1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lợi tức và rủi ro trong đầu tư chứng khoán

60 638 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 522,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2.2 Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán2.2.2.1 Rủi ro hệ thống Những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất

Trang 1

DANH SÁCH NHÓM 2

Mục lục

3 Lời nói đầu

4

Chương 2: LỢI TỨC VÀ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 2.1 MỨC SINH LỜI

4

2.1.1 Mức sinh lời tính bằng giá trị tuyệt đối

4 2.1.2 Tỷ lệ lợi tức năm

5

2.1.3 Mức sinh lời trong một khoảng thời gian .

7

2.1.3.1 Tổng mức sinh lời nhiều năm

7

2.1.3.2 Tổng mức sinh lời lũy kế theo từng năm .7

2.1.4 Mức sinh lời bình quân số học

8

2.1.5 Tỷ lệ sinh lời nội bộ (IRR)

8

Trang 2

2.2 RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

9

2.2.1 Khái niệm

9 2.2.2 Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán

9 2.2.2.1 Rủi ro hệ thống

9 2.2.2.2 Rủi ro không hệ thống

2.2.3 Xác định mức bù rủi ro

2.2.3.1 Rủi ro chứng khoán bằng rủi ro thị trưòng

2.2.3.2 Rủi ro chứng khoán khác rủi ro thị trưòng

2.3 ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ MỨC SINH LỜI KỲ VỌNG

2.3.1 Đánh giá rủi ro đầu tư cổ phiếu

2.3.2 Phân tích độ nhạy

2.3.3 Phương sai và độ lệch chuẩn

2.3.4 Hệ số bê ta (β)

2.3.5 Thước đo rủi ro

Tài liệu tham khảo:

Chương 2 LỢI TỨC VÀ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Trang 3

Đầu tư chứng khoán là chỉ việc bỏ vốn tiền tệ ra mua các

chứng khoán để kiếm lời.Việc kiếm lời trong đầu tư chứng

khoán có thể là từ thu nhập cổ tức, trái tức nhưng cũng có

thể là từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khoán đem

lại.Mục tiêu của đầu tư chứng khoán là nhằm kiếm lời từ

nguồn thu nhập nói trên, nhưng an toàn về vốn trong đầu tư

chứng khoán là vấn đề quan trọng

Mục tiêu đầu tư chứng khoán có đạt được như ý muốn

trong chính sách đầu tư hay không hoàn toàn phụ thuộc vào

rủi ro trong các đầu tư Đối với các chủ đầu tư, rủi ro là nhân

tố khách quan vượt ra ngoài tầm quản lý và khống chế của

họ.Tác động của rủi ro đến mục tiêu đầu tư hoàn toàn phụ

thuộc vào môi trường đầu tư Do đó, đầu tư chứng khoán

phải là hành động có cân nhắc, có phân tích khoa học đến

môi trường đầu tư, đến rủi ro có thể xảy ra trong thời gian

đầu tư

2.1 MỨC SINH LỜI

2.1.1 Mức sinh lời tính bằng giá trị tuyệt đối

Giả sử, công ty Z có vài triệu cổ phiếu đang lưu hành và

bạn đang là cổ đông Số cổ phiếu bạn mua là vào đầu năm,

bây giờ là cuối năm và bạn muốn tính mức sinh lời của

chứng khoán đầu tư.Đối với các khoản đầu tư chứng khoán

mức sinh lời nhà đầu tư nhận được từ hai nguồn:

Trang 4

Cổ tức hoặc trái tức được trả hằng năm do nắm giữ cổ

phiếu hay trái phiếu.Do đó là cổ đông của công ty Z nên khi

công ty làm ăn có lãi, bạn sẽ được chia một phần lợi nhuận

gọi là cổ tức

Khi nhà đầu tư bán chứng khoán, mức chênh lệch giữa

giá bán và giá mua gọi là lợi hay lỗ vốn.[3, trang 35]

Ví dụ: Nếu bạn mua 100 cổ phiếu vào đầu năm với giá

37.000 đồng một cổ phiếu thì tổng giá trị khoản đầu tư của

Trang 5

Tổng số tiền nhận được = khoản đầu tư ban đầu + Tổng mức

sinh lời

= 3.700.000 + 485.000

= 4.185.000 đồng

Kiểm tra lại, bạn sẽ thấy nó đúng bằng số tiền nhận được

khi bán cổ phiếu với cổ tức:

(40.000 x 100) + 185.000 = 4.185.000 đồng

2.1.2 Tỷ lệ lợi tức năm

Chúng ta có thể xác định mức sinh lời theo tỷ lệ phần

trăm vì nó tiện lợi hơn nhiều so với cách tính bằng số tuyệt

đối, bởi vì số phần trăm có thể áp dụng bất kỳ số tiền đầu tư

nào.Câu hỏi mà chúng ta muốn trả lời là ta sẽ thu được bao

nhiêu trên mỗi đồng đầu tư?[3, trang 37]

Gọi P0 là giá cổ phiếu đầu năm, P1 là giá cổ phiếu cuối

năm D1 là cổ tức trả trong năm Mức sinh lời tính theo phần

P

D P P

Trang 6

000 37 000

Tổng hợp cả 2 kết quả ta sẽ có tổng mức sinh lời khi đầu

tư vào cổ phiếu của công ty Z trong 1 năm

R = 5% + 8,1% = 13,1%

Ví dụ khác: Giả sử, một nhà đầu tư mua 1 cổ phiếu vào

thời điểm đầu năm với giá 60.000 VNĐ Trong năm, công ty

đã trả cổ tức cho mỗi cổ phiếu 3.000 VNĐ thì tỷ lệ cổ tức

của cổ phiếu này bằng bao nhiêu? mức lãi vốn bằng bao

nhiêu? và tổng mức sinh lời trong năm bằng bao nhiêu?

Ta có:

R = 603..000000+30.00060.−00060.000

= 0.05 + 0.5 = 0.55

= 5% + 50% = 55%

Như vậy tỷ lệ cổ tức, mức lãi vốn và tổng mức sinh lời

tương ứng nếu tính theo phần trăm sẽ là 5%, 50% và 55%

2.1.3 Mức sinh lời trong một khoảng thời gian

Trang 7

2.1.3.1 Tổng mức sinh lời nhiều năm

Giả sử, toàn bộ cổ tức lại được tái đầu tư và cũng thu

được một mức sinh lời của khoản vốn gốc, ta gọi khoảng

thời gian đầu tư là t năm thì tổng mức sinh lời là:[3, trang

38]

Rt năm = (1 + R1) x (1 + R2) x …x (1+Rt) – 1

Ví dụ: Nếu mức sinh lời là 11% ; -5% và 9% trong

khoảng thời gian 3 năm là:

R3 năm = (1+R1) x (1+R2) x (1+R3) – 1

= (1+0,11) x (1-0,05) x (1+0,09) -1 = 15%

Tổng mức sinh lời 15% là bao gồm cả mức sinh lời

từ việc tái đầu tư cổ tức của năm thứ nhất và tái đầu tư của

năm thứ 2 trong năm cuối

2.1.3.2 Mức sinh lời lũy kế theo từng năm

t R R

1 ) 09 , 0 1 (

) 05 , 0 1 ( ) 11 , 0 1 (

3

=

− +

×

×

× +

=

Ví dụ: $1 đầu tư vào cuối năm 1925 và đến 1981

nhận được $133,6; nếu cổ tức được tái đầu tư thì R trong 56

năm sẽ là:

Trang 8

2.1.4 Mức sinh lời bình quân số học

Để diễn tả mức sinh lời bình quân đơn giản hàng năm, ta

có công thức sau:

t

R R

R1 + 2 + + t

Trong đó

R: Mức sinh lời bình quân năm

R1, R2, R3: Mức sinh lời từng năm trong khoảng thời

2.1.5 Tỷ lệ sinh lời nội bộ (IRR)

Tại mức lãi suất này làm cân bằng giữa tổng chi cho đầu

tư và các khoản thu nhập trong tương lai.[3, trang 40]

Trang 9

Ví dụ: vốn đầu tư năm đầu (Năm 0) là 1 tỷ VNĐ, toàn

bộ các dòng (tiền thu hồi về trong vòng 4 năm sau đó và

được thể hiện bằng bảng sau:

=

1

11 , 0

1

5 ,

8 , 0

IRR IRR + + +

Vậy IRR = 4,17%

2.2 RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

2.2.1 Khái niệm

Chúng ta biết rằng sự dao động của thu nhập, dao động

của giá chứng khoán hay cổ tức (trái tức) là những yếu tố

gây ra rủi ro

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được định nghĩa là sự

dao động của lợi nhuận, tức là khả năng sinh lời thực tế nhận

được ít hơn dự tính ban đầu của nhà đầu tư Độ dao động của

lợi suất đầu tư càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại

Trong đầu tư thì có một số rủi ro nằm ngoài sự kiểm soát

của công ty phát hành và ảnh hưởng đến một số lượng lớn

chứng khoán Một số rủi ro phát sinh từ nội tại của công ty

và công ty có thế kiểm soát ở mức tương đối [2, trang 240]

Trang 10

2.2.2 Các loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán

2.2.2.1 Rủi ro hệ thống

Những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty,

không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị

trường và tất cả mọi loại chứng khoán được gọi là rủi ro hệ

thống.Rủi ro hệ thống không thể giảm thiểu được bằng đa

dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán và thông thường có

các rủi ro chủ yếu sau:

a) Rủi ro thị trường

Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một

khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn

không thay đổi Nguyên nhân của nó có thế rất khác nhau

nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các nhà

đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các

cổ phiếu nói riêng.Những thay đổi trong mức sinh lời đối với

phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự hy vọng

của các nhà đầu tư vào nó thay đổi và gọi là rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng

của các nhà đầu tư đối với những sự kiện hữu hình hay vô

hình.Sự chờ đợi đối với chiều hướng sụt giảm lợi nhuận của

các công ty nói chung có thể là nguyên nhân làm cho phần

lớn các loại cổ phiếu thường bị giảm giá Các nhà đầu tư

thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực, hữu hình

như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội

Trang 11

Các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu

tố tâm lý của thị trường Rủi ro thị trường thường xuất phát

từ những sự kiện hữu hình, nhưng do tâm lý không vững

vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có phản ứng vượt quá

các sự kiện đó Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là

nguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố

gắng rút vốn Những phản ứng dây chuyền làm tăng vượt số

lượng bán, giá cả chứng khoán sẽ rơi xuống thấp so với giá

trị cơ sở

Chúng ta đã nói nhiều về tác động tiêu cực, tuy

nhiên vẫn có thể có hiện tượng mua vào rất nhiều khi có

những sự kiện bất thường xảy ra, lúc đó giá cả chứng khoán

sẽ tăng lên

Tiêu biểu trong thời gian qua là việc sụt giảm mạnh

của thị trường chứng khoán Châu Á nói chung và thị trường

chứng khoán Việt Nam nói riêng sau khi Nhật Bản gặp phải

thảm họa động đất, sóng thần và hạt nhân Thị trường lao

dốc mạnh nhiều phiên khi các tin xấu được đưa ra và rất

nhiều cổ phiếu đã giảm tới mức dưới mệnh giá mặc dù tình

hình hoạt động kinh doanh của công ty khá tốt trong năm

vừa qua Động thái giảm mạnh của thị trường được nhiều

nhà đầu tư cho rằng xuất phát từ 2 lý do chính:

Một là, do ảnh hưởng tiêu cực từ thảm họa ở Nhật

Bản nhà đầu tư lo ngại nhiều khả năng Nhật Bản sẽ cắt giảm

Trang 12

viện trợ ODA FDI đối với Việt Nam và doanh số đối với

các doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản cũng giảm đáng

kể

Hai là, lo ngại của nhà đầu tư về mức lạm phát cao

khi có những thông tin dự báo chỉ số giá tiêu dùng tăng từ

tháng 3 trở đi

Giải pháp:

Để ổn định lại thị trường chứng khoán cần thực hiện

đồng bộ về các giải pháp quản lý, kiểm soát tín dụng và

thông tin, trong đó có việc hỗ trợ sức cầu và tăng cường hiệu

quả cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn

Các giải pháp kiểm soát lạm phát hiện nay của Ngân

hàng Nhà nước cần có “ độ trễ” để phát huy tác dụng, tránh

gây sốc với các doanh nghiệp và nền kinh tế Đối với vấn đề

tỷ giá, cần tiếp tục cho đồng Việt Nam lên giá hơn so với

hiện nay để giảm sức ép mua ngoại tệ và kích thích nhập

khẩu, từ đó giảm sức ép lạm phát và thúc đẩy cải cách hoạt

động xuất khẩu

Ngân hàng Nhà nước cần đẩy mạnh hơn việc mua

vào ngoài tệ trong thời hạn ít nhất một tháng, trong đó ưu

tiên mua ngoại tệ là kiều hối, vốn đầu tư trực tiếp, vốn đầu tư

chiến lược và đầu tư vào thị trường chứng khoán

Trang 13

b) Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro hệ thống,

hay còn gọi là rủi ro không phân tán được khi đầu tư vào thị

trường chứng khoán Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn

định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương

lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung

Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên

xuống của lãi suất trái phiếu Chính phủ, khi đó sẽ có sự thay

đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán

khác, đó là các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty Nói cách

khác, chi phí vay vốn đối với các loại chứng khoán không rủi

ro, chứng khoán Chính phủ sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí

vay vốn của các loại chứng khoán có rủi ro, chứng khoán

công ty

Các nhà đầu tư thường coi trái phiếu Chính phủ là

không rủi ro Lãi suất của trái phiếu Chính phủ được coi là

lãi suất chuẩn, là mức phí vay vốn không rủi ro Những thay

đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới

toàn bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại

cổ phiếu rủi ro nhất

Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng thay đổi theo

cung cầu trên thị trường

Ví dụ, khi ngân sách thâm hụt thì Chính phủ sẽ phát

hành thêm chứng khoán để bù đắp, như vậy sẽ làm tăng mức

Trang 14

cung chứng khoán trên thị trường Các nhà đầu tư tiềm năng

sẽ chỉ mua các trái phiếu này nếu lãi suất cao hơn lãi suất các

loại chứng khoán đang được lưu hành Nếu giả sử, lãi suất

trái phiếu chính phủ tăng từ 12% lên 12,5% thì những người

đang nắm giữ trái phiếu có lãi suất 12% sẽ bị thiệt hại do giá

chứng khoán giảm xuống Vì lãi suất đã cố định là 12% ngay

từ lúc phát hành nên những người nắm giữ chứng khoán chỉ

có thể bán được nếu họ chịu giảm giá xuống tới mức đảm

bảo cho lãi suất đáo hạn của những trái phiếu này đạt được

mức 12,5%

Do lãi suất trái phiếu Chính phủ tăng, nó sẽ trở nên

hấp dẫn hơn và các loại chứng khoán khác sẽ bị kém hấp dẫn

đi Hệ quả là, những người mua trái phiếu sẽ mua trái phiếu

Chính phủ thay vì trái phiếu công ty, và do vậy lãi suất trái

phiếu công ty cũng phải tăng lên Lãi suất trái phiếu công ty

tăng sẽ dẫn đến giá của các loại cổ phiếu thường và cổ phiếu

ưu đãi giảm xuống như một phản ứng dây chuyền

Như vậy, ta thấy có một cơ cấu hợp lý về lãi suất do

các công cụ có liên hệ với nhau Sự tăng lên của lãi suất

chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống Hệ quả trực

tiếp của việc tăng lãi suất chuẩn là giá cả của các loại chứng

khoán khác giảm xuống; tương tự, lãi suất chuẩn giảm lại

làm cho giá của các loại chứng khoán tăng lên

Trang 15

Ngoài hệ quả trực tiếp đối với giá chứng khoán, lãi

suất chuẩn còn có ảnh hưởng gián tiếp đến giá cổ phiếu

thường Thứ nhất, lãi suất chuẩn tăng hay giảm sẽ làm cho

các giao dịch ký quỹ kém hấp dẫn đi hay hấp dẫn hơn Thứ

hai, rất nhiều công ty kinh doanh chủ yếu bằng vốn đi vay

Nhiều công ty khác, ví dụ các tổ chức tài chính tham gia vào

các hoạt động cho vay khi lãi suất tăng, các công ty vay nợ

nhiều sẽ phải trích từ thu nhập của mình nhiều hơn để trả lãi,

dẫn dến sự giảm sút thu nhập, cổ tức và giá cổ phiếu Việc

tăng lãi suất lại mang đến thu nhập cao hơn cho những người

cho vay do nguồn thu chính của họ là lãi thu được từ các

khoản cho vay Đối với những công ty này thu nhập tăng lại

làm cho cổ tức và giá cổ phiếu của nó tăng

Giải pháp:

Kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua thời lượng

Điều chỉnh danh mục đầu tư nhằm tạo ra thời lượng

giúp kiểm soát tác động của lãi suất tới giá tài sản tài chính

đang nắm giữ, qua đó ổn định thu nhập kì vọng của danh

mục đầu tư

Xây dựng bối cảnh biến động lãi suất, có ứng xử

tương ứng để khai thác mô hình thời lượng trong kiểm soát

rủi ro

Thực thi chiến thuật đầu tư năng động

Trang 16

Xuất phát từ các chiến thuật căn bản: phân tích lãi

suất đối sánh (benchmark), khai thác các cơ hội arbitrage,

đánh cược với rủi ro - lãi suất

Kết hợp các phân tích giá với DV01, thời lượng và

các phân tích khác

Dự đoán bối cảnh lãi suất

Xây dựng kịch bản

Điều chỉnh năng động danh mục đầu tư

Tìm kiếm và tận dụng các khoản vay dài hạn với lãi

suất ưu đãi, vay vốn với lãi suất thấp, ổn định và loại trừ

được rủi ro biến động tăng lãi suất

Mối quan hệ giữa lãi suất với giá trái phiếu và cổ

phiếu

Quan hệ giữa lãi suất với giá trái phiếu là mối quan

hệ trực tiếp và ngược chiều nhau

Trước tiên, đây là một mối quan hệ trực tiếp và

ngược chiều giữa lãi suất và giá trái phiếu Đây là mối quan

hệ cơ bản nhất và cần được xem xét nhất trong phân tích và

ra quyết định đầu tư trái phiếu

Thông thường, có hai cách để giải thích mối quan hệ

giữa lãi suất và giá trái phiếu:

Cách thứ nhất, dựa trên nguyên lý định giá trái

phiếu Giá trái phiếu được tính bằng tổng giá trị hiện tại của

Trang 17

các khoản tiền thanh toán cho người sở hữu trái phiếu Để

xác định được giá trái phiếu chúng ta phải chiết khấu toàn bộ

dòng tiền sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếu tại thời

điểm định giá Giả sử một trái phiếu được phát hành với thời

gian đáo hạn là N năm và các khoản tiền được thanh toán

bao gồm tiền lãi (R) định kỳ hàng năm và tiền gốc (FV) ở

thời điểm đáo hạn Với lãi suất bình quân thị trường là i, khi

đó giá trị hiện tại của tổng dòng tiền thanh toán trong tương

lai (hay giá của trái phiếu) được xác định như sau:

R PV

Từ công thức trên ta thấy khi lãi suất thị trường tăng

lên thì giá trái phiếu sẽ giảm xuống

Ví dụ, doanh nghiệp A phát hành trái phiếu mệnh

giá 1.000 đồng với thời hạn một năm, lãi suất trái phiếu là

10%/năm và trong điều kiện lãi suất thị trường là 11%/năm

Giá trái phiếu được tính như sau:

)( (1 11 %) 991

000 1

% 11 1

% 10 000 1

≈ +

+ +

×

=

PV

Như vậy, trái phiếu của doanh nghiệp A sẽ được bán

tại thời điểm hiện tại với giá 991 đồng

Nếu lãi suất thị trường tăng lên 12%/năm thì giá của

trái phiếu được xác định lại như sau:

)( (1 12 %) 982

000 1

% 12 1

% 10 000 1

≈ +

+ +

×

=

PV

Trang 18

So với thời điểm lãi suất thị trường là 11%/năm thì

giá trái phiếu của doanh nghiệp A đã giảm xuống còn 982

đồng

Cách thứ hai để giải thích mối quan hệ giữa lãi suất

và giá trái phiếu là dựa trên quan hệ cung – cầu trái phiếu

trên thị trường

Quan hệ giữa lãi suất với giá cổ phiếu là mối quan

hệ không trực tiếp và không hoàn toàn diễn ra trong một

chiều

Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là gián tiếp

và luôn thay đổi Nguyên nhân là do luồng thu nhập từ cổ

phiếu có thể thay đổi theo lãi suất và chúng ta không thể

chắc chắn liệu sự thay đổi của luồng thu nhập này có làm

tăng hay bù đắp cho mức biến động về lãi suất hay không

Để giải thích rõ vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét các khả

năng có thể xảy ra khi tỷ lệ lạm phát tăng, cụ thể như sau:

Lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát tăng và thu nhập

công ty theo đó cũng tăng vì công ty có thể tăng giá cho phù

hợp với mức tăng của chi phí Trong trường hợp này, giá cổ

phiếu có thể khá ổn định vì ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng

tỷ suất lợi nhuận đã được đền bù một phần hay toàn bộ bởi

phần tăng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập và cổ tức

Lãi suất tăng, nhưng luồng thu nhập dự tính thay đổi

rất ít do công ty không có khả năng tăng giá để phù hợp với

Trang 19

chi phí tăng, do vậy, giá cổ phiếu giảm Tỷ suất lợi nhuận

quy định có thể tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng của cổ tức là

không đổi, nên mức chênh lệch giữa 2 nhân tố này càng lớn

Lãi suất tăng trong khi luồng thu nhập giảm vì các

nguyên nhân làm tăng lãi suất lại gây tác động xấu tới thu

nhập của công ty Hoặc là người ta có thể hình dung thời kỳ

lạm phát trong đó chi phí sản xuất tăng, nhưng nhiều công ty

không thể tăng giá, dẫn tới biên độ lợi nhuận giảm Tác động

của một loạt các sự kiện này là rất tồi tệ Trong những

trường hợp này, giá cổ phiếu sẽ sụt nghiêm trọng vì tỷ suất

lợi nhuận giảm khi cổ tức giảm, dẫn tới chênh lệch giữa 2

nhân tố này càng lớn

Mặc dù mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và thu

nhập từ cổ phiếu là tiêu cực, nhưng điều này không phải lúc

nào cũng đúng Hơn nữa, ngay cả khi điều này là đúng trên

toàn bộ thị trường, thì vẫn tồn tại một số ngành nhất định có

thể có thu nhập và cổ tức tạo ảnh hưởng tích cực từ những

biến động về lạm phát và lãi suất Trong trường hợp này, giá

cổ phiếu có mối quan hệ tốt với lạm phát và lãi suất

Đối với những trường hợp ngược lại so với các

trường hợp trên, bạn có thể hình dung ra một loạt các khả

năng ngược lại khi lạm phát và lãi suất giảm Mối quan hệ

giữa lạm phát, lãi suất và giá cổ phiếu là một vấn đề đòi hỏi

phải có kinh nghiệm và ảnh hưởng của chúng thay đổi theo

Trang 20

từng thời kỳ Giá cả hàng hoá (lạm phát), Lịch sử thị trường

chứng khoán Mỹ đã cung cấp nhiều thông tin về sự bất cập

của giá chứng khoán trong mối quan hệ với giá hàng hoá Từ

năm 1923 tới 1929 là một giai đoạn đáng ghi nhớ khi giá bán

buôn ổn định và giá hàng hoá có xu hướng giảm nhẹ Tuy

nhiên, trong thời kỳ đó, giá chứng khoán theo thống kê tăng

vọt phổ biến trên các thị trường đầu cơ giá lên Ngược lại,

giá hàng hoá tăng vào năm 1940, 1941, và 1942, nhưng giá

cổ phiếu lại hạ Vào mùa xuân năm 1946, việc kiểm soát giá

hàng hoá đã bị bãi bỏ, và lạm phát về giá hàng hoá đã lên tới

đỉnh điểm cho đến hết năm và tiếp tục tăng cho đến đến giữa

năm 1948, giá cả tăng đều trong hai năm Giá cổ phiếu bắt

đầu biến động gần như vào đúng ngày giá hàng hoá bắt đầu

tăng vào năm 1946; giá cổ phiếu giảm mạnh từ tháng 8 cho

tới cuối năm Nói cách khác, giá chứng khoán sụp đổ vào

năm 1946 đúng vào thời điểm nguy cơ lạm phát tăng mạnh

nhất do ảnh hưởng của Chiến tranh thế giới lần thứ II

Sự không nhất quán trong các phản ứng của giá cổ

phiếu trước sự thay đổi giá hàng hoá đã làm nhà phân tích

ngày càng chán nản bởi vì giá cổ phiếu trước đây thường có

xu hướng biến động trước khi giá hàng hoá biến động tới vài

tháng.Do vậy, dường như giá hàng hoá với tư cách là một

chỉ số của giá chứng khoán tỏ ra không đáng tin cậy và có lẽ

là không có giá trị

Trang 21

Lãi suất tăng ít hơn thu nhập của cổ phiếu: giá cổ

phiếu tăng

Lãi suất tăng nhiều hơn thu nhập của cổ phiếu: giá

cổ phiếu giảm

c) Rủi ro sức mua

Rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng tiền

thu được Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với

khoản đầu tư

Khi một người mua cổ phiếu, anh ta đã bỏ mất cơ

hội mua hàng hoá hay dịch vụ trong thời gian sở hữu cổ

phiếu đó Nếu, trong khoảng thời gian nắm giữ cổ phiếu đó,

giá cả hàng hoá dịch vụ tăng, các nhà đầu tư đã bị mất một

phần sức mua Giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng gọi là lạm

phát, giá cả hàng hoá giảm gọi là giảm phát Cả lạm phát và

giảm phát đều liên quan đến khái niệm rủi ro sức mua

Nguyên nhân chính của lạm phát là do giá thành sản phẩm

và nhu cầu về hàng hóa dịch vụ tăng so với mức cung

Thứ nhất, lạm phát tăng là do nhu cầu tăng lên khi

nền kinh tế có nhiều công ăn việc làm hơn Tại lúc này, mức

cung không tăng kịp cho đến khi sản xuất được mở rộng

Với nhu cầu nhiều lên, các loại hàng hoá và dịch vụ sẽ phải

được phân bổ theo một mức giá nào đó tăng lên mà làm cho

cung cầu cân bằng tại đó

Trang 22

Thứ hai, lạm phát do tăng giá thành phẩm: Giá

nguyên vật liệu và tiền công tăng lên, các nhà sản xuất cố

gắng bù đắp lại bằng cách tăng giá cả hàng hoá Trong một

môi trường kinh tế có nhiều công ăn việc làm, tiền công

được trả cao thì giá cả hàng hoá sẽ tăng, ngược lại giá cả

hàng hoá tăng cũng đòi hỏi tiền công tăng lên, chu trình này

cứ lặp đi lặp lại

Ta đã nói rủi ro sức mua thường đi kèm với sự thay

đổi giá hàng hoá, dịch vụ thì câu hỏi đặt ra là sự thay đổi giá

những hàng hoá cụ thể nào sẽ được coi là thước đo tính lạm

phát Thức đo thông dụng nhất sử dụng để xác định mức

thay đổi giá cả hàng hoá, dịch vụ là chỉ số giá hàng tiêu

dùng Chỉ số này sử dụng một số loại hàng hoá và dịch vụ để

tính toán, gồm thức ăn, đồ dùng và rất nhiều các loại dịch vụ,

từ y tế đến tiền học để tính toán

Các nhà đầu tư cần tính kèm cả lạm phát vào thu

nhập kỳ vòng để bù đắp rủi ro sức mua, mức này được đo

bằng % biến động giá Nếu như chỉ số hàng tiêu dùng là 100

vào đầu năm và cuối năm là 103 thì ta nói lạm phát là 3%

Nếu từ năm thứ 2 đến năm thứ 3, chỉ số biến động từ 103 lên

109 thì tỷ lệ lạm phát sẽ vào khoảng 5,8% [109-103/103]

Sự cần thiết phải điều chỉnh thu nhập kỳ vọng theo

những biến động giá cả có thể chứng minh bằng ví dụ đơn

giản sau Giả sử bạn vay 100 đồng ngày hôm nay và hứa trả

Trang 23

105 đồng vào cuối năm, lãi suất là 5% Tuy nhiên nếu giá cả

trong năm tăng lên tới 6%, khi đó 105 đồng nhận được vào

cuối năm sẽ chỉ có sức mua bằng khoảng 98 đồng so với đầu

năm Như vậy, bạn phải cộng thêm tỷ lệ lạm phát vào lãi

suất, tức là 11% để cuối năm bạn nhận được lãi suất thực là

5%

Giải pháp

Áp dụng các biện pháp hạn chế lạm phát của thị

trường

Yếu tố lạm phát (giảm phát) sẽ làm thay đổi mức lãi

suất danh nghĩa và từ đó sẽ gây tác động đến giá chứng

khoán

Cũng giống như lãi suất có ảnh hưởng đến giá của

tất cả các loại chứng khoán, sự thay đổi sức mua cũng làm

ảnh hưởng đến chúng Nếu chỉ số giá hàng tiêu dùng vào

khoảng 8% hàng năm và năm sau dự kiến là 9% thì mức thu

nhập đối với chứng khoán cũng đòi hỏi phải tăng lên Điều

đó sẽ tác động đến giá của các loại trái phiếu Chính phủ, trái

phiếu và cổ phiếu công ty

d) Rủi ro về tái đầu tư

Rủi ro về tái đầu tư là rủi ro khi những người nắm

giữ trái phiếu không thể tái đầu tư số lãi được trả vào một

danh muc đầu tư có lãi suất tương đương với lãi suất đáo hạn

của trái phiếu

Trang 24

Các trái phiếu không lãi suất sẽ không có rủi ro tái

đầu tư vì không có khoản lãi nào được trả trong suốt thời

gian tồn tại của nó.[2, trang 242]

2.2.2.2 Rủi ro không hệ thống

Rủi ro không hệ thống là một phần trong tổng rủi ro

gắn liền với một công ty hay một ngành công nghiệp cụ thể

nào đó, ngoài những rủi ro gắn liền với toàn bộ thị trường

Những yếu tố này có thể là khả năng quản lý, thị hiếu tiêu

dùng, đình công và nhiều yếu tố khác là nguyên nhân gây ra

sự thay đổi trong thu nhập từ cổ phiếu công ty Do những

yếu tố này chỉ ảnh hưởng tới một ngành hay một công ty cụ

thể nên chúng phải được xem xét cho từng công ty

Sự không chắc chắn đối với khả năng thanh toán của

công ty có thể là do môi trường của hoạt động kinh doanh và

tình trạng tài chính của công ty Những rủi ro này bao gồm

rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính và rủi ro quản lý

a) Rủi ro kinh doanh

Là sự không ổn định hoặc sụt giảm của thu nhập

trong hoạt động của công ty do những thay đổi bất lợi của

môi trường kinh doanh hoặc bản thân công ty có thể sẽ bị sút

giảm lợi nhuận và cổ tức

VD : nếu lợi nhuận dự kiến tăng 10% hang năm

trong những năm tiếp theo, rủi ro kinh doanh sẽ cao hơn nếu

Trang 25

như lợi nhuận tăng tới 14% hay giảm xuống 6% so với lợi

nhuận nằm trong khoảng 9-11%

Rủi ro kinh doanh có thể được chia làm hai loại cơ

bản: Bên ngoài và nội tại

Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh trong quá trình

vận hành hoạt động của công ty Mỗi công ty có một loại rủi

ro nội tại riêng và mức độ thành công của mỗi công ty thể

hiện qua hiệu quả hoạt động

Trong phạm vi rộng, rủi ro kinh doanh bên ngoài là

những trường hợp xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát của công ty

và làm ảnh hưởng đến tình trạng hoạt động của công ty Mỗi

công ty có một kiểu rủi ro bên ngoài riêng, phụ thuộc vào

các yếu tố môi trường kinh doanh cụ thể của công ty Các

yếu tố bên ngoài, từ chi phí tiền vay đến sự cắt giảm ngân

sách, từ mức thuế nhập khẩu tăng đến sự suy thoái của chu

kỳ kinh doanh,…Trong đó yếu tố quan trọng nhất là chu kỳ

kinh doanh

Phạm vi của những thay đổi lên xuống trong tổng thu

nhập dẫn đến sự thay đổi trong lợi nhuận có thể được gọi là

rủi ro nội tại Nếu có một sự sụt giảm trong thu nhập từ một

loại sản phẩm có thể được bù đắp bằng một loại sản phẩm

khác, làm cho tổng thu nhập không thay đổi thì có thể coi là

công ty đã sử dụng việc đa dạng hoá sản phẩm để bảo vệ

mình chống lại rủi ro kinh doanh

Trang 26

Giải pháp

Áp dụng một số công cụ phái sinh tiền,lãi suất va tín

dụng để phòng ngừa rủi ro ổn định kinh doanh của doanh

nghiệp

b) Rủi ro tài chính

Là rủi ro đi kèm với phương thức công ty tài trợ vốn

cho các hoạt động của nó Cách thường dùng để xác định rủi

ro tài chính là nhìn vào cấu trúc vốn của một công ty Sự

xuất hiện của các khoản tiền đi vay hay các khoản nợ trong

cấu trúc vốn tạo ra các khoản thanh toán cố định dạng lãi vay

mà công ty phải chịu Sự hiện diện của các khoản cam kết trả

lãi vay, các khoản thanh toán lãi cố định do nợ hay các

khoản thanh toán cổ tức cố định cho cổ phiếu ưu đãi, làm

cho các khoản thu nhập giữ lại để trả cổ tức cho cổ phiếu phổ

thông sẽ biến động hơn nếu như không phải trả lãi theo yêu

cầu

Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được nếu các

nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay tiền hay không

vay tiền

Một công ty không có tài trợ vốn bằng các khoản

vay thì không có rủi ro tài chính

Rủi ro tài chính là một loại rủi ro không hệ thống

liên quan đến đòn bẩy tài chính, liên quan đến việc công ty

tài trợ vốn cho hoạt động của mình Người ta thường tính

Trang 27

toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một

công ty Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ

tạo ra cho công ty những nghĩa vụ trả lãi phải được thanh

toán cho chủ nợ trước khi trả cổ tức cho cổ đông nên nó có

tác động đến thu nhập của họ Công ty phải thực hiện nghĩa

vụ (gồm trả nợ ngân hàng và trả nợ trái phiếu) trước việc

thanh toán cổ tức cho cổ đông Điều này ảnh hưởng không

nhỏ đến giá cả cổ phiếu của công ty

Bằng việc đi vay, công ty đã thay đổi dòng thu nhập

đối với cổ phiếu thường.Cụ thể là, việc sử dụng tỷ lệ vay nợ

gây những hệ quả quan trọng đối với những người nắm giữ

cổ phiếu thường, đó là làm tăng mức biến động trong thu

nhập của họ, ảnh hưởng đến dự kiến của họ về thu nhập, và

làm tăng rủi ro của họ

Cách đơn giản và trực tiếp nhất để nhận dạng rủi ro

tài chính là liệt kê từng nhân tố và các biến cố có thể gây ra

rủi ro Rủi ro tài chính thường bắt nguồn từ việc thực hiện

các giao dịch liên quan trực tiếp đến tài chính như: mua bán,

đầu tư, vay nợ và một số hoạt động kinh doanh khác; nhưng

cũng có thể là hệ quả gián tiếp của sự thay đổi các chính sách

của Chinh phủ, các biến cố chinh trị trong nước và quốc tế,

hoặc có thể do tác động của thiên tai,

Loại rủi ro này là kết quả của những biến cố ngẫu

nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một

Trang 28

công ty hoặc một ngành công nghiệp nào đó Các yếu tố này

có thể là những biến động về lực lượng lao động, năng lực

quản trị, kiện tụng hay chính sách điều tiết của chinh phủ

VD : Giả sử chúng ta có hai công ty có hoạt động

kinh doanh như nhau, chỉ khác nhau về cơ cấu vốn: Công ty

C, nguồn vốn hoàn toàn từ 1 triệu cổ phiếu thường, bán với

giá 20 đôla/1 cổ phiếu Công ty khác, công ty D, có nguồn

một nửa là từ cổ phiếu thường 500.000 cổ phiếu, bán với giá

20 đôla/ cổ phiếu và một nửa là từ vay nợ 10 triệu USD với

lãi vay là 5% Như vậy, tài sản có của mỗi công ty là 20 triệu

USD, dự kiến sẽ có lợi nhuận 1 triệu USD, hay là 5% trên

tổng tài sản

Chúng ta giả sử rằng không có thuế thu nhập công

ty Thu nhập 1 triệu USD có thể dễ dàng chuyển đổi sang thu

nhập cho mỗi cổ phiếu Công ty C sẽ có lãi 1 đôla/1 cổ phiếu

Công ty D phải trả lãi 500.000 đola và phần còn lại chia cho

cổ phiếu cũng được lãi 1 đola/1cổ phiếu Tại điểm này, cả hai

công ty đều có mức thu nhập trên cổ phiếu là 1 đola Như vậy

ta không thấy có hệ quả của việc vay nợ đối với thu nhập của

cổ đông Nhưng nếu năm tiếp sau đó, lợi nhuận cả hai công

ty tăng thêm 50%, vậy trong trường hợp của công ty D, cổ

đông được hưởng thêm 1 đola/cổ phiếu nhiều hơn cổ đông

của công ty C chỉ được hưởng thêm 0,5 đola/cổ phiếu, vì lợi

nhuận D lúc đó là 1,5 triệu USD mà vẫn chỉ phải trả lãi suất

5% trên số tiền cho vay

Trang 29

Ngược lại, nếu lợi nhuận giảm 50% sẽ làm cho lợi

nhuận trên 1 cổ phiếu của công ty C giảm xuống 50% từ 1

đola xuống 0.5 đola nhưng lợi nhuận trên một cổ phiếu của

Công ty D sẽ giảm từ 1 xuống 0 Qua đó chúng ta thấy được

những hậu quả trực tiếp mà rủi ro tài chính gây ra cho thu

nhập của nhà đầu tư chứng khoán

Giải pháp

Rủi ro tài chính là rủi ro có thể tránh được trong

phạm vi mà các nhà quản lý có toàn quyền quyết định vay

hay không vay Rủi ro tài chính có thể tránh được nếu công

ty không vay nợ chút nào Nhà đâù tư nên chọn lựa cổ phiếu

của các doanh nghiệp đang mạnh và tương đối ít rủi ro, loại

khỏi danh mục đầu tư những doanh

nghiệp có nhiều nguy cơ suy yếu hay phá sản ví dụ như nợ

quá nhiều mà tỷ lệ lợi nhuận kém, công nghệ lỗi thời

c) Rủi ro quản lý

Là rủi ro bắt nguồn từ các quyết định quản lý sai lầm

hoặc không hợp lý của các nhà quản trị công ty Do vậy, nếu

các nhà quản lý điều hành công ty lựa chọn các phương án

đầu tư hay những quyết định đưa ra sai lầm có thể dẫn đến

công ty bị phá sản.[2, trang 245]

d) Rủi ro tín dụng

Trang 30

Tín dụng có thể hiểu là hệ thống những quan hệ kinh

tế phát sinh trong quá trình chuyển quyền sử dụng một lượng

giá trị nhất định từ chủ thể này sang chủ thể khác dựa trên

nguyên tắc hoàn trả Không ai trong chúng ta có thể phủ

nhận vai trò, chức năng mà tín dụng đem lại có ảnh hưởng

lớn tới vĩ mô

Chức năng của tín dụng

 Tập trung, phân phối lại tiền tệ theo nguyên tắc

có hoàn trả, giúp cho phần lớn nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi

được sử dụng vào sản xuất, kinh doanh, đời sống, tăng hiệu

quả sử dụng

 Tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã

hội thông qua những việc như: sử dụng các công cụ thanh

toán không dùng tiền mặt; thanh toán thông qua hệ thống

ngân hàng như chuyển khoản hoặc thanh toán bù trừ; huy

động nguồn vốn nhàn rỗi sử dụng cho các nhu cầu vốn trong

sản xuất, lưu thông hàng hóa, tiết kiệm chi phí huy động vốn

cho doanh nghiệp

 Phản ánh hoạt động kinh tế của doanh nghiệp

thông qua sự gắn liền giữa sự vận động của vốn tín dụng với

sự vận động của hàng hóa, vật tư, chi phí … đồng thời kiểm

soát các hoạt động kinh tế thông qua quá trình thẩm định

trước, trong khi cho vay và kiểm tra sau khi cho vay

Vai trò tín dụng

Ngày đăng: 12/01/2016, 20:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:tỷ suất sinh lời của cổ phiếu A và B - Lợi tức và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Bảng 2 tỷ suất sinh lời của cổ phiếu A và B (Trang 46)
Bảng 3:mức sinh lời của cổ phiếu A và B - Lợi tức và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Bảng 3 mức sinh lời của cổ phiếu A và B (Trang 49)
Bảng 4: Sự phân phối xác suất mức sinh lời của 2 chứng khoán A và B - Lợi tức và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Bảng 4 Sự phân phối xác suất mức sinh lời của 2 chứng khoán A và B (Trang 50)
Bảng 5:phương sai và độ lệch chuẩn của mức sinh lời của chứng khoán A - Lợi tức và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Bảng 5 phương sai và độ lệch chuẩn của mức sinh lời của chứng khoán A (Trang 51)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w