Môn Hoá học ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường THCS. Môn học này cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản và thói quen làm việc khoa học, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho học sinh học lên các lớp trên. Cũng như các môn khoa học khác, Hoá học cũng đang từng bước đổi mới: Đổi mới hoạt động dạy của giáo viên, đổi mới hoạt động học tập của học sinh, đổi mới các hình thức tổ chức và phương tiện hoạt động. Kết hợp một cách tổng hợp và linh hoạt các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn Hoá học với cách thiết kế tổ chức hoạt động dạy học, phương pháp giải một số dạng bài tập cơ bản lớp 9 làm cơ sở và tiền đề cho các năm học tiếp theo. Hiện nay việc giải một số bài tập cơ bản trong chương trình Hoá học 9 ở trường THCS Tứ Trưng còn gặp khó khăn. Nhiều học sinh không tự giải được các bài tập, một số học sinh chỉ biết làm bài tập một cách máy móc mà không hiểu được bản chất. Với những lí do nêu trên và tình hình thực tế của việc dạy và học Hoá học ở trường THCS chúng tôi mạnh dạn đề cập đến chuyên đề: Phương pháp giải một số dạng bài tập cơ bản trong chương trình Hoá học lớp 9.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP CƠ BẢN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC LỚP 9
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Cơ sở lí luận:
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, chất lượng Giáo dục - Đàotạo là vấn đề mà toàn xã hội quan tâm Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng Giáo dục -Đào tạo là vấn đề lớn đặt ra đối với toàn xã hội, nhưng chịu trách nhiệm trực tiếp nhấtchính là những người làm công tác trong ngành giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học,cấp học, trong đó có bậc THCS Trong bối cảnh toàn ngành đang nỗ lực đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh tronghoạt động học tập Trong điều kiện hiện nay khi khoa học kĩ thuật của nhân loại phát triểnnhư vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng
to lớn: đào tạo những con người "lao động, tự chủ, sáng tạo" có năng lực thích ứng vớinền kinh tế thị trường, năng lực giải quyết được những vấn đề thường gặp, biết cách vândụng kiến thức vào cuộc sống
Ở cấp THCS, Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên mà học sinh được tiếp cận muộnhơn so với các môn học khác, nhưng nó lại có vai trò quan trọng trong nhà trường phổthông Môn Hoá học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản và thiết thực vềhoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khả năng trực quan nhanh nhạy Vì vậygiáo viên bộ môn Hoá học cần hình thành cho các em phương pháp giải một số dạng bàitập cơ bản, từ đó tạo cho học sinh thói quen học tập và làm việc khoa học, làm nền tảng đểcác em phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động, hình thành cho các emnhững phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác
Học hoá học không những học sinh học lí thuyết mà còn đòi hỏi học sinh vận dụng líthuyết đã được học vào giải quyết các bài tập lí thuyết thực tiễn và thực hành thí nghiệm
1.2 Cơ sở thực tiễn
Môn Hoá học ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đàotạo của nhà trường THCS Môn học này cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thứcphổ thông cơ bản và thói quen làm việc khoa học, phát triển năng lực nhận thức, năng lực
Trang 2hành động, chuẩn bị cho học sinh học lên các lớp trên Cũng như các môn khoa học khác,Hoá học cũng đang từng bước đổi mới: Đổi mới hoạt động dạy của giáo viên, đổi mớihoạt động học tập của học sinh, đổi mới các hình thức tổ chức và phương tiện hoạt động.Kết hợp một cách tổng hợp và linh hoạt các phương pháp dạy học đặc thù của bộ mônHoá học với cách thiết kế tổ chức hoạt động dạy học, phương pháp giải một số dạng bàitập cơ bản lớp 9 làm cơ sở và tiền đề cho các năm học tiếp theo Hiện nay việc giải một sốbài tập cơ bản trong chương trình Hoá học 9 ở trường THCS Tứ Trưng còn gặp khó khăn.Nhiều học sinh không tự giải được các bài tập, một số học sinh chỉ biết làm bài tập mộtcách máy móc mà không hiểu được bản chất Với những lí do nêu trên và tình hình thực tếcủa việc dạy và học Hoá học ở trường THCS chúng tôi mạnh dạn đề cập đến chuyên đề:
"
Phương pháp giải một số dạng bài tập cơ bản trong chương trình Hoá học lớp 9".
1.3 Mục đích nghiên cứu:
Nội dung chuyên đề này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học ở trường THCS, đề cập
cơ bản trong trương chình Hoá học lớp 9" trao đổi học tập những kinh nghiệm giảng dạy
đặc biệt với bộ môn Hoá 9 để thống nhất biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học, hìnhthành cho học sinh kĩ năng giải bài tập Hoá học 9 để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy
1.5 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9 trường THCS Tứ Trưng
1.6 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu liên quan đến môn Hoá học
Trang 3- Phương pháp thực nghiệm, khảo sát, kiển tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Phương pháp phân tích lí thuyết, điều tra cơ bản, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp đối chiếu, so sánh kết quả học tập của học sinh trước và sau khi thựchiện đề tài
- Tham khảo, học hỏi kinh nghiệm một số đồng nghiệp
1.7 Giới hạn không gian:
Trường THCS Tứ Trưng - huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc
1.8 Phạm vi, kế hoạch nghiên cứu:
- Phạm vi: Môn Hoá học 9
- Kế hoạch: Từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 5 năm 2013
Trang 4
Phần II: NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu:
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu: "Cùng với khoa học và
Công nghệ, Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" Như vậy, Giáo dục - Đào tạo nói chung và bồi dưỡng
nhân tài nói riêng là vấn đề cấp bách, bởi hơn hết đất nước ta đang cần có những conngười tài năng, nhiệt huyết để đón đầu tiếp thu những thành tựu khoa học mới, nhữngcông nghệ hiện đại, những phát minh, sáng chế mới có giá trị cao để đáp ứng những yêucầu của đất nước nhất là trong thời kì hiện nay Do đó, việc phát triển quy mô giáo dục -đào tạo phải trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục để đáp ứng ngày càng tốthơn yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập quốc tế
Hoá học là môn khoa học thực nghiệm có khả năng cung cấp cho học sinh một lượngkiến thức phong phú về các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống và vũ trụ, là cơ sở củanhiều ngành công nghiệp quan trọng, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ qua lại với các mônhọc khác Việc tổ chức dạy học Hoá học 9 cần cho học sinh biết phương pháp giải một sốbài tập cơ bản là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Muốn học sinh hứng thú, yêuthích môn học giáo viên cần có phương pháp giảng dạy thích hợp, rèn cho học sinh có kĩnăng, phương pháp giải một số bài tập cơ bản một cách độc lập sáng tạo, phát huy thêmkhả năng tự học, tự nhận thức của học sinh
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
2.1 Thực trạng, nguyên nhân
Trường THCS Tứ Trưng có bề dày truyền thống trong công tác giảng dạy, ban giámhiệu luôn quan tâm giúp đỡ tới đội ngũ giáo viên và học sinh, đa số học sinh có ý thức họctập tốt Phát huy những thuận lợi và những kết quả đạt được trong những năm học trước,cùng với sự tích cực nghiên cứu hoàn thiện chuyên đề này, cũng như nhận được sự giúp
đỡ, tạo điều kiện từ nhiều phía, chúng tôi đã và đang áp dụng chuyên đề này tại trường.Qua thực tế giảng dạy cho thấy: môn Hoá học trong trường phổ thông là môn học màhọc sinh thấy khó khăn ngại học, ảnh hưởng đến kết quả học tập Đa số học sinh không tựgiải quyết được các bài tập tính toán trong sách giáo khoa, mặc dù trong giảng dạy đã chú
ý đến việc hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho từng phần kiến thức có liên quan đến các dạngbài tập, có những bài tập đã hướng dẫn chi tiết nhưng khi gặp lại học sinh vẫn còn bỡ ngỡ
Trang 5không làm được Cụ thể: Khi đọc một bài tập hoá học đa số các em chưa xác định được đềbài đã cho những đại lượng gì, có liên quan đến công thức nào cần sử dụng đại lượng đềbài yêu cầu Các em chưa xác định được hướng giải phù hợp Mặt khác, học sinh chưanắm vững được công thức cơ bản và kĩ năng lập PTHH nên ảnh hưởng đến khả năng giảibài tập hoá học vì thế chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu nghuyên nhân để tìm bịên pháp khắcphục Chúng tôi nhận thấy có một sơ nguyên nhân dẫn đên tình trạng trên:
- Một số gia đình học sinh kinh tế còn khó khăn, mức độ nhận thức của phụ huynhhọc sinh còn hạn chế, không có điều kiện quan tâm đến việc học tập của con em mình
- Nhiều học sinh còn ham chơi nên thời gian dành cho học tập không nhiều
Việc học tập của học sinh chủ yếu ở giờ chính khoá nên thời gian ôn tập, củng cốcũng như hướng dẫn các dạng bài tập cho học sinh ít
- Việc áp dụng lí thuyết vào giải bải tập hoá học của học sinh chưa linh hoạt sáng tạo
- Khi tiếp cận với môn học, học sinh gặp phải những khái niệm khá trừu tượng:nguyên tử, phân tử, PƯHH, PTHH vì thế phần lớn học sinh ngại học, ít say sưa tìm tòikhám phá Qua tìm hiểu có tới 60% học sinh THCS ngại học môn Hoá học
2 Kết quả của thực trạng trên
Vì những nguyên nhân trên dẫn đến chất lượng học tập của học sinh về môn Hoá cònthấp Cụ thể kết quả học tập cảu học sinh đầu năm học 2012 - 2013 như sau:
Bảng 1: bảng thống kê điểm kiểm tra đầu vào
học sin h
Điểm/số học sinh đạt điểm Tổng
số điểm
Điểm trung bình
Trang 63 Các giải pháp thực hiện:
3.1 Đối với giáo viên
Thực hiện giảng dạy theo phương pháp mới, sử dụng tối đa đồ dùng học tập để họcsinh nắm vững lí thuyết, trong quá trình giảng dạy, cần quan tâm đến từng đối tượng họcsinh, động viên khuyến khích kịp thời giúp các em học tập tốt
Giáo viên cần trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản về hoá học, với học sinhtrung bình, yếu, kém giáo viên cần ghi tóm tắt, hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ, như vậy
sẽ kích thích được hứng thú học tập của đại đa số các đối tượng học sinh Các em sẽ ítngại học môn Hoá học
Giáo viên chọn các bài tập từ dễ đến khó sẽ tạo được sự tích cực tính độc lập, tínhsáng tạo cho học sinh, sử dụng triệt để hệ thống bài tập trong việc củng cố kiến thức cơbản, trong đó người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh, tạo ragiờ học hứng thú, thoải mái
Với mỗi dạng bài tập, giáo viên cần giúp học sinh phân tích tìm hiểu kĩ đề bài, táihiện được kiến thức cần áp dụng qua đó định hướng được phương pháp giải các dạng bàitập hoá
Để rèn học sinh có phương pháp giải các dạng bài tập hoá học bản thân giáo viênphải không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến bộ môn học, thườngxuyên dự giờ, trau dồi học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong công tác giảng dạy đểđưa ra giải pháp tốt nhất trong việc nâng cao chất lượng môn Hoá học
Thông qua bài tập Hoá học giúp học sinh hình thành, rèn luyện, củng cố kiến thức kĩnăng về Hoá học, qua đó yêu cầu học sinh thực hiện các thao tác tư duy như tái hiện kiếnthứccũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng, học sinh phải phân tích,tổng hợp, phán đoán suy luận để tìm ra lời giải
Giáo viên phải lấy bài tập hoá học là phương tiện hiệu nghiệm trong dạy học hoá học,
là nguồn để hình thành kiến thức mới, kĩ năng mới, để phát hiện trình độ, những khó khănsai lầm của học sinh , từ đó có biện pháp khắc phục những sai lầm đó
3.2 Đối với học sinh:
Học sinh chủ động nắm bắt kiến thức, có điều kiện để tư duy, phát huy được óc sángtạo Học sinh được trao đổi, tiếp nhận kiến thức một cách thoải mái trên lập trường khoahọc
Trang 7Chú ý cách học tập từ khâu nghe giảng, ghi chép bài đến khâu giải bài tập.
Giáo viên cần giành nhiều thời gian để hướng dẫn kỹ cho học sinh cách giải các bàitập mẫu nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
Giáo viên cần yêu cầu cao với học sinh, yêu cầu học sinh phải thực sự nghiêm túctrong quá trình học tập như: trên lớp chú ý nghe giảng, học bài và làm bài đầy đủ thườngxuyên để nắm vững những khái niệm hoá học cơ bản, là cơ sở cho các bài tập tính toáncủa hoá học
Vốn kiến thức Hoá học cơ bản là cơ sở, là nền tảng để rèn kỹ năng, mỗi học sinhphải nắm chắc kiến thức hoá học cơ bản để linh hoạt áp dụng kiến thức trong giải bài tậphoá học Ngược lại việc giải bài tập hóa học học sinh sẽ được củng cố, khắc sâu, mở rộng,khái quát hoá
4.Phương pháp giải một số dạng bài tập cơ bản Hoá học lớp 9:
Để việc rèn kĩ năng giải bài tập hóa học mang lại kết quả cao, giáo viên phải chohọc sinh thấy được mặc dù mỗi bài tập hóa học có nhiều cách giải khác nhau nhưng đềuđược thực hiện theo qui trình đủ 4 bước như sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề bài: Xác định đại lượng đã cho và đại lượng cần cần tìm, hiểu
ý nghĩa của từng đại lượng mở rộng Cần tóm tắt đề bài bằng kí hiệu hóa học, chuyển đổiđơn vị nếu cần thiết
Bước 2: Xác định hướng giải bài tập: Tái hiện lại các khái niệm, các qui tắc, côngthức, có liên quan.Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa điệu kiện đề bài cho với yêu cầu bài tập
Bước 3: Trình bày lời giải: Thực hiện các bước đã vạch ra
Bước 4: Kiểm tra kết quả: Xem lại đã trả lời đúng yêu cầu của bài chưa? Tính toán
tách), sản phẩm tạo thành có thể tách dễ dàng khỏi hỗn hợp, sản phẩm đó dễ tái tạo lạiđược chất ban đầu
b.Phương pháp tái tạo:
* Bước 1: Chọn chất X chỉ tác dụng với A( mà không tác dụng với B) để chuyển Athành AX ở dạng kết tủa, bay hơi hoặc hòa tan; tách khỏi B( bằng cách lọc hoặc tự tách)
* Bước 2: Điều chế lại chất A từ AX
+ Sơ đồ tổng quát:
Trang 8
B XY
A,B + X AX , , tan + Y A
PƯ tách PƯ tái tạo
Sơ đồ trên cho thấy: khi có hỗn hợp A,B Muốn tách A, ta cho hỗn hợp trên phản ứng vớichất X, đảm bảo chỉ có chất X phản ứng với A tạo ra AX, từ AX ta lại tái tạo được A
Ví dụ 1: Có hỗn hợp bột kim loại Fe và Cu Trình bày PP tách riêng từng kim loại và cácphản ứng đã dùng
Lập sơ đồ tách:
Cu Fe
Fe,Cu + H
2SO4 FeSO4 ZnSO4
lọc lấy Cu không tan
H2SO4 + Fe → FeSO4 + H2↑
Zn + FeSO4 → ZnSO4 + FeĐây là loại bài tập đòi hỏi sự chuẩn xác cao (thu được sản phẩm khá tinh khiết vàkhông bị mất mát nhiều) Với đối tượng học sinh khá, giỏi thì nên làm chính xác, triệt đểhơn Nếu thực hiện như trên thì Fe thu được sẽ lẫn Zn mà không được xử lý hay có nhữngphản ứng phụ do dung dư lượng hoá chất đã không được xét đến, có thể dễ làm sai lạc kếtquả
CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O
CaCO3 to CaO + CO2
b Phương pháp loại bỏ: Phương pháp này dùng để tách 1 chất ra khỏi hỗn hợp khi chất
cần tách khó hoặc không tham gia phản ứng hóa học:
* Sơ đồ tổng quát:
Có hỗn hợp A,B Ta muốn tách A:
+ X AA,B XB
Trang 9Sơ đồ trên ta thấy: khi có hỗn hợp A,B Muốn tách A, ta cho hỗn hợp trên phản ứng vớichất X, đảm bảo chỉ có X phản ứng với B tạo ra XB, còn lại thu được A
đặc Thu khí thoát ra khỏi bình là N2 tinh khiết
H2 + CuO to H2O + Cu
CO2 + Ca(OH)2 to CaCO3 + H2O
Ví dụ 2: Có hỗn hợp A gồm các chất: FeO, CuO, Cu, Fe, Ag Hãy trình bày phương pháp
thu hồi Ag tinh khiết từ hỗn hợp trên
Hướng dẫn:
Oxi hóa hoàn toàn hỗn hợp A, lúc đó xảy ra phản ứng:
3Fe + 2O2 to Fe3O4 2Cu + O2 to 2CuO4FeO + O2 to 2Fe2O3
lấy chất rắn không tan là Ag:
Fe3O4 + 8HCl 2FeCl3 + FeCl2 + 4 H2O
Fe2O3 + 6HCl 2FeCl3 + 3H2OCuO + 2HCl CuCl2 + H2O
c Một số bài tập:
2, Trình bày phương pháp điều chế: CaSO4, FeCl3, H2SiO3 từ hỗn hợp: CaCO3, Fe2O3,SiO2
A
Trang 10Fe (FeO hoặc
Fe 2 O 3 )
Fe dd HCl Fe Cl 2 NaOH Fe(OH) 2 t ck) FeO CO Fe Lọc, nhiệt
luyện Cu(CuO) Cu H 2 SO 4(đn) CuSO 4 NaOH Cu(OH) 2 t
Phi kim + o xi Nhiệt phân axit(axit mất nước)
Kim loại + oxi OXIT Nhiệt phân muối
O xi + hợp chất Nhiệt phân ba zơ không tan
Kim loại mạnh + oxit kim loại yếu
Trang 11Ví dụ:
2K +H2O 2KOH + H2 ; Ca(OH)2 + K2CO3 CaCO3 + 2 KOH
Na2O + H2O 2 NaOH ; 2KCl + 2 H2O đpnc 2KOH +H2 + Cl2
4 Điều chế hiđroxit lưỡng tính:
Axit+ Oxit bazơ
Axit + dd muốiKiềm + dd muối
Dd muối + dd muối
Ví dụ 1 Từ vôi sống CaO làm thế nào điều chế được CaCl2, Ca(NO3)2
Viết các PTPU xảy ra?
Thực chất đây là kiểu bài tập thực hiện quá trình biến hoá nhưng chỉ cho biết chấtđầu và chất cuối Học sinh phải suy nghĩ và lựa chọn con đường đúng nhất và ngắn nhất
để thực hiện (Vì chất điều chế được phải tinh khiết và về nguyên tắc nếu đi bằng conđường dài hơn nhưng không sai thì vẫn giải quyết được yêu cầu của đề bài nhưng sẽ mấtnhiều thời gian để viết các phương trình đã dùng đến một cách không cần thiết)
Tất nhiên sẽ không thực hiện theo sơ đồ:
CaO → Ca(OH)2 → CaCl2
d Một số bài tập tự luyện:
Trang 121.Viết PTPƯ điều chế trực tiếp FeCl2 từ Fe, FeSO4, FeCl3…
2 Viết 5 PTPƯ dạng:
BaCl2 + ? → NaCl + ?
điều chế các chất: SO2, CuCl2, Fe3O4, Pb?
4.3 Dạng bài tập về lượng chất dư
a Đặc điểm: Khi trường hợp bài toán cho biết lượng của hai chất tham gia và yêu
cầu tính lượng chất tạo thành Trong số hai chất tham gia phản ứng sẽ có một chất tham gia phản ứng hết Chất kia có thể phản ứng hết hoặc dư Lượng chất tạo thành tính theo lượng chất nào phản ứng hết, do đó phải tìm xem trong hai chất cho biết chất nào phản ứng hết
b Phương pháp:
Bước 1:Tìm số mol các chất đã cho theo đề bài
Bước2: Viết phương trình hoá học
A + B → C + DBước 3: Lập tỉ số: Số mol chất A ( theo đề)
HÖ số mol chất A ( theo PTHH)
Số mol chất B ( theo đề)
HÖ số mol chất B ( theo PTHH)
So sánh hai tỉ số, tỉ số nào lớn hơn chất đó dư, chất kia phản ứng hết
Bước 4: Khi đó muốn tính lượng các chất khác thì chúng ta tính theo số mol củachất phản ứng hết
*HS chưa xác định được tỉ lệ số mol giữa các chất thực tế đã phản ứng, không biếtxác định chất dư, mà thường lấy luôn một dữ kiện của đề bài để tính các lượng chất Nếuchất nào còn lại HS để thừa dữ kiện của bài toán nên dẫn đến kết quả sai
c.Ví dụ:
24,5% tác dụng với 60 gam nhôm oxit Sau phản ứng chất nào còn dư? Khối lượng chất
dư bằng bao nhiêu?
+Tìm số mol các chất đã cho theo đề
60
0, 59102
Al O
2 4 24,5.200
49100
H SO
m g