Ngày nay các hoạt động sản xuất phục vụ cuộc sống con người đang diễn ra mạnh mẽ. Con người đã khai thác và tác động rất nhiều đến môi trường tự nhiên. Các nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt và suy thoái mạnh. Vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường đang trở lên bức xúc ở nhiều nơi.
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Tìm hiểu thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn
sinh hoạt tại Huyện Lục Ngạn-Tỉnh Bắc Giang
GV hướng dẫn : Lê Đắc Trường Giảng viên trường ĐH Tài nguyên và Môi trường HN
Người hướng dẫn: Bùi Văn Trường Phó phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lục Ngạn
Người thực hiện: Vũ Ngọc Tùng Lớp CĐ7QM2 – Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường HN
Trang 2Lục Ngạn,tháng 5 năm 2011
Tìm hiểu thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt tại Huyện Lục Ngạn – Tỉnh Bắc Giang
Địa điểm thực tập : Phòng Tài nguyên và Môi trường
Huyện Lục Ngạn – Tỉnh Bắc Giang
Trang 3NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Của học sinh :Vũ Ngọc Tùng– Lớp CĐ7QM2 Trường ĐH Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội
1 Việc chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan và địa phương :
………
………
………
………
2 Ý thức, tinh thần, trách nhiệm trong quá trình thực tập : ………
………
………
………
3 Quan hệ với cán bộ trong cơ quan, đơn vị hoặc chính quyền và nhân dân địa phương : ………
………
………
………
Ngày … tháng … năm 2011
PHÒNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
H.LỤC NGẠN
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường với phương châm học đi đôi với hành, mỗi sinh viên khi ra trường cần phải chuẩn bị cho mình kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng Thời gian thực tập tốt nghiệp là một phần quan trọng không thể thiếu được trong chương trình đào tạo sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường - Hà Nội hệ cao đẳng hiệp nói riêng, đây là khoảng thời gian cần thiết
để mỗi sinh viên củng cố lại kiến thức, lý thuyết đã được học một cách có hệ thống, đồng thời nâng cao khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, xây dựng cách làm việc của một cán bộ môi trường chuyên nghiệp.
Trước thực tế đặt ra đó, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, trưởng khoa Tài Nguyên và Môi Trường, tôi có nguyện vọng về thực tập tại Phòng Tài nguyên & Môi trưòng huyện Lục Ngạn.Tôi xin trân thành cảm ơn
thầy giáo Lê Đắc Trường đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi hoàn thành
bài thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin trân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên & Môi trưòng huyện Lục Ngạn đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập Đặc biệt tôi xin
gửi lởi cảm ơn tới Ông Bùi Văn Trường đã tạo điều kiện, không quản ngại
khó khăn hướng dẫn tôi tìm hiểu quy trình thực tế, chỉ bảo cho tôi hoàn thiện bài báo cáo.
Do thời gian và trình độ học vấn của bản thân còn nhiều hạn chế nhiều hạn chế, bước đầu làm quen với thực tế công việc vì vậy bài thực tập của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự góp ý chân thành của thầy cô giáo để bài thực tập của tôi hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới mọi người !
Lục Ngạn, ngày tháng năm 2011
Trang 5III - Mục tiêu và nhiệm vụ của chuyên đề 10
d) Tài nguyên khoáng sản.
e) Tài nguyên nhân văn.
13
3 - Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 16
5 - Y tế, gia đình, dân số và trẻ em 17
6 - Tiềm năng phát triển nghành du lịch 18
11 - Một số dự báo phát triển kinh tế 22
a) Dự báo phát triển nguồn dân số đến năm 2020
b) Dự báo phát triển kinh tế đến năm
22
Trang 62020 III - Hiện trạng trạng phát sinh chất thải rắn
sinh hoạt
24
1 - Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 24
2 - Khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh
hoạt
25
3 - Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt 28
a) Cơ cấu quản lýb) Khái quát chung các quy định của nhà nước về công tác quản lý thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt
6 - Hoạt động xử lý chất thải rắn của các xã 39
7 - Đánh giá sự quan tâm của người dân về vấn đề
chất thải rắn sinh hoạt
43
8 - Dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
của từng xã đến năm 2020
44
9 - Những khó khăn trong công tác quản lý chất
thải rắn sinh hoạt tại các xã và thị trấn
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay các hoạt động sản xuất phục vụ cuộc sống con người đang diễn ra mạnh mẽ Con người đã khai thác và tác động rất nhiều đến môi trường tự nhiên Các nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt và suy thoái mạnh Vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường đang trở lên bức xúc ở nhiều nơi.
Việt Nam là một nước có tốc độ phát triển kinh tế cao Quá trình công nghiệp hoá hiện đang diễn ra rất khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có nhiều tiến triển tích cực Tuy nhiên cùng với sự phát triển ấy thì tình trạng xuống cấp của môi trường đang ngày càng trầm trọng Rác thải đang là một trong những vấn đề môi trường bức xúc ở Việt Nam Hiện nay, mỗi năm có khoảng 15 triệu tấn rác thải phát sinh trong cả nước và theo dự báo thì số lượng rác thải
sẽ tăng cao trong thập kỷ tới đây So với các nước khác trên thế giới thì lượng rác thải Việt Nam không lớn, nhưng điều đáng quan tâm ở đây là tình trạng thu gom thấp và không phân loại trước khi mang rác thải ra ngoài môi trường.
Chất thải rắn là toàn bộ các loại tạp chất được loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội Trong đó quan trọng nhất là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống.
Chất thải rắn sinh hoạt được sinh ra từ hoạt động hàng ngày của con người, sinh ra mọi lúc mọi nơi trong phạm vi thành phố và khu dân cư, từ các khu thương mại và các cơ quan công sở, chợ các tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, trường học và các viện nghiên cứu
Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần rất đa dạng gồm nhiều chất và vật liệu khác nhau Một số thành phần có khả năng tồn tại lâu trong môi trường
có nguy cơ gây ô nhiễm Chất thải rắn sinh hoạt là nơi chứa đựng các loại mầm mống bệnh tật có khả năng lây lan cao, bên cạnh đó chúng còn làm mất
Trang 8cảnh quan môi trường.
Hiện nay, cùng với sự công nghiệp hoá hiện đại hoá thì cuộc sống của người dân nông thôn đang ngày càng được cải thiện Người dân nông thôn đã biết chăm lo cuộc sống hàng ngày của mình tốt hơn Cùng với đó chất thải rắn
từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân sẽ tăng lên Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của khu vực nông thôn cũng đa dạng hơn.
Huyện Lục Ngạn là một huyện vùng cao của tỉnh Bắc Giang, là một huyện có diện tích đất tự nhiên lớn Mật độ dân cư của huyện còn thưa, toàn huyện bao gồm 30 xã và một thị trấn Điều kiện cơ sở vật chất của huyện còn nhiều hạn chế bởi vậy công tác quản lý môi trường tại huyện còn gặp nhiều khó khăn.
Để hiểu thêm tình hình công tác quản lý môi trường nói chung hay công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng tại một huyện vùng cao, tôi
xin chọn đề tài: “Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang”.
Trang 9A.PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do lựa chon chuyên đề:
Trong những năm gần đây công tác bảo vệ môi trường đâng được Đảng vàNhà Nưóc quan tâm.Nhưng ngày nay với sự phát triển của đô thị,quá trình côngnghiệp hoá,hiện đại hoá,sự lạm dụng trong quá trình sử dụng phân bó hoáhọc ,thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp làm ô nhiễm nguồn nưóc,đất,khôngkhí Và hiện nay việc xây dựng khu công nghiệp, các nhà máy,xưởng sản xuấtđang nằm xen kẽ trong các khu dân cư làm ảnh hưỏng tới sức khoẻ con ngưòi vàsinh vật.Chính vì vậy khi xã hội càng phát triển ,quá trình đô thị hoá diễn ra nhanhnên việc quản lý và bảo vệ môi truờng của nhà nước rất khó khăn
Khi xã hội phát triển thì vấn đề môi trưòng nảy sinh rất nhiều.Hiện nay trênđịa bàn huyện Lục Ngạn đã và đang trong tình trạng môi trưòng bị ô nhiễm donguồn tài nguyên bị khai thác trái phép,khai thác không có kế hoạch,lạm dụng quámức.Sự gia tăng dân số gây sức ép lên môi trường và tài nguyên,ý thức và sự hiểubiết của con người về bảo vệ môi trường còn thấp
Từ những lý do đó mà em, lựa chọn chuyên đề này để tìm hiểu công tác quản
lý môi trường tại địa bàn huyện Lục Ngạn, từ đố khắc phục những tồn tại, hạn chế
và phát huy những ưu điểm để công tác quản lý môi trường được tốt và đạt hiệu quảhơn
II.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
1.Đối tượng nghiên cứư: Đó là thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn
sinh hoạt tại huyện Lục Ngạn- Tỉnh Bắc Giang
2.Phạm vi nghiên cứu:
- Chuyên đề được thực hiện tại địa bàn huyện Lục Ngạn, phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện huyện Lục Ngạn- Tỉnh BắcGiang.Được thực hiện từ ngày 14/03/2011 đến ngày 15/05/2011
3.Phuơng pháp
Phương pháp quan sát : Ghi chép và điều tra trên thực địa.
Trang 10 Phương pháp thu thập thông tin bằng phỏng vấn : Cán bộ Phòng Tài
nguyên & Môi Trường huyện Lục Ngạn và dân cư địa bàn
Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu liên quan : Hiện trạng chung về
môi trường, những tác động của môi trường rác và công tác quản lý vàbảo vệ môi trường
III.Mục tiêu và nhiệm vụ:
Trang 11B NỘI DUNG
Chương I: Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
I Điều kiện tự nhiên
1 Vị trí địa lý
Lục ngạn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, có đường quốc lộ 31chạy qua, với địa giới hành chính như sau:
- Phía bắc giáp huyện Chi Lăng và huyện Lũng Cú của tỉnh Lạng Sơn
- Phía tây và nam giáp huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang
- Phía đông giáp huyện Sơn Động của tỉnh Bắc Giang
Hình 1.1: Vị trí địa lý của huyện Lục Ngạn
Trung tâm huyện là thị trấn Chũ cách trung tâm tỉnh gần 40 km, có tổng diện tích
tự nhiên là 101.223,72 Km2, với 30 đơn vị hành chính được chia thành hai vùng rõ rệt:vùng thấp gồm 17 xã và một thị trấn, vùng cao gồm 12 xã
2 Địa hình địa mạo
Huyện Lục Ngạn là một huyện miền núi địa hình bị chia cắt thành hai dạng
Trang 12rõ Là vùng cao và vùng thấp, do địa bàn nghiên cứu nằm trong vùng thấp của huyệnnên có dạng địa hình địa mạo chung là:
Địa hình có độ cao trung bình từ 80 – 120 m so với mực nước biển Đất đaitrong khu vực chủ yếu là đồi thoải, một số đã bị xói mòn mạnh, thường thiếu nguồnnước cho cây trồng Nhưng ở vùng này đất đai lại thích hợp với trồng các loại cây ănquả như: hồng, nhãn, vải thiều… Đặc biệt là cây vải thiều Huyện Lục Ngạn đã vàđang trở thành một vùng chuyên canh cây vải thiểu lớn nhất cả nước, đồng thời đangtiếp tục trồng các loại cây lương thực, và trồng các loại cây công nghiệp Trongtương lai có khả năng phát triển du lịch kiểu miệt vườn
3 Đặc điểm khí hậu
Lục Ngạn nằm trong vùng đông bắc Việt Nam nên chịu ảnh hưởng của khíhậu nhiệt đới gió mùa, trong đó có tiểu vùng khí hậu mang nhiều nét đặc trưng củavùng khí hậu miền núi, có khí hậu tương tự các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên
- Nhiệt độ trung bình cả năm là khoảng 24,50C, vào tháng 6 cao nhất làkhoảng 27,80C tháng 1 và tháng 2 thấp nhất là 18,80C
- Bức xạ nhiệt trung bình so với các vùng khí hậu nhiệt đới, số giờ nắngbình quân cả năm là 1.729 giờ, số giờ nắng bình quân trong ngày là 4,4 giờ Với điềukiện bức xạ nhiệt như vậy là điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển
- Độ ẩm không khí trung bình là khoảng 81%, cao nhất là 85% và thấp nhất
là 72%
- Gió bão: là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, vào mùa đôngtốc độ gió bình quân là khoảng 2,2 m/s, mùa hạ có gió mùa Đông Nam, là vùng ítchịu ảnh hưởng của gió bão
Đánh giá chung về điều kiện khí hậu có thể thấy Lục Ngạn là vùng có khí hậutương đối ôn hòa, có lượng mưa thấp, ít sương muối, mưa xuân đến muộn hơn, độ
ẩm không khí không quá cao, lượng bức xạ nhiệt trung bình, đó là những yếu tốthuận tiện cho việc trồng các loại cây ăn quả đặc biệt là cây vải thiều
Trang 13có ngày mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1 Đây là một khó khăn cho phát triển câytrồng và vật nuôi.
5 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Lục Ngạn có tổng diện tích tự nhiên là 101.223,72 ha Là huyện miền núinhưng Lục Ngạn có khoảng hơn 10.000 ha đất đồi bằng có độ dốc từ 0 – 80 chiếmkhoảng 10% so với tổng diện tích tự nhiên Đây là một thuận lợi cho việc trồng cácloại cây lương thực và các loại cây hoa màu Nếu có biện pháp khai thác, cải tạo đất
để tăng độ phì, trồng cây lương thực có năng suất cao thì sẽ giải quyết vấn đề lượngthực cho nhân dân trong huyện
b Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Trên địa bàn nghiên cứu có sông Lục Nam chảy qua dài gần 45
km từ Đèo Gia xuống Mỹ An đến Phượng Sơn Nước sông chảy quanh năm với lưulượng khá lớn Mực nước sông trung bình vào mùa lũ khoảng 4,5 m, lưu lượng lũ lớnnhất là từ 1.300 – 1.400 m3/s, lưu lượng nước mùa kiệt là 1 m3/s Ngoài sông Lục Namcòn các sông suối khác với nằm rải rác tại các xã
Nguồn nước ngầm: hiện tại chưa có nghiên cứu nào đánh giá hàm lượng nướcngầm trên địa bàn huyện nhưng qua khảo sát một số hộ trong khu vực huyện chothấy mực nước ngầm không nằm quá sâu (khoảng 20 – 25 m), chất lượng nước khátốt có thể dùng khai thác trong sinh hoạt của các điểm dân cư
Nhìn chung nguồn nước trong huyện có hàm lượng, chất lượng nước tươngđối tốt, có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống dân cư Tuy nhiên, do lượngmưa trên địa bàn huyện tương đối ít nên khó khăn cho việc trồng các loại cây hoamàu, các loại cây ăn quả có nhu cầu nước cao Vì vậy trong tương lai cần có kếhoạch khảo sát và điều tra trữ lượng nước, có kế hoạch hợp lý, kết hợp với phát triển
và bảo vệ rừng đầu nguồn để khắc phục tình trạng khô hiếm nước trong mùa khô
Trang 14d Tài nguyên khoáng sản
Huyện Lục Ngạn có một số khoáng sản như: than, đồng, vàng…, theo tài liệuđiều tra nghiên cứu thì hàm lượng các loại khoáng sản dưới lòng đất của huyện cótrữ lượng vào khoảng 30.000 tấn Quặng đồng có khoảng 40.000 tấn nhưng hàmlượng thấp nên không thể khai thác dưới dạng công nghiệp được Ngoài ra huyệnLục Ngạn còn có vàng sa khoáng nhưng mà trữ lượng không lớn, một số khoáng sảnkhác như đá, sỏi, cát có thể sản xuất phục vụ sản xuất các loại vật liệu xây dựngphục vụ xây dựng các công trình nhà ở, cơ quan, trường học
e Tài nguyên nhân văn
Lục Ngạn là huyện miền núi cao, có tổng số dân là 212.867 người (2009),gồm 8 dân tộc trong đó dân tộc kinh chiếm 51%, còn lại là các dân tộc khác chiếm49% như: Tày, Nùng, Sán Dìu, Cao Lan, Dao, Thái Có 29 xã và một thị trấn baogồm 397 thôn được chia thành hai vùng là vùng thấp và vùng cao
Chương II: Điều kiện KT-XH
II.Điều kiện KT-XH
1 Dân số
Năm 2009, dân số của huyện là 212.867 người; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt1,12% Trong đó có 44.148 hộ gia đình, bình quân mỗi hộ có 4,82 người Mật độdân số bình quân 202 người/km2, dân số nông thôn chiếm 96,67% và dân số thànhthị chiếm 3,33% Qua đó chứng tỏ mức độ đô thị hóa và dịch vụ trên địa huyện còn
ở mức thấp
Dân số phân bố không đồng đều giữa các xã trong huyện Xã đông dân nhất
là xã Quý Sơn (15.167 người), Thanh Hải (14.368 người), xã có ít dân nhất là Sa Lý(2.681 người)
Tăng trưởng dân số bình quân hiện nay của huyện ở mức trung bình Tronggiai đoạn 2006-2009 tăng trưởng dân số bình quân của huyện là 1,12%
Bảng 2.1: Quy mô dân số và cơ cấu dân số huyện Lục Ngạn năm 2009
Trang 15Trong những năm tới, với sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới, cùng với
áp lực của cạnh tranh, của tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhu cầu lao động được đào tạongày càng gay gắt, đòi hỏi huyện phải có có sự cố gắng lớn trong công tác đào tạo vàthu hút nhân tài
Bảng 2.2: Lực lượng lao động của huyện năm 2007 - 2009
Năm
Lao động tham gia nền kinh tế
Số lao động được giải quyết
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao
Số lao động thiếu việc làm ở
Tỷ lệ số lao động được đào tạo
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện 2007 – 2009)
3 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
Cùng với xu thế chung của cả nước và cả tỉnh, với chính sách mở cửa trongcông cuộc cải cách kinh tế đang làm cho nền kinh tế của huyện từng bước ổn định vàphát triển
Giá trị sản xuất bình quân/người năm 2009 là 7,5 triệu đồng/người, đã tăng
Trang 16khá cao so với năm 2000, giá trị này năm 2000 là 3 triệu đồng Giá trị sản xuất trênngười đang ngày càng tăng nhanh Hiện nay giá trị trị bình quân đầu người củahuyện đang thấp hơn so với toàn tỉnh là 8,5 triệu đồng/người Vì vậy trong thời giantới, các ngành cần phải có định hướng phù hợp để đưa giá trị bình quân đầu ngườităng nhanh trong thời gian tới.
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế huyện Lục Ngạn giai đoạn 2007 - 2009
1 Nông lâm thủy sảnTổng số (triệu đồng) 1.201.890751.123 1.265.980762.211 1.345.865765.563 Công nghiệp – xây dựng 146.058 156.834 164.721
2 Cơ cấu (%) Nông lâm thủy sản 62,5100 60,2100 56,9100
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện 2007 – 2009)
4 Giáo dục và đào tạo
Hệ thống giáo dục đào tạo được hình thành đầy đủ các cấp học và trình độđào tạo từ mầm non tới cấp phổ thông trung học Số trường, lớp được xây dựng theotiêu chuẩn quốc gia ngày càng tăng Chất lượng giáo dục ngày càng được chuyểnbiến về nhiều mặt Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phậnhọc sinh ngày càng được nâng cao
Quy mô trường lớp tiếp tục mở rộng; đã thành lập mới 3 trường học trên cơ
sở chia tách trường, nâng tổng số lên 107 cơ sở giáo dục với trên 52.600 học sinh từmẫu giáo đến THPT Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi ra mẫu giáo, trẻ 6 tuổi vào lớp 1, họcsinh vào lớp 6 đều vượt kế hoạch và tăng cao so với cùng kỳ; tuyển sinh vào lớp 10đạt trên 73%, tăng 3,2% so với năm 2008 Chất lượng giáo dục có chuyển biến; kếtquả tốt nghiệp các cấp học: tiểu học: 98,2%, tăng 2,2%, THCS (chỉ tổ chức xét 1đợt): 93,4%, tăng 2,8% (so với đợt 1 năm 2008), THPT (chỉ tổ chức 1 đợt thi):75,5%, tăng 7,8% (so với thi đợt 1 năm 2008), bổ túc THPT: 86,1%, tăng 1,8% sovới cùng kỳ; thi học sinh giỏi cấp tỉnh ở các cấp học, ngành học toàn huyện đạt 50giải, tăng 8 giải (THPT) so với năm học trước; gần 700 học sinh thi đỗ vào cáctrường đại học, cao đẳng, tăng gần 300 học sinh so với năm 2008
Trang 17Đội ngũ giáo viên được tăng cường về số lượng và chất lượng; tỷ lệ giáo viênđạt chuẩn trở lên: mầm non đạt 90,1%, tăng 8%; tiểu học đạt 96,1% tăng 1,2%,THCS đạt 94,2%, tăng 2,5%; toàn ngành có có 12 CBGV có trình độ thạc sỹ và 22CBGV đang học thạc sỹ Cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị dạy học được tăngcường theo hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá Trong năm 2009 đã đầu tư trên 5 tỷđồng cho các trường mầm non, tiểu học, THCS mua sắm thiết bị, đồ dùng phục vụgiảng dạy và hoạt động giáo dục Thực hiện “Năm học đẩy mạnh ứng dụng côngnghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính”, đến nay, 100% các đơn vị đã có hộp thưđiện tử để trao đổi thông tin, 60 trường học thuộc khối phòng giáo dục kết nối đườngtruyền Internet, các trường THPT, Trung tâm GDTX-DN đều kết nối mạng LAN.Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo và đạt nhiều kếtquả; dự kiến đến hết năm 2009 có thêm 12 trường đạt chuẩn, nâng tổng số lên 51trường đạt chuẩn quốc gia
Đội ngũ bác sỹ được tăng cường, tỷ lệ bác sỹ đạt 4,1 bác sỹ/1 vạn dân, tăng0,2 bác sỹ/1 vạn dân so với năm 2008 Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố;
cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế từng bước được đầu tư, hoàn thiện Thực hiện Đề án
1816, Bệnh viện ĐKKV Lục Ngạn đã quan tâm đưa bác sỹ về hỗ trợ trạm ý tế, gópphần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân Công tác chỉ đạo xâydựng xã đạt chuẩn quốc gia về y tế có hiệu quả; có thêm 6 xã đạt chuẩn, đạt 100% kếhoạch, nâng tổng số lên 22 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế
Công tác phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là phòng chống dịch bệnh nguyhiểm như dịch cúm A(H1N1), dịch tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, được chỉ đạo tích
Trang 18cực; đã kịp thời phát hiện, dập tắt dịch cúm A(H1N1) ở 20 xã, thị trấn, bảo vệ antoàn sức khoẻ nhân dân
Công tác tuyên truyền giáo dục về VSATTP được quan tâm, triển khai thựchiện dưới nhiều hình thức phong phú Toàn huyện có 799 cơ sở sản xuất, chế biến,kinh doanh dịch vụ thực phẩm; trong đó, có 420 cơ sở được cấp chứng chỉ, 9 cơ sở
đủ điều kiện; kiểm tra 2.615 lượt cơ sở, đạt 120% kế hoạch, xử lý 07 cơ sở sai phạm,thu nộp ngân sách 14,55 triệu đồng, nhắc nhở 39 cơ sở Công tác kiểm tra thực hiệncác quy chế chuyên môn trong hành nghề y dược, y học cổ truyền tư nhân được tăngcường; đã tổ chức kiểm tra 12 cơ sở, xử lý 4 cơ sở sai phạm, thu nộp ngân sách 4,1triệu đồng
Công tác Dân số-KHHGĐ có chuyển biến tiến bộ Hoạt động truyền thôngdân số-kế hoạch hoá gia đình được tăng cường; 216 câu lạc bộ Dân số-KHHGĐ duytrì hoạt động Toàn huyện đã tổ chức trên 500 lượt tuyên truyền lưu động đến cộngđồng, làm mới 594 panô, khẩu hiệu; cấp phát 2.884 bản tập san, tạp chí, 11.550 tờrơi, tranh tuyên truyền Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,05%, giảm 0,02%, tỷ suất sinh
là 14,34%o giảm 0,14%o so với cùng kỳ; tỷ lệ sinh con lần 3 trở lên giảm từ 9,03 %(năm 2008) xuống còn 8,1% Hoàn thành cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm2009; tại thời điểm 1/4/2009, dân số toàn huyện là 206.341 người
Các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ em được tăng cường; cấp phát 2.311 thẻkhám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi; tuyển chọn 14 trẻ em khuyết tật vào Làngtrẻ em khuyết tật; đề nghị tổ chức từ thiện Quốc tế tài trợ 4 xuất học bổng, 4 xe đạpcho 8 cháu có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn học giỏi, 4 xe lăn cho 4 trẻ em khuyết tật;
tổ chức nhiều hoạt động vui chơi bổ ích, thăm tặng quà cho trẻ em nhân dịp TếtNguyên đán Kỷ sửu và Tết Thiếu nhi 1/6 Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm còn 22%(kế hoạch còn 23%) Công tác xây dựng xã phù hợp với trẻ em được duy trì và mởrộng; đã xây dựng mới 3 xã phù hợp với trẻ em, nâng tổng số lên 9 xã, thị trấn đạttiêu chuẩn phù hợp với trẻ em
6.Tiềm năng phát triển nghành du lịch
Huyện Lục Ngạn là huyện miền núi với thời tiết đặc trưng của miền bắckhông những phù hợp cho nhiều loại cây ăn quả, cây cảnh ,cây lấy gỗ mà còn rấtnhiều danh lam, thắng cảnh đẹp được ngợi ca trong lịch sử mà còn là đề tài của baonhà thơ, nhà văn, nhạc sỹ
Trang 19Ải Nội Bàng (còn có tên là Bàng Quan, thành nhà Mạc) Đây là chiến ải lớnnhất nằm ở khu vực giữa thung lũng sông Lục Nam Trong cuộc kháng chiến chốngxâm lược Nguyên - Mông Trần Hưng Đạo đã cho xây dựng phòng tuyến Xa Lý -Nội Bàng và đặt đại bản doanh ở Nội Bàng ( khu vực xã Phượng Sơn).
Ải Xa Lý còn có tên là ải Khả Ly nằm trên con đường mòn từ Xa Lý sangLộc Bình của Lạng Sơn ải này nằm trên eo của núi ải, đoạn thắt lại hiểm trở nênthường gọi là Đèo ải ở độ cao trên 500m, đỉnh đèo là cửa ải Xa Lý
Khu du lịch hồ Khuôn Thần có tổng diện tích là 2700ha, có 1000ha rừng,trong đó rừng tự nhiên 500ha, rừng thông 500ha và hồ Khuôn Thần rộng 140ha, vớidung tích 10.000.000 m3, trong hồ có 5 đảo lớn và 7 đảo nhỏ Nơi đây đã được trồngthông, du khách có thể tắm hồ, leo núi, bơi thuyền thăm các đảo và thắp hương ở đềnthờ Hồ Công Trạc một vị tướng quân người dân tộc thiểu số
Hồ Cấm Sơn với diện tích rừng bao quanh 21.800ha, diện tích mặt nước hồ2.400ha, dung tích nước hồ 307 triệu m3 Đang phát triển, đầu tư trung tâm giốngthuỷ sản cấp I phục vụ cho phát triển kinh tế và đặc biệt đặc sản cá nước ngọt ở hồCấm Sơn và những món ăn nổi tiếng khác của người dân các dân tộc như khau nhục,voỏng mún, bánh hút, bánh bìa, bánh phổi bò, chè phao
Hồ Làng Thum với diện tích mặt hồ 126ha, dung tích 8.334.000m3 diện tíchlưu vực là 27,5km2, diện tích tưới tiêu cho 700ha, là nơi nuôi trồng thuỷ sản và vườncây ăn quả xung quanh hồ rất phù hợp cho khách thăm quan du lịch
Núi Am Vãi ( còn gọi là núi Am Ni, núi Quan âm) nằm ở giữa địa phận cácxã: Nam Dương, Tân Mộc, Tân Lập, Nghĩa Hồ thuộc sơn phận Yên Tử Đá ở núi là
đá cát kết khối lớn Trên đỉnh núi Am Ni có một ngôi chùa mang tên chùa Am Vãi ởphía Bắc núi trên độ cao hơn 400m Cạnh đó là các khu núi mang tên Hang Tiền,Hang Gạo có nhiều truyền thuyết về những hang này Núi Am Ni là một núi lớn,cảnh sắc bốn mùa khác nhau, rất đẹp, lại có ngôi chùa cổ trên đỉnh núi được liệt vàohàng danh sơn, thắng tích, hàng năm mở hội vào ngày 03/3 âm lịch
Điểm du lịch thuộc các cụm di tích được cấp bằng công nhận “Di tích lịch sửvăn hoá” như: đền Hả (xã Hồng Giang), được mở hội vào mồng 6,7,8 tháng giênghàng năm, thờ tướng quân Vũ Thành ( tức Thân Cảnh Phúc) Đây là một lễ hội cóquy mô lớn còn lại đến ngày nay trên đất Lục Ngạn Cùng với lễ hội Từ Hả, LụcNgạn còn nhiều lễ hội dân gian đặc sắc khác như hội chùa, đền Khánh Vân, được tổ
Trang 20chức vào ngày 19-20 tháng 02 âm lịch thờ tướng quân Vi Hùng Thắng thời Trần.Một số hội khác như: Hội đền Tam Giang, hội đền Chể, đền Cầu Từ
7.Tình hình xoá đói giảm nghèo
UBND huyện đã chỉ đạo các ngành, các địa phương thường xuyên nắm chắctình hình đời sống nhân dân, có biện pháp cứu trợ kịp thời các hộ gia đình có hoàncảnh đặc biệt khó khăn Những tháng đầu năm, đã rà soát, phân bổ, kịp thời cấp925,1 tấn gạo cứu đói cho 18.502 hộ với 92.510 khẩu; không để hộ dân nào bị đói.Đời sống nhân dân cơ bản ổn định
Đã thực hiện đầy đủ các chế độ đối với các đối tượng chính sách xã hội,người có công trên địa bàn Thực hiện trợ cấp đột xuất 86 triệu đồng cho 123 hộ giađình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; thực hiện cứu trợ thường xuyên cho 2.009 đốitượng tại cộng đồng (trong đó có 650 người già từ 85 tuổi trở lên); cấp 76.128 thẻBHYT cho ngư ời nghèo, ng ười dân vùng đặc biệt khó khăn; cấp áo phao cho gần1.300 học sinh và cặp phao cho trên 500 học sinh các xã vùng lòng hồ Cấm Sơn.Trong dịp Tết và ngày 27/7 tổ chức thăm hỏi động viên, chuyển quà, tặng 8.546 xuấtquà trị giá 1.289,43 triệu đồng cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ đặc biệtkhó khăn; Quỹ đền ơn đáp nghĩa hỗ trợ 47 triệu đồng cho 14 gia đình chính sách vàđối tượng khó khăn sửa chữa nhà, hỗ trợ 35 triệu đồng tu sửa 5 nghĩa trang liệt sỹ.Thực hiện kịp thời việc hỗ trợ hộ nghèo ăn Tết theo Quyết định 81/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ cho 13.578 hộ nghèo với tổng kinh phí 11.672,2 triệu đồng
Triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định
số 167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã có 2.085 hộ làm nhà ở, trong đó có
726 hộ gia đình đã xây xong và đưa vào sử dụng; giải ngân được 15.080 triệu đồngvốn vay ưu đãi; phân bổ 1.593,6 triệu đồng nguồn vốn hỗ trợ tạm ứng của tỉnh vàtrên 8 tỷ đồng từ nguồn vốn hỗ trợ của các doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể
Công tác xóa đói, giảm nghèo được quan tâm chỉ đạo thực hiện bằng nhiềubiện pháp và đạt kết quả khá; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 27, 42%, giảm 3,01% so vớicùng kỳ Đã xây dựng Đề án giảm nghèo bền vững đối với 13 xã nghèo trên 50%của huyện và chỉ đạo các xã xây dựng Đề án của địa phương; mục tiêu đến năm
2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 13 xã nghèo của huyện xuống dưới 53% (5%/1năm) và đến năm 2015 xuống còn 30%
Trang 21Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều mỏ, điểm mỏ khoáng sản trên địabàn huyện Lục Ngạn chưa được "quy chủ" thực sự, có doanh nghiệp mới chỉ được cấp phép khảo sát thăm dò trữ lượng chưa được cấp phép khai thác, một số doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư cơ bản Trong khi đó, các mỏ, điểm mỏ lại ở khu vực vùng sâu, vùng xa giáp ranh với huyện, tỉnh bạn hoặc Trường bắn Quốc gia khu vực 1 Các đối tượng khai thác khoáng sản trái phép thường lợi dụng đặc điểm này
để lẩn trốn mỗi khi lực lựơng chức năng truy quét Một yếu tố khác là lực lượng làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản còn mỏng, người dân địa
phương vì cuộc sống mưu sinh cũng tham gia khai thác khoáng sản trái phép, nhất lànhững thời điểm nông nhàn Đặc biệt, trách nhiệm của chính quyền cơ sở còn thấp, không chủ động ngăn chặn tình trạng khai thác khoáng sản trái phép tại địa bàn mìnhquản lý mà ỷ lại vào cấp trên
9 Tình hình làng nghề
Hiện trên địa bàn huyện Luc Ngạn có làng nghề chuyên san xuất mỳ gạo (thuộc thôn Thủ Dương - xã Nam Dương).Đây là làng nghề đã hình thành từ lâu nhưng một vài năm nay mới phát triển.Cùng với sự phát triển đó thì tinh hình ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng (ô nhiễm môi trường nước),làm ảnh hưởng tới sức khỏe người dân và gây mất mỹ quan, cảnh quan môi trường.Trước tình hình
đó thì Phòng Tài nguyên& Môi trường đã tích cực phối hợp với UBND xã,thôn tuyên truyền,giáo dục ý thức người dân đặc biệt là hộ sản xuất, kinh doanh.Đồng thời hướng dẫn các hộ chưa đăng ký cam kết môi trường thực hiện
10 Hệ thống cơ sở hạ tầng
Mạng lưới giao thông bao gồm hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, đường đôthị, đường xã và đường thôn xóm Cụ thể như sau:
- Quốc lộ 31 kéo dài từ Phượng Sơn tới Biển Động dài 40 km
- Quốc lộ 279 từ ngã ba Tân Hoa đến giáp Lạng Sơn dài 25 km
Trang 22- Đường tỉnh lộ 290 điểm đầu là Kép Hai điểm cuối Cống Lầu đi qua địa phậncác xã Hồng Giang và Biên Sơn toàn tuyến dài 15 km.
- Đường tỉnh 289 điểm đầu tại thị trấn chũ điểm cuối là Hồ khuôn Thần kéodài 9,7 km
- Đường tỉnh 248 điểm đầu từ Sơn Dương giao với quốc lộ 279 đến làng Vựagiáp danh với tỉnh Lạng Sơn, đi qua địa phận các xã Phong Vân, Phong Minh, Sa Lýtoàn tuyến dài 26 km
11 Một số dự báo phát triển kinh tế
a) Dự báo phát triển nguồn dân số đến năm 2020
Từ nay đến năm 2020 vẫn phát huy kết quả của công tác dân số và kế hoạchhóa gia đình, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu… Bằng các phương pháp dự báokhác nhau, dự báo dân số huyện trong những năm tới có mức tăng trưởng trung bình
sẽ giảm dần theo từng năm: giai đoạn 2010-2015 là 1,06%, giai đoạn 2016-2020 là1,02% Dự báo dân số huyện đến năm 2020 như sau:
Bảng 2.4: Dự báo phát triển dân số huyện Lục Ngạn đến năm 2020
Đơn vị: người
Hiện trạng 2009
Nguồn: Báo cáo quy hoạch huyện Lục Ngạn giai đoạn 2010-2020
b) Dự báo phát triển kinh tế huyện đến năm 2020
Hiện tại huyện Lục Ngạn có 3 phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyệnđến năm 2020 Hướng phát triển kinh tế đến năm 2020 được chia thành các giaiđoạn như sau: giai đoạn 2011 – 2020 giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hướng phát triển chính là: nông nghiệp – dịch vụ - côngnghiệp Đồng thời khi cơ sở hạ tầng được hoàn thiện hình thành các khu, cụm công
Trang 23nghiệp, tập trung chế biến các sản phẩm nông sản, hình thành các khu du lịch, tạo đàcho ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển, chiếm tỷ trọng chính trong các giai đoạntiếp theo.
Bảng 2.5: Tổng hợp 3 phương pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Lục
Phương án III
I Giá trị sản xuất (triệu đồng)
(Nguồn: Báo cáo quy hoạch huyện Lục Ngạn 2010 – 2020)
Chương III : Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, từ các cơ sở sản xuất kinhdoanh: chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình chủ yếu là các loại rau, củ, quả,
Trang 24giấy, lá cây, chai lọ, thức ăn thừa, xương động vật, than, thuỷ tinh, kim loại, vỏ hoaquả, nhựa Các hộ gia đình làm nghề mỳ trong chất thải rắn sinh hoạt hàng ngày cóthêm đầu mỳ thừa, túi nilon Các cơ sở kinh doanh tại địa bàn nghiên cứu hiện chủyếu là kinh doanh các loại mặt hàng phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dânnhư: bán hàng tạp hoá, bán hàng nước, bán hàng thực phẩm nên thành phần chất thảirắn sinh hoạt từ các cơ sở này chủ yếu là: túi bóng, hộp giấy, xương động vật, cácloại rau củ quả Trong các cửa hàng may có thêm vải vụn, chỉ Trên địa bàn nghiêncứu có rất nhiều cửa hàng sửa chữa xe máy, ôtô chất thải rắn hàng ngày từ các cửahàng này chủ yếu là: kim loại, nhựa, rẻ lau, lốp xe Các cửa hàng ăn sáng chất thảirắn chủ yếu là: giấy ăn, xương động vật, thức ăn thừa, than nấu ăn Có thể thấy hiệnnay chất thải từ các hộ gia đình, cơ sở kinh doanh chủ yếu là chất thải hữu cơ dễphân huỷ, ngoài ra còn có thêm chất thải vô cơ như là: gạch ngói, giấy, kim loại,than xỷ.
a)Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các trụ sở cơ quan: thành phần chất thảirắn trường học chủ yếu là: giấy, thước kẻ, phấn, bụi đất, bút viết hỏng, túi bóng đựngkẹo, lá cây Văn phòng nhà trường có thêm vỏ hoa quả, bã chè, thức ăn thừa Trongcác trường mầm non chất thải rắn hàng ngày có thêm thức ăn, giấy, đổ chơi hỏng.Chất thải phát sinh từ các trụ sở cơ quan có thành phần chủ yếu là: giấy, báo, vỏ hộp,
bã chè, bụi, lá cây, đầu thuốc lá Tại các trạm y tế thành phần chất thải rắn là: vỏ hộpthuốc, thức ăn, chai nhựa, bông, kim tiêm
b)Chất thải rắn phát sinh từ các khu chợ: các khu chợ kinh doanh các mặthàng chủ yếu phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân do vậy mà thành phầnchất thải rắn là: rau, củ, quả, túi nilon, xương động vật, các loại bao bì, rơm, rác, lácây, đất cát, lông gà, lông vịt Đặc biệt tại chợ Chũ 1 là nơi bán nhiều mặt hàng nhất:quần áo, đồ ăn, rau, cá, đồ khô Lượng chất thải rắn phát sinh từ khu chợ này chiếmnhiều nhất so với các khu chợ khác Thành phần chất thải rắn từ khu chợ này cóthêm: bao bì, thuỷ tinh, kim loại
2 Khối lượng và thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Theo số liệu điều tra tại địa bàn: xã Thanh Hải, xã Trù Hựu, xã Nam Dươngtiến hành điều tra 120 phiếu, thị Trấn Chũ điều tra 80 phiếu Hình thức lựa chọn hộphỏng vấn được tiến hành ngẫu nhiên Qua kết quả điều tra thì lượng chất thải phátsinh đầu người hiện nay của từng xã là:
Trang 25Bảng 3.1: Khối lượng CTRSH bình quân đầu người
Tên xã
Hạng mục
Trù Hựu
Nam Dương
Ghi chú: *: kg/ngày
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)
Lượng chất thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình được tính bằng cáchnhân tổng số dân với lượng chất thải sinh hoạt trên đầu người
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh được tính theo công thức sau:
Ssinh hoạt = Tsinh hoạt x NTrong đó:
- Ssinh hoạt : Chất thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày (kg/ngày)
- Tsinh hoạt : Mức phát sinh chất thải rắn hàng ngày (kg/người/ngày)
- N : Dân số (người)
Với lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người tính được và số dânhiện tại của mỗi xã Áp dụng công thức ở trên, tổng khối lượng chất thải rắn sinhhoạt phát sinh hàng ngày của từng xã được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 3.2: Lượng CTRSH phát sinh của từng xã năm 2010
(người)
Tổng lượng phát CTRSH (kg/ngày)
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra năm 2010 và tính toán)
Như vậy theo bảng số liệu điều tra có thể thấy hiện nay lượng chất thải rắnsinh hoạt lớn nhất tại xã Thanh Hải Có thể thấy lượng chất thải rắn hàng ngày tạicác khu vực nghiên cứu là rất lớn Do địa bàn rộng nên công tác thu gom gặp nhiềukhó khăn Tuy vậy thì do thành phần chủ yếu trong chất thải hàng ngày là chất hữu
cơ nên sẽ phân hủy nhanh sau khi người dân thải bỏ ra môi trường
Đó là theo số liệu tính toán từ phiếu điều tra nhưng trên thực tế thì tại thị Trấn
Trang 26Chũ thì ngoài khối lượng chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình còn có thêm chấtthải rắn từ các cơ quan, nơi công cộng Lượng chất thải đó chiếm 20% so với tổngkhối lượng chất thải từ khu dân cư thị trấn Vậy tổng khối lượng chất thải rắn của thịtrấn là: 3.703,28 × 20% + 3.703,28 = 4.443,94 (kg).
Hình 3.1: Biều đồ khối lượng CTRSH tại các xã và thị trấn
Với lượng chất thải bình quân đầu người thấp nhưng do số dân hiện nay của
xã Thanh Hải là: 14.368 người nên tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của toàn
xã hiện nay là lớn nhất so với các xã khác Có thể thấy lượng chất thải bình quân đầungười hiện nay của xã Nam Dương cao hơn hẳn: vì tại đây là nơi tập trung mộtlượng lớn các hộ làm nghề, lượng chất thải chủ yếu là từ việc sản xuất mỳ Tại xãTrù Hựu do là một xã có nhiều nét đặc biệt, tỷ lệ các hộ gia đình trong xã tham giavào các hình thức kinh doanh dịch vụ đang ngày một tăng, có một lượng lớn các hộtham gia vào sản xuất mỳ, tỷ lệ các hộ làm nông nghiệp đang ngày một giảm, lượngchất thải rắn bình quân đầu người hiện nay của xã đang ở mức trung bình Tại thịtrấn Chũ do là khu vực tập trung nhiều dịch vụ nên khối lượng chất thải rắn hàngngày bình quân đầu người lớn, nhưng do dân số hiện nay của khu vực này vẫn chưacao nên tổng khối lượng chất thải rắn vẫn được Công ty Cổ phần Môi trường đô thịhuyện đảm bảo công tác thu gom
Theo báo cáo của Công ty Cổ phần Môi trường đô thị: mỗi ngày công ty chởkg
Xã
Trang 27hai xe ô tô rác đi Mỗi xe là 6 khối, mỗi khối có khối lượng là 8 tạ Như vậy tổngkhối lượng rác hàng ngày mà Công ty phải thu gom là: 2×6×8 = 96 tạ = 9,6 tấn Nhưvậy là hiện nay công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn các xã nghiêncứu mới được một phần nhỏ, hầu hết chất thải rắn sinh hoạt hiện nay trong các xãtrên đều được người dân vứt ra ao, hồ, vườn, lề đường, đốt.
Thành phần chất thải rắn hiện nay của các xã rất đa dạng, chủ yếu là chất thảihữu cơ dễ phân hủy, bên cạnh đó có thêm chất thải vô cơ
Bảng 3.3: Thành phần CTRSH trên địa bàn nghiên cứu
(Nguồn: Báo cáo tổng kết Công ty Cổ phần Môi trường đô thị năm 200
3 Thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt
a) Cơ cấu tổ chức quản lý
Hiện nay, phòng Tài nguyên và Môi trường đang là cơ quan pháp lý quản lýmôi trường và đất đai trên địa bàn huyện, cùng với sự tư vấn của phòng Tài nguyên
và Môi trường Công ty Cổ phần Môi trường đô thị huyện Lục Ngạn được thành lập,phụ trách công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn và một số xãlân cận Hiện tại, phòng Tài nguyên và Môi trường có 26 cán bộ trong đó có 4 cán
bộ phụ trách môi trường, hiện có 3 xã và thị trấn đều cán bộ môi trường Các xã đãthành lập hợp tác xã môi trường và các tổ vệ sinh của xã mình, các tổ vệ sinh cónhiệm vụ thu gom chất thải rắn tại khu vực xã mình, do điều kiện cơ sở vật chất nênhiện nay công tác thu gom chất thải rắn mới chỉ dừng lại tại khu vực trung tâm xã.Các hộ gia đình tại khu vực trung tâm xã có nhu cầu thu gom chất thải rắn sinh hoạtcủa gia đình mình sẽ đăng ký với hợp tác xã môi trường hay là tổ vệ sinh môi trườngcủa xã mình Công ty Cổ phần Môi trường đô thị sẽ tập hợp lại tất cả các hộ đăng ký
Trang 28và tiến hành thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đó Các HTX và tổ vệ sinhmôi trường của từng xã sẽ tiến hành thu gom chất thải rắn sinh hoạt của xã mình sau
đó mang ra điểm tập kết đợi xe chở rác của Công ty Cổ phần Môi trường đô thịhuyện tới thu gom và mang đến bãi rác Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiệnnay được thể hiện theo sơ đồ sau:
Phòng Tài nguyên và Môi trường
Công ty Cổ phần Môi trường
đô thị huyện Lục Ngạn
Hợp tác xã môi trường Tổ vệ sinh môi trường
Hộ gia đình Cơ quan, công sở Cơ sở sản xuất kinh
doanh
Chất thải rắn sinh hoạt
UBND xã (cán bộ môi trường)
UBND huyện(Chủ tịch huyện)