từ 60 – 69 tuổi là 3,7%, 70 – 79 tuổi là 11,6%, 80– 89 tuổi là 25,9%, trên 90 tuổi là 50,0%
Những cụ từ 70 tuổi trở lên cần nhiều sự giúp đỡ trong sinh hoạt hàng ngày từngười con trai và người con dâu cao hơn các cụ trong nhóm 60 – 69 tuổi
Kết quả trên có thể nhận định, mô hình sống chung giữa người cao tuổi với concháu tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình thông qua việc giúp đỡnhau trong sinh hoạt hàng ngày, con chau thể hiện tinh thần trách nhiệm với cha mẹ,cha mẹ cùng góp phần giúp đỡ con cháu để không trở thành gánh nặng cho gia đình.Những người cao tuổi tỏ ra khá độc lập trong sinh hoạt hàng ngày cho thấy tính hoạtđộng tich cực chứ không trông chờ một cách thụ động vào sự giúp đỡ của con cái hayngười khác Không những thế họ còn có thể giúp đỡ con cháu lo việc hàng ngày tronggia đình như đi chợ, nấu ăn, trông cháu, trông coi nhà cửa, … Những công việc nàytuy không quá nặng nhọc nhưng cũng chiếm khá nhiều thời gian của người cao tuổinhưng điều đó giúp họ thấy được niềm vui và khẳng định được vai trò, vị trí trong giađình
Quan hệ với họ hàng gần cũng là nguồn giúp đỡ trong sinh hoạt hàng ngày,nhất là những người hiện đang có anh chị em sống cùng nhà hay gần nhà Tuy nhiên, tỉ
lệ chị em ruột sống cùng và gần nhà thấp, vì vậy hoạt động giúp đỡ chỉ chiếm có 0,7%.Những người anh em họ hàng xa không thể giúp đỡ người cao tuổi hàng ngày được, cóchăng cũng chỉ là những lúc diễn ra cúng giỗ, ma chay, hiếu hỉ, … Đó là những dịpquy tụ anh em họ hàng Có thể thấy, sự giúp đỡ của anh em họ hàng trong sinh hoạthàng ngày thể hiện sự gần gũi trong mối quan hệ dòng tộc
Thông tin phỏng vấn sâu cho thấy người cao tuổi tham gia rất nhiều vào các
hoạt động hiếu hỷ, cúng giỗ trong dòng họ “Bác thường xuyên tham gia những dịp đó,
vì những dịp đó mới được gặp an hem, họ hàng ở xa, với lại thể hiện trách nhiệm của
Trang 38mình với dòng họ, không người ta lại đánh giá …” [cụ ông 65 tuổi, tại khu vực 8] hay
“ ông là trưởng dòng họ, mỗi lần cúng giỗ đều phải về quê, do ở dưới quê là có nhà thờ dòng họ, những lúc như thế ông lại bỏ tiền thêm vào, anh em cũng mỗi người một
ít để làm đám” [cụ ông 75 tuổi, khu vực 3] Có thể thấy, việc giúp đỡ những người họ
hàng tuy không thường xuyên nhưng thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của các thành viêntrong dòng họ, góp phần thắt chặt mối quan hệ thân tộc Có lẽ vị vậy mà các hoạt độngnhư xây dựng nhà thờ họ, lập quỹ khuyến học cho các con em trong dòng họ đangđược các dòng họ khôi phục và phát triển mạnh Người cao tuổi đô thị có điều kiện vềkinh tế nên đòng góp khá tích cực về công sức, tiền bạc trong các quỹ này nhằm nângcao uy tín dòng họ
Mối quan hệ hàng xóm, bạn bè đồng nghiệp góp phần nhỏ vào các hoạt độngsinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi (chiếm 0,7%) Và các hoạt động này thường là
do cụ bà đảm nhiệm nên cần đến sự giúp đỡ của hàng xóm nhiều hơn cụ ông (tỉ lệ là1,3%) Những công việc hàng xóm giúp đỡ thường như mua hộ mớ rau, con cá, trông
hộ nhà cửa hay trông hộ cháu những lúc phải đi chợ hay có việc đột xuất, … Vớinhững người cô đơn thì hàng xóm là nguồn động viên ý nghĩa đối với họ Ngoài ra,những dip cúng giỗ, ma chay hay lễ hỷ thì cũng luôn có mặt của những người hàngxóm gần bên sang giúp đỡ, và bản thân người cao tuổi cũng là những người giúp đỡhàng xóm trong công việc hàng ngày
Tóm lại, sự hỗ trợ của các thành viên trong gia đình là nguồn trợ giúp trongsinh hoạt hàng ngày lớn nhất đối với người cao tuổi bị bệnh hay đau yếu, vì nhữngthành viên đó là những người gần gũi nhất với người cao tuổi
2.3.4 Hỗ trợ tiền/vật dụng lớn
Trong mẫu nghiên cứu, vấn đề hỗ trợ xã hội về tiền/vật dụng lớn đối với ngườicao tuổi là không nhiều, cho thấy người cao tuổi khá độc lập về kinh tế (chiếm 60,9%)
Có thể lí giải từ những người cao tuổi ở đô thị phần lớn là hưu trí (chiếm 49,3%), một
bộ phận người cao tuổi vẫn đang làm việc (chiếm 41,5%) đã giúp họ tự chủ về kinh tế,không hoặc ít phải nhờ tới sự hỗ trợ của con cái, theo cụ ông 77 tuổi tai khi vực 1
“lương hưu của ông hiện tai là hơn 3 triệu, việc phải chi tiêu những khoản lớn trong gia đình đều do ông, ông đang sống với con trai út, mới đi làm nên cũng chỉ đủ chi
Trang 39tiêu cho bản thân nó…”.Cụ bà có thể tự túc trong kinh tế hơn là cụ ông (62,2% so với
55,4%)
Kết quả cũng cho thấy, hoạt động trợ giúp tiền/ vật dung lớn chủ yếu diễn ragiữa các thành viên trong gia đình người cao tuổi, nổi bật ở đây là sư hỗ trợ từ bạn đời(chiếm 24,8%) Các cụ ông là những người nhận được sự trợ giúp tiền nhiều hơn sovới cụ bà ( 37,5% so với 17,6%) Điều này cho thấy hình thức quản lí thu nhập của vợchồng theo kiểu người vợ giữ tiền vẫn không thay đổi, nó cũng thể hiện sự tin cậy vàgắn bó trong mối quan hệ vợ chồng người cao tuổi, một sự đảm bảo về tài chính khi họ
Sốlượng
Tỉ lệ(%)
Sốlượng
Tỉ lệ(%)
Sốlượng
Tỉ lệ(%)
Bản thân
Vợ, chồng
Con trai chưa kết hôn
Con trai đã kết hôn
Con gái chưa kết hôn
Con gái đã kết hôn
33141301
63,526,91,95,80,01,9
24151301
54,434,12,36,80,02,3
1630314
57,110,70,010,73,614,3
410100
66,716,70,016,70,00,0
Trang 4000000
0,00,00,00,00,0
01000
0,03,60,00,00,0
00000
0,00,00,00,00,0
Người cao tuổi cũng nhận được sự trợ giúp tiền/vật dụng lớn từ người con trai đãkết hôn (chiếm 5,8%).Người con trai trong gia đình thường đảm nhiệm vai trò chămsóc hằng ngày cả về vật chất và tinh thần khi cha mẹ về già Vai trò của người con trai
đã kết hôn có vai trò ngày càng quan trọng hơn khi độ tuổi người cao tuổi ngày càngcao ( từ 60 – 69 tuổi là 5,8%, 70 – 79 tuổi là 6,8%, 80 – 89 tuổi là 10,7%, trên 90 tuổi
là 16,7%) Tuổi cao đồng nghĩa với suy giảm khả năng vận động và làm việc, không
có thu nhập thêm, tuổi cao cũng kéo theo bệnh tật và con cái phải lo tiền bạc để điềutrị bệnh cho cha mẹ Hình thức giúp đỡ tiền của những người con trai sống xa cha mẹbằng cách gửi trực tiếp hay qua trung gian là những người anh em sống cùng với cha
mẹ, qua đó nhờ họ chăm lo cho cha mẹ Qua đó, những người con trong gia đình dù làcon gái hay con trai, ở gần hay ở xa cha mẹ thì đều có nghĩa vụ và trách nhiệm với cha
mẹ của mình, thể hiện sự hiếu thảo, quan tâm, chăm sóc những người sinh thành vànuôi dưỡng mình, điều này là một truyền thống vốn có của người Việt Nam ta từ xưatới nay
Người con dâu và người con rể không được người cao tuổi đề cập đến trong hoạtđộng trợ giúp tiền/vật dụng lớn Điều này có thể xuất phát từ nguồn thu nhập chungcủa vợ/chồng người con trai đã kết hôn cũng như người con gái đã kết hôn, nên khingười con gái hay người con trai giúp đỡ cha mẹ mình thì đã có sự đồng tình của