KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOÁ HỌC 2008 – 2012CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỀ TÀI: TRẺ EM LÀM TRÁI PHÁP LUẬT Ở XÃ NAM HẢI, HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH - THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÒ TRỢ GIÚP CỦA
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHOÁ HỌC 2008 – 2012
CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: TRẺ EM LÀM TRÁI PHÁP LUẬT Ở XÃ NAM HẢI, HUYỆN TIỀN
HẢI, TỈNH THÁI BÌNH - THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÒ TRỢ GIÚP CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
LỜI CẢM ƠN
Sau bốn năm học tập và rèn luyện tại Khoa Công tác xã hội – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, em có được kết quả như ngày hôm nay là sự nỗ lực cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình, chu đáo của các Thầy Cô trong Khoa.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy Cô trong Khoa Công tác xã hội, các Thầy Cô trong Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, đặc biệt là TS Vũ Thị Kim Dung – người đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn em trong quá trình học tập cũng như trong thời gian làm khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn Ủy Ban Nhân Dân Xã Nam Hải, Ban Công An Xã đã cung cấp tài liệu, nhiệt tình giúp đỡ em để khóa luận được hoàn thành.
Trang 2Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng vì thời gian có hạn, trình độ năng lực, kinh nghiệm về lí luận và thực tế còn nhiều hạn chế nên
đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được
sự góp ý chân thành của quý Thầy Cô cũng như của các bạn để giúp bài làm của em được hoàn thiện hơn và giúp em có thêm kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn cũng như trong đời sống Nhờ đó
em có thể tự tin hơn và làm việc hiệu quả hơn khi đưa những kiến thức được Thầy Cô truyền đạt vào bối cảnh thực tiễn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2012
Sinh viên: Bùi Thị Vi
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình Cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà Nước ta luôn chútrọng yếu tố con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế xã hội Trong đó việc bảo vệ quyền lợi của trẻ emđược Đảng và Nhà Nước ta hết sức quan tâm vì đây là đối tượng đặc biệttrong chiến lược phát triển con người, nguồn nhân lực của đất nước trongtương lai Công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em đóng vai trò quantrọng trong quá trình trẻ em phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và tâmlực nhằm tạo điều kiện để các em có thể tham gia tích cực vào đời sống xãhội mai sau
Trẻ em làm trái pháp luật là một hiện tượng thực tế tồn tại trong tất cả các xãhội Mọi quốc gia đều phải giải quyết vấn đề trẻ em làm trái pháp luật theonhững mức độ, cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội,tập quán của mỗi nước Nhưng dù ở đâu việc xử lý trẻ em làm trái pháp luậtcũng là vấn đề phức tạp và tinh tế Vì khi làm trái pháp luật các em vừa lànhững người phạm tội nhưng đồng thời các em vẫn là những đối tượngchưa trưởng thành - có thể là nạn nhân của sự thiếu chăm sóc, sao nhãnggiáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội, hoặc do còn non nớt, bị lừa gạtmắc phải vòng tội lỗi
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt vềvấn đề này Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, trong
đó đáng lưu ý là sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, sự xâm nhập
ồ ạt của một số nền văn hóa lai căng thì số lượng trẻ em làm trái pháp luật cóchiều hướng gia tăng không chỉ về số lượng mà cả về mức độ cũng như tính
Trang 4chất nghiêm trọng Tội phạm trẻ em không chỉ có ở những thành phố lớn mà
đã xuất hiện cả ở những vùng quê vốn dĩ thanh bình Đây là nỗi đau của giađình, nhà trường, xã hội
Chính vì những lý do trên tôi định hướng nghiên cứu của mình vào đề tài
“ Trẻ em làm trái pháp luật ở Xã Nam Hải, Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
– Thực trạng và vai trò trợ giúp của Nhân viên công tác xã hội” với hi vọng
đóng góp một phần vào việc tìm hiểu những nguyên nhân của thực trạng này và mạnh dạn đề xuất những giải pháp nhằm giảm tỉ lệ trẻ em làm tráipháp luật tại địa phương
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Trên thế giới:
Hiện tượng trẻ em làm trái pháp luật là một thực tế tồn tại trong tất cả cácquốc gia Để góp phần ngăn ngừa xử lý và giảm thiểu số lượng trẻ em làmtrái pháp luật nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này Cóthể thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm nói chung và trẻ
em vi phạm pháp luật nói riêng của nhiều tác giả khác nhau
Trong cuốn “Phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên”, Vetrop
N.M đã nêu những tiền đề đảm bảo cho công tác phòng ngừa vi phạm phápluật trong thanh thiếu niên có hiệu quả; những phương pháp phòng ngừa viphạm pháp luật trong thanh thiếu niên
Tác giả A.I.Dongova đã nghiên cứu tình hình phạm tội và những khía cạnhtâm lý xã hội, môi trường xã hội của người phạm tội chưa thành niên, nhữngđặc điểm về ý thức và hoạt động của người phạm tội chưa thành niên ở Liên
Xô trước đây
Trong bài viết của mình: “ Những nguyên nhân xã hội của tội phạm vị thành
niên ở Hồng Kông”, Patrica Grey tập trung nghiên cứu về những nguyên
nhân xã hội dẫn đến tình trạng phạm tội của vị thành niên
Trang 5Qua những tài liệu này, chúng ta thấy hướng nghiên cứu chú trọng đến một
số vấn đề chính như:
- Nghiên cứu về thực trạng, tình hình phạm tội nói chung, trong đó kể đến vấn đề vị thành niên phạm pháp, làm trái pháp luật
- Tìm hiểu nguyên nhân các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình phạm tội.
- Đưa ra các biện pháp phòng ngừa hạn chế tình trạng này
- Các chính sách pháp luật, hệ thống thi hành pháp luật xử lý vị thành niên phạm, pháp phạm tội.
2.2 Ở trong nước:
Ở nước ta, hiện tượng trẻ em làm trái pháp luật không phải là vấn đề mớixuất hiện Nhưng những năm gần đây, đặc biệt từ tác động của kinh tế thịtrường, hiện tượng này có xu hướng gia tăng, ngày càng diễn biến phức tạp
đã trở thành vấn đề bức xúc trong xã hội Đứng trước tình hình đó đã có khánhiều công trình nghiên cứu để tìm ra những giải pháp đóng góp cho việchoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề này Có thể điểmqua một số công trình như:
Tội phạm ở Việt Nam- Thực trạng nguyên nhân và một số giải pháp (Tổng
cục cảnh sát nhân dân ,1994)
Tình hình vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội trong thanh niên.(Viện nghiên
cứu thanh niên, 1999)
Nghiên cứu giải pháp phòng ngừa trẻ em làm trái pháp luật (Tổng cục cảnh
sát, 2000)
Ngoài các đề tài đề cập ở trên còn có khá nhiều chuyên đề, bài viết về trẻ em
hư, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em phạm pháp được đăng tải trên cácphương tiện thông tin đại chúng (Báo, Tạp chí, Báo mạng)
Nhìn chung các đề tài, công trình nghiên cứu nêu trên đều tập trung nghiêncứu, khảo sát thực tế tình hình vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên, nêu ra
Trang 6nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hiện tượng này.Nhưng vấn đề can thiệp của công tác xã hôi, cụ thể là những nhân viên côngtác xã hội trợ giúp các em hiểu được vấn đề của mình, có kiến thức kĩ năngsống, kiến thức pháp luật để tránh sa chân vào con đường phạm tội thì hầunhư chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến Vì vậy trong phạm
vi nghiên cứu đề tài này, ngoài tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân thì vấn đềđược đặc biệt quan tâm là tìm ra cũng như đề xuất một số giải pháp trợ giúpcác em theo hướng riêng của công tác xã hội nhằm góp phần giảm thiểu tìnhtrạng trẻ em làm trái pháp luật, hướng các em đến cuộc sống tốt đẹp, có íchcho gia đình và xã hội Cách thể hiện ra bên ngoài theo định hướng công tác
xã hội trong phạm vi đề tài này là vai trò trợ giúp của nhân viên công tác xãhội đối với trẻ em phạm pháp tại địa phương
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu là thực trạng trẻ em làm trái pháp luật ở XãNam hải, Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình.Vai trò trợ giúp của nhân viêncông tác xã hội đối với trẻ em làm trái pháp luật tại địa phương
3.1.2 Khách thể nghiên cứu là trẻ em làm trái pháp luật cùng các hệ thốngliên quan như: gia đình, nhà trường, cộng đồng, các cơ quan, đoàn thể, tổchức trên địa bàn Xã Nam Hải, Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Tìm hiểu thực trạng trẻ em làm trái pháp luật ở Xã Nam Hải, Huyện Tiền
Hải, Tỉnh Thái Bình và vai trò trợ giúp của nhân viên CTXH
(Phạm vi về không gian: Xã Nam hải, Huyện Tiền Hải, Tỉnh Thái Bình
Thời gian: từ tháng 12/2011 đến tháng 4/2012)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Trang 7Nghiên cứu làm rõ thực trạng trẻ em làm trái pháp luật trên địa bàn xã NamHải từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp thông qua việc triển khai vai tròcủa NVCTXH để giảm thiểu thực trạng trên
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
• Tìm hiều cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến hiện tượng trẻ emlàm trái pháp luật
• Tìm hiểu nhu cầu, tâm lí của trẻ em làm trái pháp luật
• Nghiên cứu thực trạng trẻ em làm trái pháp luật ở Xã Nam hải, HuyệnTiền Hải, Tỉnh Thái Bình, đặc biệt là ở một số thôn xóm trong xã cótình trạng trẻ em làm trái pháp luật khá nổi cộm
• Tìm hiểu công tác trợ giúp trẻ em làm trái pháp luật mà xã Nam Hảiđang thực hiện nhằm rút ra những thành tựu và hạn chế từ đó xâydựng hệ thống trợ giúp thông qua các vai trò của nhân viên CTXH
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trẻ em làm trái pháp luật trong cả nước nói chung và ở Xã Nam Hải nóiriêng hiện nay có chiều hướng ngày càng gia tăng, mức độ và tính chất nguyhại hơn do nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu tìm ra nguyên nhân sâu xacủa thực trạng đó, có thể đề xuất được các giải pháp quản lý, trợ giúp phùhợp, hiệu quả nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng trẻ em làm trái pháp luật
ở Xã Nam Hải cũng như có thể áp dụng cho những địa phương khác trong
cả nước
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu:
Xuất phát từ yêu cầu của đề tài, tác giả khoá luận sẽ tiến hành thu thập vàphân tích các tài liệu, tư liệu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu (sách, báo,
Trang 8luận văn, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học… ), nhằm làm sáng tỏ cơ sở líluận của đề tài mà trong đó các tác giả đề cập tới trẻ em làm trái pháp luật.
6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm làm sáng tỏ thêm những thôngtin đã thu thập được và tìm hiểu những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng củatrẻ em làm trái pháp luật cũng như nhu cầu của các em
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu theo hai hình thức:
Thứ nhất, là những câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn nhằm cung cấp nhữngthông tin bổ sung cho vấn đề nghiên cứu thêm sâu sắc
Thứ hai, là những câu hỏi không được chuẩn bị trước mà có sự linh hoạttrong quá trình điều tra Để từ đó tạo bầu không khí tâm lí cởi mở, gần gũi,giúp khách thể có thể bộc lộ những tâm tư, chia sẻ những cảm xúc thầm kíncủa mình, góp phần thu lại giá trị của cuộc phỏng vấn một cách chân thựcnhất
6.3 Phương pháp quan sát:
Quan sát trong nghiên cứu xã hội là quá trình tri giác và việc ghi chép mọiyếu tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêunghiên cứu Tôi sử dụng phương pháp này trong đề tài của mình nhằm quansát các em, cũng như các hệ thống có ảnh hưởng đến các em Từ đó có cáinhìn đi từ chi tiết đến tổng quan nhất về vấn đề các em đang gặp phải, đồngthời đưa ra các biện pháp, khuyến nghị phù hợp để các em phát triển mộtcách lành mạnh nhất
6.4 Phương pháp thống kê toán học
7 Đóng góp về khoa học của đề tài
7.1 Về mặt lí luận:
Nghiên cứu về thực trạng trẻ em làm trái pháp luật là việc đi sâu vào tìmhiểu các tác nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra hành vi phạm tội, các yếu tố
Trang 9tâm sinh lí, sự kiện liên quan đến hành động phạm pháp của các em Dựatrên những kết quả nghiên cứu đề tài góp phần làm phong phú thêm khoahọc về Hành vi con người và môi trường xã hội.
7.2 Về mặt thực tiễn:
Tìm hiểu nguyên nhân gây ra hành vi phạm tội ở các em, từ đó có thể đưa racác phương pháp phòng ngừa giúp giảm thiểu tình trạng trẻ em làm trái phápluật đồng thời trang bị kiến thức để các em có thể tự khám phá ra tiềm năngcủa bản thân để giải quyết vấn đề mình đang gặp phải, hay nói cách khác làcác em tự đương đầu với cuộc sống của chính mình
Với các biện pháp trợ giúp của công tác xã hội sẽ giúp các em thấy rõ hơn vềniềm vui, hạnh phúc, lí tưởng sống đúng đắn trong cuộc sống Như vậy cóthể thấy rằng CTXH có vai trò to lớn trong việc thay đổi hành vi và nhậnthức của trẻ em làm trái pháp luật trong cả nước nói chung và tại địa bànnghiên cứu nói riêng
Trang 10NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HIỆN TƯỢNG
TRẺ EM LÀM TRÁI PHÁP LUẬT
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Lí luận về trẻ em làm trái pháp luật và một số văn bản pháp luật
về khái niệm trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và trẻ em làmtrái pháp luật
Khái niệm trẻ em:
- Theo góc độ xã hội học: Trẻ em là giai đoạn con người đang học cách tiếp
nhận những chuẩn mực của xã hội và đóng vai trò xã hội của mình Đây làgiai đoạn xã hội hoá mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quy định của vậtchất hình thành nhân cách mỗi con người
- Theo góc độ tâm lí học: Trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát
triển tâm lí, nhân cách con người
Trang 11- Theo công ước quốc tế về Quyền trẻ em: Theo điều 1 của công ước Liên
Hiệp Quốc về quyền trẻ em do đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày20/ 11/1989: Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi,
- Theo pháp luật Việt Nam: Theo điều 1 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em được Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Namthông qua năm 2004 đã quy định: “Trẻ em là công dân dưới 16 tuổi” Việcquy định độ tuổi này dựa trên các yếu tố đặc điểm của truyền thống dân tộc,những nét riêng biệt của nền kinh tế và tổ chức xã hội ở nước ta, để từ đóquy định quyền và nghĩa vụ của các công dân Việt Nam
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ emnăm 2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàn cảnhkhông bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thựchiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Từ định nghĩa này,Điều 40 đã quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côikhông nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em lànạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làmviệc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc
xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện matuý; trẻ em vi phạm pháp luật”
Trẻ em làm trái pháp luật:
Trẻ em làm trái pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau tuỳ theo tính chất,mức độ vi phạm chuẩn mực xã hội hay pháp luật mà nghiên cứu đưa ra kháiniệm về nhóm trẻ này
- Trẻ em hư: Là trẻ em bình thường, vì không được giáo dục hoặc bị giáo
dục sai lệch, không đúng đắn đã trở nên khó dạy Dấu hiệu của trẻ em hư là
vi phạm các chuẩn mực xã hội, hành vi sai lệch lặp đi lặp lại nhiều lần,
Trang 12tương đối hệ thống ổn định không chịu sự tiếp nhận giáo dục của mọi ngườixung quanh.
+ Biểu hiện của trẻ em hư là không nghe lời, bướng bỉnh, vô kỉ luật, xấcxược, ngổ ngáo, gây gổ, bướng bỉnh, dối trá…
- Trẻ em bụi đời: Là dấu hiệu của trẻ em lang thang đường phố vừa có dấu
hiệu của trẻ em hư
- Trẻ em làm trái pháp luật:
+ Trẻ em làm trái pháp luật được biểu hiện là trẻ em đã thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý những hành vi trái pháp luật mà tùy theo tính chất mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính
hoặc luật hình sự ( Theo pháp luật Việt Nam )
+ Trẻ em làm trái pháp luật được hiểu là trẻ làm sai lệch chuẩn mực đạo đức
xã hội, vi phạm pháp luật Vi phạm các nội dung bổn phận trẻ em, cấm trẻ
em không được làm được quy định tại Điều 21 và 22 của Luật Bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em
+ Trẻ em làm trái pháp luật là những hành vi, hành động của trẻ em làm tráivới chuẩn mực đạo đức của xã hội Những hành vi hành động này gây tác
động có hại cho xã hội và con người ( Theo Từ điển xã hội học -G.Endruweit và G Trommsdorff - Nhà xuất bản thế giới ) Vậy những hành
vi hành động đó của trẻ em không chỉ có tác hại cho xã hội mà còn có tác hạimạnh mẽ đối với chính bản thân của người gây ra các hành động đó.Với độtuồi còn nhỏ do đó các em chưa ý thức được hậu quả của mình khiến cho các
em ngày càng sa lầy vào các tệ nạn xã hội Tuy nhiên khái niệm này mới chỉdừng lại ở mức hiểu trẻ vi phạm pháp luật là trẻ vi phạm chuẩn mực đạo đứcchứ chưa đề cập đến vấn đề pháp lí Cách hiểu này chưa thể hiện được đầy
đủ trách nhiệm cũng như nghĩa vụ về hành vi phạm pháp của trẻ
Trang 13Như vậy qua các cách hiểu trên thì có thể thấy trẻ em làm trái pháp luật là
những người nằm trong nhóm độ tuổi dưới 18 tuổi đã thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý những hành vi trái pháp luật mà tuỳ theo mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính hoặc hình sự
Phân loại trẻ em làm trái pháp luật
Trẻ em gây gổ đánh nhau
Trẻ em trộm cắp
Trẻ em tham gia tệ nạn cờ bạc
Trẻ em bị lôi kéo lừa gạt vào con đường mại dâm
Trẻ em tham gia buôn bán trái phép các chất ma tuý
1.1.1.2 Một số văn bản pháp luật có liên quan đến trẻ em làm trái pháp 1.1.1.2.1 Văn bản pháp luật quốc tế, tiêu chuẩn quốc tế và những mô hình
tốt.
- Công ước là một văn bản pháp luật quốc tế nhằm bảo vệ trẻ em mà tất cảmọi người cần thực hiện Khi một quốc gia ký và phê chuẩn Công ước vềquyền trẻ em thì chính phủ của quốc gia đó phải tuân thủ điều ước quốc tế
đó để đạt được một số các tiêu chuẩn cơ bản nhất định cho trẻ em Việt Nam
là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới kí Công ướcquốc tế về quyền trẻ em ( Việt Nam kí Công ước vào ngày 20 – 01 – 1990 ) Điều 40 của Công ước về Quyền Trẻ em quy định các quốc gia thành viênphải ban hành luật pháp, thiết lập các cơ quan và thể chế chuyên xử lí vấn đềtrẻ vị thành niên vi phạm pháp luật Những thủ tục quy định pháp lí này phảiđảm bảo mọi trẻ vị thành niên bị cáo buộc, kết tội hoặc bị thừa nhận là đã viphạm pháp luật có quyền được đối xử theo hướng bảo vệ nhân phẩm và giátrị của trẻ vị thành niên, tôn trọng quyền con người của trẻ vị thành niên vàquyền tự do cơ bản của người khác, có tính tới độ tuổi của trẻ vị thành niên
và ước muốn thúc đẩy tái hòa nhập xã hội của trẻ Các quốc gia thành viên
Trang 14cũng phải quy định một độ tuổi tối thiểu đó được cho là không có năng lực
1990 ); (2) và Quy tắc của Liên hiệp quốc về Bảo vệ trẻ vị thành niên khỏiviệc bị mất quyền tự do ( JDLs - Nghị quết Đại hội đồng Liên hiệp quốcthông qua ngày 14 – 12 – 1990 ); (3) Các biện pháp chủ yếu mà nhữnghướng dẫn này khuyến khích được tóm tắt dưới đây:
+ Bắt giữ và điều tra:
Công ước về quyền trẻ em quy định việc bắt giữ trẻ vị thành niên chỉ đượccoi là biện pháp cuối cùng và việc bắt giữ này chỉ được tiến hành trongkhoảng thời gian ngắn nhất có thể có ( Điều 37 ) Không được tra tấn hoặcdùng các biện pháp đối xử man rợ, tàn bạo, thiếu nhân đạo hoặc trừng phạtđối với trẻ vị thành niên; quyền không bị bắt buộc phải khai báo hoặc thừanhận tội của trẻ phải được đảm bảo ( Điều 37, Điều 40 ) Thêm vào đó, Quytắc Bắc kinh quy định rằng, khi trẻ bị bắt hoặc bị giam giữ, cha mẹ của trẻ
Trang 15phải được thông báo ngay lập tức hoặc trong thời gian sớm nhất có thể.Ngoài ra, mọi tiếp xúc giữa cơ quan thi hành pháp luật và trẻ vị thành niênphải được tiến hành theo hướng tôn trọng địa vị pháp lí của trẻ, bảo vệ sứckhỏe và tránh tổn hại đến trẻ Nếu có thể, các biện pháp thay thế bắt giữtrước khi xử như giám sát chặt chẽ, quản thúc tại gia hoặc trong môi trườnggiáo dục hay gia đình cần được sử dụng.
+ Thủ tục truy tố và xét xử:
Công ước về Quyền Trẻ em quy định trẻ vị thành niên bị cáo buộc hoặcbuộc tội vi phạm pháp luật có quyền được một cơ quan có thẩm quyền, độclập và không thiên vị quyết định vấn đề của mình một cách không chậm trễtại một phiên tòa công bằng Trong quá trình xét xử, người chưa thành niên
có quyền có sự hiện diện của cha mẹ mình và có quyền có sự trợ giúp pháp
lí hoặc các sự trợ giúp cần thiết khác Người chưa thành niên không bị bắtbuộc phải khai báo hoặc nhận tội, có quyền thẩm tra các chứng cứ chống lạimình, có quyền mời và thẩm tra nhân chứng có lợi cho mình với những điềukiện công bẳng Người chưa thành niên có quyền được trợ giúp phiên dịchmiễn phí nếu trẻ em không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng tạiphiên tòa ( Điều 40 ) Công ước về quyền trẻ em cũng quy định trẻ em phảiđược tạo cơ hội thể hiện quan điểm của mình, được lắng nghe trong bất cứmột phiên tòa hành chính hoặc luật pháp nào có ảnh hưởng tới trẻ Quanđiểm của trẻ vị thành niên phải được xem xét một cách nghiêm túc, có tínhtới độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ ( Điều 12.2 ) Quy tắc Bắc kinhnhấn mạnh các phiên tòa phải được tiến hành theo hướng bảo vệ cao nhất lợiích của người chưa thành niên, trong một môi trường hiểu biết mà ở đó chophép trẻ được tham gia đầy đủ và diễn đạt ý kiến của mình một cách tự donhất
Trang 16Bên cạnh đó, cả Công ước về quyền trẻ em ( Điều 12 ) và Quy tắc Bắc kinhđều yêu cầu quyền bí mật về thông tin đời tư của trẻ phải được tôn trọng ởmọi giai đoạn của một phiên tòa hình sự để tránh gây hại cho trẻ thông quaviệc công bố thông tin công khai hoặc ghi nhãn hiệu Cấm công bố thông tin
có thể dẫn tới việc nhận ra người chưa thành niên
+ Trừng phạt:
Công ước về quyền trẻ em và các hướng dẫn của Liên hiệp quốc nhấn mạnhrằng, hình phạt đối với người chưa thành niên phải tính tới yếu tố giảm nănglực nhận biết các hậu quả do các hành động của trẻ gây ra và tăng khả năngphục hồi, sửa chữa của trẻ Theo đó, Công ước về quyền trẻ em nêu ra mộtloạt các hình thức, chẳng hạn như chăm sóc, hướng dẫn và lệnh giám sát, tưvấn, thử việc, thúc đẩy các chương trình chăm sóc, giáo dục và đào tạo nghề
và các hình thức khác thay cho việc làm mất tự do của trẻ Các hình thức nàycần phải được xây dựng để đảm bảo trẻ vị thành niên được đối xử tươngxứng với tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh và mức độ phạm tội của trẻ ( Điều40.4 )
Biện pháp tước đoạt quyền tự do của trẻ ( trường cải tạo hoặc trung tâmgiam giữ ) chỉ được sử dụng như biện pháp cuối cùng và trong một khoảngthời gian ngắn nhất có thể có ( Công ước về quyền trẻ em, Điều 37(b)), vàchỉ áp dụng cho trẻ vị thành niên phạm tội bạo hành nghiêm trọng hoặc liêntục phạm các tội nghiêm trọng khác ( Nguyên tắc Bắc kinh ) Những ngườichưa thành niên không phạm tội nghiêm trọng về bạo lực cần được áp dụngbiện pháp dựa vào cộng đồng, và cần được hưởng những dịch vụ hỗ trợ vàchương trình giúp các em phục hồi và tái hòa nhập thành công Không được
áp dụng hình phạt về tiền hoặc tù chung thân mà không có khả năng trả lại
tự do trong tương lai đối với trẻ dưới 18 tuổi ( Điều 37(a))
+ Người chưa thành niên tại các cơ sở giam giữ, giáo dục bắt buộc:
Trang 17Công ước về quyền trẻ em yêu cầu tất cả trẻ vị thành niên bị tước quyền tự
do phải được đối xử một cách nhân đạo, được tôn trọng nhân phẩm, có tínhtới nhu cẩu của một người ở độ tuổi đó Trẻ vị thành niên phải được tách rờikhỏi người lớn trừ trường điều này không phải là việc làm tốt nhất cho họ( Điều 37(c)) JDLs của Liên hiệp quốc cũng quy định về nhân quyền vànhững quyền tự do cơ bản, trên quan điểm giảm thiểu tác dụng xấu của việcgiam giữ, giáo dục bắt buộc và thúc đẩy việc tái hòa nhập xã hội của trẻ
+ Tái hòa nhập sau khi ra khỏi các cơ sở quản lí tập trung:
Quy tắc JDLs quy định rằng tất cả người chưa thành niên trong cơ sở quản lítập trung cần được hưởng lợi từ những hoạt động giúp hỗ trợ các em quaytrở lại cộng đồng, quay trở về với gia đình, đi học và đi làm sau khi ratrường Quy tắc Bắc kinh khuyến nghị rằng Các quốc gia thành viên cungcấp những mô hình bán tập trung như các nhà trung chuyển, ngôi nhà giáodục, trung tâm giáo dục ban ngày và những mô hình phù hợp khác để hỗ trợquá trình tái hòa nhập của người chưa thành niên Quy tắc Bắc kinh cũngnhấn mạnh cần có nhiều dịch vụ và cơ chế được thiết kế nhằm đáp ứng nhucầu của người chưa thành niên khi các em tái hòa nhập với cộng đồng,hướng dẫn và hỗ trợ được coi là chìa khóa cho tái hòa nhập thành công
1.1.1.2.2 Pháp luật, chính sách và các hoạt động thực tiễn ở Việt Nam đối với trẻ em làm trái pháp luật.
- Người chưa thành niên vi phạm pháp luật có thể bị xử lí theo Pháp lệnh xử
Trang 18các vi phạm hành chính nào mà họ gây ra Theo Bộ Luật Hình sự, ngườichưa thành niên từ 14 đến 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự cho cáctội hình sự rất nặng gây ra có chủ ý hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng.Người chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm với mọi vụ
án mà họ gây ra Mục đích chính của việc xử phạt hình sự người chưa thànhniên vi phạm pháp luật là để giáo dục và giúp đỡ những người này sửa chửalỗi lầm và phát triển lành mạnh để trở thành những công dân có ích cho xãhội ( Điều 69 của Bộ Luật Hình sự )
- Các biện pháp không chính thức
Việt Nam không có một hệ thống xử lí chuyển hướng chính thức đối vớingười chưa thành niên vi phạm pháp luật Tuy nhiên có một số biện phápkhông chính thức đã được dùng để xử phạt các vi phạm pháp luật nhỏ dongười chưa thành niên gây ra mà không cần sử dụng tới các biện pháp xửphạt hành chính hoặc hình sự, và không cần phải chính thức lập hồ sơ ngườichưa thành niên vi phạm pháp luật Các biện pháp không chính thức baogồm: cảnh cáo của công an, gia đình cam kết giám sát và giáo dục ngườichưa thành niên, tự phê bình, giải quyết theo các quy tắc gia đình; báo cáovới nhà trường để quản lí và giáo dục người chưa thành niên, và sử dụng cácbiện pháp hòa giải theo Pháp lệnh về Hòa giải ở cơ sở và Nghị định củaChính phủ số 160/1999/NĐ-CP, ngày 18 tháng 10 năm 1999
- Bắt giữ và điều tra
+ Theo Pháp lệnh Xử lí vi phạm hành chính, người chưa thành niên bị buộctội vi phạm hành chính có thể bị tạm giam trong trường hợp thấy cần thiết đểngăn chặn hoặc dừng ngay lập tức các hành động gây rối trật tự công cộnghoặc gây thương tích cho người khác, hoặc khi thấy cần thiết phải tập hợpvà/hoặc xác định các trường hợp vi phạm Nói chung, việc tạm giam khôngđược vượt quá 12 giờ, nhưng có thể sẽ được gia hạn đến 24 giờ Phải thông
Trang 19báo cho gia đình và bố mẹ người chưa thành niên biết nếu người chưa thànhniên bị tạm giữ qua đêm hoặc hơn 6 giờ ( Điều 44, Pháp lệnh Xử lí vi phạmhành chính).
+ Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự, người từ 14 đến 16 tuổi có thể bị bắt giữ, bịtạm giam hoặc tạm thời bị đưa vào trại giam nếu phạm các tội nghiêm trọnggây ra có chủ ý hoặc phạm các tội rất hoặc đặc biệt nghiêm trọng ( Điều
303 ) Nếu người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị bắt giữ, cần phảithông báo ngay lập tức cho bố mẹ của người đó biết và gia đình người chưathành niên, giáo viên và đại diện Đoàn thanh niên có quyền và nghĩa vụtham gia vào quá trình và làm các thủ tục điều tra Với người chưa thànhniên vi phạm pháp luật từ 14 đến 16 tuổi, phải có mặt đại diện của gia đìnhtrong toàn bộ quá trình xét hỏi, thẩm vấn trừ khi đại diện gia đình cố ý vắngmặt không có lí do chính đáng ( Điều 306 ) Hiện nay chưa có một hướnghoặc thủ tục đặc biệt nào cho công an trong việc sử dụng lực lượng và các kĩnăng thẩm vấn đặc biệt
- Xét xử và các thủ tục tố tụng tòa án
+ Các biện pháp xử lí hành chính với người chưa thành niên vi phạm phápluật có thể do các cơ quan đặc biệt, bao gồm cả Chủ tịch Ủy ban nhân dânđưa ra mà không có các thủ tục tố tụng tòa án ( theo Điều 1, Pháp lệnh Xử lí
vi phạm hành chính năm 2002 ) Theo Nghị định số 142 năm 2002, quyếtđịnh đưa người chưa thành niên vi phạm pháp luật vào trại cải tạo do Chủtịch Ủy ban nhân dân các quận/huyện, thành phố/tỉnh đưa ra, có tham khảoHội đồng tư vấn
+ Khi các thủ tục tố tụng hình sự được đưa ra áp dụng với người chưa thànhniên vi phạm pháp luật, ban xét xử phải có cả hoặc một giáo viên, hoặc mộtđại diện của Đoàn Thanh niên ( PPC, Điều 306 ) Hơn nữa, phải có mặt đạidiện của gia đình, đại diện của trường học hoặc của các tổ chức xã hội trong
Trang 20quá trình xét xử của Tòa án ( PPC, Điều 306 ), và bắt buộc phải có sự thamgia và có mặt của luật sư biện hộ Tuy nhiên, gần đây Việt Nam chưa có bất
cứ một tòa án đặc biệt hoặc thủ tục tòa án đặc biệt nào để giải quyết các vụ
án có liên quan đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật
- Các biện pháp xử phạt
+ Theo hệ thống xử phạt hành chính, người chưa thành niên có thể bị phạtcảnh cáo, bị phạt tiền, áp dụng biện pháp giáo dục tại cộng đồng, đưa vàotrung tâm phục hồi hoặc trung tâm cai nghiện ma túy, hoặc đưa vào trại cảitạo trong 2 năm, tùy thuộc vào mức độ phạm tội, tuổi của người chưa thànhniên vi phạm pháp luật, và các hoàn cảnh, trường hợp của người chưa thànhniên Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ban hành các quy định về hình thứcgiáo dục tại xã, phường và thành phố, thị trấn rằng khi người chưa thànhniên vi phạm pháp luật được áp dụng hình phạt giáo dục tại cơ sởxã/phường, cần cử một cơ quan chịu trách nhiệm quản lí và giáo dục ngườichưa thành niên Cơ quan đó phải của một người làm việc với người chưathành niên vi phạm pháp luật, xây dựng chương trình hành động, và giúp đỡngười chưa thành niên tìm việc làm hoặc tìm kiếm sự trợ giúp của Ủy bannhân dân trong việc tìm việc cho những người này Nhà tài trợ sẽ giúp ngườichưa thành niên tự làm kiểm điểm và viết cam kết sửa chữa các lỗi lầm cũngnhư giám sát việc thực hiện việc giáo dục người chưa thành niên
+ Theo hệ thống hình sự, Bộ luật Hình sự quy định rằng người chưa thànhniên có thể phải chịu các biện pháp xét xử theo hướng giáo dục và phòngtránh ( giáo dục tại xã, phường, đư vào trại cải tạo ) hoặc các biện pháp xửphạt ( cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn ).Thời gian phạt tù có thời hạn tối đa áp dụng cho người chưa thành niên viphạm pháp luật ngắn hơn so với thời hạn áp dụng cho người lớn phạm cùngmột tội Thêm vào đó khi áp dụng hình phạt tù dưới 3 năm, cho thấy rằng
Trang 21không cần thiết phải áp dụng phạt tù cho có thời hạn, tòa án có thể hoãn thihành án và quyết định thời hạn thử thách từ 1 đến 5 năm (Điều 7) Khôngđược áp dụng các hình phạt tù chung thân và xử tử với người chưa thànhniên vi phạm pháp luật ( Điều 74 ).
- Người chưa thành niên tại các trường giáo dưỡng/trại giam.
+ Các trường giáo dưỡng dành cho người chưa thành niên nằm dưới sự quản
lí của Bộ công an theo quyết định số 142/2003 Bộ công an kết hợp với Bộgiáo dục và đào tạo, Bộ lao động thương binh và xã hội, Ủy ban dân số giađình và trẻ em và các cơ quan liên quan, quản lí các trường giáo dưỡng Họcsinh các trường giáo dưỡng phải tham gia vào các chương trình giáo dục cơbản bắt buộc và cũng được học nghề
+ Điều 308, Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định rằng người chưa thành niên viphạm pháp luật chịu phạt tù có thời hạn phải được giam giữ tách xa ngườilớn và phải được học nghề hoặc học văn hóa cơ bản Pháp lệnh thi hành ánphạt tù năm 1993, Nghị định số 60/CP ngày 18 tháng 9 năm 1993 về việc “ban hành các quy định về các trại giam’’, và Nghị định số 60/2001/NĐ-CPngày 4 tháng 9 năm 2001 về sửa đổi Điều 3 của các quy định về trại giam,quy định rằng các tù nhân là người chưa thành niên được tách riêng ra theolứa tuổi, giới tính, theo cơ chế quản lí, giáo dục, lao động, học tập và cáchoạt động thường nhật ( Điều 10, 13 của Pháp lệnh thi hành án phạt tù ).Giáo dục tiểu học và dạy nghề cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật
là bắt buộc
- Tái hòa nhập
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định rằng trẻ em vi phạmpháp luật bị xử lý bằng các hệ thống xử lý hành chính và/hoặc hình sự và bịtách khỏi cộng đồng của mình trong một thời gian cố định, khi trở về với giađình sẽ được Ủy ban nhân dân xã/phường và các cơ quan chức năng, các tổ
Trang 22chức tạo điều kiện và giúp đỡ họ tiếp tục học tập và tham gia vào các lớphọc nghề và tìm việc làm ( Điều 58 ) Ngoài ra, Pháp lệnh thi hành án phạt tù( Điều 33 ) và Nghị định số 52/2001/NĐ-CP hướng dẫn việc thực hiện việcđưa vào trường giáo dưỡng ( các Điều 28, 29 và 31 ) đều quy định rằng, nếungười chưa thành niên vi phạm pháp luật đã hoàn thành hình phạt tù, bangiám thị trại giam sẽ phối hợp với các tổ chức hành chính và xã hội tại xã,phường hoặc thành phố, thị trấn giúp người chưa thành niên hòa nhập vàocuộc sống bình thường trong xã hội.
1.1.2 Nhu cầu và đặc điểm tâm lý của trẻ em làm trái pháp luật
1.1.2.1 Nhu cẩu của trẻ em làm trái pháp luật
Trẻ em làm trái pháp luật là những trẻ em sống trong hoàn cảnh mà một haymột số các nhu cầu không được đáp ứng hoặc được đáp ứng không đầy đủ.Bởi vậy chúng trở nên dễ bị tổn thương, dễ dẫn tới hậu quả như phát triểnkhông toàn diện, trong đó có trẻ chưa ngoan có nguy cơ làm trái pháp luật
Nhu cầu về vật chất:
Số trẻ em làm trái pháp luật là những em sống trong điều kiện kinh tế khókhăn như thiếu chất dinh dưỡng, môi trường sống không đảm bảo Điều nàylàm ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, trí tuệ của trẻ Sự bé nhỏ về tầmvóc, sự thua kém về trí tuệ sẽ tạo nên tâm lý tự ti đối với trẻ
Ngược lại một số trẻ làm trái pháp luật thì lại sống trong điều kiện kinh tếquá sung túc, được đáp ứng mọi nhu cầu một cách thái quá, dẫn tới tâm lý hưởng thụ, đua đòi, coi thường giá trị đồng tiền, sức lao động
Nhu cầu an toàn:
Có thể khẳng định, trẻ em làm trái pháp luật luôn sống trong tâm trạng thiếu
sự che chở, bảo vệ Nói cách khác, nhu cầu an toàn không được đáp ứng
Trang 23Với những trẻ sống trong điều kiện kinh tế khó khăn, không được chăm losức khoẻ, không có nhà ở, thu nhập gia đình quá ít ỏi, phải lao động sớm, sự
an toàn của chúng đều có nguy cơ bị đe doạ
Với những trẻ tuy điều kiện vật chất được đáp ứng đấy đủ nhưng thiếu vắng
sự quan tâm chăm sóc, tình yêu thương của bố mẹ cũng dẫn tới tâm trạngsống thiếu ổn định, an toàn của trẻ
Với những trẻ sống trong hoàn cảnh gia đình ly tán, cha mẹ bất hoà, bố mẹphạm pháp thì sự lo sợ, án ảnh luôn là bạn đồng hành với chúng
Tâm lý thiếu an toàn, mất ổn định tạo ra sự lo sợ, đe doạ sự tồn tại, cuộcsống của trẻ, và đây là một trong những nguyên nhân của một số bệnh tâmthần thường gặp ở người lớn sau này
Sự nổi loạn hay chống đối của trẻ cũng được giải thích bằng cơ chế phòng
vệ đảm bảo sự tồn tại Bởi vậy, ta thường thấy trẻ có tâm lý không ổn định,trạng thái mất công bằng do các lý do gia đình thường dễ nổi khùng và cóhành vi chống đối xã hội
Nhu cầu tôn trọng:
Trẻ em làm trái pháp luật thường tự nhận thức là mình là những “ngườithừa” của xã hội, không được xã hội chấp nhận và tôn trọng Mặt khác,nhiều người trong xã hội cũng không muốn chấp nhận sự tồn tại của chúng,thậm chí còn lên án chúng
Chính vì những điều này làm nảy sinh ở trẻ tâm lý bất cần, không tôn trọngngười khác, không tôn trọng pháp luật và không tôn trọng ngay chính bảnthân mình Mặc dù trong suy nghĩ, trẻ rất muốn được xã hội, được mọingười tôn trọng, được chấp nhận như là người có ích
Do vây, để thoả mãn mong muốn đó, trẻ sẵn sàng làm bất cứ điều gì cho dù
đó là sai trái để thể hiện mình, để được chấp nhận
Nhu cầu phát triển nhân cách:
Trang 24Trẻ cần được giáo dục, cần được học hành, cần có những cơ hội để thể hiệntiềm năng Nhưng những trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về vậtchất, về tinh thần nên không có cơ hội đến trường, không có cơ hội giao lưu,học hỏi Sự thua kém về trình độ sẽ làm trẻ dễ tự ti Mặt khác do không có
cơ hội đến trường, giao lưu để xác định được khả năng có thực, một số trẻngộ nhận về khả năng của mình nên tạo ra những tình huống để thể hiệnmình một cách tiêu cực, gây rối loạn cho xã hội
Nhu cầu tình cảm được thuộc về một nhóm xã hội nhất định
Đó chính lá nhu cầu được sống trong một gia đình hạnh phúc, nhu cầu đượchọc tập trong một lớp với những bạn cùng tuổi Trẻ em làm trái pháp luậtđược sống trong bầu không khí gia đình đoàn tụ, ít có cơ hội tới trường.Điều này làm mất đi cảm giác được đùm bọc, che chở của gia đình, bạn bè.Tâm lí đơn độc, cô đơn bao trùm trong trẻ làm trẻ hoặc trở nên quá nhút nháthoặc quá phòng vệ một cách thô bạo Việc không được gia đình quan tâmthúc đẩy trẻ tìm kiếm những băng nhóm ngoài đường phố và từ đó dễ bị lôicuốn bởi những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội
1.1.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ em làm trái pháp luật
- Tất cả trẻ em ở lứa tuổi chưa thành niên đều có những đặc điểm về pháttriển thể chất, tâm sinh lý giống nhau Nhưng ở trẻ em làm trái pháp luậtthường có nhu cầu không bình thường và chúng được thể hiện bằng các cáchthức kì quặc, trái ngược với các chuẩn mực, hành vi đạo đức xã hội
Mọi trẻ đều có đặc điểm muốn tự khẳng định mình Riêng với nhóm trẻ làmtrái pháp luật muốn tự khẳng định mình bằng cách thoát ly khỏi sự ràngbuộc của gia đình, của nhà trường Trẻ không muốn có người can thiệp vàocác hoạt động của mình Thể hiện trước tiên là không nghe lời, bướng bỉnhcãi lại, vô kỷ luật, ngổ ngáo, xấc xược Mức độ cao hơn là bỏ học, bỏ nhà,
Trang 25muốn làm những việc phi thường giống như những kẻ anh chị, trấn lột, hiếpdâm, chém giết ẩu đả, tranh giành địa vị thủ lĩnh.
- Trẻ muốn chơi trội gây ấn tượng, muốn mọi người chú ý, biết đến mình,loại trẻ này thường để đầu tóc, ăn mặc lố lăng khác người, thích cười nói thôtục, xuồng xã trước đám đông, thích tự tạo ra những trạng thái thần kinhkích thích mạnh như đánh lộn, tiêm trích, rượu chè, tìm đến thắng thua trong
cờ bạc, phim ảnh đồi truỵ, hộp đêm, các quán ăn đập phá cho gây ấn tượngvới đồng bọn Có nhu cầu giao tiếp, thích nơi ồn ào, náo động, thích trêutức, gây sự, cãi lộn, ẩu đả với nhau và với người xung quanh Có nhu cầuđược làm người lớn, được tôn trọng nhưng lại muốn làm kẻ cả” muốn lênmặt” dạy dỗ thuyết giáo đồng bọn
- Để thực hiện những nhu cầu theo hướng không bình thường, trẻ thực hiệnnhững hành vi sai lệch và luôn cảnh giác tự vệ Vì vậy, trẻ luôn nói dối, dấudiếm khuyết điểm, tự biện hộ cho hành vi của mình, bao biện thoái tháchành vi tội lỗi trước mọi người Ở mức độ cao hơn, phản ứng đối với xã hộitrở thành thói quên bao trùm lên mọi hành vi đạo đức của trẻ Khi mọi sựkhuyên bảo giáo dục đều bị trẻ hiểu theo nghĩa xuyên tạc bóp méo và phảnứng là cãi lại, gây gổ hành hung, chống đối quyết liệt
- Có thể khái quát một số đặc điểm tâm lý của trẻ làm trái pháp luật như
sau:
• Về mặt tình cảm: Xáo trộn, dễ thay đổi, suy nghĩ thiếu chín chắn, sôi nổithái quá, không gắn bó với gia đình, nhưng lại gắn bó với các nhóm bạn,băng đẳng, dễ tự ái nóng nảy
• Mâu thuẫn trong hành vi thái độ tư duy
• Tâm lý chống đối lại môi trường xã hội( gia đình, nhà trường và nhữngngười xung quanh)
Trang 26• Dễ bị kích thích, ngổ ngáo, dễ theo đuổi, đua đòi mù quáng
• Thiếu trách nhiệm với bản thân gia đình và xã hội
• Tâm lý hận đời, bất cần
• Lười biếng không thích lao động học tập
• Dễ ích kỉ
• Thích mạo hiểm, liều lĩnh để chứng tỏ mình
• Không có ý chí vươn lên hoặc kém ý chí
• Về trí tuệ, tư duy trừu tượng kém phát triển, nặng về tư duy cụ thể yếukém trong phân tích, đánh giá đúng một hiện tượng, sự vật
1.1.3 Khái niệm Công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội
1.1.3.1 Khái niệm Công tác xã hội
Trên thế giới, Công tác xã hội đã được khẳng định là một ngành khoa họcđộc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận, phương phápnghiên cứu riêng Sự khẳng định này đã được thực tiễn kiểm nghiệm khiCông tác xã hội đã hướng tới giúp đỡ các đối tượng khó khăn trong cuộcsống, góp phần làm ổn định, tiến bộ xã hội Sự hình thành và phát triển Côngtác xã hội là một tất yếu khách quan, vừa thể hiện nhu cầu thiết yếu về nótrong xã hội hiện đại, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh
tế xã hội, chính trị và văn hóa xã hội Vì vậy, trong quá trình vận động với tưcách là một khoa học và một hoạt động thực tiễn, ở những thời điểm khácnhau, những quốc gia khác nhau, có những quan niệm khác nhau về Côngtác xã hội Hiện nay, Công tác xã hội có sự phát triển rộng khắp thế giới, vớinhững xuất phát điểm, điều kiện lịch sử cụ thể, nền tảng văn hóa, mục đích
và bản chất chế xã hội có sự khác biệt nhất định, do đó xuất hiện nhiều quanđiểm, trường phái khác nhau khi nghiên cứu khoa học và nghề chuyên mônCông tác xã hội
Trang 27- Năm 1970, Hiệp hội quốc gia nhân viên Công tác xã hội- NASW ( Hoa
kỳ ) định nghĩa: Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằmgiúp đỡ những cá nhân, các nhóm, cộng đồng tăng cường hoặc khôi phụcnăng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thíchhợp nhằm đạt được mục tiêu ấy
- Năm 2000, tại Đại hội Montreal, Liên đoàn Công tác xã hội chuyên nghiệpquốc tế đã phát triển định nghĩa Công tác xã hội theo hướng tiếp cận mới:Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc đẩy việcgiải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và tăng cường quyềnlực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càngthoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệthống xã hội, Công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người
và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên tắc cănbản của nghề Công tác xã hội
- Định nghĩa về Công tác xã hội của Philippin: Công tác xã hội là một nghềchuyên môn, thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mốiquan hệ qua lại giữa cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân vàtoàn xã hội
- Năm 2004, Liên đoàn Công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế họp ởCanada đã thảo luận, bổ xung và đưa ra định nghĩa: Công tác xã hội là hoạtđộng chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi, bằng sự tham gia vào quá trìnhgiải quyết vấn đề xã hội vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóngtiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng Công tác xã hội đã giúpcho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹphơn cho mọi người dân
- Từ việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội; từ cácquan niệm, các định nghĩa được trình bày với nhiều cách tiếp cận khác nhau,
Trang 28theo tác giả Lê Văn Phú – Tác giả cuốn sách Công Tác Xã Hội, NXB Đại
Học Quốc Gia Hà Nội, 2004 thì có thể đưa ra một định nghĩa chung mang
hai khía cạnh nội dung như sau:
+ Công tác xã hội là sự vận dụng lí thuyết khoa học về hành vi con người và
hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội, và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa lí, vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế nhằm tiến tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội.
+ Công tác xã hội còn là một dịch vụ đã chuyên môn hóa, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu căn bản của cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội; mặt khác, góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò của chính mình.
1.1.3.2 Nhân viên công tác xã hội
Nhân viên Công tác xã hội đó là những người được đào tạo một cách chuyênnghiệp về Công tác xã hội có bằng cấp chuyên môn Đó là những cán bộ,những chuyên gia có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức, vậnđộng, giáo dục, biết cách thức hoạt động nhằm mục địch tối ưu hóa sự thựchiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng sống của cánhân, ngóm, cộng đồng xã hội Nhân viên Công tác xã hội chuyên nghiệpkhông chỉ biết hướng vào những nhóm dân cư yếu thế nhằm hỗ trợ, bảo vệ
và tăng cường năng lực tự chủ của họ mà còn xây dựng những chương trình,giải pháp khoa học nhằm bảo vệ xã hội với toàn thể dân cư Do tính chất đặcthù của ngành nghề Công tác xã hội, đòi hỏi Nhân viên Công tác xã hộichuyên nghiệp phải là những người biết kết hợp chặt chẽ lí thuyết với thựctiễn, thành thạo các phương pháp và kĩ năng chuyên môn, phải nhận rõ tínhđặc thù của Công tác xã hội trong từng môi trường xã hội khác nhau; khôngngừng học hỏi và vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm Công tác xã hội
Trang 29trong và ngoài nước; nắm bắt kinh nghiệm hoạt động cụ thể của các khu vựclãnh thổ, các cơ quan, các trung tâm bảo vệ xã hội và dân cư và biết ứngdụng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa các cánhân, giữa các tầng lớp, lứa tuổi, giữa gia đình và môi trường xã hội Nhânviên công tác xã hội còn phải biết gây ảnh hưởng đến mối quan hệ với các
cá nhân, các nhóm dân cư ( được coi là đối tượng phục vụ của Công tác xãhội ), biết khích lệ, thúc đẩy tinh thần chủ động và thái độ tích cực của cácđối tượng thân chủ Mỗi Nhân viên Công tác xã hội phải được trang bị trithức cơ bản về con người để hiểu rõ những ý chí, tình cảm, nhu cầu, nguyênnhân cũng như các biểu hiện vô thức trong hành vi con người Hơn thế nữa,một chuyên gia Công tác xã hội cần có những tri thức khoa học liên ngành,liên bộ môn để phân tích các đặc tính, các trạng thái tâm lí cá nhân, biết vậndụng các thủ pháp tâm lí, sư phạm học, nhân học, dân tộc học, sinh học xãhội nhằm chuẩn đoán, chữa trị hiệu quả mọi căn bệnh tâm lí và xã hội củamọi đối tượng trong mọi trường hợp
Là Nhân viên công tác xã hội cần biết tạo lập các đề án, nắm vững phươngpháp và kĩ thuật dự báo xã hội, thống kê xã hội, vận dụng chúng một cáchsáng tạo vào thực tế Công tác xã hội, không loại trừ mọi biện pháp, từ việcgiúp đỡ y tế, lao động cải huấn, dưỡng lão, trợ giúp người khuyết tật, trẻ emlàm trái pháp luật, bảo vệ pháp quyến cho các đối tượng thuộc các lứa tuổi,thành phần xã hội Nhân viên công tác xã hội luôn coi trọng quyền lợi củathân chủ, giữ vững phẩm chất đạo đức nghề nghiệp; với đồng nghiệp cũngnhư với thân chủ phải luôn tôn trọng lịch sự và tận tâm Nhân viên Công tác
xã hội phải có những hành vi xã hội cao cả vì hạnh phúc và bình đẳng chotất cả mọi người, đặc biệt là những cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế
1.1.4 Khái quát về Công tác xã hội ở một số nước trên thế giới đối với trẻ em làm trái pháp luật
Trang 30Trẻ em chính là mơ ước, là hạnh phúc, là niềm tin yêu và hi vọng của biếtbao gia đình Song trẻ em cũng chính là căn nguyên của những đau khổ,chán chường của những người làm cha, làm mẹ, hoặc phải chịu chung cảnhsống nghèo hèn, dốt nát, hoặc bị lây nhiễm những thói hư tật xấu trở thànhgánh nặng cho gia đình, xã hội Thật đáng buồn và đáng lo ngại trong xã hộihiện đại khi mà trẻ em đang đứng trước vô vàn nguy cơ đe dọa tới sự pháttriển lành mạnh Vậy các nước trên thế giới đã sử dụng công tác xã hội nhưmột công cụ trợ giúp trẻ em làm trái pháp luật như thế nào? Đây là vấn đềrất đáng để quan tâm bởi chúng ta có thể vận dụng sáng tạo những nội dungnày vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta hiện nay Sau đây là sự trình bày của em
về vấn đề trên:
1.1.4.1 Công tác xã hôi với trẻ em ở Mĩ:
Công tác xã hội đối với trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật và những thiếuniên thuộc “ nhóm ” nguy hiểm được xây dựng trên cơ sở hàng loạt cácchương trình: các chương trình cơ sở của cả sát, các chương trình cơ sở củangành tư pháp ddooid với trẻ vị thành niên, các chương trình cơ sở ở cáctrường học ( cho các trường bình thường và chương trình dành cho cáctrường chuyên trách giáo dưỡng những thiếu niên đã có tiền án, tiền sự ).Những phòng phục vụ cho thanh niên thanh niên thành lập năm 1967 làmnhiệm vụ môi giới và kiểm soát sự hoạt động của các tổ chức, các cơ sở dịch
vụ nhằm làm cho sự hoạt động này phù hợp với nhu cầu của trẻ vị thànhniên Hiện tại Mĩ đang có hai loại cơ sở cải tạo: nhà tù kín và trại giam cảitạo kín Trong thời kì thụ án các phạm nhân thiếu niên có giáo viên trôngcoi Công tác xã hội cũng được tiến hành ngay tại nơi giam giữ
1.1.4.2 Công tác xã hội với trẻ làm trái pháp luật ở Canada:
Trang 31Ở Canada các đối tượng nằm trong phạm vi hoạt động của Công tác xã hộirất đa dạng, trong đó trẻ em làm trái pháp luật rất được quan tâm, cụ thể nhưsau:
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai Canada đã chi một khoản tiền khổng lồ choviệc phát triển các chương trình xã hội ( trợ cấp cho các gia đình khó khăn,các chương trình mang tính pháp luật về việc duy trì mức thu nhập, trợ cấpthất nghiệp… ) Các tỉnh ở Canada chịu trách nhiệm thực hiện các chươngtrình bảo vệ sức khỏe, giáo dục và bảo vệ xã hội Thí dụ như đối với trẻ bịcha mẹ bỏ rơi hay đối với những trẻ không nhận được sự trông nom, chămsóc đầy đủ ở gia đình thì được nhà nước cứu giúp như đúng tinh thần của Bộluật về phúc lợi trẻ em
- Về trợ giúp xã hội có thể chia làm loại trợ giúp do các ngành phục vụ xãhội có cơ sở của pháp luật đảm nhận và loại trợ giúp của ngành phục vụ xãhội do các tổ chức tình nguyện đảm nhận Trẻ em nói chung và trẻ em làmtrái pháp luật nói riêng đều đươc hưởng sự trợ giúp từ hai loại hình trên
- Ở Canada có những Bộ luật khác nhau điều chỉnh sự cứu trợ của chínhphủ Theo những Bộ luật này người dân được hưởng sự ưu tiên theo chươngtrình hỗ trợ vật chất của nhà nước và không một ai bị phân biệt đối xử dướibất cứ hình thức nào Các chương trình hỗ trợ dành cho tất cả mọi tầng lớp,đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người thất nghiệp và người già.Nhà nước đảm bảo cho mỗi người dân có mức sống tối thiểu
- Ở Canada vẫn đang tồn tại chương trình WELFARE nhằm trợ giúp tiềncho những ai mất hết phương tiện sống; có dự kiến việc bảo hiểm thấtnghiệp, bù chi cho công nhân, bảo hiểm về tai nạn…; lưu hành Luật vềngười già, Luật về trợ giúp gia đình, trẻ em… Khoản tiền để thực hiệnchương trình WELFARE được lấy từ ngân sách Liên bang, nhưng mỗi tỉnh
Trang 32lại định ra tiêu chí của mình, xác nhận phạm vi những công dân nhận được
sự trợ giúp này
1.1.4.3 Công tác xã hội với trẻ em làm trái pháp luật ở Chi lê:
- Ở Chi lê chức năng giáo dục của những người làm Công tác xã hội là quantrọng nhất bởi vì họ mang kiến thức đến cho những người nghèo nhất của xãhội Công tác xã hội này được thực hiện chủ yếu ở các cấp địa phương tựquản
- Ở các tổ chức địa phương tự quản họ chịu trách nhiệm về việc phát triểncác chính quyền địa phương và trợ giúp các tầng lớp dân cư nghèo nhất Họtham gia soạn thảo các chương trình giáo dục và phục hồi những người trẻtuổi nằm trong nhóm có mức nguy hiểm cao hoặc có xung đột với hệ thống
tư pháp Đồng thời họ chịu trách nhiệm thực hiện các chương trình về hỗ trợ
bà mẹ và trẻ em
1.1.4.4 Công tác xã hội với trẻ em làm trái pháp luật ở Anh
Ở Anh thì toàn bộ hệ thống Công tác xã hội dựa trên cơ sở pháp luật thốngnhất và được cấp tài chính từ các nguồn của chính phủ, cho nên trong hoạtđộng thực tế hầu như mang tính đồng nhất Có thể nói ở quốc gia này trẻ emlàm trái pháp luật có rất nhiều cơ hội, điều kiện thuận lợi để sửa chữa hành
vi của bản thân và vươn lên trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.Đồng thời cũng có thể thấy được nhờ dựa trên tính thống nhất và đồng bộnên Công tác xã hội có thể phát huy tối đa hiệu quả trợ giúp với các nhómđối tượng
1.1.4.5 Công tác xã hội với trẻ em làm trái pháp luật ở Philippin
- Philippin là nước Châu Á có hoạt động Công tác xã hội khá sớm trong khuvực, do được thừa hưởng và tích cực học tập kinh nghiệm Công tác xã hội ở
Trang 33Châu Âu, đặc biệt là mô hình Công tác xã hội ở Mĩ nên Công tác xã hội ởPhipippin đã phát triển mạnh từ những thập niên 60 của thế kỉ XX.
+ Trước năm 1960 Công tác xã hội nhằm vào mục tiêu xã hội hóa giáo dục
và thông qua các hoạt động vui chơi, giải trí nhằm giáo dục nhân cách và cácgiá trị xã hội cho các tầng lớp thanh thiếu niên, mở rộng các hoạt động ngănngừa thanh thiếu niên phạm tội Các Nhân viên Công tác xã hội còn thựchiện việc tiếp cận các gia đình, vận động các bậc cha mẹ cùng tham giachương trình hành động vì tương lai con em của mình
+ Vào những năm 1960, số lượng các tổ chức cùng các hình thức nội dungCông tác xã hội được tăng cường Công tác chăm sóc trẻ em, quan tâm đếnthời gian rãnh rỗi của thanh thiếu niên, giải quyết tình trạng thất nghiệp,ngăn ngừa xung đột giữa các nhóm lưu manh… đã được chính phủ mà trựctiếp là các cơ quan chức năng quan tâm chỉ đạo
+ Vào thập niên 70, theo quyết định của Chính phủ, Bộ phúc lợi xã hội đãthực hiện chương trình phát triển và cung cấp dịch vụ cho 30% dân số nghèonhất nước Công tác xã hội cá nhân, nhóm, cộng đồng đã tập trung vào việcthực hiện các chương trình tạo việc làm, chăm sóc trẻ em, nâng cao ý thứctrách nhiệm của cha mẹ đối với việc giáo dục trong gia đình
+ Hiện nay, Philippin đã hình thành và phát triển các loại hình Công tác xãhội kể cả của nhà nước và tư nhân Các chương trình cho người nghèo vàcho trẻ em lang thang, trẻ em làm trái pháp luật…đang được sự quan tâm cả
về tinh thần và vật chất Nhiệm vụ của các cán bộ Công tác xã hội quantrọng hơn cả vào lúc này là giúp mỗi cá nhân tự ý thức về vị trí, vai trò củamình và tự đứng vững bằng đôi chân của mình trong xã hội
Như vậy có thể thấy trên thế giới hiện nay hầu như quốc gia nào cũng quantâm đến vấn đề trẻ phạm pháp Sự quan tâm ấy được thể hiện cụ thể bằng
Trang 34việc thiếp lập cơ quan pháp lí và các tổ chức trợ giúp dành riêng cho nhómtrẻ này Đồng thời có những chính sách hết sức thiết thực nhằm phát huy thếmạnh của mỗi cá nhân trong xã hội như đảm bảo đời sống vật chất, tinh thầnkhông ở dưới mức tổi thiểu, giáo dục cho mọi người biết vị trí và vai trò củamình trong xã hội…để mỗi người có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội.Đây chính là biện pháp sâu xa nhằm ngăn ngừa việc phạm pháp không chỉvới trẻ em mà cả với các nhóm tuổi khác Qua việc phân tích các nội dungtrên em nhận thấy Công tác xã hội ở các quốc gia này đã đi vào mọi mặt củađời sống xã hội, nó góp phần tạo ra sự phát triển bền vững cho mỗi cá nhânnói riêng và cho toàn xã hội nói chung.
1.1.5 Công tác xã hội với trẻ em làm trái pháp luật ở Việt Nam
- Công tác xã hội là một nghề khá mới mẻ đối với nước ta Công tác xã hộixuất phát từ hoạt động từ thiện nhân đạo có từ thời vua hùng dựng nướcnhưng đến năm 1975 đến nay Công tác xã hội mới định hình và phát triển.Mặc dù Công tác xã hội những năm 1975- 1986 không được chú trọng pháttriển Tuy vậy đội ngũ người làm Công tác xã hội tính đến thời điểm này đãcó: khoảng 500 người được huấn luyện ngắn hạn, 300 người được đào tạochuyên nghiệp trong thời gian 2 năm, 25 người có bằng cử nhân khoa học xãhội đã qua lớp đào tạo giáo viên và kiểm huấn viên, 7 thạc sĩ Công tác xãhội, 2 thạc sĩ phát triển cộng đồng ( Nguyễn Thị Oanh, 1998, 9… ) Đây lànhững nguồn lực quan trọng cho việc hình thành và phát triển Công tác xãhội trong giai đoạn sau
- Bước vào thời kì đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng công cuộc đổi mới đãđạt được những thành tựu to lớn về kinh tế- xã hội Bên cạnh những thànhtựu đó, những tiêu cực dưới tác động của nền kinh tế thị trường đã trở thành
Trang 35những vấn đề xã hội bức xúc, trong đó phải kể đến hiện tượng đói nghèo,khoảng cách giàu nghèo, sự phân biệt giàu nghèo, mại dâm, ma túy, trẻ em
bị ngược đãi, trẻ em lang thang, trẻ em làm trái pháp luật, thất nghiệp, di dân
tự do… Các chính sách xã hội, các nội dung tuyên truyền, giáo dục Công tác
xã hội đã kịp thời được triển khai theo hướng các giải pháp hỗ trợ như:Chương trình xóa đói giảm nghèo, Công ước về quyền trẻ em, cứu trợ xãhội… Trong mạng lưới Công tác xã hội không thể không kể đến hoạt độngcủa các Tổ chức phi chính phủ ( INGO ) như: Quỹ nhi đồng của Anh, tổchức Radda Barnen của Thụy Điển, Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc… Các hỗtrợ mang tính nhân đạo cũng như hành động cụ thể của họ góp phần vào xâydựng cơ sở lí luận và các phương pháp thực hành Công tác xã hội, đặc biệtvới đối tượng là trẻ em
Tuy nhiên ở nước ta do Công tác xã hội mới chỉ đang trên đà hình thành vàphát triển nên hiệu quả hoạt động trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thếđặc biệt là đối với trẻ em làm trái pháp luật chưa cao Trên thực tế thì có rất
ít các vụ việc Công tác xã hội tham gia trợ giúp Các trung tâm trợ giúp được
mở ra nhiều nhưng không phải em nào cũng có thể được phục vụ vì chi phíkhá cao hoặc các em không biết đến các địa chỉ này
1.1.6 Những kĩ năng của Nhân viên Công tác xã hội khi trợ giúp trẻ em làm trái pháp luật
Kĩ năng giao tiếp, thu thập thông tin, tìm hiểu nguyên nhân Trongnhóm kĩ năng này được chia ra làm các kĩ năng cụ thể sau:
Lắng nghe :
- Nhân viên công tác xã hội lắng nghe các em nói về chính bản thân mìnhnhư về hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống và những nguyên nhân đã đẩycác em vào con đường vi phạm pháp luật Khi nhân viên xã hội chăm chú
Trang 36lắng nghe và có những cử chỉ đáp lại sẽ làm cho các em thấy mình được tôntrọng, khuyến khích các em nói ra sự thật và những mong muốn của chínhcác em Ngoài lắng nghe các em nói nhân viên xã hội còn phải tìm hiểunhững thông tin qua gia đình, nhóm bạn bè, thầy cô giáo, hàng xóm… Để cóthông tin đầy đủ và chính xác nhất Từ đó đề ra hướng giải quyết giúp đỡcác em đạt hiệu quả.
- Trong quá trình lắng nghe người cán bộ xã hội luôn luôn tạo mối quan hệthân thiện , cảm hóa được các em, muốn vậy trong quá trình tiếp xúc nóichuyện với các em người nhân viên xã hội phải chú ý:
+ Luôn tỏ ra khách quan thông cảm yêu thương
+ Sử dụng ngôn ngữ, cách diễn đạt, ánh mắt trong giao tiếp để các em thấy
rõ sự quan tâm, đặc biệt là trong cách đặt câu hỏi
+ Phải tạo bầu không khí dễ chịu gần gũi
Quan sát:
Là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tri giác trực tiếp về đối tượng
mà đây chính là các em làm trái pháp luật Trong quá trình giao tiếp phải chú
ý quan sát tất cả những hành vi của các em Đặc biệt là nhứng cử chỉ khôngbằng lới, cụ thể là quan sát những biểu hiện như nét mặt cử chỉ, chân tay,điệu bộ Vì khi các em làm trái pháp luật hay nói dối quanh co, ít nói thậttrong lần tiếp xúc, gặp gỡ đầu tiên
Trang 37+ Chú ý nghệ thuật khơi gợi khích lệ biết động viên an ủi, tạo niềm tin chocác em để các em nói thật về hoàn cảnh gia đình, những nguyên nhân vàđiều kiện dẫn đến phạm pháp.
+ Chú ý lựa chọn thời điểm phỏng vấn cho phù hợp không được phỏng vấnnơi đông người, tốc độ phỏng vấn phải phù hợp, trong phỏng vấn phải cởi
mở, nhẹ nhàng, phải nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm, trong nhiều trường hợpphải có sự phù hợp về giới
Phân tích sàng lọc :
Quá trình giao tiếp láng nghe đồng thời cũng là quá trình phối kết hợp vớicác thao tác, kĩ năng quan sát phỏng vấn, phân tích, sang lọc Kĩ năng nàynhằm giúp các em nhận thức rõ đúng sai hành vi của mình, mặt khác cũngthấy được những nguyên nhân và điều kiện căn bản mà tác động dẫn tới các
em có hành vi làm trái pháp luật Đồng thời thông qua đó người cán bộ xãhội hiểu đúng về tâm tư nguyện vọng của các em và có hướng giải quyếtđúng đắn phù hợp Trong quá trình thu thập thông tin người cán bộ phải tỏ rathông cảm, chia sè, giúp đỡ
Kĩ năng tham vấn, giúp đỡ
- Theo Tập bài giảng Tham vấn của TS Nguyễn Mai Hồng và ThS PhạmVăn Tư - GV Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội thì Tham vấn là quá trìnhtương tác giữa nhà tham vấn ( người có chuyên môn, kĩ năng, người cóphẩm chất đạo đức nghề nghiệp ) và thân chủ ( là người có khó khă trongcuộc sống cần được giúp đỡ ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chântình ( dựa trên nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ nghề nghiệp ) giúp thânchủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng của bản thân
để giải quyết vấn đề của chính mình
Đối với trẻ em làm trái pháp luật mặc dù các em có hành vi phạm tội songnguyên nhân và tính chất nguy hiểm mà các em gây nên cho người khác với
Trang 38người lớn Vì vậy mục đích của người các Nhân viên Công tác xã hội khôngphải là xét hỏi, ép buộc các em mà là tìm hiểu, thông cảm và có tráchnghiệm hướng dẫn giáo dục giúp đỡ các em
- Các bước tham vấn giúp đỡ các em.
Cung cấp thông tin cần thiết cho các em hoặc gia đình về những vấn
đề có liên quan
Giúp đỡ các em và gia đình có những giải pháp phù hợp
Hướng dẫn các em và gia đình thực hiện
Thường xuyên thăm hỏi, tạo điều kiện cho các em được vui chơi, giaolưu giải trí
Phối hợp chặt chẽ với các nhà chuyên môn, các tố chức đoàn thể xãhội tạo điều kiện giúp đỡ
- Quá trình tham vấn chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn bắt đầu:
Tạo được mối quan hệ thân thiện với các em
Tiến hành thu thập thông tin xác định vấn đề
Phân tích sàng lọc mong đợi của các em
Cùng chia sẻ giúp đỡ
Giai đoạn giữa:
Tiến hành cung cấp thông tin cho các em và gia đình
Giúp các em và gia đình chọn lọc đánh giá giải pháp
Hướng dẫn các em và gia đình thực hiện
Phối kết hợp với các nhà chuyên môn
Tiếp xúc thăm hỏi tại gia đình
Ghi hồ sơ theo dõi
Giai đoạn kết thúc:
Tổng kết đánh giá kết quả
Trang 39Khóa hồ sơ.
- Nguyên tắc: Trong quá trình tham vấn người cán bộ xã hội phải chú ý:
o Tạo không khí thân tình, thân thiện, cởi mở khi gặp thân chủ, ngườicán bộ xã hội phải chú ý các cử chỉ lời nói, ánh mắt…
o Nếu không quen biết phải giới thiệu mình là ai, tại sao có mặt ở đây
o Tham vấn trao đổi phải được thực hiện ở nơi yên tĩnh, bắt đầu bằngnhững câu hỏi đơn giản tình cảm
o Không nên ghi chép trực tiếp Nếu có ghi phải nói rõ lý do Từ ngữphải dễ hiểu phù hợp với trình độ của các em, luôn luôn chú ý an ủiđộng viên các em
Kĩ năng truyền thông vận động, tổ chức hoạt động nhóm
- Trong quá trình các em sống, học tập và làm việc tại trại giáo dưỡng thìnhân viên xã hội cùng cán bộ trại giáo dưỡng tổ chức các câu lạc bộ, cácnhóm sinh hoạt theo hàng quý, hàng tháng Tổ chức các hoạt động sinh hoạttập thể theo chủ đề, tổ chức các cuộc thi nhằm nâng cao tinh thần tập thể,tinh thần trách nhiệm, chia sẻ, giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn,vướng mắc trong cuộc sống công việc Thông qua các buổi sinh hoạt làmviệc nhóm nhân viên xã hội lồng ghép vào trong đó kiến thức về pháp luật,
kí năng giao tiếp với người lớn tuổi, bạn bè, nâng cao ý thức trách nhiệm củamỗi cá nhân Những trải nghiệm, bài học từ thực tế cuộc sống sẽ giúp các
em có thêm những kinh nghiệm về xã hội bên ngoài Vận động các em thamgia vào phong trào xây dựng nếp sống văn minh ngay trong trại giáo dưỡng,chấp hành những quy định mà trại giáo dưỡng đặt ra, hăng hái học tập vàlàm việc tăng gia sản xuất
- Đối với các em đang sống và học tập trong trường học nhân viên xã hộiphối hợp cùng với thầy cô giáo và chính quyền địa phương tổ chức tuyên
Trang 40truyền vận động các em tham gia vào các câu lạc bộ Chọn các em có nănglực, lòng nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao với công việc làm nòng cốt
và chính các em sẽ là người tiên phong đi tuyên truyền vận động các emkhác tham gia sinh hoạt các câu lạc bộ do trường tổ chức Chính các hoạtđộng trên sẽ định hướng cho các em có tinh thần trách nhiệm với tập thểhơn
Kĩ năng huy động các nguồn lực
Trợ giúp trẻ em làm trái pháp luật là trách nhiệm của toàn xã hội, nhân viên
xã hội chính người huy động tất cả các nguồn lực để trợ giúp các em Nguồnlực đầu tiên trong quá trình trợ giúp các em chính là từ phía gia đình, bạn bè
và những người xung quanh Nguồn lực từ trại giáo dưỡng như cán bộ trạigiam, thầy cô, bạn bè trong tại giáo dưỡng Nguồn lực từ nhà nước, các cơ
sở kinh doanh, cơ sở dạy nghề Nguồn lực từ chính quyền địa phương khi
em quay trở về cộng đồng Nhân viên xã hội sẽ sử dụng các kĩ năng, phươngpháp huy động tối đa các nguồn lực để trợ giúp các em làm trài pháp luật
Kĩ năng giúp đỡ các em tái hòa nhập cộng đồng
Sau một thời gian sống trong trại giáo dưỡng việc trở về cộng là một rào cảnlớn, các em phải đối mặt với nhiều thử thách Đầu tiên là môi trường sống,không ít em sau khi trở về cộng đồng đã quay trở về con đường cũ, một phầncác em bị bạn bè xấu lôi kéo rủ rê, một phần vì thái độ của cộng đồng nơi
em sống có định kiến về những sai lầm trước đây, một phần vì em mặc cảm
tự ti với hành động trước đó của mình Để các em vượt qua những rào cảnnày ngay khi còn ở trong trại giáo dưỡng nhân viên xã hội giúp các emchuẩn bị tốt về mặt tâm lý, những thử thách mà các em phải trải qua Phốihợp cùng gia đình và chính quyền địa phương tạo môi trường mới trongsạch, lành mạnh tránh xa bạn bè xấu tạo mối quan hệ với bạn bè tốt để giúp
đỡ các em có đủ nghị lực vượt qua cám dỗ cuộc sống