1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên

104 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất của giống lúa Khang dân trên 2 nền phân bón khác nhau.. Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến sinh

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây lúa (Oryza sativa L.) là một cây trồng có từ lâu đời, là nền móng cho

nền văn minh lúa nước của loài người, đặc biệt là khu vực Châu Á Cùng với sựphát triển của xã hội, những thành tựu khoa học kỹ thuật liên tục ra đời đã nhanhchóng đi vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây nhờ ápdụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực: Di truyền chọngiống, sinh lý, sinh hóa, hóa sinh, cơ giới, hóa học mà năng suất, phẩm chất,sản lượng và hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa không ngừng được tăng lên ởhầu khắp các quốc gia trên thế giới

Hiện nay việc thâm canh lúa được thực hiện chủ yếu bằng cách sử dụngnhững giống lúa chịu phân chịu thâm canh cao cùng với thói quen là lạm dụngquá nhiều phân bón hóa học Việc thâm canh như vậy để lại hậu quả rất xấu chomôi trường sinh thái, làm ô nhiễm các nguồn tài nguyên như đất, nước mặt kháccũng không tiết kiệm được lượng phân bón trong sản xuất

Nhằm hạn chế hậu quả trên đã có rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau

để tìm cách giảm lượng phân bón trong sản xuất mà vẫn duy trì được năng suấtlúa Trong đó kỹ thuật canh tác mà chủ yếu là mật độ cấy đã và đang được cácnhà nông học quan tâm nghiên cứu

Việc cấy đúng mật độ không những tạo điều kiện tối ưu cho sinh trưởngphát triển, cho năng suất cao mà còn vô cùng có ý nghĩa trong vấn đề chăm sóccho lúa của bà con nông dân Bên cạnh đó, việc xác định mật độ cấy đúng còn

có ý nghĩa lớn trong việc sử dụng phân bón một cách hợp lý hơn, góp phần nângcao hiệu quả kinh tế, khắc phục tình trạng sử dụng phân bón quá mức cần thiêtgây ảnh hưởng xấu tới đất canh tác Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009 tại Kim Động – Hưng Yên”.

Trang 2

1.2 Mục tiêu của đề tài

1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất của giống lúa Khang dân trên 2 nền phân bón khác nhau

2.Xác định mật độ cấy phù hợp cho giống lúa Khang dân trong điềukiện phân bón thấp

Trang 3

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1- Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 - Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới

Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao vì vậy lúa đượctrồng phổ biến ở rất nhiều nước trên thế giới, hiện nay đã có hơn 100 nước códiện tích trồng lúa Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ

độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B, Tiệp 490B, Nhật, Italia, Nga(Krasodar) 450B đến Nam bán cầu, New South Wales (Úc): 350N Trong đó hơn85% sản lượng lúa gạo tập trung các nước Châu Á(từ 300B đến 100N) Đặc biệtchủ yếu là các nước như: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia,Banglades, Myanmar và Nhật Bản

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất lúa gạo của các nước sản xuất

chính trên thế giới năm 2005

(triệu ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(triệu tấn)

Trang 4

Nhật Bản là nước có năng suất lúa cao nhất với 6,55 tấn/ha, Trung Quốc là nước

có sản lượng lúa cao nhất với185,45 triệu tấn

Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới đang có xu hướng tăng lên nhưngcùng với đó là tốc độ gia tăng dân số hiện nay thì để đảm bảo an ninh lương thựcthì cần phải nâng cao hơn nữa cả về năng suất và sản lượng lúa gạo

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trong nước

Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp gắn bó với câylúa từ xa xưa Với điều kiện tự nhiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhữngđồng bằng châu thổ phì nhiêu, Việt Nam đã trở thành cái nôi sản xuất lúa gạohàng đầu trong khu vực và trên thế giới

Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nôngnghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò rấtquan trọng trong đời sống con người Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong việccung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu đónggóp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác, do có điều kiện tự nhiênthuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng ở khắp mọi miềncủa đất nước Theo Nguyễn Văn Hoan (2004), các vùng trồng lúa nước ta đượcphân chia theo đặc điểm khí hậu và đất đai Khí hậu, đất đai là hai yếu tố chínhchi phối các vụ lúa, trà lúa và hình thành nên các vùng trồng lúa của nước ta.Theo cách phân chia này nước ta có 8 vùng lúa phân bổ theo 3 miền sinh tháinông nghiệp như sau:

Miền sinh thái nông nghiệp Bắc Bộ có 3 vùng lúa:

Trang 5

Miền sinh thái nông ngiệp Tây Trường Sơn và Nam Bộ có 3 vùng:

- Cao nguyên Tây Trường Sơn (Tây Nguyên)

- Đông Nam Bộ

- Đồng bằng Sông Cửu Long

Theo Đinh Thế Lộc, Vũ Văn Liết (2004) thì 2 vùng sản xuất rộng lớn nhất đó

là vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long

Bảng 2.2: Năng suất lúa theo địa phương (tạ/ha)

2008

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2008.

“Trước năm 1945, diện tích đất trồng lúa của nước ta là 4,5 triệu ha, năngsuất trung bình đạt 1,3 tấn/ha, sản lượng 5,4 triệu tấn Hiện nay, với những tiến

bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp, người dân đã được tiếp cận với nhữngphương thức sản xuất tiên tiến nên họ đã dám mạnh dạn áp dụng khoa học kỹthuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giốnglúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện đặc biệt của từng vùng, cácgiống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu… kết hợp đầu tư thâm canh cao,hợp lý Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có bước nhảy vọt về năng suất, sảnlượng và giá trị kinh tế Năm 1996, nước ta xuất khẩu được 3,2 triệu tấn lươngthực, năm 1999, nước ta vươn lên đứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩugạo Năm 2002, tổng sản lượng lương thực đạt 36,4 trệu tấn, trong đó lúa chiếm70% Tuy nhiên, con số này bị chững lại vào năm 2003 giảm xuống còn 34,5triệu tấn Điều này đang đặt ra những yêu cầu mới trong nông nghiệp Trong

Trang 6

điều kiện hiện nay, xu hướng đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh,dân số liên tục tăng làm diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đấttrồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra ở đây làcần phải nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhucầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu (Nguyễn Hữu Tề, 2004)”

Bảng 2.3: Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây

(nghìn ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(nghìn tấn)

Trang 7

2.2 Đặc điểm của cây lúa

2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây lúa:

Trong toàn bộ đời sống của cây lúa có thể chia ra hai thời kỳ sinh trưởngchủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực

Theo Nguyễn Hữu Tề và cs (1997), thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng đượctính từ lúc gieo đến lúc làm đòng, là thời kỳ cây lúa hình thành và phát triển lá,

rễ, nhánh Ở lúa cấy thời kỳ này có thể chia ra các giai đoạn: mạ ở ruộng mạ và

đẻ nhánh ở ruộng cấy Trong đó giai đoạn mạ kéo dài khoảng 20 ngày từ khigieo mạ đến khi cây có khoảng 4-5 lá; giai đoạn đẻ nhánh kéo dài khoảng 40ngày từ khi cấy đến khi cây lúa bắt đầu có đòng; trong đó 10-13 ngày đầu là giaiđoạn bén rễ hồi xanh, giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu chỉ khoảng 20 ngày tiếp theo.Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành sốbông, là yếu tố cấu thành năng suất có ý nghĩa quyết định đối với cây lúa

Cũng theo Nguyễn Hữu Tề và cs (1997), thời kỳ sinh trưởng sinh thực,bắt đầu từ lúc làm đòng cho đến khi thu hoạch, bao gồm các quá trình làm đòng,trỗ bông và hình thành hạt Thời kỳ này quyết định các yếu tố cấu thành năngsuất: số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt, là thời kỳ có ảnhhưởng trực tiếp nhất đến năng suất thu hoạch

Liên quan tới thời gian sinh trưởng (TGST) của cây lúa, các giống lúađược chia ra: giống cực ngắn ngày, giống ngắn ngày và giống dài ngày Trongbón phân cho lúa cần chú ý: các giống cực ngắn ngày (chín sớm) có giai đoạnsinh trưởng dinh dưỡng ngắn, vì vậy có thể bắt đầu phân hóa đòng trước giaiđoạn đẻ nhánh tối đa Các giống dài ngày (chín muộn) có giai đoạn sinh trưởngdinh dưỡng dài và đạt số dảnh tối đa trước khi bắt đầu phân hóa đòng, thời kỳ từ

đẻ nhánh tối đa đến đầu phân hóa đòng có lúc bị kéo dài Các giống ngắn ngày

có độ dài của giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng vừa phải, cây bắt đầu phân hóađòng ngay sau giai đoạn đẻ nhánh tối đa

2.2.2 Đặc điểm hệ rễ của cây lúa

Trang 8

Lúa là cây trồng có bộ rễ chùm với số lượng có thể đạt tới 500-800 cái,tổng chiều dài rễ ở thời kỳ trỗ bông có thể đạt đến 168 m Bộ rễ lúa tăng dần về

số lượng và chiều dài qua các thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng và thường đạt tối đavào thời kỳ trỗ bông, sau đó lại giảm đi Thời kỳ đẻ nhánh làm đòng bộ rễ pháttriển có hình bầu dục nằm ngang, còn thời kỳ trỗ bông, bộ rễ lúa phát triểnxuống sâu có hình quả trứng ngược

Bộ rễ lúa phân bố ở lớp đất 0-20 cm, trong đó phần lớn ở lớp đất mặt 0-10

cm Lúa là cây trồng có bộ rễ ăn nông và có thời gian từ cuối đẻ nhánh đến đầu làmđòng rễ ăn nổi trên mặt đất Đối với lúa gieo thẳng, bộ rễ thường phát triển mạnh ởlớp đất mặt, phân nhánh nhiều Các biện pháp làm đất, bón phân, tưới nước, làmcỏ… có ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ

Lúa thấp cây, có khả năng thâm canh cao cần cấy dày để đạt được mật

độ tối thích Khi cấy dày, tổng số rễ lúa tăng nên mở rộng được diện tích hútchất dinh dưỡng của quần thể ruộng lúa, nhưng diện tích dinh dưỡng của cá thểcàng bị thu hẹp, trọng lượng trung bình của bộ rễ cây lúa giảm Muốn cho cá thểsinh trưởng và phát triển tốt, cần tăng lượng phân bón tương ứng với mức độcấy dày, như vậy mới có thể phát huy hơn nữa hiệu quả của việc cấy dày và làmtăng năng suất Mật độ cao, bón phân nhiều là hai biện pháp bổ sung cho nhaulàm cho quần thể phát triển mạnh

2.2.3 Ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hạt giống của cây lúa

Cây trồng hút chất dinh dưỡng trong đất và từ phân bón để tạo ra sảnphẩm của mình sau khi kết hợp với sản phẩm của quá trình quang hợp, vì vậysản phẩm thu hoạch phản ánh tình hình đất đai và việt cung cấp thức ăn cho cây

Khi nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây trồng, Vũ Hữu Yêm (1995)cho rằng: bón phân cân đối và vừa phải thì việc bón phân có thể làm tăng chấtlượng sản phẩm Thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân đối hoặc quá nhucầu của cây đều làm giảm chất lượng sản phẩm

Trang 9

Theo nghiên cứu của De Datta (1981) thì biện pháp nâng cao khả năngquang hợp của quần thể cây trồng nói chung và quần thể ruộng lúa nói riêng là

áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao khả năng tiếp cận ánh sáng của cáthể và đặc biệt là của quần thể Đây cũng là kỹ thuật quan trọng để nâng caonăng suất lúa trong sản xuất hạt giống Để đạt được mục đích đó cần áp dụngcác biện pháp như: cải tiến giống lúa, gieo cấy đúng thời vụ, mật độ khoảngcách hợp lý và dinh dưỡng khoáng phù hợp

Bón phân đặc biệt là bón thúc đạm và điều tiết nước một cách hợp lý vàocác giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triểncủa lá lúa cả về diện tích và số lượng lá, tạo điều kiện cho quang hợp, nâng caohiệu suất quang hợp thuần và làm tăng năng suất hạt

Hầu hết các trường hợp dinh dưỡng khoáng kém, hạt kém, không đẫy hạt

so với cung cấp dinh dưỡng, trừ trường hợp đất tốt, đầy đủ chất dinh dưỡng vàtương đối cân đối

Bón đúng lượng và đúng loại phân là rất cần thiết trong sản xuất lúa, bónđúng kỹ thuật đảm bảo cho các cây chín đồng đều, hạt đẫy, năng suất cao Bónkhông đúng kỹ thuật có thể kích thích đẻ nhánh lai rai dẫn đến bông chính chínnhanh hơn những bông đẻ muộn, những hạt ở bông nhánh chưa chín khi thuhoạch, độ ẩm tăng cao tăng khả năng bị bệnh

2.2.3.1 Yêu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa

Một trong những yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với lúa chính làđạm Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, là thành phần cơbản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thành phần chất khô của cây

có chứa từ 0.5-6% đạm tổng số Hàm lượng đạm trong lá liên quan chặt chẽ vớicường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối Đối với cây lúa thì đạm lạicàng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanhquá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suấtlúa Do vậy, đạm thúc đẩy sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích

Trang 10

thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc, hàm lượng protein trong hạt Đạm ảnh hưởng đếntất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năngsuất lúa.

Theo Bùi Huy Đáp (1999) thì đạm là yếu tố dinh dưỡng chủ yếu của lúa,

nó ảnh hưởng nhiều đến số thu hoạch vì chỉ khi có đủ đạm, các chất khác mớiphát huy tác dụng

Theo Đinh Thế Lộc, Vũ Văn Liết (2004): Đủ đạm ở giai đoạn đầu sẽ làmtăng chiều cao, số nhánh, tăng kích thước lá, tăng số hạt/bông, tăng tỷ lệ hạtchắc Nếu bị thiếu đạm quá trình sinh trưởng sinh dưỡng bị hạn chế, số hạt/bông

sẽ giảm Lúa cần đạm ở giai đoạn đầu và giai đoạn đẻ nhánh đẻ hình thành sốbông tối đa

Sau khi tiến hành thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa sông Hồng, tác giảĐào Thế Tuấn (1970) đã rút ra kết luận: vụ chiêm cũng như vụ mùa, nếu bónđạm tập trung vào thời kỹ đẻ nhánh thì số nhanh tăng lên rất nhiều về sau lụi đicũng nhiều, nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ítnhưng tổng số nhánh cũng ít, vì vậy cần chú ý cả hai mặt Trong trường hợp bónđạm tương đối ít nên bón tập trung vào thời kỳ giữa tức là lúc đẻ nhánh rộ

Theo Đỗ Thị Thọ (2004) thì nếu giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm thì sẽlàm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến bông ít Nếu bón không đủ đạm

sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng,bông đòng nhỏ, từ đó làm năng suất giảm Nhưng nếu thừa đạm lại làm cho câylúa có lá to dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ; ngoài ra chiều cao pháttriển mạnh, nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa đượcbón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đềutăng

Đối với lúa thuần thường đẻ nhánh kém và thiếu tập trung vì vậy cần bónđạm sớm để lúa đẻ nhánh nhanh và hiệu quả Nếu muốn tăng hiệu suất sử dụngphân bón trên lúa thuần cần chú ý bón nhiều ở giai đoạn đẻ nhánh rộ

Trang 11

2.2.3.2 Yêu cầu dinh dưỡng lân của cây lúa

Lân là yếu tố dinh dưỡng quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển củacây trồng, vì lân là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là thành phần chủ yếucủa nhân tế bào

Lê Văn Tiềm (1986) thì cho rằng lân cung cấp năng lượng cho tất cả cácquá trình hoá sinh xảy ra trong cây lúa, kích thích rễ phát triển, tăng cường hoạtđộng đẻ nhánh đặc biệt trong điều kiện ngoại cảnh bất thuận Kích thích pháttriển hạt và tăng giá trị lương thực của hạt gạo Khi thiếu lân, lá lúa có màu xanhđậm, bản lá nhỏ hẹp và mềm yếu, mép lá có màu vàng tía, đẻ nhánh kém, kéodài thời kỳ trỗ- chín Nếu thiếu lân ở thời kỳ làm đòng sẽ ảnh hưởng rất rõ đếnnăng suất lúa, cụ thể là làm giảm năng suất lúa

Cũng theo Lê Văn Tiềm (1986)thì khi cây lúa được cung cấp lân đầy đủ

sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiệncho sinh trưởng, phát triển, thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năngsuất lúa

“Bón lân có ảnh hưởng đến phẩm chất hạt rõ rệt, tăng trọng lượng nghìnhạt, tăng tỷ lệ lân trong hạt, tăng số hạt trên bông và cho năng suất lúa cao hơn( Đào Thế Tuấn, 1970)”

Theo Suichi Yosda (1985) thì hiệu suất của lân đối với hạt ở giai đoạn đầucao hơn giai đoạn cuối, việc bón lân đáp ứng được giai đoạn đầu của cây lúa

Tương tự như kết luận của Suichi Yosda, khi nghiên cứu hiệu lực củaphotphorit bón cho lúa ở Miền Bắc Việt Nam, Lê Văn Căn (1964) cho rằng: câylúa hút lân ở thời kỳ đầu chủ yếu đáp ứng cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng,đặc biệt là quá trình đẻ nhánh

Khi nghiên cứu về nhu cầu lân của lúa, Vũ Hữu Yêm (1995) cho rằnglượng phân bón cho lúa phụ thuộc quan trọng nhất là loại đất lúa, đủ để cung cấpcho cây và duy trì lượng lân ổn định trong đất Có thể bón lượng từ 40-90 kg P2-

Trang 12

O5/ha Phân lân chậm tan hơn phân đạm nếu bón thúc sẽ cho hiệu quả thấp chonên bón lân lót toàn bộ trước khi cấy.

Cây lúa hút lân ở dạng H2PO4-, HPO42- và sử dụng lân mạnh nhất vào thời

kỳ đẻ nhánh và làm đòng Khi bón lân cho lúa, supe lân được sử dụng nhiều vì

ưu điểm ngoài cung cấp phospho supe lân còn cung cấp lưu huỳnh cho cây

Dinh dưỡng lân liên quan mật thiết với dinh dưỡng đạm Nếu bón đủ lân

sẽ tăng khả năng hút đạm và các chất dinh dưỡng khác Cây được bón cân đốiN,P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và phẩm chất tốt

2.2.3.3 Yêu cầu dinh dưỡng Kali của cây lúa

Theo Đinh Thế Lộc, Vũ Văn Liết (2004) thì kali không phải là chất tạothành bất kỳ một chất hữu cơ nào của cây lúa, nhưng nó rất quan trọng cho 40hoặc hơn 40 enzym hoạt động đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sinh lýcủa cây như đóng mở khí khổng, tăng khả năng chống chịu với điều kiện ngoạicảnh bất thuận, tăng khả năng chống chịu bệnh, giúp lúa đẻ nhánh thuận lợi,tăng kích thước hạt và khối lượng hạt Thiếu Kali cây sẽ còi cọc, đẻ nhánh kémhơn một chút, lá ngắn, màu xanh tối, bông nhỏ và dài

Theo tác giả đào Thế Tuấn, Tanaka, Tsunoda, (1965) thì thiếu kali sẽ ảnhhưởng mạnh đến khả năng đẻ nhánh Kali được cây lúa hút mạnh vào thời kỳ đẻnhánh rộ và sau trỗ 5 đến 10 ngày để tăng khối lượng hạt

Đối với chất lượng hạt lúa thì nếu thiếu Kali hạt giống sẽ không bìnhthường, dị dạng cao, phôi và rìa hạt bị đen Thiếu kali tỷ lệ nảy mầm của hạtkém, sức sống của hạt giảm nhanh trong quá trình bảo quản

Theo Suichi Yosda (1985), đất trũng ít kali, hàm lượng kali thấp hoặc thiếukali thường đi với ngộ độc sắt Thường trong đất đỏ, chua phèn, trên đất kém thoátnước cũng thiếu kali do trong các chất độc sinh ra có chất độc tính khử cao đã ngăncản việc hút kali và một phần kali bị giữ lại bởi keo đất

Trang 13

Theo Nguyễn Vi (1995), với các giống lúa hiện nay, tỷ lệ hạt chắc tăng từ30-57% do bón kali và trọng lượng hạt cũng tăng từ 12-30% sau khi lúa trỗ thìlúa thuần hút kali rất ít.

Để nói lên vai trò của các nguyên tố đa lượng đối với cây lúa, sau nhiềunăm nghiên cứu, Wada (1969) đã kết luận rằng: nếu coi năng suất lúa trongtrường hợp bón đầy đủ phân vô cơ là 100% thì khi không bón đạm năng suất lúagiảm 17%, không bón lân năng suất giảm 8% và không bón kali năng suất giảm5%

Theo Ernst W Mutert (1995) thì sản xuất nông nghiệp của Châu Á hiệnnay và trong tương lai đang càng ngày phụ thuộc vào phân bón Sử dụng phânbón có hiệu lực đầy đủ sẽ rất cần thiết để đảm bảo cho một nền sản xuất nôngnghiệp bền vững có khả năng thực về kinh tế và bảo vệ môi trường

2.3 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Cơ sở lý luận của việc bón phân cho cây lúa.

Đối với sản xuất nông nghiệp, phân bón đóng một vai trò quan trọngtrong việc tăng năng suất Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sửdụng phân bón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ Đặc biệt trongnhững năm gần đây, có rất nhiều giống lúa lai được đưa vào sử dụng, có khảnăng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừngtăng năng suất lúa Đối với cây lúa, đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất,

nó giữ vai trò quyết định trong việc tăng năng suất Với lúa lai, vai trò của phânbón kali cũng có vai trò quan trọng tương đương với đạm

Theo Nguyễn Như Hà, (2005), nhu cầu về đạm của cây lúa có tính chất liêntục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây Theo Vũ Hữu Yêm (1995), hàm lượngđạm trong cây và sự tích luỹ đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng

rõ rệt khi tăng liều lượng đạm bón Nhưng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồngphát triển mạnh, lá to, dài, phiến lá mỏng, tăng số nhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồngthời dễ bị lốp đổ và nhiễm sâu bệnh, làm giảm năng suất Ngược lại, thiếu đạm cây

Trang 14

lúa còi cọc, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm Hiệu lực của đạm còn phụ thuộcvào các yếu tố dinh dưỡng khác.

Theo De Datta S.K (1984) cho rằng, đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa cótưới Như vậy, để tăng năng suất lúa nước, cần tạo điều kiện cho cây lúa hút đượcnhiều đạm Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xungquanh rễ mà được quyết định bởi nhu cầu đạm của cây

“Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan trọng.Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạmtới 50% do nhiều con đường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay dophản đạm hoá (Đỗ Thị Thọ, 2004)”

Theo Đào Thế Tuấn, (1970) lại cho rằng khi bón vãi đạm trên mặt ruộnglúa có thể gây mất tới 60 – 70% lượng đạm bón Chính vì vậy, khi bón đạm cầnbón sớm, bón tập trung và bón dúi sâu xuống tầng đất nơi có bộ rễ lúa tập trungnhiều

Theo Nguyễn Như Hà, (1999), khi bón đạm ta nên bón sớm, bón tập trungtoàn bộ hoặc 5/6 tổng lượng đạm cần bón, bón lót sâu vừa có tác dụng tránh mấtđạm, lại vừa tăng tính chống lốp đổ cho lúa do bộ rễ cây phát triển mạnh Cũngtheo Nguyễn Như Hà (2005), nên bón kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ

mà cụ thể là phân chuồng

2.3.2 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so vớinhững năm trước đây do người dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuậttrong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Việt Nam hiện đang là một trong

20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới

Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấnđạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62%.Song do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mớichỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và

Trang 15

kali Nhưng hiệu quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy màngười dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Bảng 2.4: Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020

Nguồn: Phòng QL đất và phân bón, Cục Trồng trọt, Bộ NN& PTNT, 5/2007

2.3.3 Phương pháp bón phân cho lúa

2.3.3.1 Các loại và các dạng phân bón sử dụng cho lúa

Lúa là cây trồng có phản ứng tốt với phân hóa học nên bón phân hóa họccho lúa cho hiệu quả cao Trong thâm canh lúa, bón phân hữu cơ chủ yếu nhằm

ổn định hàm lượng mùn trong đất, tạo nền thâm canh nên có thể sử dụng các loạiphân hữu cơ khác nhau, kể cả rơm rạ lúa sau khi thu hoạch

Các loại phân đạm thích hợp cho lúa là phân đạm amon, ure Ure đang trởthành dạng phân đạm phổ biến đối với lúa nước vì có tỷ lệ đạm cao, lại rất thíchhợp để bón trên các loại đất thoái hóa Phân đạm Nitrat có thể dùng để bón thúc

ở thời kỳ đòng, đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn

Đất chua trồng lúa, bón phân lân nung chảy thường cho kết quả ngangphân supe lân hay có thể cao hơn trong điều kiện ngập nước cung dễ cung cấpcho lúa mà ít bị rửa trôi và còn cung cấp cả silic là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầucao ở cây lúa Tuy nhiên nếu cần bón thúc lân và trồng lúa trên đất nghèo lưuhuỳnh (đất bạc màu bón ít phân hữu cơ) thì phải dùng supe lân

Loại phân kali thích hợp bón cho lúa là kaliclorua

Trang 16

Ngoài ra, còn thường dùng các loại phân NPK, đặc biệt tốt là loại phânchuyên dùng cho lúa, phù hợp với điều kiện của từng vùng đất trồng.

Khả năng chịu chua của cây lúa khá, nhưng ở đất quá chua, cây lúa sinhtrưởng kém, có thể do nhôm hòa tan gây ra vì hiện tượng ngộ độc nhôm ít thấytrên các loại đất có pH trên 5,5 Mặt khác, sau khi đưa nước vào ruộng đất có thể

bị chú hơn, nên bón vôi là biện pháp quan trọng ở đất lúa nước quá chua và việcbón vôi phải được kết hợp với một chế độ bón phân hợp lý thì mới thu được kếtquả mong muốn nhất

2.3.3.2 Lượng phân bón cho lúa ở những vùng trồng lúa chính

“Liều lượng phân chuồng thường bón 7-10 tấn/ha, vụ mùa nên bón nhiềuhơn Liều lượng phân khoáng bón cho lúa phụ thuộc vào năng suất kế hoạch(đặc điểm của giống, loại hình cây), độ phì của đất, các điều kiện khí hậu (mùavụ) và khả năng cân đối với các loại phân khác Giống năng suất cao cần bónnhiều hơn so với các giống lúa thường, lúa địa phương, lúa vụ xuân thường bónnhiều hơn lúa vụ mùa, trồng lúa trên đất có độ phì cao cần giảm lượng phân bón

Trang 17

Bảng 2.5: Lượng phân bón cho lúa

Đông xuân Lúa laiThuần 100-120140-160 80-10040-60 80-10040-60

Hè thu Lúa laiThuần 120-14080-100 80-10050-70 80-10040-60

120 kg/ha Tuy nhiên, trên đất có độ phì trung bình, để đạt năng suất 6 tấnthóc/ha cần bón 160 kg N/ha Trên đất phù sa sông Hồng, để đạt năng suất trên 7tấn/ha cần bón 180-200 kg N/ha Các nước có năng suất lúa bình quân cao trênthế giới (5-7 tấn thóc/ha) thường bón 150-200 kg N/ha

Lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30-100 kg P2O5, thường bón 60

kg P2O5/ha Đối với đất xám bạc màu có thể bón 80 - 90 kg P2O5/ha, đất phèn cóthể bón 90 - 150 kg P2O5/ha

Lượng phân kali bón cho lúa phụ thuộc chủ yếu vào mức năng suất và khảnăng cung cấp kali của đất Các mức bón trong thâm canh lúa trung bình là 30-

90 kg K2O/ha, và mức bón trong thâm canh lúa cao là 100-150 kg K2O/ha, trong

đó kali của phân chuồng và rơm rạ có hiệu suất không kém kali trong phân hóahọc Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8-10 tấn phân chuồng/ha thì chỉ nên

Trang 18

bón 30-90 kg/ha phân kali khoáng, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao(Nguyễn Như Hà, 1999)”.

2.3.3.3 Phương pháp bón phân cho lúa

Nguyễn Như Hà (1999) cho rằng thời kỳ bón đạm ảnh hưởng đến sinhtrưởng và năng suất lúa Thời kỳ bón đạm phụ thuộc vào đặc điểm giống lúa,mùa vụ thành phần cơ giới đất và trình độ thâm canh Không thể có một hướngdẫn chung về thời kỳ bón đạm cho tất cả các giống, mùa vụ và đất trồng Bómđạm sớm tạo nhiều bông, bón đạm muộn tăng hạt là chủ yếu, bón đạm vào giaiđoạn đòng làm tăng tỷ lệ protein trong hạt Thời kỳ bón phân đạm cho lúathường gồm: bón lót và bón thúc đẻ nhánh, thúc đòng, ngoài ra còn có bón nuôihạt

 Bón phân lót cho lúa

Trong bón phân cho lúa thường bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân, mộtphần phân đạm và kali Thường bón lót phân chuồng trong quá trình làm đất,phân lân, phân kali cùng với phân đạm bón trước khi cày bừa lần cuối

Cây hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu và giai đoạn câycon, lúa bị khủng hoảng lân, do vây phân lân cần được bón lót toàn bộ hoặc bónlót và bón thúc sớm Phân lân nên bón rải đều trên mặt ruộng trước khi cày bừalần cuối để gieo cấy

Nên bón nhiều phân kali trong các trường hợp sau: trồng giống đẻ nhánh nhiềuhay ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ đọc sắt, đất có khả năng hấp thu caohay thiếu kali, mưa nhiều, ngập nước sâu, khí hậu lạnh Trong tực tiễn còn chiatổng lượng kali ra bón thúc làm nhiều lần, do lúa là cây có yêu cầu cung cấp kali

và giai đoạn rễ lúa ăn nổi trên bề mặt đất-cuối đẻ nhánh đến đầu làm đòng, kalicung cấp từ đất và nước tưới thường giảm đi ở giai đoạn đẻ nhánh của cây lúa.Thường dành 1/3-2/3 tổng lượng N để bón lót cho cây lúa, tỷ lệ phân dùng đểbón lót tùy thuộc vào tính chất đất, độ sâu cày bừa, điều kiện khí hậu, thời gian

Trang 19

sinh trưởng của cây lúa Cần bón lót nhiều đạm hơn khi cấy bằng mạ già, cácgiống lúa ngắn ngày, lúa chét (lúa mọc lại từ gốc rạ).

 Bón thúc đẻ nhánh

Bón thúc đẻ nhánh cho lúa thường bón bằng phân đậm hay phối hợp thêm vớimột phần phân lân (nếu còn chưa bón lót hết) Thời gian bón thúc đẻ nhánh vàokhoảng 18-20 ngày sau gieo hoặc sau khi lúa bén rễ hồi xanh, vào khoảng 10-20ngày sau cấy (tùy thuộc vào mùa vụ) khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh

Thường dành 1/2-2/3 lượng N còn lại để bón thúc đẻ nhánh nhằm làm cholúa đẻ nhánh nhanh, tập trung và cũng đr giảm lượng phân bón lót, tránh mất đạm.Cần bón thúc đẻ nhánh nhiều đạm cho lúa trong các trường hợp: cấy giống dàingày hay đẻ nhánh nhiều, mật độ gieo hoặc cấy cao, nhiệt độ khi gieo cấy cao

Đối với những giống lúa cực ngắn, lúa mùa cần phải bón thúc đẻ nhánhsớm hơn, còn với giống dài ngày, lúa xuân có thể bón thúc muộn hơn, do thời kỳsinh trưởng ban đấu của cây lúa bị kéo dài

Khi bón thúc đẻ nhánh có thể kết hợp với một vài biện pháp cơ giới như:rút nước ra khỏi ruộng trước khi cấy, làm cỏ sục bùn ( đặc biệt là trong vụ xuân)

để tránh cây lúa bị nghẹt rễ và làm tăng hiệu lực của phân đạm

 Phân bón thúc đòng

Bón thúc đòng cho lúa thường sử dụng phối hợp phần phân đạm và kali còn lạinhằm tiếp tục cung cấp đạm cho lúa để tạo được bông lúa to, có nhiều hạt chắc,nâng cao hệ số kinh tế cho cây lúa, đạt năng suất cao Bón đòng tốt nhất là bónsau khi phân hóa đòng vào khoảng 40-45 ngày sau khi gieo, cấy

Khi bón ít đạm thì bón thúc đòng là một kỹ thuật quan trọng để nâng caohiệu suất phân đạm và là thời kỳ bón đạm có hiệu quả nhất Những giống đẻ nhánh

ít, bông to, năng suất dựa vào số hạt trên bông thì cần phải chú trọng và đợt bónđón đòng và nuôi hạt để tạo được bông to, nhiều hạt chắc, đạt năng suất cao

Bón lót càng nhiều lúa sinh trưởng càng tốt thì thời gian bón đón đòngcàng muộn và ít Đối với các giống lúa mùa có thời gian sinh trưởng dài (150-

Trang 20

180 ngày) cần bón thúc đòng muộn hơn Cần dùng mắt đánh giá tình hình sinhtrưởng và màu lá trong thời kỳ đẻ rộ để phán đoán nhu cầu bón thúc đòng Khi

đã bón lót nhiều cũng không cần bón thúc đẻ mà chỉ cần bón thúc đòng

Nên dùng phân kali bón thúc đòng cho lúa trong các trường hợp sau:giống đẻ nhánh từ trung bình đến ít hay giống dài ngày, gieo cấy thưa; đất cóđiện thế oxy hóa khử rất cao, thành phần cơ giới rất nhẹ, hay trên đất phèn (thiếulân và ngộ độc sắt), đất kiềm (thiếu kẽm), lân bị đất cố định hay mưa nhiều

 Bón phân nuôi hạt

Sau khi lúa trỗ hoàn toàn có thể bón nuôi hạt bằng cách phun phân bón lá1-2 lần nhằm tăng số hạt chắc, tăng năng suất Đây là thời kỳ bón phân có hiệuquả rõ khi trồng lúa trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, có khả năng cung cấpdinh dưỡng và giữ phân kém

2.3.4 Vấn đề bón phân cân đối cho cây lúa

Bón phân cân đối cho lúa là tùy theo yêu cầu của cây lúa về các chất dinhdưỡng và khả năng đáp ứng từng loại chất dinh dưởng cho cây lúa của đất trồnglúa cụ thể mà bón phân Căn cứ định lượng để bón phân cho lúa:

Vụ mùa, vụ hè thu (mùa mưa) lượng đạm cần bón ít hơn so với vụ xuânKhi hàm lượng kali trong nước tưới cao (chảng hạn phù sa nhiều) thì bónkali với lượng thấp và ngược lại Đất nhẹ cần bón nhiều kali hơn đất nặng, đấtphú sa bón ít kali hơn đất xám Đất cát, đất xám, đất bạc màu do hàm lượng kalithấp nên cần bón nhiều kali hơn so với các loại đất khác Trên đất này do hàmlượng hữu cơ và sét thấp nên phải chia ra làm nhiều lần bón hơn để giảm thấtthoát phân bón

Trong rất nhiều trường hợp, hiện tượng lốp đổ là một nhân tố không chophép được bón cho lúa tới lượng đạm tối đa Nếu cây lúa đổ trước khi trỗ, năngsuất có thể giảm 50-60% Giống lúa mới thấp cây có khả năng chống đổ tốt,lượng đạm bón tối thích cao hơn nhiều

Trang 21

Nếu vừa thu hoạch hạt thóc, vừa lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì bón phânnhiều hơn, đặc biệt là kali, do khá nhiều kali bị lấy đi khỏi đồng ruộng theo rơm

rạ, nhưng nếu không lấy rơm rạ ra khỏi đồng ruộng thì chỉ khoảng 5% lượngkali bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch qua hạt Khoáng trong đất, rạ và nướctưới là nguồn kali cung cấp cho cây

Ở đất nhẹ nhiều cát cây cần kali hơn, đồng thời giống có năng suất caocần nhiều kali hơn

2.4 Những nghiên cứu về mật độ cấy của lúa

2.4.1 Mật độ cấy ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng lúa

Mật độ là một kỹ thuật làm tăng khả năng quang hợp của cá thể và quầnthể ruộng lúa, do tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích

lá thích hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh

và số nhánh hữu hiệu/khóm, khả năng chống chịu sâu bệnh… từ đó mà ảnhhưởng mạnh mẽ đến năng suất lúa

Bùi Huy Đáp (1999) cho rằng: Đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối về sốnhánh thay đổi nhiều qua các mật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa các mật độ lạikhông thay đổi nhiều Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánhnào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lánhất định mới thành bông

Về khả năng chống chịu sâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tácgiả và đều chung nhận xét rằng: gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trường thíchhợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các lá

bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi đi nhiều

Một trong những biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trongnông nghiệp là gieo cấy với mật độ thích hợp với từng giống lúa, tránh gieo cấyquá dày sẽ tạo điều kiện cho khô vằn, rầy nâu và đạo ôn phát triển mạnh

Trang 22

Mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăng mật độcấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn đó thì năngsuất sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi.

Theo Nguyễn Văn Hoan (1995) thì trên một đơn vị diện tích nếu mật độcàng cao thì số bông càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít Tốc độ giảm sốhạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, vì thé cấy quá dày sẽ làm cho năng suấtgiảm nghiêm trọng.Tuy nhiên nếu cấy mật độ quá thưa dối với các giống có thờigian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không đạt được số bông tối ưu

Về ảnh hưởng của mật độ cấy đến khối lượng 1000 hạt, Bùi Huy Đáp(1999) đã chỉ ra rằng khồi lượng 1000 hạt ở các mật độ từ cấy thưa đến cấy dàykhông thay đổi nhiều

Khi nghiên cứu về mật độ, cách cấy của các ruộng lúa năng suất cao tácgiả Đào Thế Tuấn (1963) cho biết: Mật độ là một trong những biện pháp ảnhhưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyêt định diện tích lá và sự cấu tạo quầnthể, đến chế độ ánh sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa một cách mạnh

mẽ nhất

Theo Nguyễn Văn Hoan (2004) thì tùy từng giống để chọn mật độ thíchhợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa đủ thông thoáng, cáckhóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàng sôngrộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảonhưng lại tạo ra sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp,chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn

Theo Trương Đích (1999) thì mật độ cấy còn phụ thuộc vào mùa vụ vàgiống: vụ xuân hầu hết các giống cải tiến cấy mật độ thích hợp 45-50 khóm/m2

nhưng vụ mùa thì cấy 55-60 khóm/m2

Có một số người cho rằng dù cấy dày hay cấy thưa thì cũng ít ảnh hưởngđến năng suất, vì tuy mật độ có ảnh hưởng đến số bông/ đơn vị diện tích nhưng

Trang 23

nếu số bông nhiều thì số hạt/bông ít và ngược lại, nên cuối cùng số hạt/ đơn vịdiện tích cũng không hoặc ít thay đổi.

Thực ra thì quan hệ giữa mật độ và năng suất không hẳn như vậy Dựavào sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Đinh Văn Lữ(1978) đã đưa ra lập luận là các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt chẽvới nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnhhưởng lẫn nhau Theo ông, số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hật/bông và

tỷ lệ hạt chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhưng nếu số bông tăng quá cao, sốhạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong 3 yếu tố cấuthành năng suất: số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt thì 2 yếu

tố đầu giữ vai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc của quần thể còn khốilượng 1000 hạt của mỗi giống ít biến động

Vì vậy năng suất sẽ tăng khi tăng mật độ cấy trong một phạm vi nhấtđịnh Phạm vi này phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống, đất đai, phân bón vàthời tiết

Như vậy mật độ cấy có ý nghĩa quan trọng đến cấu trúc quần thể ruộnglúa Một quần thể ruộng lúa tốt phải đảm bảo được những chỉ tiêu nhất định về

độ thông thoáng trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phân bố không gian trên mộtruộng lúa, đặc biệt là thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất Mật độ thích hợp tạo chocây lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật

độ thích hợp còn tạo nên sự tương tác hài hòa giữa cá thể cây lúa và quần thểruộng lúa và mục đích cuối cùng là cho năng suất cao trên một đơn vị diện tích

Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh lai rai, hạn chếđược thời gian đẻ nhánh vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng Cấy dày các cây concạnh tranh nhau về dinh dưỡng, ánh sáng sẽ vươn cao lá nhiều, rậm rạp ảnhhưởng đến hiệu suất quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khảnăng chống chịu kém và năng suất cuối cùng không cao Hạt chín không đều,

Trang 24

mầm mống saauu bệnh trên hạt có thể tăng do độ ẩm hạt tăng nhanh trong quátrình bảo quản… ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hạt lúa.

2.4.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới

“Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích.Với lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m2 còn với lúa gieo thảng được tínhbằng số hạt mọc/m2 (Nguyễn Văn Hoan, 2004)” Về nguyên tắc thì mật độ gieohoặc cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định,việctăng số bông không làm giảm số hạt trên bông nhưng nếu vượt quá giới hạn đóthì số hạt/ bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiềubông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt / bông mạnh hơn tốc

độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiềuhơn so với lúa thường Tuy nhiên nếu cấy quá thưa đối với giống có thời giansinh trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cần thiết theo dự định

Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào điềukiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống… Khi nghiên cứu về vấn đề nàySasato (1966) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấymật độ thưa ngược lại phải cấy dày Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không

có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với vùng nóng ẩm, mạdảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so vớilúa gieo sớm

Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S Yoshida (1985) đã khẳng định:Trong ruộng cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi

từ 20×20 cm đến 30×30 cm Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông.Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182-242 dảnh/m2 Số bông trênđơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông Mật độcấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh Thường gieocấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dày thì đẻ nhánh ít

Trang 25

“Các tác giả sinh thái học dã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất vàquần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: Các giống khác nhau phản ứngvới các mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năngsuất tăng còn tăng quá năng suất giảm xuống (Suichi Yoshida, 1985)” Holiday(1960) cho rằng: Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt là quan hệparabol, tức là mật độ lúc đầu tăng thì năng suất tăng nhưng nếu tiếp tục tăngmật độ quá thì năng suất lại giảm.

Trong phạm vi khoảng cách 50×50 cm đến 10×10 cm khả năng đẻ nhánh

có ảnh hưởng đến năng suất Năng suất của hạt giống IR-154-451 (một giống đẻnhánh ít) tăng lên so với việc giảm khoảng cách 10×10 cm Còn giống IR8(giống đẻ nhánh khỏe) năng suất cực đại ở khoảng cách cấy là 20×20 cm

2.4.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt nam

Mật độ cấy luôn là vấn đề được quan tâm của bà con nông dân, từ rất lâu vấn

đề cấy thưa hay cấy dầy thì tốt hơn luôn là hai quan điểm được tranh nhiều nhất.Cho đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: cấy dầy hợp lý làmtăng năng suất rõ rệt Tuỳ theo chân đất, tuổi mạ, giống lúa, tập quán canh tác, mứcphân bón, thời vụ mà xác định mật độ cấy cho phù hợp

Theo Nguyễn Công Tạn, Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn ThịTrâm, Nguyễn Trí Hòa, Quách Ngọc Ân (2002), các giống lai có thời gian sinhtrưởng trung bình có thể cấy thưa ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Cácgiống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp Sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấydày 40-45 khóm/m2

Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ tốt thì chúng ta cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng đất xấu nên cấy dày Để xácđịnh mật độ cấy hợp lý ta có thể căn cứ vào 2 thông số là: Số bông cần đạt/m2 và

số bông hữu hiệu trên khóm Từ 2 thông số trên có thể xác định mật độ cấy phùhợp theo công thức:

Số bông/m2

Trang 26

Mật độ (khóm/m2) =

Số bông hữu hiệu/khómTheo kết quả đạt được trên những ruộng lúa thâm canh năng suất đạt đượcđược 300kg/sào thì khóm lúa cần có 7-10 bông (thí nghiệm trên Sán ưu quế 99)thì mật độ là: Với 7 bông/khóm cần cấy 43 khóm/m2; vói 8 bông/khóm cần cấy

38 khóm/m2 với 9 bông/khóm cần cấy 33 khóm/m2; với 10 bông/ khóm cần cấy

30 khóm/m2

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởngcủa lúa ngán ngày thâm canh Nguyễn Như Hà (2005) kết luận: Tăng mật độ cấylàm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm so sánh số dảnh trên khóm của mật

độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻtrong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh – 14,8% ở vụ xuân,còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm – 25% Về dinh dưỡng đạm của lúa có tácđộng đến mật độ cấy tác giả kết luận tăng bón đạm ở mật độ cấy dày có tác dụngtăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ chođến 65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2 ở vụ xuân Tăng bón đạm ở mật độcao trong khoảng 55-65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu

Một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ của ruộng lúa là số dảnhcấy/khóm Số dảnh cấy phụ thuộc vào số bông dự định phải đạt/m2 trên cơ sổmật độ cấy đã xác định Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyêntắc chung là dù ở mật độ nào, tuổi mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giốngmạnh yếu thì vẫn phải đạt được số dảnh thành bông theo yêu cầu, độ lớn củabông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 đạt được số lượng dự định

Theo Nguyễn Công Tạn, Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn ThịTrâm, Nguyễn Trí Hòa, Quách Ngọc Ân (2002) thì sử dụng mạ non để cấy (mạchưa đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9bông hữu hiệu/ khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗi dảnh

Trang 27

đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữuhiệu giảm.

Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2-5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cảnhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10-15 ngày so với mạ chưa đẻ, vì vậy sốdảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70% sốbông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích lũy, ra lá, lớn lên và thànhbông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng 8-15 ngày sau cấy Vìvậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non

Nguyễn Văn Hoan(2002) cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì

để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) Với loại mạthâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo số bông cần đạtnhân với 0,8

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năng sinhtrưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 của Tăng Thị Hạnh (2003)cho thấy mật độ cấy ảnh hưởng không nhiều đến thời gian sinh trưởng, số lá vàchiều cao cây Nhưng mật độ có ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh, hệ số đẻ nhánh(hệ số đẻ nhánh giảm khi tăng mật độ cấy) Mật độ cấy tăng thì diện tích lá và khảtích lũy chất khô tăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích lũychất khô giảm khi tăng mật độ cấy

Các giống lúa khác nhau có khả năng đẻ nhánh khác nhau, bông to, bôngnhỏ khác nhau, kiểu cây khác nhau Bố trí mật độ khoảng cách, số dảnh/khóm,

số khóm/m2, phù hợp nhằm tạo ra cấu trúc quần thể với số lượng bông số hạthợp lý thì đạt được số hạt nhiều hạt to và chắc đồng nghĩa với năng suất đạt tối

đa Trên cùng một diện tích nếu cấy với mật độ dày thì số bông càng nhiềunhưng số hạt trên bông càng ít và tỷ lệ hạt chắc/bông càng giảm Cấy dầy khôngnhững tốn công mà còn giảm năng suất nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy thưaquá với những giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn sẽ rất khó đạt được sốbông tối ưu

Trang 28

Theo Nguyễn Văn Duy (2008), mật độ cấy căn cứ vào các yếu tố sau:Đặc điểm của giống lúa gieo cấy: Giống lúa chịu thâm canh cao tiềm năngnăng suất càng cao thì cấy dày và ngược lại giống lúa chịu thâm canh kém thìcấy thưa hơn.

Tuổi mạ: Tuổi mạ càng ngắn, mạ non khả năng đẻ nhánh cao cấy thưahơn mạ già, tuổi mạ cao

Căn cứ vào độ phì của đất, khả năng thâm canh của nông hộ: Đất tốt, khảnăng thâm canh cao cấy dày ngược lại đất xấu, khả năng thâm canh kém thì phảicấy dày hơn

Qua các kết quả nghiên cứu trên, mật độ và số dảnh cơ bản cấy/ khóm làmột biện pháp kỹ thuật quan trọng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiệnthời tiết, khí hậu, dinh dưỡng của đất, đặc điểm của giống và khả năng thâmcanh của từng vùng, từng vụ gieo cấy… Cần bố trí mật độ và số dảnh cấy/khómmột cách hợp lý để có được diện tích lá cao thích hợp, phân bố đều trên diện tíchđất sẽ tận dụng được tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, đó là biện phápnâng cao năng suất lúa có hiệu quả cao nhất Đồng thời khi bố trí được số dảnhcấy trên đơn vị diện tích hợp lý (đặc biệt là đối với lúa lai) còn tiết kiệm đượchạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tếcho sản xuất lúa hiện nay

Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các giống lúa là mật độcấy và mức phân bón Qua nghiên cứu các tác giả đều thấy rằng, không có mật

độ cấy và các mức phân bón chung cho mọi giống lúa, mọi điều kiện Nói chungcác giống lúa càng ngắn ngày cần cấy dày như các giống lúa có thời gian sinhtưởng từ 75-90 ngày nên cấy mật độ 40-50 khóm/m2; những giống lúa đẻ nhánhkhỏe, dài ngày cây cao trong những điều kiện thuận lợi cho lúa phát triển thì cấymật độ thưa hơn Trong vụ mùa nên cấy 25-35 khóm/m2, trong vụ xuân nên cấy

từ 45-50 khóm/m2 Mỗi khóm lúa nên cấy vài ba dảnh Trong trường hợp mạ tốt

và chăm sóc tốt, cấy 1 dảnh cho đỡ tốn mạ mà vẫn đạt được năng suất và chất

Trang 29

lượng hạt cao Đối với các giống lúa mẫn cảm với chu kỳ ánh sáng thì mật độcấy có thể 15-25 khóm/m2 và thưa hơn.

Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu về mật độ, mức phân bón phù hợp vớitừng vùng sinh thái, từng giống lúa chưa được nhiều và sự nghiên cứu chưa có

hệ thống

Mặc dù đây là biện pháp kỹ thuật rất quan trọng nhưng lại phụ thuộc vàonhiều yếu tố như giống, trình độ áp dụng các biện pháp kỹ thuật, điều kiện sinhthái của từng vùng… Bởi vậy, cần có các công trình nghiên cứu để tìm được mật

độ, số dảnh cấy/ khóm tương ứng với các mức phân bón (đặc biệt là mức phânbón thấp) thích hợp nhất phù hợp với từng vùng canh tác là vấn đề cần phải thựchiện thường xuyên của các nhà nghiên cứu

Trang 30

PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm trên giống lúa thuần Khang Dân 18 được trồng phổ biến tạiKim Động Giống lúa Khang dân có một số đặc điểm sau:

1996 do công ty giống cây trồng Quảng Ninh, được nhiều địa phương khảonghiệm, trồng thử Được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 1999 theoquyết định số 1659QĐ/BNN-KHCN ngày 13 tháng 5 năm 1999 Là giống phổbiến nhất ở Phía Bắc và Miền Trung Theo kết quả điều tra năm 2000, diện tíchKhang dân 18 đạt gần 480.000 ha

vào vụ mùa sớm để tăng vụ trên đất vàn cao và vàn

3.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến:

- Thời gian sinh trưởng của giống lúa Khang dân trong điều kiện phânbón thấp

- Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của giống lúa Khang dân trong điềukiện phân bón thấp

Trang 31

- Các chỉ tiêu sinh lý, chống chịu của giống lúa Khang dân trongđiều kiện phân bón thấp.

- Năng suất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Công thức thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 2 nhân tố:

Yếu tố chính là số mật độ cấy gồm 6 công thức là:

M1:2 dảnh x 30 khóm/m 2 (60 dảnh cơ bản/m 2 ) M2:2 dảnh x 40 khóm/m 2 (80 dảnh cơ bản/m 2 ) M3:2 dảnh x 50 khóm/m 2 (100 dảnh cơ bản/m 2 ) M4:2 dảnh x 60 khóm/m 2 ( 120 dảnh cơ bản/m 2 ) M5:3 dảnh x 40 khóm/m 2 (120 dảnh cơ bản/m 2 ) M6:3 dảnh x 50 khóm/m 2 (150 dảnh cơ bản/m 2 )

Các mật độ cấy trên đều cấy với cùng khoảng cách hàng sông (20 cm),khoảng cách hàng tay khác nhau tùy thuộc vào từng mật độ Mật độ đối chứng làM6: 3 dảnh, 50 khóm/m2 (150 dảnh cơ bản/m2) là mật độ mà bà con vùng KimĐộng thường áp dụng

Yếu tố phụ là phân bón: 2 nền phân bón

P1: 104N + 83P2O5 + 60K2O ( nền phân bón trung bình ở đị phương) P2: 80N + 60P2O5 + 45K2O ( nền phân bón thấp, bằng 75% so với nềnphân P1)

3.3.2 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu Split-Plot (ô lớn ô nhỏ) với 3 lần nhắc lại.Mỗi khối nhắc lại được chia làm 2 ô lớn tương ứng với 2 mức phân bón Mỗi ôlớn được chia làm 6 ô nhỏ tương ứng với 6 công thức mật độ khác nhau Diệntích mỗi ô nhỏ là 15 m2, tổng diện tích thí nghiệm là 6x2x15x3 = 540 m2 (chưa

kể dải bảo vệ)

Trang 32

3.3.3 Địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm đồng ruộng được tiến hành bố trí trên khu đất trồng lúa của xãHiệp Cường-huyện Kim Động-tỉnh Hưng Yên

3.3.4 Các biện pháp kỹ thuật

- Đất cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại bón lót phân trước khi cấy Bón lót bằng phânbón NPK tổng hợp (5:10:3)

- Làm mạ theo phương pháp mạ dược

- Phun phân bón lá cho mạ (phun KH)

- Cấy mạ khi được 3,5 – 4 lá

- Cách bón phân: Sử dụng cách bón vãi theo bảng sau: (tính trên 1 ha) theo hainền phân bón P1 và P2

Trang 33

NPK(5:10:3) +11,2%K2O P2O5+11,2% K2OBón thúc lần 1 (Sau cấy 7-

15-20 ngày) Ure +

Kaliclorua

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định

3.4.1 Thời gian sinh trưởng

Theo dõi thời gian sinh trưởng của lúa từ khi cấy đến:

3.4.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng

Theo dõi 2 tuần một lần, tiến hành theo dõi 5 cây/ô thí nghiệm Các chỉtiêu theo dõi gồm:

- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): Đo chiều cao từ gốc đến ngọn á caonhất

Trang 34

Theo dõi vào các thời kỳ: Đẻ nhánh tối đa, trỗ 10% và chín sáp Lấy mẫu

5 khóm/ô thí nghiệm và xác định các chỉ tiêu sau:

- Diện tích lá: Đo bằng máy CI–202 Area metter của Hoa Kỳ

- Chỉ số diện tích lá LAI (m2lá/m2đất): Được tính bằng diện tích lá (m2)trên một

- Lượng chất khô tích lũy (g/khóm): Lấy mẫu, rửa sạch, tách các bộ phận: thân,

lá, rễ, bông, sau đó sấy khô ở 80 độ C trong 48h, cân trọng lượng và tính giá trịtrung bình

- Tốc độ tích luỹ chất khô (CGR) (g/m2 đất/ngày)

P2 – P1CGR = x mật độ

tTrong đó: - P2, P1 là trọng lượng chất khô của khóm tại thời điểm lấy mẫu

- t là thời gian giữa 2 lần lấy mẫu

Trang 35

- Hiệu suất quang hợp tính theo công thức:

W1 – W2

NAR(g/ m2 lá/ngày) = 1/2 (L1 + L2)t

Trong đó: NAR là hiệu suất quang hợp (g/ m2 lá/ngày)

W1,W2 là khối lượng của cây ở 2 điểm t1 và t2

L1,L2 là diện tích lá của cây ở 2 thời điểm t1 và t2

t là khoảng thời gian giữa hai lần lấy mẫu (ngày)

- Xác định hàm lượng đạm trong lá : Bằng phương pháp Kendal (chỉ ở thời kỳtrỗ)

 Phân tích đạm tổng số theo phương pháp Kendal

- Tiến hành : Mẫu lá sấy cho đến khi trọng lượng không đổi thì lấy ra và cắtnhỏ rồi nghiền thành dạng bột, bảo quản trong túi nilon, đem phân tích

Cân 0,5 g mẫu, cho vào bình công phá với axit sunfuaric 98% lượng 4 ml,sau đó đun 10 phút cho 10 ml H2O2 từ từ vào Đun tiếp 10 phút đến khi côngphá hoàn toàn, biểu hiện hết màu đen, sau đó để nguội hẳn Tiếp đó bỏ giấythấm lọc rồi sử dụng nước cất lọc, lên thể tích bằng nước cất đến 100 ml thìdừng

- Chuẩn bị các bình phân tích bằng bình Kendal

+ Bình đối chứng là bình Blank : Hút 10 ml H3BrO3 4%, cho 6 giọt hỗn hợpMetylen (MRMBS) sau đó đem chuẩn độ bằng bình Kendal (10 ml nước cất+ 10 ml NaOH 40%) đến khi bình Blank đạt 50 ml thì dừng, dùng nước cấtlên thể tích 60 ml

chuẩn độ bằng bình Kendal (10 ml mẫu + 10 ml NaOH 40%) đến khi bìnhmẫu đạt 50 ml thì dừng, lên thể tích 60 ml

+ Bình điều khiển (Control) : 60 ml nước cất + 6 giọt MRMBS

- Chuẩn độ : Sử dụng dung dịch H2SO4 0,001 mol/l

Trang 36

+ Chuẩn độ bình Blank : Sau khi màu đỏ của bình Blank chuyển sang màutrùng với màu bình Control thì dừng, ghi lại thể tích H2SO4 0,01 mol/l (V1).

giống bình Control thì dừng, ghi lại thể tích H2SO4 0,01 mol/l

• Tính toán kết quả theo công thức:

Hàm lượng đạm tổng số (%) =

C

N V

V2 1 ) 0 , 014 100 ( −

Trong đó: V1,V2 lần lượt là thể tích H2SO4 chuẩn độ bình Blank và bình

mẫuN: Nồng độ đương lượng của H2SO4 0,01% (0,02)C: Khối lượng mẫu phân tích tương ứng (0,05)

3.4.5 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

Vào thời điểm thu hoạch tiến hành lấy mẫu 10 khóm/ô thí nghiệm để xácđịnh các chỉ tiêu về năng suất:

- Số bông/khóm: Đếm tổng số bông hữu hiệu trên khóm

- Số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc: Số bông trên khóm chia làm 3 lớp: lớp bông to,lớp bông trung bình, lớp bông nhỏ, lấy ngẫu nhiên mỗi lớp một bông đếm tổng

số hạt, số hạt chắc, tính tỷ lệ hạt chắc

- Khối lượng 1000 hạt: Trộn đều hạt chắc của 5 khóm trong ô, đếm 2 lần 500hạt, nếu chênh lệch giữa 2 lần cân không quá 5% thì khối lượng 1000 hạt bằngtổng 2 lần cân đó, nếu chênh lệch hơn 5% thì làm lại

- Năng suất lý thuyết: NSLT= Số bông/khóm x số khóm/ m 2 x số hạt/bông x tỷ

lệ hạt chắc x khối luợng 1000 hạt x10-4 (tạ/ha)

- Năng suất sinh vật học (NSSVH) phơi khô rơm rạ kể cả rễ cân cùng khốilượng hạt khô

- Hệ số kinh tế

Trang 37

Năng suất kinh tế

HSKT =

Năng suất sinh vật học

- Năng suất thực thu: Thu hoạch toàn bộ diện tích ô thí nghiệm, tuốt hạt, phơikhô, loại bỏ hạt lép, hạt lửng, tính năng suất hạt (độ ẩm 13%)

3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu thu được trong quá trình thí nghiệm được tổng hợp và xử lýthống kê theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) bằng chương trìnhIRRISTART 4.0

PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Khang dân 18 trên hai nền phân bón

Trang 38

Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ lúc hạt thóc nảy mầm chotới khi chín, thời gian sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống và điềukiện ngoại cảnh

Trong đời sống cây lúa, có thể chia ra hai thời kỳ sinh trưởng chủ yếu làthời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và thời kỳ sinh trưởng sinh thực

- Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: là thời kỳ cây lúa phát triển mạnh các bộ phận

cơ quan sinh dưỡng như rễ , thân, lá Thời kỳ này có ảnh hưởng trực tiếp đến sốnhánh trên một đơn vị diện tích, chỉ số diện tích lá, hiệu suất quang hợp, ảnhhưởng quyết định năng suất ở giai đoạn sau

- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Là thời kỳ phân hoá và hình thành các cơ quansinh sản Thời kỳ này quyết định tới số bông/khóm, số hạt trên bông, tỷ lệ hạtchắc, khối lượng 1000 hạt Trực tiếp ảnh hưởng tới năng suất lúa

Khoảng thời gian chênh lệch dài ngắn của các giống khác nhau đều dothời gian của thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của các giống là khác nhau.Nguyên nhân là do bộ gen của giống quy định mức phản ứng của chúng với điềukiện ngoại cảnh Các giống dài ngày hay ngắn ngày khác nhau cơ bản ở thờigian sinh trưởng sinh dưỡng dài hay ngắn Mặt khác thời gian sinh trưởng sinhdưỡng của cây lúa cũng phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh: nhiệt độ, ánhsáng, dinh dưỡng…còn thời gian sinh trưởng sinh thực của các giống lúa hầunhư không thay đổi Vì vậy cần tác động các biện pháp kỹ thuật tác động vàothời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng để diều chỉnh thời gian sinh trưởng phát triểncủa cây lúa

Qua nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng củagiống lúa Khang dân 18 trên hai nền phân bón, chúng tôi thu được một số kếtquả như sau:

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng của giống

lúa Khang dân 18 trên hai nền phân bón ( ngày )

Trang 39

Các giai đoạn

CT

Gieo đếnCấy

Cấy đếnKTĐN

KTĐNđếnTrỗ

KTT đếnChín

TổngTGST

TGST: Tổng thời gian sinh trưởng

thuận lợi do vậy mạ phát triển khá nhanh chỉ kéo dài 18 ngày là cấy được.Nhưng do đất cấy chưa hoàn thành nên xuống ruộng cấy chậm hơn, kéo dài đến

22 ngày

• Giai đoạn bén rễ hồi xanh: Do điều kiện thời tiết khá thuận lợi, trời khôngquá nắng nóng nên cây lúa nhanh chóng bén rễ hồi xanh, chỉ trong vòng 2-3ngày cây lúa đã hồi xanh

• Giai đoạn đẻ nhánh: Thời gian sau khi hồi xanh lúa bắt đầu vào đẻ nhánh

Do gặp điều kiện thuận lợi nên thời gian đẻ nhánh ngắn và sớm đạt số nhánh tối

đa Do vậy thời gian đẻ nhánh chỉ trong vòng 25-27 ngày Nhìn chung nhữngcông thức cấy thưa có thời gian đẻ nhánh dài hơn những công thức cấy dày vàthời gian đến đẻ nhánh tối đa cũng kéo dài hơn Công thức phân bón cao có thờigian đẻ nhánh dài hơn nhưng không đáng kể

• Thời kỳ làm đòng: Sau khi lúa đẻ nhánh đạt số nhánh tối đa thì chuyểnsang thời kỳ làm đốt, làm đòng và kết thúc khi cây lúa bắt đầu trỗ Thời kỳ làm

Trang 40

đốt, làm đòng của giống lúa Khang Dân là khoảng 25-26 ngày và trỗ trong vòng4-5 ngày, thời gian trỗ rất ngắn và tập trung do điều kiện thời tiết khá thuận lợi.Trỗ xong lúa bắt đầu phơi mầu và tích lũy chất khô Nhìn chung, các công thứccấy với mật độ và phân bón khác nhau không ảnh hưởng đến thời gian làm đòngcủa Khang dân.

• Thời kỳ chín: Lúa trải qua ba giai đoạn là chín sữa, chín sáp và chín hoàntoàn Giai đoạn chín ổn định và kéo dài 30 ngày Ban đầu khi thụ phấn thụ tinhxong chất khô bắt đầu được tích lũy vào hạt, từ dạng nội nhũ mềm (chín sữa)đến cứng dần ( chín sáp) và cuối cùng vỏ hạt ngả sang màu vàng (chín hoàntoàn)

Tổng thời gian sinh trưởng của Khang dân ở các công thức khác nhaukhông nhiều từ 108-111 ngày, sự sai khác này là do sự sai khác giữa các côngthức ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng Tuy độ biến động về thời gian sinhtrưởng không lớn, song các công thức cấy dày (2 dảnh, 60 khóm/m2) thì tổngthời gian sing trưởng có xu hướng rút ngắn hơn so với công thức cấy thưa (2dảnh, 30 khóm/m2) Điều này có thể do các công thức cấy dày, lúa sớm đạt sốnhánh tối đa, nhanh kín hàng hơn so với các công thức cấy thưa So sánh trênhai nền phân bón cho thấy tổng thời gian sinh trưởng ở nền phân bón thấp hơnđược rút ngắn hơn tổng thời gian sinh trưởng ở nền phân bón cao hơn, tuy nhiên

độ biến động không lớn

So sánh với kết quả nghiên cứu ở vụ xuân 2009 ( Đinh Sỹ Nguyên, 2009)cũng cho kết quả tương tự Tuy nhiên do điều kiện trong vụ xuân gặp rét kéo dàinên tổng thời gian sinh trưởng của Khang dân kéo dài đến 119 – 120 ngày sựkhác biệt này là do thời gian đẻ nhánh trong vụ xuân kéo dài lâu hơn

4.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng sinh trưởng của giống lúa Khang dân 18 trên hai nền phân bón

4.2.1 Động thái chiều cao cây

Ngày đăng: 12/01/2016, 17:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bộ (2003). Bón phân cho cây trồng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cho cây trồng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: Nhà xuất bảnNông nghiệp
Năm: 2003
2. Cục khuyến nông và khuyến lâm (1998). Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối và hợp lý cho câytrồng
Tác giả: Cục khuyến nông và khuyến lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
3. Lê Văn Căn (1964). Kinh nghiệm 12 năm bón phân hóa học ở Miền Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm 12 năm bón phân hóa học ở Miền Bắc ViệtNam
Tác giả: Lê Văn Căn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1964
4. Phạm Văn Cường (2005). ‘Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến năng suất chất khô ở các giai đoạn sinh trưởng và năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần’, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, III, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Cường
Năm: 2005
8. Bùi Huy Đáp (1999). Một số vấn đề về cây lúa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về cây lúa
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
9. Bùi Huy Đáp. Cây lúa Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lúa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
10. Trương Đích (1999). Kỹ thuật gieo trồng 265 giống cây trồng mới năng suất cao, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gieo trồng 265 giống cây trồng mới năng suấtcao
Tác giả: Trương Đích
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
12. Nguyễn Như Hà (1999). Phân bón cho lúa ngắn ngày thâm canh trên đất phù sa sông Hồng, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân bón cho lúa ngắn ngày thâm canh trên đấtphù sa sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Năm: 1999
13. Nguyễn Như Hà (2005). ‘ xác định lượng phân bón cho cây trồng cà tính toán kinh tế trong sử dụng phân bón’, Chương 3, trong sách Bài giảng cao học, Nguyễn Như Hà (biên tập), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng caohọc
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2005
14. Tăng Thị Hạnh (2003). Ảnh hưởng của mật độ và só dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 trên đất Đồng bằng Sông Hồng và đất bạc màu Sóc Sơn – Hà Nội trong vụ xuân 2003, luận văn thạc sĩ nông nghiệp,Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mật độ và só dảnh cấy đến sinhtrưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 trên đất Đồngbằng Sông Hồng và đất bạc màu Sóc Sơn – Hà Nội trong vụ xuân 2003
Tác giả: Tăng Thị Hạnh
Năm: 2003
15. Vũ Đình Hòa (2005). Chọn giống cây trồng đại cương, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống cây trồng đại cương
Tác giả: Vũ Đình Hòa
Năm: 2005
16. Nguyễn Văn Hoan (1995). Kỹ thuật thâm canh lúa ở hộ nông dân, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật thâm canh lúa ở hộ nông dân
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: Nhà xuấtbản Nông nghiệp
Năm: 1995
17. Nguyễn Văn Hoan(2002). Kỹ thuật thâm canh mạ, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật thâm canh mạ
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nôngnghiệp Hà Nội
Năm: 2002
18. Nguyễn Văn Hoan (2004). Cẩm nang cây lúa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang cây lúa
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Đinh Thế Lộc, Vũ Văn Liết (2004). Nguyên lý và kỹ thuật sản xuất lúa, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý và kỹ thuật sản xuất lúa
Tác giả: Đinh Thế Lộc, Vũ Văn Liết
Năm: 2004
20. Đinh Văn Lữ (1978). giáo trình cây lúa, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình cây lúa
Tác giả: Đinh Văn Lữ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1978
22. Nguyễn Thị Nguyệt (2006). Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm và số dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 tại Chương Mỹ - Hà Tây, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm vàsố dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai20 tại Chương Mỹ - Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Nguyệt
Năm: 2006
23. Suichi Yoshida (1985). Những kiến thức cơ bản của khoa học trồng lúa, Mai Văn Quyền dịch, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cơ bản của khoa học trồng lúa
Tác giả: Suichi Yoshida
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1985
24. Nguyễn Công Tạn, Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Trí Hòa, Quách Ngọc Ân (2002). Lúa lai ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lúa lai ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Tạn, Ngô Thế Dân, Hoàng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Trâm, Nguyễn Trí Hòa, Quách Ngọc Ân
Nhà XB: Nhà xuấtbản Nông nghiệp
Năm: 2002
25. Nguyễn Hữu Tề (2004). Tập bài giảng cho học viên cao học, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng cho học viên cao học
Tác giả: Nguyễn Hữu Tề
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất lúa gạo của các nước sản xuất - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo của các nước sản xuất (Trang 3)
Bảng 2.3: Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 2.3 Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây (Trang 6)
Bảng 2.4: Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 2.4 Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 (Trang 15)
Bảng 2.5: Lượng phân bón cho lúa - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 2.5 Lượng phân bón cho lúa (Trang 17)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 32)
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái chiều cao cây của giống - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái chiều cao cây của giống (Trang 42)
Hình 4.1: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái chiều cao cây của giống - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Hình 4.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái chiều cao cây của giống (Trang 43)
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của mật độ cấy trên hai nền phân bón đến động thái - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy trên hai nền phân bón đến động thái (Trang 44)
Hình 4.2: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh của giống lúa - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Hình 4.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh của giống lúa (Trang 45)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của mật độ cấy trên hai nền phân bón - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy trên hai nền phân bón (Trang 46)
Hình 4.3: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá ở 3 thời kỳ của - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Hình 4.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá ở 3 thời kỳ của (Trang 51)
Bảng 4.6 : Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số SPAD của giống lúa Khang dân trên hai nền phân bón ở một số giai đoạn sinh trưởng phát triển. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số SPAD của giống lúa Khang dân trên hai nền phân bón ở một số giai đoạn sinh trưởng phát triển (Trang 52)
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hàm lượng đạm trong lá đòng thời kỳ trỗ của giống lúa Khang dân trên hai nền phân bón (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hàm lượng đạm trong lá đòng thời kỳ trỗ của giống lúa Khang dân trên hai nền phân bón (%) (Trang 54)
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu suất quang hợp thuần (HSQHT) của Khang dân trên hai nền phân bón tại một số giai đoạn sinh - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy tới sinh trưởng, phát triển và năngsuất của giống lúa Khang dân trong điều kiện phân bón thấp ở vụ mùa 2009tại Kim Động – Hưng Yên
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu suất quang hợp thuần (HSQHT) của Khang dân trên hai nền phân bón tại một số giai đoạn sinh (Trang 61)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w