1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG

144 540 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH THUỶ SẢN GIAI ĐOẠN 2 FSPS - II - HỢPPHẦN STOFA CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NHỮN

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH THUỶ SẢN GIAI ĐOẠN 2 (FSPS - II) - HỢP

PHẦN STOFA CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY

SẢN TỈNH AN GIANG

(Bản thảo lần thứ hai )

Người viết báo cáo:

Trần Thị Kim Xuyến (Trưởng nhóm) Phan Thị Mai Lan (Thành viên) Đặng Thị Thìn (Thành viên)

Và với sự tham gia của 30 điều tra viên địa phương

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 12 – 2008

Trang 2

L ời cảm ơn

Báo cáo “Khảo sát và đánh giá những yếu tố tác động đến sự lan nhiễm HIV/AIDS trong ngành

thủy sản” được thực hiện theo đơn đặt hàng và hỗ trợ tài chính của Đại sứ quán Đan Mạch, dự án

STOFA và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đánh giá và tìm hiểu những yếu tố tác độngđến sự lây nhiễm HIV/AIDS trong ngành thuỷ sản nói chung và ở tỉnh An Giang nói riêng nhằmgiúp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Xây dựng Chiến lược phòng chống HIV giai đoạn2010-2015 đồng thời giúp Ban quản lý dự án STOFA điều chỉnh các hoạt động chương trìnhnhằm xem xét tính dễ bị lây nhiễm HIV và xây dựng kế hoạch hành động Chương trình phòngchống HIV/AIDS trong ngành thủy sản giai đoạn 2009-2010

Báo cáo này là một trong 9 báo cáo chuyên đề, được thực hiện tại tỉnh An Giang

Nhóm nghiên cứu – thuộc Công ty Tư vấn và Phát triển công nghệ (ADCOM) đã hoàn thànhnhiệm vụ của mình trong khoảng thời gian 3 tháng với các nỗ lực soạn thảo bộ công cụ nghiêncứu, tài liệu tập huấn, tập huấn cho điều tra viên và cùng điều tra viên địa phương thực hiệnnghiên cứu tại địa bàn 4 huyện/thị xã, 12 xã/phường thuộc tỉnh An Giang

Để hoàn thành được báo cáo này, trước hết cho phép chúng tôi xin trân trọng bày tỏ sự biết ơn tớiÔng Nguyễn Văn Thạnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang; BàPhạm Thị Hòa, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang; Bà TrầnNguyễn Thủy Tiên, chuyên viên Phòng Kế hoạch Sở; Ông Trần Hòang Hùng, Chi Cục phó bảo

vệ nguồn lợi thủy sản; Bà Lê Minh Trang, cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh

An Giang; Ông Nguyễn Minh Thông, Cán bộ y tế thị xã Châu Đốc; Ông Nguyễn Văn Quận, Cán

bộ y tế xã Phú Bình, huyện Phú Tân; Ông Lê Nhựt Ngôi, Phó trưởng trạm y tế Phường A, thị xãChâu Đốc; Ông Nguyễn Công Bình, Cán bộ trạm y tế xã Khánh An, huyện An Phú; Ông NguyễnVăn Huân, Phó trưởng trạm y tế xã Vĩnh Xương, huyện Tân Châu; cán bộ khuyến ngư và cán bộ

y tế các xã đã tạo điều kiện giúp đỡ và hỗ trợ nhóm tư vấn trong quá trình triển khai hoạt độngkhảo sát, điều tra trên thực địa cũng như đã cung cấp số liệu thứ cấp, tài liệu tham khảo

Để có được kết quả nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn tới 30 điều tra viên của

4 huyện/thị xã nói trên đã tích cực giúp chúng tôi thu thập thông tin và cũng như các cán bộ địaphương đã nỗ lực tổ chức và hướng dẫn để các điều tra viên hoàn thành nhiệm vụ của mình.Nhóm nghiên cứu đặc biệt biết ơn bà con ngư dân tại 12 xã/phường tại các điểm nghiên cứu cungcấp thông tin cho chúng tôi để đảm bảo cho tiến độ và kết quả nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

MỤC LỤC CÁC HÌNH, BẢNG, HỘP 5

MỤC LỤC BẢNG BIỂU 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 10

TÓM TẮT TỔNG QUAN 11

1 Đặc điểm lao động thủy sản tỉnh An Giang 11

2 Kiến thức về HIV/AIDS 13

3 Nguồn thông tin, từ đó ngư dân tiếp nhận thông tin về HIV/AIDS 15

4 Thái độ đối với HIV/AIDS 16

5 Hành vi tình dục an toàn 17

6 Các hoạt động vui chơi giải trí và những yếu tố tác động tới sự lây truyền HIV/AIDS 18

7 Nhu cầu của người dân về các chương trình can thiệp phòng chống HIV/ADIS 21

PHẦN I TỔNG QUAN CHUNG 28

1.1 Bối cảnh 28

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 29

1.3 Phương pháp nghiên cứu 29

1.3.1 Phương pháp tiếp cận 29

1.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 30

1.4 Đối tượng, địa bàn, thời gian và cỡ mẫu thực hiện tại địa bàn nghiên cứu 31

1.4.1 Đối tượng khảo sát 31

1.4.2 Địa bàn, phạm vi thực hiện 31

1.4.3 Cỡ mẫu nghiên cứu 32

1.4.4 Thời gian nghiên cứu 32

1.5 Những thuận lợi và khó khăn 32

1.5.1 Thuận lợi 32

1.5.2 Khó khăn 32

1.6 Các khái niệm làm việc 34

PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 36

1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội 36

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tư nhiên 36

1.1.2 Tài nguyên đất 37

1.1.3 Tài nguyên rừng và Tài nguyên khoáng sản 37

1.1.4 Tài nguyên thủy sản 37

1.1.5 Dân số và nguồn lao động 37

1.2 Tình hình thủy sản tại An Giang 38

1.3 Thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS ở An Giang 39

1.4 Hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại An Giang 41

CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG THỦY SẢN TẠI AN GIANG 44

2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 44

2.2 Đặc điểm vê tình di động của các nhóm nghề 49

2.3 Vai trò giới trong gia đình người làm nghề thủy sản 54

CHƯƠNG III KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI VỀ BỆNH LTQĐTD VÀ HIV/AIDS 59

3.1 Thực trạng kiến thức về các bệnh lây qua đường tình dục 59

3.2 Đánh giá kiến thức về cách phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS 67

Trang 4

3.2.1 Các con đường lây nhiễm HIV 67

3.2.2 Nhận thức về các con đường không bị lây nhiễm 68

3.3 Kiến thức về triệu chứng của người bị nhiễm HIV/AIDS 73

3.4 Nguồn thông tin, từ đó ngư dân tiếp nhận thông tin về HIV/AIDS 76

3.4.1 Nguồn truyền thông đại chúng 76

3.4.2 Nguồn từ truyền thông trực tiếp: các cuộc hội thảo, các lớp tập huấn 78

3.4.3.Nguồn truyền thông liên cá nhân 80

3.5 Xét nghiệm HIV và hoạt động tư vấn 81

CHƯƠNG IV THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI HIV/AIDS 84

4.1 Quan niệm của lao động thủy sản về thái độ cần có đối với người có HIV 84

4.2 Thái độ của cộng đồng với NCH tại dịa phương 89

4.3 Thái độ của chính bản thân NCH: Tự kỳ thị 90

CHƯƠNG V HÀNH VI TÌNH DỤC VÀ TÌNH DỤC AN TOÀN 95

5.1 Hành vi quan hệ tình dục 95

5.1.1 Đặc điểm nhóm người quan hệ tình dục 95

5.1.2 Hình thức quan hệ tình dục 97

5.1.3 Địa điểm quan hệ tình dục 98

5.2 Hành vi sử dụng BCS 101

5.2.1.Thực trạng sử dụng bao cao su 101

5.2.2 Lí do không sử dụng bao cao su 103

5.2.3 Mục đích sử dụng BCS 106

CHƯƠNG VI CÁC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI GIẢI TRÍ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ LÂY TRUYỀN HIV/AIDS 110

6.1 Các hoạt động trong thời gian gian rảnh rỗi của những người lao động thủy sản tại An Giang 110

6.1.1 Đặc điểm hoạt động vui chơi giải trí của các nhóm nghề 112

6.1.2 Đặc điểm về hoạt động giải trí của những người đi công tác xa 118

6.2 Việc sử dụng chất kích thích và mối liên hệ của chúng đối với hành vi tình dục 122

CHƯƠNG VII HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG HIV/ AIDS VÀ NHU CẦU CÚA NGƯỜI DÂN 130

7.1 Các chương trình đã thực hiện tại địa phương 130

7.2 Sự hưởng ứng và Nhu cầu của người dân 131

7.2.1 Sự hưởng ứng của người dân đối với các hoạt động can thiệp phòng chống lây nhiễm HIV/ AIDS tại địa phương 131

7.2.2 Nhu cầu về cung ứng bao cao su 132

7.3 Nhu cầu và sở thích của lao động thủy sản đối với các hoạt động can thiệp phòng chống HIV/AIDS trong tương lai 133

7.3.1 Các hình thức truyền thông 133

7.3.2 Địa điểm truyền thông 138

7.3.3 Thời điểm truyền thông 139

7.4 Nhu cầu về các giải pháp giúp đỡ những ngư nhân bị nhiễm HIV/ AIDS 140

Trang 5

MỤC LỤC CÁC HÌNH, BẢNG, HỘP

Hình A Tỷ lệ nhiễm HIV/ 100.000 dân qua các năm tại An Giang 40

Hình 1 Tỷ lệ nam nữ thuộc các nhóm nghề tham gia trả lời 44Hình 2 Mức độ biết về Các bệnh lây qua đường tình dục 59Hình 3 Tỷ lệ hiểu biết các bệnh lây qua đường tình dục theo nghề nghiệp 61Hình 4 Tỷ lệ người hiểu về mối liên hệ giữa bệnh LQĐTD và HIV 64Hình 5 Tương quan nghề nghiệp và nhận định “Một người khoẻ mạnh cũng có

thể lây nhiễm HIV”

74

Hình 8 Những hiện tượng tiêu cực ở nơi đi công tác 121

Hình 1 0 Mong muốn nhận được thêm các thông tin về HIV/ AIDS 140Hình 11 Thời gian phù hợp cho hoạt động truyền thông với ngư dân trong ngày 140

MỤC LỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Tỉ lệ nhiễm HIV- Kết quả giám sát Trọng điểm năm 2001-2006 28

Trang 6

Bảng 2 Phạm vi thực hiện nghiên cứu 31Bảng 2a Tình trạng hôn nhân và giới tính của mẫu nghiên cứu 45

Bảng 4 Tương quan giữa các phân tổ về giới tính, trinh độ văn hóa, trình trạng

hôn nhân và tình trạng đi làm ăn xa của các nhóm nghề thủy sản

48

Bảng 5 Mức độ tham gia của phụ nữ vào những lần đi làm ăn xa với chồng

trong tương quan với nghề nghiệp của NTL

50

Bảng 6 Hiểu biết về bệnh lây qua đường tình dục theo trình độ văn hóa 60Bảng 7 Hiểu biết về bệnh lây qua đường tình dục theo nhóm tuổi 61Bảng 8 Tỷ lệ người hiểu biết về các BLTQĐTD tính theo giới tính, tình trạng đi

làm ăn và nhóm nghề nghiệp trong ngành thủy sản

63

Bảng 9 Những người từng mắc bệnh LTQĐTD tính theo giới tính 65Bảng 10 Cách thức điều trị của người trả lời, tính theo giới tinh 66Bảng 11 Nhận thức của các nhóm nghề trong ngành thuỷ sản về con đường lây

Trang 7

Bảng 24 Thái độ của phụ huynh đối với học sinh bị HIV 88Bảng 25 Thái độ của cộng đồng đối với người nhiễm HIV và gia đình họ 90

Bảng 27 Tỷ lệ những người đã quan hệ tình dục tính theo tình trạng hôn nhân của

NTL

95

Bảng 28 Những đối tượng có quan hệ tình dục với những người lao động trong

ngành thủy sản tính theo tình trạng gia đình, giới tính và tính di động

Bảng 32 Địa điểm quan hệ tình dục được NTL xác nhận, tính theo giới tính và

tính di động

99

Bảng 33 Địa điểm quan hệ tình dục được NTL xác nhận, tính theo nhóm nghề 100Bảng 34 Việc sử dụng bao cao su trong lần QHTD gần nhất 101Bảng 35 Mức độ sử dụng bao cao su khi quan hệ với vợ hoặc chồng 103Bảng 36 Lí do không sử dụng bao cao su của NTL tính theo giới tính 105Bảng 37 Lý do không sử dụng bao cao su tính theo tính di dộng và lứa tuổi 106

Trang 8

Bảng 38 Mục đích sử dụng BCS 107Bảng 39 Ý kiến về mục đích sử dụng bao cao su theo giới tính, nghề nghiệp và

tính di động của người trả lời

Bảng 43 Tình trạng đi làm ăn xa theo nhóm nghề nghiệp chính 119

Bảng 45 Hình thức giải trí của những người đi làm ăn xa ở nơi dừng chân 121

Bảng 47 Tương quan giữa hình thức truyền thông với các đặc điểm cá nhân 134Bảng 48 Hình thức giải trí của NTL tính theo nghề nghiệp chính và mức độ di

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 10

MDN Mại dâm nữ

LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục

UNAIDS Chương trình phòng chống AIDS của Liên hợp quốc

TÓM TẮT TỔNG QUAN

Báo cáo này là một trong báo cáo trình bày kết quả nghiên cứu được thực hiện theo đơn đặt hàng

và hỗ trợ tài chính của Đại sứ quán Đan Mạch, dự án STOFA và Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn, nhằm đánh giá và tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự lây nhiễm HIV/AIDS trongngành thuỷ sản tại An Giang

Nghiên cứu được thực hiện tại bao gồm 3 huyện và 1 thị xã, bao gồm 1 phường và 11 xã tạitỉnhh An Giang Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính, phân tích tàiliệu thứ cấp, Mẫu nghiên cứu đối với công cụ thu thập thông tin bằng bảng hỏi 300 đơn vịvớingười trả lời từ 4 nhóm nghề nghiệp khác nhau: Khai thác, Nuôi trồng, Chế biến, Hậucầu/dịch vụ; Nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với các đối tượngthuộc các nghề nói trên, đại diện lãnh đạo chính quyền các cấp, cán bộ y tế cơ sở, NCH và giađình NCH

Nội dung khảo sát: Khảo sát các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV của ngư dân, thông qua việc đánhgiá thực trạng về KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI của các nhóm nghề nghiệp nói trên Đồngthời đánh giá những khó khăn mà người bị nhiễm HIV và gia đình họ gặp phải, trên cơ sở đó đềxuất các giải pháp hỗ trợ họ Cuối cùng, đưa ra những khuyến nghị của họ về hoạt động truyềnthông trong tương lai, về hình thức, thời gian thích hợp cho từng loại nghề nghiệp khác nhautrong ngành thuỷ sản Nghệ An

Trang 11

1 Đặc điểm lao động thủy sản tỉnh An Giang

Lao động thủy sản tại An Giang chủ yếu là những người lao động phổ thông, làm việc đòi hỏi sứckhỏe và kinh nghiệm Trình độ học vấn không cao, chủ yếu từ cấp II trở xuống, đặc biệt, nhiềungười chưa từng đến trường

Không như nhóm đánh bắt xa bờ ở Cà Mau và ở Bến Tre- thường dùng tàu đánh cá lớn ra biểnkhơi, những người làm nghề khai thác tại An Giang phần lớn đánh bắt cá trên sông

Những tàu đánh bắt gần bờ và tàu cào họ thường đem theo cả gia đình và thường đi dài ngày.Một năm, họ chỉ nghỉ tháng 9 và tháng 10 âm lịch và trở về cộng đồng để sửa chữa tàu và làmcác thủ tục pháp lý mà thôi Những ngư phủ (thủy thủ) trẻ thường theo tàu đi liên tục Một năm

họ chỉ về nhà 2, 3 tháng, Trong khi sự kiểm soát xã hội hầu như không có, những thủy thủthường dễ có lối sống buông thả hơn Mỗi khi cập bến họ thường mong muốn được thỏa mãn nhucầu vui chơi giải trí, thường sử dụng rượu bia, một số trong nhóm này thường có nhu cầu đượcthỏa mãn tình dục Đây chính là thời gian dễ tham gia vào các hoạt động liên quan tới nhữnghành vi nguy cơ nhiễm HIV

Ngoài ra, tại An Giang nhiều con tàu và ghe nhỏ cũng ra biển không nhằm mục đích đánh cá màchủ yếu làm dịch vụ Họ mua cá biển về bán hoặc mua cá nhỏ (cá cơm) về phục vụ cho nhómnuôi trồng thủy sản, chủ yếu là các hầm hoặc bè cá tra Nhóm dịch vụ xa bờ này hoàn toàn đượchình thành một cách tự phát Họ thường đi làm cùng với nhiều thành viên khác trong gia đình, họhàng với sự kiểm soát xã hội tương đối cao

Về vai trò giới trong gia đình của lao động thủy sản ở An Giang, nhìn chung, có sự phân công laođộng theo giới ở cả 3 lĩnh vực hoạt động; lao động sản xuất, lao động tái sản xuất và công việccộng đồng Tuy nhiên, mức độ thể hiện vai trò của nam và nữ trong các nhóm nghề không hoàntoàn giống nhau

Đối với vai trò lao động sản xuất ngoài xã hội, những dữ liệu định lượng và định tính đều chothấy có sự phân công lao động theo giới theo lĩnh vực lao động trong các nhóm nghề Tỷ lệ namgiới tham gia vào nghề khai thác thuỷ sản, đặc biệt là khai thác xa bờ, vận chuyển hàng hoá (láixe), một số công việc nặng trong nuôi trồng thuỷ sản luôn cao hơn nữ Trong khi đó phụ nữ tậptrung nhiều ở nghề chế biến, dịch vụ Chủ yếu họ tham gia đan lưới, buôn bán nhỏ hải sản tại cácchợ quê, chợ gần nhà và những công việc nhẹ trong nuôi trồng thuỷ sản Gần đây, phụ nữ cũng

xu hướng đi làm thuê ở những cơ sở chế biến hải sản (làm nước mắm, làm mắm, hoặc buôn bánnhỏ ở chợ gần nhà, chăn nuôi …)

Gần đây phụ nữ ở An Giang cũng đã phát huy được vai trò sản xuất Nhiều bằng chứng cho thấy

sự năng động và chủ động trong vai trò sản xuất của phụ nữ Nhiều gia đình tại các điểm khảo sát

có phụ nữ làm chủ hộ Họ chủ động quyết định các công việc sản xuất và tỏ ra có khả năng quản

Trang 12

lý rất tốt công việc kinh doanh của gia đình Khả năng phát triển nghề dich vụ thủy sản củanhững người phụ nữ dựa trên mạng lưới xã hội của cộng đồng nông thôn tại An Giang.

Đối với công việc tái sản xuất, trước kia, theo truyền thống, phụ nữ được xã hội kỳ vọng là ngườiđảm đương công việc lao động, chăm lo cho chồng con ở trong gia đình Tuy nhiên, trong thực tế

đã có sự thay đổi về sự hỗ trợ việc nhà từ phía nam giới đối với phụ nữ trong các nhóm nghề

Ít có sự chia sẻ công việc gia đình trong nhóm đánh bắt xa bờ, tuy nhiên, trong gia đình của cácnhóm lao động động thủy sản còn lại, sự phân công lao động lại mang tính hợp lý hơn Nam giớicũng tham gia giải quyết các công việc trong gia đình (nấu cơm, đón con hay giặt quầnáo…)cùng người vợ

Đối với công việc cộng đồng, phụ nữ là người tham gia các cuộc họp có liên quan tới các cuộchọp thôn ấp hoặc tập huấn về kiến thức kế hoạch hóa gia đình hoặc HIV, còn nam giới thường đihọp về những vấn đề liên quan tới sản xuất Cộng đồng cho rằng, nam giới thường là nhóm nguy

cơ nhưng họ lại không tham gia các cuộc họp cộng đồng Từ đây nhận thấy vấn đề trong thựchiện hành vi phòng chống HIV/AIDS là phụ nữ được kỳ vọng là người nắm kiến thức và chịutrách nhiệm về sự an toàn tình dục nhưng định kiến giới lại ngăn cản phụ nữ đòi hỏi nam giới vềtình dục an toàn

Với những đặc điểm đã nêu ở trên, các chương trình truyền thông và can thiệp cho lao động thủysản cần tính tới những đặc điểm về tính chất công việc, đặc điểm tâm sinh lý của nhóm tuổi vàtính di động xã hội của họ để đảm bảo được tính hiệu quả một cách tối ưu nhất

2 Kiến thức về HIV/AIDS

Khoảng 5 năm trở lại đây, do tỷ lệ nhiễm HIV ở An Giang tăng mạnh, các tổ chức chính quyềnđịa phương, đặc biệt với sự nỗ lực của TT phòng chống HIV/AIDS và Lao đã kêu gọi được sự hỗtrợ của các tổ chức quốc tế, nhiều dự án can thiệp phòng chống HIV/AIDS tại địa phương đãđược thực hiện Chính vì vậy, người dân đã có kiến thức nhất định về căn bệnh HIV/ AIDS Tuynhiên, sự hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục không đồng đều giữa các nhóm: sựchênh lệch về tỉ lệ này có mối quan hệ với các yếu tố nhân khẩu xã hội (giới tính, trình độ họcvấn, nghề nghiệp, tuổi…) Nhận thức về các BLTQĐTD tỷ lệ thuận với trình độ học vấn và nhómtuổi Những người có trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ hiểu biết về các BLTQĐTD càng lớn.Người lao động thủy sản trưởng thành hơn có tỉ lệ hiểu biết về kiến thức này cao hơn so với cácnhóm lao động trẻ tuổi Vấn đề đặt ra ở đây là, nhóm trẻ thuộc độ tuổi sung mãn về tình dục, có

xu hướng quan hệ tình dục sớm hơn Đồng thời, các dữ liệu tại địa phương cho thấy tỉ lệ nhiễmHIV của nhóm thanh niên từ 20-29 cao hơn hẳn các nhóm khác Trong khi đó, kiến thức về bệnhlây truyền qua đường tình dục ở nhóm này thì lại rất hạn chế

Thực tế cho thấy, có khoảng trống trong việc phổ biến thông tin cho nhóm thanh niên Các dự ánquốc tế tại địa phương thường dựa vào Hội Liên hiệp phụ nữ, Ủy ban Dân số và Gia đình, hệ

Trang 13

thống y tế v.v… nên thường thu hút phụ nữ, những người có gia đình tham gia Việc xác địnhcác nhóm trọng điểm (thường là các nhóm có nguy cơ cao: mại dâm, ma túy…) cũng vô tình bỏqua nhóm thanh niên này Mặc dù Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng có nhữngchương trình hoạt động, nhưng chủ yếu vẫn là các Đoàn viên tích cực làm công tác tuyên truyềntrong trường học, tổ chức, các câu lạc bộ và chưa thực sự thu hút được nhiều thanh niên tham gia.Mặt khác, do nghỉ học sớm nên những thanh niên tại An Giang cũng không thuộc nhóm đượcquan tâm tuyên truyền ở trường học

Trong các nhóm nghề ngành thủy sản, mặc dù tỷ lệ những người xác nhận có nắm được các cănbệnh lây qua đường tình dục tương đối cao nhưng sự hiểu biết này cũng có sự khác biệt giữa cácnhóm nghề: nhóm khai thác và nhóm nuôi trồng có tỷ lệ những người không biết về các căn bệnhnày cao hơn Nhóm này cũng xác nhận qua các cuộc TLNTT rằng họ rất ít khi tham gia các cuộchọp cộng đồng, các buổi truyền thông về sức khỏe sinh sản và HIV/AIDS tại cộng đồng

Nhóm nam giới trong lao động thủy sản hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục caohơn lao động phụ nữ

Đề cập đến các các bệnh lây qua đường tình dục, số liệu khảo sát cho thấy có sự khác nhau đáng

kể về mức độ hiểu biết của người trả lời về các loại bệnh cụ thể HIV và Lậu là hai loại bệnhđược nhắc đến nhiều nhất Sau nữa, bệnh giang mai, Nấm sinh dục, bệnh Hecpec sinh dục thườngnằm cuối bảng xếp hạng các loại bệnh LTQĐTD mà lao động thủy sản nắm được Phân tíchtương quan giữa sự hiểu biết của lao động thủy sản và những bệnh mà họ bị nhiễm trong thực tế,báo cáo nhấn mạnh sự hiểu biết về các căn bệnh này có liên quan tới những bệnh mà giới namhoặc nữ thường mắc phải

Những người đi xa thường biết rõ về các loại BLTQĐTD hơn nhóm không đi xa Đặc biệt, nhóm

đi xa có tỷ lệ biết về các loại bệnh nguy hiểm hơn so với nhóm ở nhà Sự hiểu biết về các lại bệnhlây qua đường tình dục của người dân cũng không đều nhau giữa những người sống tại cộngđồng nông thôn và cộng đồng đô thị Những người sống ở vùng sâu vùng xa hiểu biết về cácbệnh LTQĐTD ít hơn

Khi đề cập đến thông tin về tình trạng lây nhiễm BLQĐTD của mình, tỷ lệ người trả lời lảngtránh câu hỏi này khá cao Tương tự, những người tham gia thảo luận nhóm nói nhiều về nhữngbệnh LTQĐTD mà họ biết hơn là tiết lộ thông tin về những bệnh mà họ bị nhiễm Phụ nữ và namgiới thường liệt lê các bệnh mà họ hay mắc phải hoặc có nguy cơ bị nhiễm Nam giới quan tâmtới các bệnh HIV, giang mai và lậu hơn, phụ nữ quan tâm tới các loại bệnh có liên quan tới nấm

và siêu vi hơn (Herpes, nấm sinh dục, viêm gan B)

Đa số những người lao động thủy sản nắm được mối liên hệ giữa các bệnh lây qua đường tìnhdục và khả năng gia tăng mức độ nhiễm HIV Thông tin từ Sở y tế An Giang cho thấy, tỷ lệ lao

Trang 14

động tại An Giang nhiễm và phải điều trị về các bệnh các bệnh lây qua đường tình dục tương đốicao Tuy nhiên, tỉ lệ ghi nhận ở số người mắc phải thông qua bảng hỏi không nhiều Điều này chothấy sự e ngại nhất định khi nói tới vấn đề có liên quan tới tình dục.

Mặc dù khi bị bệnh thông thường, người dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long thường có thói quenđến hiệu thuốc mua thuốc để tự điều trị Tuy nhiên, họ có cách ứng xử khác hơn khi mắc cácbệnh lây qua đường tình dục Việc tự giác đến các cơ sở y tế công và tư nhân chữa bệnh lây quađường tình dục, đặc biệt ở nhóm lao động thủy sản nữ cho thấy tính hiệu quả của công tác truyềnthông tại địa phương Vấn đề là cần nhân rộng các mô hình truyền thông đến với các nhóm cònlại

Từ nhận thức khá cao về con đường lây và không lây các BLTQĐTD, người lao động thủy sản

An Giang đã thể hiện trình độ nhận thức cao về các biện pháp phòng tránh HIV/ AIDS

Nhìn chung, lao động thủy sản ở An Giang hiểu được về cơ bản nguyên nhân bị nhiễm HIV, kể

cả kiến thức về những cách sinh hoạt có khả năng lây nhiễm và những cách thức trong sinh hoạtkhông bị lây Mặc dù vậy, có sự khác biệt về nhận thức giữa nhóm lao động nam và nữ Nhómlao động nữ hiểu biết về HIV rõ ràng hơn thông qua những kiến thức về con đường lây truyền, vềcách thức phòng chống HIV Xét theo nhóm nghề, tỷ lệ những người hiểu rõ về các biện phápphòng tránh HIV/AIDS cũng có sự khác biệt Nhóm chế biến, nhóm dịch vụ hậu cần hiểu rõ vềcác biện pháp phòng tránh HIV hơn so với nhóm nuôi trồng và nhóm khai thác

Về kiến thức liên quan đến triệu chứng bệnh, kết quả nghiên cứu cho thấy không phải tất cả cáctriệu chứng của bệnh AIDS đều được người lao động thủy sản nắm rõ Những người lao động tạichỗ hiểu rõ về các triệu chứng bệnh hơn so với nhóm đi xa Lao động nữ cũng có tỷ lệ hiểu caohơn nam giới về phần lớn các chứng bệnh ngoại trừ triệu chứng sốt kéo dài

3 Nguồn thông tin, từ đó ngư dân tiếp nhận thông tin về HIV/AIDS

Tại An Giang, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đã kết hợp nhiều hình thức củatruyền thông đại chúng trong việc tuyên truyền kiến thức về HIV/AIDS Đó là điều kiện rất thuậnlợi để người dân nói chung và người lao động thủy sản ở An Giang nói riêng, có thể nâng caokiến thức về lĩnh vực này Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn thông tin mà từ đó ngư dân cóđược kiến thức và thông tin về HIV/AIDS được người trả lời xác định rất đa dạng Các kênhthông tin được ngư dân xác định cao nhất là những kênh truyền thông đại chúng Tuy nhiên, kênhtruyền hình Trung ương không phải là nguồn chính để ngư dân tiếp cận Tỷ lệ xác định về nguồnnày thấp hơn nhiều trong tương quan với các kênh địa phương Trong các cuộc thảo luận nhóm,những người tham gia thảo luận cũng xác nhận rằng những kiến thức và thông tin mà họ có đượcchủ yếu thông qua các kênh truyền hình và đài địa phương hoặc loa phóng thanh của xã

Có sự khác biệt nhất định về nguồn truyền thông đối với các nhóm lao động thủy sản Mặc dù các

Trang 15

nhóm nghề nghiệp đều có đặc điểm chung là coi kênh truyền hình địa phương là công cụ tiếpnhận kiến thức HIV/AIDS Tuy nhiên, những người thuộc nhóm nghề chế biến và dịch vụ - hậucần có xu hướng tiếp nhận thông tin từ truyền hình và hệ thống phát thanh tại địa phương hơn.Còn những người làm nghề khai thác lại thường tiếp nhận thông tin từ đài phát thanh và kênhtruyền hình trung ương hơn Như vậy, các kênh truyền thông đại chúng, đặc biệt các kênh truyềnhình địa phương được coi là nguồn chính để tiếp nhận thông tin về HIV Điều này chưa đủ đểđánh giá và so sánh tính hiệu quả của công tác truyền thông trực tiếp tại địa phương và nguồnthông tin từ các kênh TTĐC, nhưng về cơ bản có thể thấy sự phổ cập thông tin từ các kênh truyềnthông đại chúng đã phát huy được thế mạnh của chúng Đối với lao động nữ, kênh truyền hìnhđịa phương là nguồn chính, đối với nhóm khai thác, kênh truyền hình trung ương và đài phátthanh là phương tiện chính.

Đối với nguồn từ truyền thông trực tiếp như các cuộc hội thảo, các lớp tập huấn, các hoạt độngcủa ngành “y tế địa phương” được những người trả lời xác định như một nguồn có hiệu quả hơn

cả Ngoài ra, nguồn thông tin từ “cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ” cũng được ngư dân đánh giátương đối cao

Về hình thức truyền thông, thông tin từ các cuộc tập huấn hội thảo diễn ra tại địa phương cũngđược ngư dân ghi nhận Tuy nhiên, lao động nữ tiếp nhận thông tin do đi họp cộng đồng và cácbuổi tập huấn do Hội liên hiệp Phụ nữ nhiều hơn Còn nam giới chủ yếu nắm được thông tin từcác cuộc họp hội thảo Đối với công cụ truyền thông, các nhóm lao động thủy sản đánh giá caohình thức tờ rơi hơn là những cuốn sách nhỏ

4 Thái độ đối với HIV/AIDS

Từ kết quả định lượng và định tính, có thể nhận định rằng, sự kỳ thị của cộng đồng đối với nhữngbệnh nhân HIV trong cuộc nghiên cứu này chiếm tỉ lệ rất nhỏ Đa số có thái độ thông cảm và sẵnsàng giúp đỡ những người không may mắn này So với trước kia thì sự kỳ thị đang có xu hướnggiảm vì người dân đã hiểu rõ cơ chế lây truyền của căn bệnh này nhiều hơn trước Tuy nhiên, sự

kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn còn tồn tại trong các nhóm dân cư, và hình thức kỳ thị tương đối

đa dạng từ hạn chế tiếp xúc, giao tiếp cho đến xa lánh những người nhiễm HIV Những người cótrình độ học vấn thấp, do sự hiểu biết về con đường lây nhiễm hạn chế, dễ có thái độ kỳ thị đốivới NCH Chính sự kỳ thị còn tồn tại trong cộng đồng không những gây khó khăn cho bản thânnhững người bị bệnh mà nhiều khi cả gia đình họ cũng là nạn nhân của sự phân biệt đối xử.Những đứa trẻ không may mắn bị nhiễm HIV vẫn còn vấp phải những khó khăn khi đến trườngkhi một số phụ huynh vẫn còn thái độ kỳ thị và chính họ sẽ có tác động đến con cái của họ khiđến trường Điều này sẽ gây không ít mặc cảm cho những trẻ em kém may mắn này

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy tình cảm gắn kết trong gia đình làm cho người thân của

Trang 16

các bệnh nhân vượt qua được mặc cảm và bất chấp khó khăn về kinh tế để chăm sóc họ tốt nhấttrong khả năng có thể Đây là đặc điểm tốt đẹp từ truyền thống văn hóa của Việt Nam cần khaithác và phát huy trong công tác tuyên truyền phòng chống HIV/ AIDS trong ngành thủy sản Những thông tin từ những NCH xác nhận sự mặc cảm với chính mình nhiều nhất Khi phát hiệnmình bị bệnh họ thường chán nản, muốn buông xuôi và nếu như gia đình và cộng đồng xa lánh

họ thì những nạn nhân này dễ có những hành vi tiêu cực cho bản thân, gia đình họ và cho xã hội Các cuộc phỏng vấn sâu đối với NCH cho thấy những khó khăn về kinh tế đang làm cho các bệnhnhân không có điều kiện thực hiện chế độ ăn uống khoa học và đầy đủ dinh dưỡng để duy trì mộtsức khỏe tốt Như vậy, đối với những bệnh nhân nghèo thì sự hỗ trợ của nhà nước đang đóng vaitrò quan trọng trong việc cung cấp các phương tiện thuốc thang chữa trị khi bản thân họ và giađình không có khả năng

Kết quả nghiên cứu về thái độ đối với NCH cũng chỉ ra hệ quả của định kiến giới Nam giới được

kỳ vọng là trụ cột trong gia đình, Sức khỏe giảm sút trầm trọng, dẫn đến hiệu quả làm việc kém,trong khi đó chi phí cho bệnh tật lại cao làm cho những bệnh nhân HIV cảm thấy mình trở thànhgánh nặng trong gia đình Bên cạnh đó, không được cộng đồng và xã hội hỗ trợ, họ không thểthực hiện tốt vai trò trụ cột gia đình Đối với người đàn ông Việt Nam, sự mặc cảm vì không thểhiện được nam tính càng làm cho người có HIV tự ti hơn Một vấn đề nữa cần được nhấn mạnhkhi phân tích thái độ của cộng đồng với người có HIV là sự kỳ thị có yếu tố giới Cùng bị nhiễmHIV nhưng những người vợ trong gia đình sống chung với bên chồng bị đối xử kém hơn những

gì mà người chồng nhiễm HIV của họ phải gánh chịu

Vì vậy để giải quyết một cách hiệu quả và bền vững trong cuộc chiến với đại dịch HIV, thiết nghĩcần có sự phối hợp chặt chẽ và tòan diện từ gia đình, cộng đồng và tòan xã hội Ngòai sự hỗ trợ

về thuốc men, cần tổ chức các họat động giúp đỡ khác về vật chất và tinh thần Song song vớiviệc truyền thông HIV, sự truyền thông nhằm thay đổi nhận thức về bình đẳng giới là vô cùngquan trọng

5 Hành vi tình dục an toàn

Hành vi quan hệ tình dục là một trong những thông tin quan trọng trong việc đánh giá nguy cơlây nhiễm HIV Tất cả thành viên có gia đình trong nhóm đi xa ghi nhận rằng mình duy trì quan

hệ tình dục với vợ hoặc chồng trong 12 tháng qua, cho tới thời điểm nghiên cứu Ngoài ra, có một

tỷ lệ nhất định xác nhận mối quan hệ tình dục ngoài hôn nhân Kết quả chưa đủ dữ kiện để xácđịnh có hiện tượng quan hệ tình dục đồng giới trong nhóm mẫu nghiên cứu tại An Giang Trong

số 300 người tham gia trả lời bảng hỏi, chỉ có duy nhất một trường hợp xác nhận là có quan hệgiữa nam giới với nam

Trang 17

Tại An Giang, quan hệ tình dục với hình thức không truyền thống không được nhiều người xácnhận nhưng cũng có một tỷ lệ nhỏ từ một nhóm nhỏ những người công nhận rằng mình đã từngquan hệ tình dục qua đường hậu môn và đường miệng Nhóm quan hệ tình dục qua đường miệngcũng là những người thuộc nhóm chế biến và dịch vụ - hậu cần và thuộc nhóm tuổi trung niên Kết quả cũng cho thấy cần phải xem lại quan điểm tuyệt đối hóa quá mức các nhóm nguy cơ caodẫn đến việc chỉ tập trung truyền thông thay đổi hành vi cho người nghiện ma túy, mại dâm, v.v

mà bỏ qua các nhóm dân cư còn lại trong cộng đồng Đồng thời, cũng sẽ là sai lầm nếu cho rằngchỉ có nhóm đánh bắt xa bờ và nhóm di chuyển mới có những hành vi nguy cơ đối với sự lâynhiễm HIV

Giống như các lao động khác tại An Giang, người hành nghề thủy sản ngoài nhà của mình, họ cóthể quan hệ tình dục ở nhiều địa điểm khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh lao động và sinh hoạt.Nam giới quan hệ tình dục bên ngoài gia đình nhiều hơn nữ Người đi xa cũng tương tự Tuynhiên, ở một số nơi như đầm, hồ, ngoài đồng là những nơi không dễ kiếm bao cao su Những

dữ liệu thứ cấp và những nghiên cứu khác về bao cao su cho thấy tại các nhà hàng, nhà trọ, kháchsạn, bao cao su đã được cấp hoặc bán rẻ cho khách hàng Nhưng tính sẵn có của bao cao su vẫnchưa được đảm bảo tịa các quán cafe, nơi canh cá (đầm, hồ, nuôi tôm cá, ) bên cạnh tính sẵn cócủa bao cao su cần phải đánh gái thêm kiến thức và hành vi của người dân đối với bao cao su Kết quả nghiên cứu cho thấy, người trả lời dễ dàng nói về những thông tin về quan hệ tình dụcnói chung hơn so với khi được yêu cầu nói về từng mối quan hệ cụ thể Tuy nhiên, khi yêu cầu họxác định việc sử dụng BCS đối với từng đối tượng cụ thể, thông tin có phần nào bị phân tán Cónhiều người lảng tránh câu hỏi có liên quan tới những mối quan hệ trước hoặc ngoài hôn nhân.Người lao động thủy sản tại An Giang thoải mái hơn khi nói về những vấn đề liên quan tới quan

hệ riêng tư giữa vợ và chồng vì được coi là chính danh hơn

Trong các cuộc thảo luận nhóm và trò chuyện trong phỏng vấn sâu, những người cung cấp thôngtin đã trao đổi thoải mái hơn so với công cụ bảng hỏi khi nói về chủ đề này

Có thể nhận thấy yếu tố giới trong hành vi sử dụng bao cao su Tỷ lệ phụ nữ cho rằng mình tintưởng bạn tình thấp hơn nhiều so với niềm tin tương tự đối với đối tác ở nam giới nhưng tỷ lệnhững người phụ nữ ghi nhận rằng mình không chuẩn bị trước lại cao hơn gấp 3 lần so với nhómnam giới Tương tự như vậy, nhóm nữ không sợ “giảm khoái cảm” nhiều như nam giới nhưng tỷ

lệ lao động thủy sản nữ sợ bạn tình không đồng ý lại cao gấp gần 3 lần so với lao động nam giới

Có thể thấy, quá trình xã hội hóa theo những giá trị , chuẩn mực giới đối với nam giới và phụ nữtrong xã hội đã củng cố sự bất bình đẳng giới trong cả vấn đề tình dục Những người phụ nữ đượckhuyến khích trở thành những người phụ thuộc không chỉ về kinh tế mà còn là người lệ thuộctrong quan hệ tình dục Phụ nữ không được thoải mái nói về những vấn đề có liên quan tới nhu

Trang 18

cầu sinh lý của họ Thậm chí, nếu không muốn, vì nhiều lý do, họ cũng không thể từ chối sự đòihỏi sinh lý của người chồng hoặc bạn tình

Những người lao động thủy sản tại An Giang phần lớn, chỉ tập trung vào mục đích tránh thai củabao cao su, chưa đánh giá đúng vai trò của phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục của nó.Đặc biệt, khi đề cao vai trò tránh thai của bao cao su, nếu có các biện pháp tranh thai khác (biệnpháp tự nhiên, uống thuốc, thắt ống dẫn trứng, triệt sản…), các cặp vợ chồng hoặc bạn tình sẽkhông sử dụng bao cao su nữa Điều này dễ làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây qua đườngtình dục nói chung và HIV/AIDS nói riêng trong cộng đồng

6 Các hoạt động vui chơi giải trí và những yếu tố tác động tới sự lây truyền HIV/AIDS

Hoạt động vui chơi giải trí là những hoạt động về văn hóa tinh thần của con người, nhưng đòi hỏiphải có những điều kiện vật chất để họ có thể thỏa mãn được nhu cầu hoạt động đó

Tại các địa bàn khảo sát ở An Giang, hầu hết các địa phương đều không có những khu vui chơigiải trí có quy mô lớn những sân bóng chuyền, bóng đá chủ yếu do người dân tự tạo và mangtính tạm bợ Thư viện xã chưa hoàn chỉnh, sách báo còn hạn chế Chính vì vậy trong thời gianrảnh rỗi, người dân chủ yếu tham gia các hoạt động mang tính thụ động nhiều hơn là tích cực.Khi được yêu cầu xác định các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi, lao động thủy sản An Giang ưutiên hơn cả là việc xem ti vi hoặc nghe đài Tỷ lệ những người đọc sách báo (chủ yếu là đọc báo)thấp hơn nhiều Ngoài ra, dù không thường xuyên, một nhóm nhỏ trong số lao động thủy sản ởđịa phương còn tham gia vào các họat động thể thao, chủ yếu là đá bóng và bóng chuyền tại cácsân dã chiến vào mùa khô Trong thời gian rảnh rỗi ngoài thời gian xem truyền hình và nghe đài,người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu tham gia vào hoạt động giao tiếp cộng đồng,trong đó có việc tham gia vào các cuộc họp thôn ấp, tổ nhóm, các buổi sinh hoạt do các tổ chức

xã hội tổ chức (Hội LHPN, Hội Nông dân…) cũng như những buổi giao lưu với gia đình, bạn bè,những dịp dỗ chạp, cưới xin, ma tang…

Những hành vi của người dân Nam bộ trong các hoạt động giao lưu đó thường không thể thiếurượu, hình thành nên một lối ứng xử được gọi là “văn hóa nhậu Nam Bộ” Trong ngôn ngữ,người Nam bộ nói đến từ “ăn nhậu” là bao hàm cả những dịp ăn uống thường có sử dụng rượubia với bạn bè người thân ở gia đình hoặc ở nhà hàng

Trong tương quan giữa các loại hình giải trí và giới tính, lao động nam giới tham gia vào hoạtđộng mang tính hướng ngoại nhiều hơn (chơi thể thao, đi nhà hàng…, những người lao động nữlại tham gia vào các hoạt động hướng nội nhiều hơn (xem tivi, làm việc nhà…) Tỷ lệ lao độngnam tham gia vào các hoạt động ăn uống và có sử dụng rượu bia nhiều hơn nhóm phụ nữ gấp 5lần

Trang 19

Ngoài việc thưởng thức các chương trình truyền thông đại chúng, ngư dân Ang Giang chủ yếutham gia vào các hoạt động giao tiếp, ăn nhậu và các hoạt động thư giãn phục hồi sức khỏe Đốivới lao động nam giới, bên cạnh việc ăn nhậu, đi hát karaoké, họ còn sử dụng nhiều loại hìnhdịch vụ massage và một số người không dừng lại ở đó, họ sẽ được chào mời tham gia vào cácdịch vụ mại dâm với nhiều hình thức khác nhau:

Trong việc sử dụng thời gian tự do, có sự khác biệt giữa các nhóm nghề Nhóm khai thác, đặcbiệt những người đánh bắt xa bờ thường có thu nhập cao sau mỗi chuyến đi biển Cùng với việcphải làm việc cách biệt trên sông, trên biển dài ngày, với tính cách nông dân Nam bộ, họ thường

có xu hướng giải trí bằng ăn nhậu Việc sử dụng rượu bia là không thể tránh khỏi Đồng thời, do

đi xa nhà trong thời gian dài, nhu cầu thỏa mản tình dục dễ thôi thúc họ có hành vi tìm kiếm dịch

vụ mại dâm hoặc tìm đến bạn tình quen thuộc

Hiện tượng các ngư dân có quan hệ với mại dâm nữ được nêu lên nhiều trong các cuộc trao đổithông tin mang tính định tính Các nhóm cung cấp thông tin khác nhau đều cho rằng, những thủythủ đánh bắt xa bờ là những nhóm người có hành vi nguy cơ cao trong việc lây truyền các bệnhLTQĐTD Nhóm chế biến bao gồm những người làm công tác tại chỗ trong các nhà máy, xínghiệp hoặc các cơ sở sản xuất cá của gia đình Trong hoạt động giải trí, có sự khác biệt giữanhững người lao động đã có gia đình và lao động còn độc thân

Ngoài thời gian chủ yếu xem tivi, thỉnh thoảng những người chưa có gia đình cũng thường đichơi gần nơi ở Còn những người có gia đình mà cả hai vợ chồng cùng làm công nhân thì ngoàiviệc xem truyền hình hàng ngày, họ cũng thường đi đến các trung tâm thương mại, giải trí hoặc

đi thăm gia đình, bạn bè Những người có tuổi thường giải trí ở nhà

Nhóm nuôi trồng có đặc điểm vừa trồng lúa vừa nuôi trồng thủy sản Trừ các công ty lớn, nhiều

hộ nuôi trồng thủy sản cá lẻ, vẫn giữ một ít ruộng làm lúa Chính vì vậy, ngoài việc nuôi cá, tôm

ra họ cũng sản xuất lúa hoặc nuôi vịt Ngoài thời gian dành cho hoạt động thủy sản, tỷ lệ nhữngngười làm thêm nghề khác cao hơn hẳn các nhóm còn lại Điều này cho thấy tính không thuầnngư của những người hành nghề thủy sản tại An Giang Mỗi khi thu hoạch, đặc biệt khi có lãi,giống như người dân Nam Bộ khác, lao động thủy sản thường có thói quen ăn nhậu Tuy nhiên,nhóm này thường tổ chức ăn uống tại nhà hơn

Những người làm nghề dịch vụ-hậu cần tham gia vào các loại hình công việc tương đối đa dạng.Một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu là sự kiểm soát xã hội có vai trò quan trọng trong việc

hỗ trợ nhau trong kiểm soát hành vi sinh hoạt trong đội nhóm gia đình Nhóm những người làmnghề trung chuyển, mua bán cá bằng những chiếc ghe lớn cũng đi làm xa nhà nhưng họ có cáchquản lý đội hình của mình theo lối tự quản và sự kiểm soát hành vi giữa các thế hệ trong quátrình làm việc, thế hệ lớn truyền đạt kinh nghiệm nghề nghiệp cho giới trẻ Trật tự của gia đình và

Trang 20

dòng họ được lồng ghép vào tổ đội sản xuất, là yếu tố làm cho thế hệ trẻ dễ tự điều chỉnh hành vicủa mình tốt hơn Đây là mô hình thuận lợi cho việc tuyên truyền kiến thức HIV mang tính liên

cá nhân, trực diện khá có hiệu quả

Như đã trình bày, đối với văn hóa nhậu của người Nam Bộ, lao động thủy sản An Giang khôngphải là một ngoại lệ Các dạng hoạt động giải trí của những người lam nghề thủy sản thường baogồm việc đi nhậu, nếu các hoạt động giải trí của họ không bao gồm thì cũng kết thúc bằng việc rủnhau đi nhậu

Nghiên cứu cũng phát hiện mối quan hệ giữa những yếu tố kích thích và quan hệ tình dục

Rượu như một biểu tượng của nam tính- “trai vô tửu như cờ vô phong” đã khiến nhiều ngườimượn rượu đề thể hiện tính đàn ông của mình Đồng thời, một biểu hiện nữa của nam tính, trongquan niệm của đàn ông là khả năng tình dục của họ Sự quảng cáo về khả năng tăng cường sinh

lý của rượu thuốc tại các quán nhậu đã làm cho đàn ông những nơi này có xu hướng uống nhiềurượu thuốc và muốn kiểm chứng ngay hiệu quả của chúng Tuy nhiên, như đẵ trình bày, chínhrượu lại làm cho hành vi an toàn tình dục không được đảm bảo Điều này tạo ra một chuỗi cácyếu tố trong hoạt động thụ hưởng và giải trí của nam giới tại địa phương: thu nhập –giải trí- rượu-bạn tình- hành vi tình dục không an toàn

Phù hợp với những nhận định trên, một số người lao động thủy sản trong mẫu nghiên cứu, thôngqua các cuộc trò chuyện đã bộc lộ những thông tin xác nhận tình hình mại dâm trá hình ở địaphương vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Phần lớn những người cung cấp thông tinnhấn mạnh: hoạt động mại dâm sôi nổi hơn vào mùa thu hoạch đặc điểm của dịch vụ mại dâm tạicác vùng quê, trong đó có các xã tại An Giang Tại địa phương này, những mại dâm nữ lớn tuổivẫn có khả năng tiếp tục hành nghề Đồng thời, họ thường núp dưới dạng tiếp viên nhà hàng, tiếpviên tại quan cà phê, thậm chí là những người bán quán cóc, trứng vịt lộn… có bằng chứng là có

sự gia tăng về số lượng khách hàng, đồng thời thể hiện của sự mở rộng đối tượng khách làng chơiđến những người lao động bình dân tại An Giang trong bối cảnh hiện nay.Với đặc điểm nghềnghiệp và thu nhập như vậy, họ dễ dàng chấp nhận MDN với tiêu chuẩn thấp hơn, do đó tạo khảnăng cho MDN lớn tuổi làm việc dài hơn

Đối với việc sử dụng ma túy, những thông tin từ bảng hỏi không đủ để khái quát và phân tíchhiện tượng này (chỉ có duy nhất 01 trường hợp xác nhận có sử dụng ma túy), nhưng từ các cuộcphỏng vấn sâu một số người vừa nhiễm HIV vừa nghiện cho thấy hệ quả của sự thiếu kiến thức

về HIV của họ Nghiện ma túy là hành vi không được xã hội chấp nhận, những người nghiện nàythường không cho những người xung quan biết Mặc dù có sự hiện diện của nhóm đồng đẳng tạiđịa phương nhưng vẫn còn nhiều người e ngại không tham gia vào các nhóm tự quản Chính vìvậy, họ thiếu sự tư vấn của các nhóm hoạt động đồng đẳng Mặt khác, khi có bạn hoặc người yêu,

Trang 21

họ thường lôi kéo bạn mình cùng tham gia hút chích ma túy Việc dùng chung kim tiêm hoặcquan hệ tình dục không sử dụng bao cao su, sẽ làm cho nguy cơ lây nhiễm giữa họ lên rất cao Kết quả giám sát trọng điểm năm 2007 ghi nhận Nữ NCMT nhiễm cao hơn Nam NCMT Nhóm

Nữ NCMT có kết hợp với mại dâm thì tốc độ lây truyền HIV rất cao, thường là những người nữNCMT chuyển sang hoạt động mại dâm để có tiền chích ma tuý Đây là hình thái lây truyền HIVvừa NCMT vừa mại dâm có ở Việt Nam, trong khi các nước khác như Campuchia, Thái Lankhông có

7 Nhu cầu của người dân về các chương trình can thiệp phòng chống HIV/ADIS

Nhìn chung, những khách thể trong phạm vi nghiên cứu đều cho rằng các chương trình đã thựchiện đều đem lại những kết quả nhất định Sự hưởng ứng của người dân thể hiện qua những phảnhồi tích cực đối với những hoạt động can thiệp phòng chống lây nhiễm HIV/ AIDS do địaphương tổ chức

Hầu hết lao động thủy sản đều mong muốn nhận được bao cao su miễn phí Một trong nhữngnguyên nhân của tình hình này là lý do người lao động không ngại ngùng khi đề cập đến bao cao

su Mặt khác, trong thực tế có thể dễ dàng tìm thấy bao cao su miễn phí tại nhiều điểm tại địaphương Ngoài ra, những ngư dân trong mẫu nghiên cứu định tính còn đóng góp ý kiến để cácchương trình trong tương lai có thể đạt được hiệu quả hơn như tính hợp lý về địa điểm đặt baocao su miễn phí: tại các quán café, quán nhậu, quán nước nhỏ gần những đồng ruộng, trên xe,trên tàu1

Về những yêu cầu cho các hoạt động sắp tới, tất cả các nhóm đều mong muốn nâng cao kiến thứccủa bản thân về HIV/ AIDS

Nhu cầu về các hình thức truyền thông

Mức độ ưa thích các hình thức truyền thông của người dân thủy sản theo các nhóm về hình thứctruyền đạt thông tin như sau: Nhóm chuyên về tư vấn, nhóm truyền thông theo nhóm (với quy mônhóm khác nhau), nhóm thông tin truyền đạt trên phạm vi rộng lớn như các phương tiện truyềnthông đại chúng, các loại hình thông tin đa dạng khác

Phương thức truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tỏ ra có hiệu quả và được đa

số những người làm nghề thủy sản tán đồng Tất cả các nhóm đều thống nhất đây là phương thứcchiếm ưu thế hơn cả trong công tác tuyên truyền phòng chống HIV/ AIDS Trong đó, hệ thốngloa đài địa phương là kênh được ưa thích nhất Có thể thấy, hệ thống này đóng vai trò rất quantrọng trong nếp sinh hoạt ở nông thôn nói chung và ĐBSCL nói riêng

Tuy vậy, đối với những người đi xa, với tính chất nghề nghiệp đặc thù thì hệ thống loa đài cố

1 100% bao cao su.

Trang 22

định tại địa phương không phải là hình thức phù hợp với họ Còn đối với nhóm lao động chuyên

về khai thác và đi xa, nguồn thông tin mà những ngư dân đánh bắt thường được biết đến thôngqua radio

Bên cạnh radio và loa địa phương, truyền hình đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạtcủa người dân tại địa phương Tuy vậy, khi xây dựng những dự án tuyên truyền trong tương lai,cần chú ý tới thói quen ứng xử truyền thông tại nơi này Ở An Giang, những người dân thủy sảnthường ưa thích các kênh địa phương hơn là đài trung ương Sự chênh lệch này là khá lớn ở cácnhóm nghề, đặc biệt thể hiện rõ ở nhóm khai thác Trong nhóm truyền thông đại chúng, báo chí làmột trong những lựa chọn được đưa vào bảng hỏi, tuy vậy, các thông số định lượng cho thấy đâychưa phải là một trong những hình thức triển vọng trong việc tuyên truyền trong tương lai

Truyền thông thông qua tư vấn bao gồm [1] Tư vấn trực tiếp; [2] Tư vấn qua đường dây nóng; [3]

Tư vấn kết hợp khám sức khỏe Dù gián tiếp hay trực tiếp đối diện với tư vấn viên, việc nâng caokiến thức người dân về HIV/ AIDS đều nhận được sự ủng hộ của các nhóm lao động thủy sản.Tương quan nghề nghiệp cho thấy, nhóm khai thác và nhóm chế biến có mức độ ưa thích đối vớihình thức “Tư vấn cá nhân trực tiếp” hơn, trong khi những người làm nghề nuôi trồng thủy sảnhay dịch vụ hậu cần lại mong muốn có sự kết hợp với việc khám sức khỏe Một phương thứctruyền thông tỏ ra hiệu quả, nhất là với nhóm thường đi xa như nhóm khai thác, là hình thứctuyên truyền liên cá nhân như nói chuyện, trao đổi kiến thức và thông tin Thông thường, cácnhóm truyền thông về vấn đề này là các nhóm nhỏ hay sự trao đổi giữa vợ và chồng trong giađình

Đối với những người tham gia đánh bắt thủy sản, nhóm truyền thông ưa thích của họ là nhómtheo tính chất nghề nghiệp, với phương thức truyền đạt kinh nghiệm của những người lớn tuổicho nhóm thanh niên Khác với nhóm khai thác và nhóm đi xa, nhóm hậu cần ưa thích nhữngkiểu tuyên truyền trực tiếp, nhất là thanh niên, thường thích sinh hoạt kết hợp với các hoạt độngvui chơi giải trí để có dịp giao lưu với nhau

Ngoài những nhóm truyền thông kể trên, một hoạt động mà các cơ quan tổ chức tại địa phươngthường hay áp dụng là phổ biến kiến thức qua các cuộc thi viết, hỏi đáp, hái hoa dân chủ, đóngkịch tiểu phẩm Tuy vậy, nhóm hình thức tuyên truyền thông qua việc tìm hiểu kiến thức tựnguyện này dường như không thu hút được sự quan tâm của những người dân thủy sản Tìnhhình này phù hợp với sự bày tỏ sở thích tương ứng của các nhóm đối với loại hình truyền thôngtrực tiếp nhưng theo nhóm lớn như các cuộc họp khi họ ngại đi họp, công cụ truyền thông quacác công cụ này sẽ không phát huy được tác dụng Mặt khác, đối với tâm lý người Việt Nam, sựriêng tư đối với chủ đề này rất quan trọng Đó là lí do vì sao người lao động An Giang thích tưvấn cá nhân hơn tư vấn cộng đồng

Trang 23

Việc truyền thông phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau thông qua nhiều hình thức sẽ tăngtính hiệu quả của các dự án trong tương lai Bên cạnh các hình thức, yếu tố quan trọng quyết định

sự thành công của hiệu ứng truyền thông là nơi triển khai của công tác này

Các địa điểm mà người làm nghề thủy sản tại địa phương cho rằng thích hợp là qua các buổi họpthôn xã và các tụ điểm Không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm nghề và tình trạng đi làm ăn xacủa những người trả lời trong hai lựa chọn địa điểm này Những phương án tuyên truyền tại nơilàm việc như trên thuyền và tại các cảng cá không được ưa thích

Về các cuộc họp tại cộng đồng Nếu được chọn giữa cuộc họp ấp với các cuộc họp của các tổchức xã hội người lao động lại chọn loại hình họp ấp hơn Điều này lại một lần nữa cho thấy sự

ưa thích các hình thức tập trung mang tính tình cảm, trực diện, liên cá nhân hơn là các cuộc họpmang tính chính thức Mặt khác, cũng cần nhận ra rằng, khi truyền thông thông qua các cuộc họpcủa các tổ chức xã hội (hội nghị, đoàn thể) cần thay đổi các nội dung và phương pháp sao chochúng phù hợp với các nhóm nghề và lứa tuổi khác nhau hơn

Thời gian truyền thông được phân biệt gồm thời gian thích hợp trong năm và thời gian thích hợptrong ngày

Có thể thấy, không quá khắt khe trong việc lựa chọn thời gian để phù hợp với người lao độngthủy sản tại địa phương, tuy nhiên, cần phải đặc biệt chú ý đến nhóm khai thác, những ngườithường xuyên xa nhà Thời điểm phù hợp với họ là khoảng từ tháng 9, tháng 10 và tháng 11.Thời gian còn lại trong năm được coi là mùa làm việc của họ

Thời gian trong ngày được cho là phù hợp với tất cả các nhóm là buổi chiều Không có sự khácbiệt lớn giữa các nhóm khác nhau Người dân ở đây coi thời gian buổi sáng bắt đầu một ngày làmviệc, buổi tối là để nghỉ ngơi và sinh hoạt trong gia đình

Trong việc đề xuất các ý tưởng giúp đỡ các gia đình và những ngư dân có H, các thông tin địnhlượng và định tính cung cấp những góc nhìn từ nhiều phía: cộng đồng ngư dân, các cán bộ địaphương và bản thân những NCH

Đối với cộng đồng địa phương, các hình thức họ cho rằng có thể giúp đỡ những lao động trongngành thủy sản nhiễm HIV/ AIDS là: Cho vay vốn phát triển sản xuất”; Cung cấp thuốc ARVmiễn phí”, Cung cấp thuốc điều trị các bệnh cơ hội miễn phí; Có sự hỗ trợ thường xuyên củanhân viên y tế địa phương Như vậy, từ phía những người ngoài cuộc, sự ủng hộ kinh tế và nhữngtrợ giúp về mặt y tế được cho là cần thiết đối với NCH

Thông tin từ chính quyền địa phương, những cán bộ phụ trách công tác phòng chống HIV/ AIDScho rằng: ngoài hai giải pháp quan trọng trên, liệu pháp tâm lý đối với những người bệnh cầnđược chú trọng hơn, bởi tại cộng đồng địa phương vẫn tồn tại những sự kỳ thị nhất định Đối với

Trang 24

bản thân NCH, hầu như những hỗ trợ họ nhận được cho đến bây giờ đều xuất phát từ bạn bè vàngười thân trong gia đình

Thông tin từ những người có H cho thấy, những người công khai bệnh nhận được nhiều sự hỗ trợhơn, nhất là đối với những người có điều kiện tham gia sinh hoạt ở các CLB dành cho NCH.Những CLB này chủ yếu được thành lập từ các dự án nước ngoài, hoạt động với mục đích hỗ trợ

về mặt tinh thần là chủ yếu Ngoài ra, thông qua CLB, thuốc ARV và một số thuốc bổ trợ khácđược phân phát miễn phí Những người tham gia có thể tìm được các thông tin liên quan đếnHIV/ AIDS từ đây

Ngoài ra, không ít NCH vẫn nhận được hỗ trợ từ chính quyền, nhưng không phải từ địa phươngnơi mình đang sinh sống Những người này tìm đến xã lân cận với hy vọng không bị cộng đồnghiện tại phát hiện tình trạng bệnh của mình nhưng đồng thời vẫn tiếp cận được các nguồn lực

Có thể thấy, các nhóm đều thống nhất về việc hỗ trợ về mặt kinh tế là cần thiết cho NCH Tuynhiên, hướng dẫn và giới thiệu việc làm cho nhóm này là cần thiết và có ý nghĩa hơn cả bởi mộtmặt duy trì sự ổn định về kinh tế lâu dài cho họ, và tạo điều kiện để họ cảm thấy mình sống cóích cho cộng đồng xã hội Nói cách khác, hỗ trợ người bệnh không nên chỉ dừng lại ở nhữngcung ứng về mặt vật chất mà còn là ủng hộ về mặt tinh thần

Kiến nghị

Từ những kết quả nghiên cứu, nhóm tư vấn đề xuát một vài kiến nghị sau:

Thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020

Ngành thủy sản phối hợp với các cơ quan chức năng khác thực hiện chiến lược quốc gia phòngchống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020

Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các văn bản Pháp luật liên quan đến công tác phòng chốngHIV/AIDS, thực hiện Nghị quyết số 21/2004/NQ-HĐND7 ngày 09/12/2004 cuả Hội đồng nhândân tỉnh An Giang khoá VII về « Tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS và phòng chống

tệ nạn ma tuý, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác»,

Những biện pháp can thiệp nhằm giảm tác hại cho người nhiễm và lam chậm sự lây lan HIV/AIDS ra cộng đồng

 Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi về phòngchống HIV/AIDS trong cộng đồng, tập trung cho những đối tượng có hành vi nguy cơ

Trang 25

cao, nhóm dân di biến động, thanh niên, phụ nữ nhằm nâng cao hiểu biết của ngườidân về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS.

 Triển khai thực hiện trên diện rộng các hoạt động can thiệp giảm tác hại cho nhóm đốitượng có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, tập trung cho những lao động thủysản nghiện chích ma tuý và mại dâm, Những người thường xuyên di chuyển

 Tổ chức tốt công tác quản lý, chăm sóc và tư vấn, điều trị nhiễm HIV/AIDS tại cộngđồng, tăng số lượng bệnh nhân AIDS được tiếp cận điều trị nhiễm trùng cơ hội vàthuốc đặc hiệu kháng vi rút HIV (ARV)

 Dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS qua các dịch vụ y tế: giám sát, tư vấn xét nghiệm tựnguyện, đảm bảo an toàn truyền máu và các chế phẩm máu; đảm bảo thực hiệnnghiêm ngặt, an toàn, cẩn trọng tổng quát về chế độ vô khuẩn, sát khuẩn phòng lâynhiễm HIV/AIDS trong các cơ sở y tế

 Sở NN&PTNN cần phối hợp với các ban ngành, đặc biệt trung tâm y tế dự phònghoàn thiện hệ thống quản lý theo phần mềm quản lý của Bộ y tế, theo dõi, giám sát,đánh giá chương trình phòng chống HIV/AIDS; tăng cường năng lực hoạt động của hệthống phòng chống AIDS của các cấp, các ngành, các địa phương

 Tăng cường hợp tác quốc tế, duy trì và phát triển nhanh các dự án tài trợ quốc tế trongcông tác phòng chống HIV/AIDS cho người lao động thủy sản Tăng cường giáo dụctruyền thông cho nhân dân khu vực thành thị nông thôn miền núi hiểu đúng và biếtcách dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS

 Tăng cường chương trình giảm tác hại cho người nghiện chích ma tuý tạo điểu kiệncho người làm nghề thủy sản có địa chỉ được tiếp cận với các dịch vụ y tế chăm sócphòng ngừa nhiễm trùng cơ hội và tư vấn

 Đảm bảo cho các bà mẹ mang thai được phát hiện nhiễm HIV được quản lý, chămsóc, tư vấn và điều trị dự phòng ARV quan tâm và có chế độ đặc biệt đối với trẻ em <

15 tuổi bị nhiễm HIV hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV được quản lý, chăm sóc, tư vấn vàđiều trị nhiễm trùng cơ hội và ARV Thực hiện giám sát trọng điểm HIV – STIs hàngnăm

 Tuyên truyền và có biện pháp hỗ trợ người lao động thủy sản nhằm tăng diện mua bánbảo hiểm y tế để cấp miễn phí cho các trẻ có ‘H’ từ 6 tuổi đến 15 tuổi

Giải pháp về xã hội

Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn cần kết hợp với chính quyền các cấp địa phương đưa hoạtđộng phòng, chống HIV/AIDS vào kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương Huy độngtoàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS nhằm từng bước ngăn chặn, đẩy lùi HIV/AIDS,không thực hiện công tác này một cách cục bộ trong ngành

Trang 26

Cụ thể;

 Xây dựng chương trình phòng, chống HIV/AIDS thành chương trình phối hợp liênngành, toàn diện, đặc biệt chú trọng việc lồng ghép có hiệu quả với các chương trìnhphòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS, huy độngmọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phòng, chống HIV/AIDS Khuyến khích các

tổ chức xã hội , tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện, tổ chức phi chính phủ, các doanhnghiệp, nhóm cộng đồng, người nhiễm HIV/AIDS cùng gia đình tham gia công tácphòng, chống HIV/AIDS

 Tăng cường việc phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức kiểm tra, giám sát việc thựchiện các qui định của pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS cho người lao động thủysản

 Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục và truyền thông hay đổi hành vi có nguy cơ,nâng cao số lượng, chất lượng, tính phù hợp và hiệu quả của các hoạt động thông tin,giáo dục và truyền thông

 Xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên trong ngành thủy sản, đồng thời phối hợp với độingũ cộng tác viên y tế khóm, ấp và cán bộ ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở xã phường.Phân công trách nhiệm cụ thể về thực hiện công tác thông tin, giáo dục và truyềnthông thay đổi hành vi cho từng địa phương

 Tăng cường công tác tuyên truyền về chương trình can thiệp giảm tác hại nhằm tạomôi trường thuận lợi cho công việc thực hiện các biện pháp can thiệp Triển khaichương trình can thiệp giảm tác hại một cách đồng bộ bao gồm chương trình bơm kimtiêm sạch, tiến tới điều trị bằng thuốc thay thế Kết hợp với trung tâm y tế và hội nôngdân thực hiện tốt chương trình 100% bao cao su đã có tại địa phương

 Xây dựng hệ thống chăm sóc, hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS, hổ trợchăm sóc người nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng, nâng cao nhận thức, tráchnhiệm của người nhiễm HIV/AIDS đối với bản thân, gia đình và cộng đồng để ngănngừa nhiễm HIV/AIDS cũng như gia đình, cộng đồng xã hội đối với người nhiễmHIV/AIDS

 Tăng cường sự bình đẳng giới và giảm thiểu sự phân biệt trên cơ sở giới: Nâng caovai trò của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ và Hội phụ nữ trong hoạt động vì Bình đẳng giới;Tăng cường sự tham gia của phụ nữ, đặc biệt phụ nữ nghèo và phụ nữ có HIV hoặcchồng có HIV vào hoạt động truyền thông phòng chống HIV; Đảm bảo nam giới vàphụ nữ được tiếp cận bình đẳng các thông tin và dịch vụ trong hoạt động phòng chống

và kiểm soát HIV; Tập huấn cho nam và nữ (đặc biệt nhóm trong độ tuổi 15-25) kỹnăng sống nhằm tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ lây nhiễm HIV; Truyền thông chocộng đồng Luật phòng chống HIV, Phòng chống Bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng

Trang 27

giới, Công ước chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW); Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn cần có chiến lược ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong việc dạynghề và tạo việc làm tại chỗ cho ngư dân nói chung, phụ nữ và thanh niên nói riêng,nhằm nâng cao vai trò và vị thế kinh tế của phụ nữ trong gia đình và xã hội.

PHẦN I TỔNG QUAN CHUNG

1.1 Bối cảnh

Từ ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện vào năm 1981, đến nay với tốc độ lây lan nhanhchóng HIV/AIDS trở thành đại dịch của thế kỷ, thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người ở tất cả cácquốc gia trên thế giới Theo báo cáo mới nhất của chương trình phối hợp Liên hợp quốc về phòngchống HIV/AIDS (UNAIDS), tính đến tháng 6/2006, trên thế giới ước tính có khoảng 39,5 triệu ngườiđang sống chung với HIV/AIDS Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong phòng chống HIV/AIDSnhưng bức tranh toàn cầu về HIV/AIDS vẫn còn hết sức ảm đạm

Ở Việt Nam, HIV hiện diện ở tất cả các địa phương trên cả nước, 64 tỉnh, thành phố đều đã phát hiện cóngười nhiễm HIV Tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2008, số tích luỹ được báo cáo là 132.628 các trườnghợp nhiễm HIV, 26.828 trường hợp đã chuyển thành bệnh nhân AIDS và 15.007 ca tử vong do AIDS.Tất cả 64 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, 96% trong tổng số 659 quận/huyện và hơn 66% trong tổng số10.732 xã/phường đã có báo cáo về các trưởng hợp nhiễm HIV Có sự khác biệt lớn về thời gian xuấthiện dịch HIV tại các địa phương trong cả nước

Bảng 1 Tỉ lệ nhiễm HIV- Kết quả giám sát Trọng điểm năm 2001-20062

2 Nguồn: đã dẫn (2)

Trang 28

Tổng quan nghiên cứu và dự án về HIV/AIDS trong ngành thuỷ sản

Những nghiên cứu về HIV nói chung rất nhiều, nhưng cho đến nay vẫn còn thiếu vắng nhữngnghiên cứu theo lát cắt ngang: theo ngành nghề khác nhau để cơ cơ sở xây dựng chiến lược chotừng ngành nghề một cách phù hợp Có rất ít nghiên cứu về ngành thuỷ sản Nghiên cứu của TrầnMinh Giới (2008) mới chỉ đề cập đến nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm khai thác tại HảiPhòng; Nghiên cứu thứ 2 về ngư dân: Báo cáo khảo sát về Kiến thức, thái độ hành vi vềHIV/AIDS của nhóm ngư dân trong khuôn khổ dự án ”Phòng chống HIV/AIDS cho ngư dân vàbạn tình tại tỉnh Kiên Giang” do Quỹ AIDS Thế giới tài trợ thông qua tổ chức Care Việt Nam,được thực hiện từ năm 2001 đến 2002 đã cho thấy nam ngư dân thuộc nhóm khai thức thường cónhiều bạn tình, có nguy cơ lây nhiễm do kiến thức hiểu biết hạn chế, không thích sử dụng BCSkhi quan hệ tình dục, thói quen uống rượu bia

Các dự án dành riêng cho nhóm ngư dân cho đến nay vẫn còn hạn chế

Số liệu về lây nhiễm HIV/AIDS mới chủ yếu theo một số tiêu chí như theo vùng địa lý, theonhóm có hành vi nguy cơ cao, mà chủ yếu theo nhóm có hành vi nguy cơ cao như mại dâm, matuý, di chuyển Vẫn chưa có số liệu thống kê theo tiêu chí “ngành nghề” trong việc lây nhiễmHIV, chính vì thế các Bộ, các ngành nghề khác nhau khi xây dựng Chiến lược, hoặc các hoạtđộng phòng chống lây nhiễm HIV cho ngành mình vẫn chưa dựa trên cơ sở khoa học

An Giang là tỉnh đứng vị trí thứ 5 trong cả nước trên bảng xếp hạng năm 2006 của 10 tỉnh thành có tỉ lệnhiễm HIV trên 100.000 dân Đã có nhiều dự án liên quan tới phòng chống HIV/AIDS và các bệnhLTQĐTD được thực hiện tại An Giang nhưng chưa có dự án giành riêng cho ngành thủy sản về lĩnhvực này

Trang 29

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

- Mục tiêu của dự án nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến sự lây nhiễm HIV/AIDS trongngành thủy sản tại An Giang thông qua các hoạt động: thu thập thông tin, điều tra khảo sát vềdiễn biến tình hình phát triển căn bệnh HIV/AIDS trong lĩnh vực thủy sản, đồng thời tăng cườngnăng lực cho cán bộ đầu mối về HIV/AIDS

- Nghiên cứu này nhằm giúp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng chiến lượcphòng chống HIV/AIDS giai đoạn 2010 – 2015

- Giúp ban Quản lý dự án STOFA – chương trình FSPS II điều chỉnh hoạt động chươngtrình nhằm xem xét tính dễ lây nhiễm HIV và xây dựng kế hoạch hành động phòng chốngHIV/AIDS trong ngành thủy sản cho các năm 2009 – 2010

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp tiếp cận

Áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong quá trình thu thập số liệu và phân tích kếtquả, trong đó phụ nữ, nam giới từ các nhóm xã hội khác nhau được tham gia một cách chủ động ,đặc biệt trong các công cụ thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn sâu Sự tham gia cũng được thểhiện trong quá trình huy động cán bộ địa phương vào công việc thu thập thông tin

1.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

Nội dung cơ bản của quá trình thu thập thông tin là các Kiến thức - Thái độ - hành vi vềHIV/AIDS của lao động thủy sản tại An Giang Các kênh thông tin mà họ tiếp nhận, Kiến nghịcủa người được hỏi về việc nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi đối với HIV/AIDS…một hệ thống các giải pháp sau đây được sử dụng:

Phương pháp thu thập thông tin :

- Nhóm nghiên cứu đã sử dụng cả hai phương pháp thu thập: Định lượng và định tính

- Một bảng hỏi được thiết kế phục vụ nghiên cứu bao gồm 102 câu hỏi, trong đó có 93 câunhằm đánh giá: kiến thức, thái độ, hành vi về HIV/AIDS và 8 câu về “Hoạt động truyền thôngtrong tương lai” và 1 câu về “giúp đỡ những người có HIV/AIDS”

- Đối với phương pháp nghiên cứu định tính, nhóm nghiên cứu đã sử dụng công cụ phỏngvấn sâu và hảo luận nhóm tập trung

- Để phỏng vấn sâu, nhóm nghiên cứu đã thiết kế một bộ tiêu chí phỏng vấn sâu bán cấutrúc cho các nhóm đối tượng khác nhau : Lãnh đạo xã; trưởng trạm y tế xã; người có HIV hoặcgia đình người có HIV/AIDS

Để thực hiện công cụ thảo luận nhóm có :

- Bảng hỏi bán cấu trúc dành cho thảo luận nhóm khai thác thủy sản;

Trang 30

- Bảng hỏi bán cấu trúc dành cho thảo luận nhóm nuôi trồng thủy sản

- Bảng hỏi bán cấu trúc dành cho thảo luận nhóm chế biến;

- Bảng hỏi bán cấu trúc dành cho thảo luận nhóm hậu cần;

Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn xây dựng một số biểu mẫu thu thập thông tin thứ cấp, thông tin vềkinh tế xã hội: cấp tỉnh, huyện, xã

Phương pháp phân tích thông tin thứ cấp

Tư vấn sử dụng các báo cáo của UBND xã, số liệu thống kê của trạm y tế xã, của chi cục phòngchống HIV/AIDS của các tỉnh, các báo cáo của Phòng Kinh tế huyện, niên giám thống kê củatỉnh An Giang… nhằm tìm hiểu thông tin về Ngư dân và vấn đề lây nhiễm HIV trong ngư dân vàtrong cộng đồng tại các xã nghiên cứu cũng như các dự án và các hoạt động phòng chốngHIV/AIDS tại các địa bàn nghiên cứu

Phương pháp quan sát

Nhóm nghiên cứu thực hiện quan sát trực tại các bến cảng, các xã - ấp thuộc địa bàn nghiên cứu,cũng như những hoạt động truyền thông về phòng chống HIV (nhà hàng, quán Karaoke, hoặc cáckhẩu hiệu, Panô, áphích…về phòng chống HIV/AIDS tại những nơi công cộng)

Địa diểm : Cộng đồng, trạm y tế, các tụ điểm vui chơi giải trí

Tiêu chí : - Mức độ tham gia của cộng đồng

- Các công cụ truyền thông, (pano, apphich)

- Sự hiện diện các tài liệu truyền thông

- Các hoạt động vui chơi giải trí của người lao động

Đạo đức nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, các quy định về tính nặc danh và tinh bảo mật của thông tin luônluôn được đảm bảo Cụ thể : không lưu tên người cung cấp thông tin trong các công cu nghiêncứu (bảng hỏi, bảng phỏng vấn sâu) Trong quá trình nghiên cứu định tính việc ghi âm sẽ khôngthực hiện nếu người trả lời không cho phép v.v…

1.4 Đối tượng, địa bàn, thời gian và cỡ mẫu thực hiện tại địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng khảo sát

- Nhóm khai thác

- Nhóm chế biến

- Nhóm nuôi trồng

- Nhóm cung cấp hậu cần (trong ngành thuỷ sản, bao gồm cả các lái xe tải)

- Cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành thuỷ sản

Trang 31

- NCH, Hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

- Lãnh đạo một số ban ngành liên quan

Thị xã Châu Đốc

Huyện Phú Tân

Huyện Tân Châu

1.4.3 Cỡ mẫu nghiên cứu

- Phiếu điều tra (bảng hỏi): 300 phiếu

- Phỏng vấn sâu : 50 cuộc (trong đó có 10 PVS NCH) được thực hiện tại các xã trên 4

Huyện của Tỉnh An Giang đã nêu tên ở bảng trên

- (Thảo luận nhóm: 4 thảo luận nhóm (4 nhóm chính: nhóm khai thác, nhóm nuôi trồng,

nhóm hậu cần, nhóm chế biến):

+ Nhóm Khai thác tại Xã Khánh An, An Phú

+ Nhóm chế biến tại Phường A, Thị Xã Châu Đốc

+ Nhóm nuôi trồng tại Xã Phú bình-Huyện Phú Tân

+ Nhóm hậu cần tại Xã Quốc Thái, Huyện An Phú

1.4.4 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ ngày 15/11/2008 đến ngày 30/11/2008 Thời gianlàm việc tại thực địa 15 ngày và 3 ngày tập huấn cho cán bộ địa phương cấp tỉnh, huyện, xã

1.5 Những thuận lợi và khó khăn

1.5.1 Thuận lợi

Trong quá trình thực hiện điều tra, khảo sát, đoàn tư vấn gặp những thuận lợi như sau:

Trang 32

- Được sự hỗ trợ của các cán bộ đầu mối ngành thủy sản và các cán bộ của Trung tâm y tếThị xã Châu Đốc, của lãnh đạo các huyện/thị xã và các xã/ phường trong mẫu nghiên cứu.

- Sự tích cực tham gia và hỗ trợ nhiệt tình của các cán bộ xã, cán bộ y tế, cán bộ thủy sảntrong quá trình tập huấn, điều tra tại thực địa, đặc biệt là trong việc liên hệ với địa phương và tạođiều kiện cho nhóm tư vấn và các điều tra viên thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luậnnhóm

- Trung tâm phòng chống HIV/ AIDS và Lao – một trong những trung tâm hoạt độngmạnh, tạo thuận lợi trong việc hỗ trợ tổ chức và cung cấp các dữ liệu sẵn có cho nhóm tư vấn

1.5.2 Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi, nhóm nghiên cứu cũng gặp phải một số khó khăn trong quá trình thựchiện Những khó khăn này, dù mang tính khách quan hay chủ quan, cũng gây ảnh hưởng nhấtđịnh tới cuộc nghiên cứu

Đặc điểm địa hình: Một trong những khó khăn mà nhóm nghiên cứu phải đối mặt trong suốt

quá trình tại thực địa là trở ngại về địa hình Địa hình An Giang cũng giống như đặc điểmchung của một số tỉnh ĐBSCL với sông ngòi, kênh rạch chằng chịt; khoảng cách giữa cácđiểm nghiên cứu cách xa và đòi hỏi di chuyển bằng nhiều phương tiện khác nhau như ô tô, xehonda, phà, ghe, xuồng Việc tiếp cận cộng đồng vì vậy trở nên khó khăn và bị kéo dài về mặtthời gian Đặc biệt, việc giá xăng tăng cao cùng với việc khoảng cách không tính trước được

đã làm cho chi phí đi lại của nhóm tư vấn và các điều tra viên bị đội lên nhiều hơn so với dựkiến

Kinh nghiệm của điều tra viên: Với mục tiêu huy động sự tham gia của cộng đồng và nâng

cao năng lực cho các cán bộ địa phương, nhóm nghiên cứu đã mời các cán bộ chủ chốt củacác Huyện xã tham gia Tuy nhiên,việc chưa có kinh nghiệm trong quá trình thu thập thôngtin của các điều tra viên địa phương đã làm hạn chế không nhỏ đến chất lượng thông tin

Tính nhạy cảm của chủ đề nghiên cứu: Trước hết, chủ đề “Yếu tố lây nhiễm HIV” liên quan

đến hành vi tình dục, sử dụng ma tuý, có HIV… thuộc vấn đề tế nhị, nhạy cảm Người laođộng thủy sản e ngại trả lời những câu hỏi trực tiếp trong bảng hỏi, việc sử dụng các điều traviên địa phương trong công cụ bảng hỏi cũng ảnh hưởng không ít đến tâm lý của người trả lờikhi phải đối diện với những điều tra viên là những người quen biết trong cộng đồng Do vậy,trong nghiên cứu, nhóm tư vấn đã bổ sung thêm bằng những thông tin định tính Thực tế chothấy, người dân chỉ trả lời dễ dàng những vấn đề này hơn trong quá trình trò chuyện phỏngvấn sâu

Tính di động của đối tượng nghiên cứu: Đặc biệt là thời điểm tiến hành thu thập thông tin tại

thực địa là tháng 11, là một trong những tháng vào “mùa nước nổi” tại Tỉnh An Giang, đây là

Trang 33

thời gian có phần lớn nhóm đánh bắt thuỷ sản gần bờ của Tỉnh An Giang di chuyển lên phía

“Biển Hồ”- Cam pu chia để đánh bắt cá, thời gian ở nhà rất ít, vì vậy việc tiếp cận được với

họ để thu thập thông tin rất khó khăn, đặc biệt khi nhóm tư vấn tổ chức các buổi thảo luậnnhóm

Sai số trong điều tra và hạn chế của số liệu:

Sai số trong điều tra bao gồm sai số chọn mẫu và phi chọn mẫu

Sai số trong chọn mẫu là mẫu thiếu tính đại diện và thiếu cân đối giữa các nhóm ngành nghề

do không chọn được đúng đối tượng đã mong muốn, ví dụ như nhóm hậu cần không chọnđược những người lái xe đường dài hay khó tiếp cận được với nhóm khai thác

Sai số phi chọn mẫu có thể xảy ra do nhiều lý do khác nhau như:

- Do tính di động cao của lao động thủy sản nên các hộ gia đình được chọn không tham giatrả lời

- Khả năng sai số trong việc lấy hộ gia đình làm đơn vị mẫu Do điều tra viên có xu hướnghỏi chủ hộ, trong khi đó chủ hộ lại thường là nam giới, dẫn đến việc có sự chênh lệch về giới tính(thiên về nam) trong số những người trả lời

- Người được hỏi cung cấp thông tin không chính xác đối với các chủ đề có liên quan đếntình dục hoặc nói đến các hiện tượng tiêu cực ở địa phương

Năng lực và kinh nghiệm thu thập thông tin của điều tra viên Mặc dù rất nhiệt tình, nhưng do

điều tra viên chưa có kinh nghiệm thu thập thông tin, trong khi đó đặc điểm của bảng hỏi quádài, khá nhiều những vấn đề nhạy cảm, tế nhị…vì vậy các thông tin thu thập được đôi chổchưa được chính xác Trong quá trình xử lý những thông tin của bảng hỏi nào không đảm bảotính xác thực sẽ không được đưa vào nhập liệu

1.6 Các khái niệm làm việc

HIV/AIDS

HIV là virút gây suy giảm miễn dịch ở người, viết tắt từ tiếng Anh: Human Immuno-deficiency

Virus

AIDS là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, do virút HIV gây ra AIDS viết tắt từ tiếng

Anh: Acquired Immuno Deficiency Syndrom Trước đây, bệnh này được gọi là SIDA (viết tắt từtiếng Pháp: Syndrome d'Immuno Deficience Acquise), nhưng do tên này trùng với tên của Tổchức phát triển quốc tế Thụy Điển SIDA và tên của Tổ chức CIDA (Canađa) cũng gọi là "Si đa"nên thống nhất gọi là AIDS để tránh nhầm lẫn và phù hợp với tên quốc tế

Trang 34

Kỳ thị : Xuất phát điểm cho định nghĩa khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử là nghiên cứu của

Erving Goffman (1963) về sự kỳ thị liên quan đến bệnh tâm thần, sự dị dạng của cơ thể và những

gì được xem là các hình vi lệch chuẩn

Nguyên nhân của sự kỳ thị là do thiếu hiểu biết, hoặc hiểu biết không đầy đủ, hoặc do hạn chế từphương pháp truyền thông Việc kỳ thị này làm người nhiễm và gia đình sợ bị tiết lộ thông tin vềtình trạng nhiễm HIV; người có nguy cơ nhiễm HIV không dám xét nghiệm; người nhiễm khôngdám áp dụng các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm cho người khác vì sợ bị phát hiện (ví dụtrường hợp người chồng bất chợt thay đổi hành vi như dùng bao cao su trong sinh hoạt vợ chồng

xử một cách tồi tệ và bất công, khiến cho việc chống lại sự kỳ thị và phân biệt đối xử thậm chícòn khó hơn nữa Tự kỳ thị được biểu hiện theo nhiều cách, bao gồm cả tự thù ghét bản thân, tự

cô lập và sự xấu hổ 3

Truyền thông thay đổi hành vi:

Truyền thông thay đổi hành vi trong phòng chống HIV/AIDS là chiến lược truyền thông nhằmnâng cao nhận thức, tạo thái độ tích cực và thúc đẩy nhóm đối tượng mục tiêu thực hiện nhữnghành động thiết thực nhằm phòng chống HIV/AIDS một cách hiệu quả

Lây nhiễm HIV/AIDS

HIV lây truyền qua 3 đường: Qua đường tình dục.; Qua đường máu; Qua đường mẹ truyền sangcon trong thời kỳ mang thai, trong khi sinh và cho con bú

3 UNDP Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Việt Nam Hà Nội 2004, trang 10

Trang 35

PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Chương này, báo cáo trình bày tổng quan vế những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh AnGiang với tư cách là điều kiện sống và làm việc của người lao động thủy sản ở địa phương này.Trong quá trình phân tích thông tin, những yếu tố này sẽ được tính tới để chỉ ra những đặc thùcủa tình hình nhiễm HIV tại An Giang

1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tư nhiên

An Giang là tỉnh phía Tây Nam của Tổ quốc, trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL),nằm giữa sông Tiền và sông Hậu và dọc theo hữu ngạn sông Hậu, thuộc hệ thống sông Mê Kông.Tọa độ địa lý từ 100 10’ đến 110 37’ vĩ độ Bắc và 1040 47’ đến 1050 35’ kinh độ Đông Phía Đông

và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Namgiáp thành phố Cần Thơ, phía Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài trên

95 km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.536 km2, bằng 1,05% diện tích toàn quốc và bằng 8,71%diện tích toàn vùng ĐBSCL

Tổng số dân trên 2,210 triệu người, trong đó, nữ chiếm 50,99% và nam chiếm 49,01%; tỷ lệ dânthành thị là 28,25% và nông thôn là 81,75%

Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, và 9huyện là Châu Thành, Thoại Sơn, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu

và An Phú với 154 đơn vị xã, phường, thị trấn

An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từtháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng27OC; lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm, có năm lên tới 1.700 - 1.800 mm; độ ẩm

Trang 36

trung bình 80% - 85% và có sự dao động theo chế độ mưa theo mùa Khí hậu cơ bản thuận lợicho phát triển nông nghiệp.

Nguồn nước mặt và nước ngầm rất dồi dào Sông Tiền và sông Hậu chảy song song từ Tây Bắcxuống Đông Nam trong địa phận của tỉnh dài gần 100 km, lưu lượng trung bình năm 13.800 m3/s.Bên cạnh đó có 280 tuyến sông, rạch và kênh lớn, nhỏ, mật độ 0,72 km/km2 Chế độ thủy văncủa tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mê Kông Hằng năm bị ngập lụt từ tháng 8đến tháng 11, gọi là “mùa nước nổi” - nước dâng cao lên từ 1m đến 3m, có năm trên 4,5 m, thờigian ngập lụt từ 3 - 4 tháng, vừa đem lại lợi ích to lớn - đưa lượng phù sa, vệ sinh đồngruộng tạo tiềm năng phát triển nghề cá, nhưng cũng gây ra những tác hại nghiêm trọng Trong

30 năm qua có đến 5 lần ngập cao làm thiệt hại tính mạng, mùa màng, cơ sở hạ tầng, nhà ở củadân cư làm cho suất đầu tư của tỉnh thường ở mức cao nhưng hiệu quả mang lại bị hạn chế

1.1.2 Tài nguyên đất

An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đấtphù sa trên 151.600 ha, chiếm 44,5%; nhóm đất phù sa có phèn trên 93.800 ha, chiếm 27,5%;nhóm đất phát triển tại chỗ và đất phù sa cổ gần 24.724 ha, chiếm 7,3% diện tích đất tự nhiên,còn lại là đất phèn và các nhóm khác

Hệ thống sông rạch tỉnh An Giang đã góp phần hình thành 72% diện tích là đất phù sa hoặc cónguồn gốc phù sa do bồi đắp hàng năm, phần lớn rất màu mỡ Địa hình bằng phẳng, độ thích nghiđối với các loại cây trồng khá rộng Diện tích đất nông nghiệp từ 289.316 ha, năm 1976, bìnhquân khoảng 0,212 ha/người, đến năm 2005 diện tích đất nông nghiệp trên 258.520 ha, bình quânkhoảng 0,117 ha/người, thấp hơn nhiều tỉnh trong vùng ĐBSCL

1.1.3 Tài nguyên rừng và Tài nguyên khoáng sản

An Giang có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với 154loài cây quý hiếm thuộc 54 họ Sau một thời gian từ năm 1975 đến năm 2000 diện tích rừng bịthu hẹp, những năm gần đây tỉnh đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng Năm 2000 đất rừng12.443 ha và với 30.500 ha diện tích cây phân tán, đến năm 2005 khoảng 15.755 ha và với50.000 ha cây phân tán, độ che phủ khoảng 19%

So với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, An Giang có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, với trữlượng khá: đá granít trên 7 tỷ m3; đá cát kết 400 triệu m3; sét gạch ngói 40 triệu m3; cao lanh 2,5triệu tấn; than bùn 16,4 triệu tấn; vỏ sò 30 - 40 triệu m3; ngoài ra còn có các loại puzolan;fenspat, bentonite, cát, sỏi

Trang 37

1.1.4 Tài nguyên thủy sản

Với điều kiện địa lý và sinh thái như ở An Giang, nguồn lợi thủy sản trên 2 con sông Tiền và Hậukhông nhỏ, và cùng với hệ thống kênh, rạch, ao, hồ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việcphát triển nghề nuôi cá bè, ao hầm, trên chân ruộng mà từ lâu đời nó đã trở thành nghề truyềnthống của nhân dân địa phương Trong bối cảnh kinh tế thị trường, nghề nuôi trồng thủy sản ở địaphương này này càng phát triển

1.1.5 Dân số và nguồn lao động

Dân số từ 1.360.000 người năm 1975, mật độ dân số bình quân khoảng 400 người/Km2, đến năm

2005 lên đến 2.200.000 người, (30 năm tăng gần 62%), mật độ dân số gần 646 người/Km2 Dân

số thành thị từ 16,2% năm 1975, lên 26,6% vào năm 2005 Có 4 dân tộc chủ yếu, người Kinhđông nhất chiếm khoảng 91%, người Hoa chiếm khoảng 4-5%, Khơmer chiếm 4,31% và ngườiChăm khoảng 0,61% dân số toàn tỉnh

Trình độ dân cư từng bước được nâng cao, An Giang đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổcập tiểu học từ năm 1998 Lực lượng lao động rất dồi dào, tuy nhiên chất lượng lao động thấp,tốc độ đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển Năm 2000 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt12%, năm 2005 khoảng 19%

Về cơ cấu lao động và nghề nghiệp, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm gần 78% lao độnglàm việc trong nền kinh tế Đặc điểm thường xuyên di biến động của nhóm này trở thành mộttrong những nguyên nhân lây nhiễm HIV/ AIDS tại địa phương Bên cạnh đó, định hướng chiếnlược chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản của tỉnh (2006 – 2010)cũng góp phần gia tăng số lượng những người không có nghề nghiệp ổn định do không đáp ứngđược với những nhu cầu của thị trường việc làm4

1.2 Tình hình thủy sản tại An Giang

Diện tích nuôi trồng thủy sản của An Giang là 2384 ha (không kể diện tích sản xuất giống).Trong đó, diện tích nuôi cá tra: 1379ha, nuôi tôm 742ha

Tổng số hộ làm thủy sản toàn tỉnh là 8303 hộ, trong đó có 7075 hộ ở nông thôn5

Số lồng bè đang thả nuôi là 2591 cái Sản lượng nuôi ước đạt 263.592 tấn

Lượng cá xuất khẩu hàng năm ước đạt 125 000 tấn, tương đương 335.000.000 USD

Thị trường tiêu thụ sản phẩm chế biến chủ yếu là nước ngoài

4 Cục Thống kê An Giang

5 Tổng cục thống kê, 2006

Trang 38

Trong năm 2008, các doanh nghiệp chế biến thủy sản mở rộng công suất và đầu tư thêm mới 7nhà máy với công suất hơn 120.000 tấn/ năm Đầu tư xây mới 6 nhà máy chế biến thức ăn thủysản Điều này, đồng nghĩa với việc thu hút ngày càng nhiều lao động trong lĩnh vực hoạt độngnghề nghiệp thủy sản.

Điểm đáng lưu ý trong việc phát triển bền vựng ngành thủy sản Giang Giang là công tác khuyếnngư Năm 2007 sở thủy sản tỉnh An Giang đã tổ chức 170 lớp tập huấn và dạy nghề ngắn hạn cholao động ngành thủy sản Ngoài ra, sở còn tổ chức 18 buổi hội thảo và 11 cuộc tham quan môhình trình diễn cho các nông - ngư dân trong tỉnh Trung tâm khuyến ngư cũng đã hoạt động rấttích cực và thực hiện có hiệu quả 14 mô hình nuôi trồng thủy sản tại các huyện: Chợ Mới, ThoạiSơn, Châu Phú, An Phú, Châu Thành

Không chỉ phát triển theo bề rộng ngành thủy sản trong quần chúng, sở thủy sản tỉnh An Giangcòn phối hợp với các trung tâm, các viện nghiên cứu và các trường Đại học thực hiện 6 đề tàinghiên cứu khoa học vê kỹ thuật sinh sản và cáp phòng chống bệnh cho tôm cá Bên cạnh đó,một loạt các dự án nuôi trồng thủy sản tại địa phương cũng đã được triển khai với sự tham giacủa các cán bộ thủy sản địa phương và người dân tại các xã của An Giang

Với mục tiêu phát triển thủy sản như đã trình bày, về công tác nhân sự thủy sản, thực hiệnchương trình công tác số 01/Ctr-UBND ngày 09/02/2007 của UBNN tỉnh An Giang, tỉnh đã tiếpnhận 50 kỹ thuật viên từ Trung tâm khuyến nông và xét tuyển mới kỹ thuật viên thủy sản ở các

xã trọng điểm Sở thủy sản An Giang đã đào tạo được 50 chuyên viên thực hành SQF, đội ngữcác chuyên viên này lại đã đào tạo được 70 giảng viên cấp 2 cho tỉnh, tổ chức huấn luyện được

19 lớp kỹ năng nuôi thủy sản với 509 học viên và 12 lớp kỹ năng ương với 265 người tham dự.Phát huy sự năng động sáng tạo của những hộ làm thủy sản tại địa phương, sở đang nhân rộng

mô hình liên kết nuôi cá sạch để chế biến xuất khẩu dựa trên hoạt động của 3 hội nuôi cá sách tạiđịa phương

1.3 Thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS ở An Giang

An Giang lả tỉnh có đường biên giới giáp Campuchia Thực tế đã xác nhận giả định cho rằng sở

dĩ tỉ lệ nhiễm HIV ở An Giang cao và tăng nhanh là do một số cô gái hành nghề mại dâm từCampuchia trở về Việt Nam hoạt động

Những trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại tỉnh An Giang vào tháng 5/1993 trên 4

cô gái mại dâm tại TP Long xuyên, trong đó có 3 người trở về từ Campuchia Tiếp theo các đốitượng gái mại dâm tại các huyện được xét nghiệm phát hiện HIV, hầu hết có tiền sử mua bán qualại Campuchia

Trang 39

Những thống kê y tế tại địa phương cho thấy khác với mô hình lây nhiễm của cả nước, mô hìnhlây nhiễm HIV ở An Giang hầu hết các trường hợp lây nhiễm qua đường tình dục Các mẫu máuHIV dương tính được các phòng xét nghiệm tại Nhật Bản, Đại học Hawaii xác định là thuộcchủng HIV lưu hành như tại Thái Lan, có thể nói HIV xâm nhập vào An Giang qua đường biêngiới Campuchia.

Tính đến ngày 30/6/2008 tổng số trường hợp HIV phát hiện trong tỉnh là 9.259 trường hợp, trong

đó có 4.106 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và đã có 3.318 người chết vì AIDS

Thống kê cho thấy đến tháng 5 năm 2007, toàn bộ các xã phường tại tỉnh An Giang đã có ngườinhiễm HIV/AIDS6

Nếu tính theo tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân, An Giang là một trong những tỉnh có tỷ lệ caotrong cả nước

Hình A: Tỷ lệ nhiễm HIV/ 100.000 dân qua các năm tại An Giang

TT PC HIV/AIDS & LAO AG 7/2008

Những kết quả giám sát dịch tễ cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm gái mại dâm vẫn còn ở mức

cao Cụ thể: từ 6,08% năm 2001, 14,51% năm 2002, 14,14% năm 2003, tăng lại 27,61% năm

2004, 12,19% năm 2005 Năm 2006 và 2007, tỷ lệ có giảm xuống (tương ứng 9,49%, và 13,5% ).

6 Trung tâm phòng chống HIV/ AIDS và lao, tỉnh An Giang.

Trang 40

Tỷ lệ HIV(+) ở nhóm nghiện chích ma tuý giảm từ 33,33% năm 2001 xuống còn 26,3% năm

2003, nhưng tăng lại vào năm 2004 (38,96%) Tỷ lệ này sau đó lại giảm xuống từ 2005 ( 25,50%) cho tới nay, (2006- 19,13% và năm 2007-20,60%) Tuy nhiên trong nhóm cộng đồng

bình thường tỷ lệ lây nhiễm HIV ở nhóm phụ nữ mang thai lại tăng (0,99% năm 2001; 0,5% năm

2002; 0,56% năm 2003; 0,69% năm 2004; 0,06% năm ; năm 2006 với tỷ lệ 0,13% và 0,38 năm 2007), thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự vẫn còn dưới 1% (0,75% năm 2006, 0,13 năm 2007)

Nhìn chung, từ đầu vụ dịch năm 1993 đến nay, tình hình phát hiện số người nhiễm HIV mới tại

An Giang tăng hàng năm theo 3 giai đoạn:

- Từ 1993-1996: số trường hợp nhiễm mới tăng gấp đôi hàng năm ở số hàng chục

- Từ 1997-2001: số trường hợp nhiễm mới tăng gấp đôi hàng năm ở số hàng trăm

- Từ 2002-2006: tuy số phát hiện HIV hàng năm trên một ngàn trường hợp nhưng sự chênhlệch hàng năm không đáng kể, năm 2007: 897; 6 tháng 2008:358

Tỷ lệ chung của giám sát phát hiện hàng năm có chiều hướng giảm nhưng vẫn còn ở mức caotrên 5% ( năm 2007 là 3,95%; 6 tháng năm 2008 là 2,63%)

Với sự nỗ lực của các ngành và các cấp, tỉnh đã xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng chốngHIV/AIDS giai đoạn 1993-1996; 1996-2000; 2001-2005 và đề án phòng chống HIV/AIDS từ2006-2010 7

1.4 Hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại An Giang.

Do tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS tăng cáo với đặc điểm của đại phương hiện có, tỉnh An Giang là địađiểm thu hút được nhiều sự quan tâm của các tổ chức và những dự án liên quan đến HIV/ AIDS.Trong khoảng 5 năm trở lại đây, những chương trình, dự án có quy mô lớn do các tổ chức quốc tếtài trợ đã và đang được thực hiện và đạt được những kết quả nhất định tại hầu hết các huyện trongtỉnh (Xem hình B)

Hình B Sơ đồ phân bổ nguồn lực các dự án

Ngày đăng: 12/01/2016, 23:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình B. Sơ đồ phân bổ nguồn lực các dự án - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
nh B. Sơ đồ phân bổ nguồn lực các dự án (Trang 39)
Bảng 3.  Số năm làm việc trung bình của người trả lời - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 3. Số năm làm việc trung bình của người trả lời (Trang 44)
Bảng 5. Mức độ tham gia của phụ nữ vào những lần đi làm ăn xa với chồng trong - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 5. Mức độ tham gia của phụ nữ vào những lần đi làm ăn xa với chồng trong (Trang 48)
Bảng 7 . Hiểu biết về bệnh lây qua đường tình dục theo nhóm tuổi - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 7 Hiểu biết về bệnh lây qua đường tình dục theo nhóm tuổi (Trang 59)
Bảng 8. Tỷ lệ người hiểu biết về các BLTQĐTD tính theo giới tính, tình trạng đi làm - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 8. Tỷ lệ người hiểu biết về các BLTQĐTD tính theo giới tính, tình trạng đi làm (Trang 61)
Bảng 9. Những người từng  mắc bệnh LTQĐTD tính theo giới tính - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 9. Những người từng mắc bệnh LTQĐTD tính theo giới tính (Trang 64)
Hình 5. Tương quan nghề nghiệp và nhận định  “Một người - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Hình 5. Tương quan nghề nghiệp và nhận định “Một người (Trang 73)
Bảng 16. Nhận định của người trả lời về biểu hiện của bệnh AIDS - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 16. Nhận định của người trả lời về biểu hiện của bệnh AIDS (Trang 74)
Bảng 22. Lý do không đi xét nghiệm HIV tính theo giới tính và tình trạng đi xa của - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 22. Lý do không đi xét nghiệm HIV tính theo giới tính và tình trạng đi xa của (Trang 81)
Bảng 24. Thái độ của phụ huynh đối với học sinh bị HIV - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 24. Thái độ của phụ huynh đối với học sinh bị HIV (Trang 87)
Bảng 34. Việc sử dụng bao cao su trong lần QHTD gần nhất - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 34. Việc sử dụng bao cao su trong lần QHTD gần nhất (Trang 100)
Bảng 42. Hình thức giải trí của NTL tính theo nghề nghiệp chính và mức độ di động - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 42. Hình thức giải trí của NTL tính theo nghề nghiệp chính và mức độ di động (Trang 111)
Hình 7. Nơi nghỉ lại khi đi xa của NTL Với đặc điểm nghề thủy sản ở An Giang, - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Hình 7. Nơi nghỉ lại khi đi xa của NTL Với đặc điểm nghề thủy sản ở An Giang, (Trang 119)
Bảng 46. Mức độ sử dụng rượu bia của NTL - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Bảng 46. Mức độ sử dụng rượu bia của NTL (Trang 121)
Hình 10.  Mong muốn nhận được thêm các thông tin về HIV/ AIDS - ĐÁNH GIÁ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦYLÂY NHIỄM HIV/AIDS TRONG NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG SẢN TỈNH AN GIANG
Hình 10. Mong muốn nhận được thêm các thông tin về HIV/ AIDS (Trang 132)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w