1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai

128 644 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 4,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HĐNK giúp HS biết coi tri thức vừa là mục đích nâng cao nhận thức, vừa là phương tiện để vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn; biết điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp;

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ XUÂN HỘI

Thành phố Hồ Chí Minh, 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Hương

Trang 3

Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Đỗ Xuân Hội, thầy đã luôn tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn

Tôi cũng chân thành cám ơn sự quan tâm của Ban giám hiệu, sự hỗ trợ tích cực của các thầy cô trong tổ vật lí cùng các học sinh trường THPT chuyên Lương Thế Vinh - Đồng Nai, nơi tôi đang công tác

và tiến hành thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người bạn thân thiết của tôi vì đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp tôi có thêm niềm say mê trong nghiên cứu khoa học

Tác giả

Nguyễn Thị Mỹ Hương

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Theo Ủy ban quốc tế và giáo dục thế kỉ XXI của UNESCO [29], thế kỉ XXI mà ta đang sống là thế

kỉ của tài năng và nhân cách đa dạng, vì thế dạy học là phải dạy cả tri thức, kĩ năng và thái độ để khi ra đời người học có thể học tập suốt đời, có thể thích nghi và tham gia một cách chủ động, sáng tạo, vào thế giới phong phú, luôn biến đổi và phụ thuộc lẫn nhau

Hiện nay, đã có nhiều dự án nghiên cứu, đầu tư cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả trong giáo dục Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng có một số hoạt động giáo dục trong nhà trường chưa mang lại hiệu quả thật sự trọn vẹn cho quá trình đào tạo – và tự đào tạo trong nhà trường Đó là HĐNK trong nhà trường phổ thông

Nền giáo dục Việt Nam đã và đang luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục toàn diện cho HS, trong đó HĐNK là một bộ phận không thể thiếu của quá trình giáo dục HĐNK là một hoạt động giáo dục cơ bản ngoài giờ học chính thức, được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, được tiến hành xen kẽ với chương trình dạy học và diễn ra suốt năm học HĐNK giúp HS biết coi tri thức vừa là mục đích nâng cao nhận thức, vừa là phương tiện để vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn; biết điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp; biết nắm bắt những định hướng chính trị xã hội …Từ đó, rèn luyện cho mình những kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng sống hợp tác, giao tiếp hiệu quả…

Thực trạng giáo dục Việt Nam trong những năm qua cho thấy: không thiếu các trường đã đầu tư đúng mức, kịp thời cho các HĐNK, nhất là các hoạt động thể dục thể thao, các buổi ngoại khóa văn học, hóa học, vật lí, ngoại ngữ, …Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà hiện nay HĐNK vẫn còn là niềm mơ ước xa vời của nhiều trường, bao gồm một số các trường chuyên trong cả nước

Mặt khác, theo một khảo sát về khoảng cách IQ-EQ dành cho HS trường chuyên do Viện nghiên cứu giáo dục – Đại học sư phạm TP.HCM [38] thực hiện cho thấy: HS các trường chuyên có các điểm mạnh về năng lực tư duy, trong đó óc suy diễn, sự tưởng tượng được đánh giá rất cao mà theo HS là do thường vận dụng các năng lực này cho việc học Hơn nữa, HS có thể làm việc dưới áp lực cao, có nhiều cảm thông với người khác, có sự rõ ràng quả quyết trong việc làm của mình và có nhận thức cá nhân cao Nhưng chính điều này đã làm HS các trường chuyên có tính cách quyết đoán, ít chịu nhân nhượng HS chuyên có khả năng nhận thức được bản thân, đây là một kĩ năng không dễ có vì HS cần nhiều can đảm để đối diện với sự thật về bản thân như vẻ ngoài hay những hạn chế của chính mình, từ đó các bạn tự nhận ra được trạng thái căng thẳng hay tình trạng bị ức chế để ứng phó kịp thời Tuy nhiên, kĩ năng xã hội của những HS này chiếm vị trí thấp trong mười ba tiêu chí đánh giá EQ HS chuyên có thể thông cảm với người “không bằng mình” nhưng lại không thể chấp nhận có người “hơn mình” và chính tư duy này đã

Trang 5

cản trở những nỗ lực nhằm phát huy tiềm năng của họ, đặc biệt làm cho các kĩ năng hợp tác và làm việc nhóm không được phát huy đúng mức

Từ những phân tích nêu trên và trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, tác giả đã vận dụng các cơ

sở lí luận cơ bản của HĐNK vào việc tổ chức các HĐNK cho môn vật lí ở trường THPT Vấn đề nghiên

cứu đặt ra là: Làm thế nào để những HĐNK môn vật lí thực sự trở thành những hoạt động đa dạng nhằm

giúp HS không chỉ củng cố kiến thức vật lí mà còn chiếm lĩnh các kĩ năng sống là những kĩ năng hết sức cần thiết cho sự thành công của con người trong thời đại ngày nay?

Để trả lời cho câu hỏi này, đề tài đã nghiên cứu xây dựng những mô hình cụ thể cho HĐNK môn vật lí ở trường THPT chuyên LTV (Đồng Nai), giúp cho GV có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục ngoại khóa môn vật lí đối với HS và ngay cả bản thân GV; hỗ trợ cho GV các thông tin cần thiết nhằm giúp họ có thêm niềm tin và cơ sở để vận dụng nó vào thực tiễn dạy học ở phổ thông

2 Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá sơ bộ chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện các HĐNK môn vật lí ở trường THPT

- Đề xuất mô hình HĐNK môn vật lí có chất lượng, phù hợp với MTGD và áp dụng cho trường THPT chuyên LTV – Đồng Nai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Chương trình, nội dung vật lí lớp 10

+ Các kiến thức vật lí (hiện tượng, trò chơi, …) quanh ta, có liên quan đến nội dung kiến thức mà

4 Giả thuyết khoa học

Nếu có sự tổ chức hợp lí và khéo léo các HĐNK môn vật lí thì HS sẽ không chỉ có thêm niềm tin khi sử dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề hấp dẫn của thực tiễn, mà còn được trau dồi nhiều kĩ năng cần thiết cho con người ở thời đại mới

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thiết kế các mô hình tổ chức HĐNK cho môn vật lí lớp 10

- Tổ chức và tiến hành thử nghiệm một phần của thiết kế đó cho HS lớp 10 trường THPT chuyên LTV

- Bước đầu đánh giá khả năng thích nghi của HS, cùng những ích lợi mà HS lĩnh hội được khi tham gia các HĐNK này

Trang 6

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí thuyết: nghiên cứu cơ sở lí luận trong các tài liệu tham khảo

- Sử dụng bút vấn, điều tra trong việc thu thập dữ liệu về nhận thức của GV và HS cấp THPT về HĐNK vật lí

- Thực nghiệm sư phạm

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập, giáo dục HS có đầy đủ các tố chất: đức, trí, thể, mỹ là một yêu cầu mà các trường phổ thông phải chú trọng, vì thế mà nhu cầu về HĐNK là vô cùng cấp thiết

Kiến thức vật lí phổ thông cổ điển ngày nay đã nằm trong nguyên tắc của nhiều ứng dụng kỹ thuật phổ biến trong đời sống Tuy nhiên, vì giờ học chính khóa có hạn nên GV không thể dẫn dắt HS tìm hiểu hết được Do đó, các HĐNK cho môn vật lí cần được nghiên cứu tổ chức

GV vật lí với số giờ dạy chuyên môn nhiều nên không còn đủ thời gian và công sức để nghiên cứu

tổ chức nhiều HĐNK đa dạng, nên đề tài này được nghiên cứu cũng là để hỗ trợ phần nào cho các GV vật

lí trong việc chọn lựa các kiến thức vật lí phổ thông thích hợp cùng với cách thức tổ chức, tiến hành các HĐNK môn vật lí sao cho đạt hiệu quả cao

Trang 7

Chương 1

 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN VẬT LÍ

Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.1 Mục tiêu giáo dục môn vật lí hiện nay

MTGD là một hệ thống các chuẩn mực của mẫu hình nhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáo dục nhất định Đó chính là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại, trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng giáo dục Do đó MTGD phụ thuộc vào mỗi thời kì nhất định của quá trình phát triển xã hội và mỗi giai đoạn của quá trình giáo dục con người

 MTGD môn học vật lí ở PTTH của Việt Nam: [32]

* Mục tiêu kiến thức:

- Những khái niệm tương đối chính xác về sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí thường gặp

- Những định luật, nguyên lí vật lí quan trọng nhất

- Những nét chính của các thuyết vật lí

- Những hiểu biết cần thiết về phương pháp thực nghiệm, mô hình

- Nguyên tắc cơ bản thuộc những ứng dụng quan trọng của vật lí trong đời sống và sản xuất

* Mục tiêu kĩ năng:

- Thu thập thông tin từ quan sát, thí nghiệm, từ tài liệu …

- Xử lí thông tin về vật lí

- Truyền đạt thông tin về vật lí

- Giải thích các hiện tượng vật lí

- Các kĩ năng thực hành vật lí

- Đề xuất các dự đoán khoa học, các phương án thí nghiệm…

* Mục tiêu thái độ:

- Là sự hứng thú học tập môn học vật lí, có lòng yêu thích khoa học, có tác phong làm việc khoa học,

có tính trung thực khoa học, có ý thức sẵn sàng áp dụng hiểu biết vật lí vào thực tế…

Ủy ban giáo dục thế kỉ XXI của UNESCO đã chỉ ra ở nhiều chiến lược dạy học hiện đại ngày nay hướng tới các mục tiêu chung, cơ bản sau: [2], [4]

* Mục tiêu nhận thức:

- Phát triển hiểu biết khoa học

- Khả năng tổ chức kiến thức

Trang 8

- Phát huy thái độ tích cực đối với khoa học, đó là niềm tin, sự say mê, hứng thú đối với khoa học

 MTGD thiên niên kỉ của UNESCO: [29]

* Mục tiêu nhận thức: Học để biết (Learning to know)

* Mục tiêu kỹ năng: Học để làm (Learning to do)

- Coi trọng kỹ năng làm việc (theo nhóm, sáng kiến, kỹ năng giải quyết vấn đề, óc độc lập, phê phán…)

- Kỹ năng sống: giao tiếp, hợp tác, điều hành, quản lí…

- Sau đó mới tới các kỹ năng thuần tuý trí tuệ

* Mục tiêu thái độ: Học để chung sống (Learning to live together) và học để tự khẳng định mình

- Coi trọng sự phát triển đa dạng của nhân cách người học

Những mục tiêu trên rất tích cực và cần thiết cho sự phát triển lâu dài của con người “Vậy làm thế nào để việc dạy học vật lí nói riêng và các môn học khác nói chung đạt được nhiều MTGD tích cực, giúp ích cho sự phát triển của HS?” là câu hỏi mà việc đổi mới phương pháp dạy học phải cố gắng trả lời

Tổ chức lại nội dung dạy học, thay đổi cách thức tổ chức của quá trình dạy học, áp dụng một cách sáng tạo và linh hoạt các chiến lược dạy học tích cực vào thực tiễn có thể là cách làm phù hợp trong thực tiễn hiện nay Tuy nhiên, không thể hoàn thành tốt các MTGD chỉ bằng hoạt động lên lớp – là hoạt động dạy học được tiến hành theo chương trình và kế hoạch dạy học các môn học – mà còn phải thông qua các

Trang 9

hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục

không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước ta…”- Makarenco – nhà sư phạm nổi

tiếng của nước Nga đầu thế kỷ XX cũng đã từng nói như thế, nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có hình thức đa dạng và nội dung phong phú với phương tiện, điều kiện, hoàn cảnh gần gũi với HS, là môi trường lí tưởng trong việc giáo dục toàn diện con người mới

1.2 Mục tiêu giáo dục của HĐNK môn vật lí

1.2.1 Khái niệm hoạt động ngoại khóa

HĐNK là một hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp nhằm mục đích

bổ trợ cho hoạt động giáo dục trên lớp trong việc củng cố và mở rộng những kiến thức đã học, cung cấp

và rèn luyện các kĩ năng sống, cùng những phẩm chất tốt đẹp của con người thời đại mới cho cả GV và

HS [16]

HĐNK cho môn vật lí là các hình thức hoạt động được tổ chức ngoài giờ học chính khóa môn vật

lí, nhằm hỗ trợ các giờ học chính khóa trong việc làm cho nội dung kiến thức vật lí mà HS đã học trở nên gần gũi và có ý nghĩa với cuộc sống thực, không chỉ rèn luyện cho HS kĩ năng tiến trình khoa học, mà còn trang bị những kĩ năng chung (giao tiếp, hợp tác nhóm, giải quyết vấn đề, …) cần thiết có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề khác nhau không chỉ riêng trong lĩnh vực vật lí

1.2.2 Mục tiêu giáo dục của HĐNK môn vật lí

Tất cả các hoạt động giáo dục bao gồm cả các HĐNK dành cho môn vật lí được tổ chức trong nhà trường phổ thông đều nhằm thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho HS; giúp

HS lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học về thế giới, rèn luyện được những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, phát triển được tư duy sáng tạo và những phẩm chất tích cực của nhân cách Mặt khác HĐNK còn đem đến cho

GV nhiều cơ hội củng cố, nâng cao trình độ chuyên môn [16]

Tuy nhiên, do đặc thù của bộ môn vật lí mà có thể tổ chức những HĐNK với những mục tiêu cụ thể như sau:

1.2.2.1 Đối với học sinh

a Về kiến thức

- Củng cố, bổ sung, mở rộng, nâng cao các kiến thức vật lí đã được học trên lớp Đồng thời khơi gợi

sự tò mò, tìm hiểu, giải thích các hiện tượng vật lí; dựa trên những ứng dụng đã có của vật lí vào khoa học

kĩ thuật HS có thể chế tạo những mô hình đồ chơi tương tự, phù hợp với khả năng của bản thân Qua đó, giúp HS có thêm niềm tin khi sử dụng kiến thức vật lí vào giải quyết các vấn đề hấp dẫn của thực tiễn

b Về kĩ năng

Trang 10

- Rèn luyện các kĩ năng thực hành và kĩ năng tiến trình khoa học: Thu thập thông tin; xử lí thông tin; suy luận bằng các thông tin đã xử lí; rút ra kết luận …

- Rèn luyện các kĩ năng sống: làm việc theo nhóm hợp tác, giao tiếp, ngôn ngữ (do trao đổi, truyền đạt thông tin, tranh luận…), tổ chức, quản lí nhóm, giải quyết vấn đề, ra quyết định, ý thức đúng đắn về bản thân, …

c Về thái độ

- Hình thành thái độ tích cực học tập

- Bao dung hơn với bạn bè, hỗ trợ nhau về mặt tâm lí và điều này quan trọng cho quá trình lấy quyết định

- Thầy và trò có mối quan hệ tốt, làm cho việc dạy và học thuận lợi hơn

1.2.2.2 Đối với giáo viên

- Củng cố, nâng cao hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm

- Hướng tới việc gắn kết tình cảm, sự quan tâm lẫn nhau trong tập thể môi trường sư phạm giữa thầy – thầy, trò – trò, thầy – trò

- Rèn luyện, bồi dưỡng các kĩ năng tổ chức HĐNK Để tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung đạt kết quả, GV cần phải có một hệ thống kĩ năng tổ chức Đó là một hệ thống các kĩ năng từ xác định mục tiêu của hoạt động đến việc thiết kế chương trình và kế hoạch tổ chức hoạt động, từ kĩ năng thực hiện triển khai hoạt động, kĩ năng tiếp cận và huy động lực lượng quần chúng đến kĩ năng kiểm tra đánh giá và điều chỉnh hoạt động [25]

1.3 Đặc điểm HĐNK môn vật lí ở trường phổ thông hiện nay

1.3.1 Thực trạng [31]

Trong những năm qua HĐNK ở các trường THPT thường gắn với ngoại khóa chuyên môn Không

ít các trường đã xây dựng được kế hoạch HĐNK cụ thể cho nhiều phân môn Văn, Toán, Lí, Hóa, Sinh,

Sử, Địa, Giáo dục công dân và các hoạt động hướng nghiệp Ví dụ như trường THPT Mạc Đĩnh Chi; Nguyễn Thượng Hiền; Võ Trường Toản (TP Hồ Chí Minh); LTV (Biên Hòa); Nguyễn Du (Đaklak)…

Tuy nhiên, phần lớn các trường còn chưa thực sự chú trọng đến lợi ích mà HĐNK đem lại, chưa có

kế hoạch tổ chức cụ thể và xuyên suốt HĐNK cho môn vật lí cũng không nằm ngoài những hạn chế đó

1.3.2 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của các HĐNK nói chung, cũng như đối với HĐNK cho môn vật lí nói riêng:

- Một số cán bộ, GV, phụ huynh và HS chưa nhìn nhận đúng đắn vai trò của HĐNK nên trong quá trình

tổ chức, chỉ đạo và quản lí các HĐNK còn nhiều hạn chế như:

Trang 11

+ Ban giám hiệu các trường học phần lớn chỉ tập trung cho giờ học chính khóa và quan niệm ngoại khóa chỉ là vui chơi, giải trí

+ Hình thức hoạt động còn đơn điệu: thiết kế các thí nghiệm đơn giản (tên lửa nước, pin chanh …), thực hiện các cuộc thi đố em truyền thống…

+ Công tác kiểm tra thi đua, khen thưởng đối với HS và GV còn chưa kịp thời làm ảnh hưởng không nhỏ đến đến hiệu quả giáo dục

+ Công tác đánh giá chất lượng học tập hiện nay vẫn chủ yếu là đánh giá dựa trên điểm số học tập trên lớp và kĩ năng giải bài tập

+ Trình độ và kĩ năng tổ chức HĐNK của GV còn chưa được đầu tư

- Cơ sở vật chất của nhiều trường còn quá thiếu thốn, các phương tiện thiết yếu phục vụ cho việc dạy học chính khóa còn chưa đủ

- Nguồn kinh phí dành cho HĐNK lại quá ít ỏi nên dẫu muốn tổ chức nhiều HĐNK cũng không thể thực hiện được

- Số giờ dạy chuyên môn của GV phổ thông đã quá nhiều, cộng với khối lượng kiến thức trong chương trình chính khóa quá lớn, GV không còn nhiều thời gian, công sức đầu tư cho việc lập kế hoạch, chuẩn bị nội dung HĐNK

- Trong thời đại công nghệ thông tin, internet tràn ngập phố phường, nhiều HS chưa tích cực trong học tập luôn đắm mình trong những game, chat, nghe nhạc, … mà không còn hứng thú với HĐNK

- Phần lớn thời gian được HS sử dụng cho việc học chính khóa và những lớp học thêm Mặt khác, những

HS có năng lực sở trường về các môn xã hội lại thiếu tự tin hoặc không hứng thú với các HĐNK của môn vật lí

1.3.3 Các giải pháp chung đã được đề xuất [31]

Trong hội thảo về vấn đề: “Hiệu quả của HĐNK đối với việc nâng cao chất lượng dạy – học trong nhà trường phổ thông” do Trung tâm đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Viện nghiên cứu giáo dục TP.HCM tổ chức năm 2007 đã có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề này của các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, của các nhà quản lí, các nhà khoa học

* Theo Th.S Trương Quang Dũng (Sở GD và ĐT tỉnh Quảng Ngãi):

- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của HĐNK cho cán bộ, GV, HS và các lực lượng xã hội khác

- Bồi dưỡng kĩ năng tổ chức HĐNK cho cán bộ, GV,…

- Bồi dưỡng năng lực hoạt động cho HS

- Chỉ đạo nội dung, chương trình HĐNK

- Chỉ đạo đổi mới hình thức các hoạt động giáo dục

Trang 12

- Chăm lo đến việc xây dựng cơ sở vật chất, môi trường sư phạm và đổi mới công tác thi đua khen thưởng

* Theo Th.S Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang (Trung tâm Đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, Viện nghiên cứu giáo dục) thì HĐNK phải được nhìn nhận từ góc độ lợi ích của người học, đề cao mục tiêu rèn luyện các kĩ năng cá nhân của người học Mục tiêu mở rộng và khắc sâu kiến thức chỉ nên xem là thứ yếu

* GV Đào Thị Kim Như (trường THPT Võ Trường Toản) đã nêu một số kiến nghị như sau:

- Miễn vé cho HS vào tham quan các nhà Bảo tàng, khu di tích lịch sử, giảm vé khu vui chơi trên địa bàn thành phố

- Tổ chức các lớp bồi dưỡng công tác ngoại khoá trong nhà trường phổ thông

- Tổ chức các chương trình gameshow mang tính trí tuệ nhằm tạo sân chơi lành mạnh và tạo điều kiện cho HS có cơ hội phát huy khả năng cá nhân…

1.3.4 Giải pháp đề nghị đối với HĐNK môn vật lí

Dựa trên nội dung của các bản tham luận có trong kỉ yếu hội thảo đã nói ở trên, cùng với những tìm hiểu thực tế về HĐNK môn vật lí ở một số trường THPT, để nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động này, chúng tôi đề nghị các giải pháp sau:

- GV phải thật tâm huyết với nghề, với công việc ngoài giờ mà không có quy định nào bắt buộc

- Nếu không có điều kiện tham gia các lớp bồi dưỡng kĩ năng tổ chức HĐNK thì cách hay nhất là tự học trên sách báo, học hỏi kinh nghiệm từ những trường, những GV đã tổ chức thành công các HĐNK

- Cần lập kế hoạch HĐNK chi tiết ngay từ đầu năm học

- Tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của đồng nghiệp Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với những HS nòng cốt trong việc tổ chức, quản lí

Trang 13

- Nội dung kiến thức vật lí trong các buổi ngoại khóa không được tách rời chính khóa Mặt khác, tổ chức các HĐNK cho môn vật lí theo hướng tích hợp Lí – Toán; Lí – Hóa; Lí – Sinh; Lí – Văn sẽ hấp dẫn nhiều đối tượng HS

- Chú ý việc tạo nguồn quỹ cho HĐNK bằng nhiều cách khác nhau

1.3.4.3 Về phía HS

- HĐNK môn vật lí được tổ chức cho mọi đối tượng HS

- HS tham gia các HĐNK cho môn vật lí phải trên cơ sở tự nguyện Khi đã tham gia HS phải tuân thủ các quy định do Ban tổ chức đề ra

- Nhận thức đầy đủ về các lợi ích mà HĐNK môn vật lí đem lại

1.3.4.4 Về phía phụ huynh HS và các tổ chức liên quan

- Phụ huynh HS phải luôn theo dõi, kiểm tra việc học tập của con em mình, có nhận thức đúng đắn

về tầm quan trọng của các HĐNK môn vật lí đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ

- Các tổ chức liên quan cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các HĐNK

Trang 14

Chương 2

 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO MÔN VẬT LÍ 10

Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH – ĐỒNG NAI

2.1 Giới thiệu đôi nét về trường THPT chuyên Lương Thế Vinh – Đồng Nai

(Theo báo cáo tổng kết năm học 2007 – 2008)

Trường có chín tổ chuyên môn: Toán; Tin; Vật lí; Hóa;

Văn; Sử - Địa; Sinh; Anh văn; GDCD - Công nghệ - Thể dục

2.1.1.3 Các tổ chức khác

- Hội cha mẹ HS; Hội đồng sư phạm; Hội khuyến học; Hội đồng thi đua …

- Chi bộ Đảng; Công đoàn nhà trường; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

2.1.2 Cơ sở vật chất và thiết bị

- Khuôn viên nhà trường có diện tích 27.000 m2, tính bình quân 31,4m2/HS

- Cơ cấu các khối công trình trong trường gồm:

+ Khu phòng học, phòng thực hành bộ môn

+ Khu phục vụ học tập:

 Thư viện theo đúng tiêu chuẩn quy định hiện hành

 Một nhà truyền thống, sân bóng chuyền, bóng đá mini, bóng rổ, quần vợt

+ Khu sân chơi

Trang 15

- Kết quả các kì thi HS giỏi khá ổn định

2.1.3.2 Các hoạt động giáo dục

Thực hiện đúng quy chế chuyên môn, qui định của Bộ về thời gian tổ chức, nội dung các hoạt động giáo dục ở trong và ngoài giờ lên lớp Đặc biệt, trong những năm qua, trường THPT chuyên LTV rất quan tâm đến các HĐNK:

- Mỗi năm học tổ chức từ hai đến ba lần hoạt động tập thể theo quy mô toàn trường, các hoạt động tập thể tiêu biểu như:

+ Hội trại mùa xuân

+ Tham gia các hội thi văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động truyền thống nhân các ngày lễ lớn như: ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam; ngày 20/11; Ngày 26/3; Ngày sinh viên – HS toàn quốc 9/1

+ Đại hội thể dục thể thao

+ Nhiều hoạt động mang tính giáo dục đạo đức như: phụng dưỡng mẹ liệt sĩ; xây nhà tình thương; chỉ đạo đoàn thanh niên tham gia chiến dịch phòng chống ma túy…

- Tổ chức HĐNK các môn học: Trường luôn khuyến khích các tổ chuyên môn thành lập các CLB học thuật, tính đến thời điểm này đã có một số CLB được thành lập như: CLB Sinh học, CLB Tin học, CLB Hóa học, CLB Văn học với các hoạt động vừa chơi vừa học thú vị

2.1.4 Đặc điểm HĐNK môn vật lí của trường

Mặc dù nhiều tổ chuyên môn trong trường đã thành lập được các CLB nhưng riêng tổ vật lí vẫn chưa hình thành được một CLB vững mạnh, hấp dẫn, mặc dù các GV bộ môn vẫn có ý thức tổ chức cho

HS thiết kế các thí nghiệm vui ngoài giờ học chính khóa, nhưng các hoạt động còn mang tính cá nhân nên cũng chỉ sôi nổi được một thời gian ngắn

 Thuận lợi:

- Ban giám hiệu nhà trường luôn khuyến khích, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho các HĐNK

- GV bộ môn có trình độ chuyên môn cao

- GV trẻ chiếm ½ tổng số GV của tổ

- HS ngoan, hiếu học, say mê tìm tòi kiến thức

- Cơ sở vật chất và thiết bị khá đầy đủ gồm có ba phòng chuyên môn: một phòng chứa các thiết bị thí nghiệm, một phòng thực hành thí nghiệm, một phòng học chuyên môn được trang bị máy tính, máy chiếu, bàn ghế rời, thuận tiện cho việc sắp xếp theo nhiều hình thức hội họp: thảo luận nhóm, báo cáo chuyên đề

 Khó khăn:

- Lực lượng GV vật lí có trình độ chuyên môn cao nhưng thiếu kĩ năng tổ chức các HĐNK

Trang 16

- Nửa số GV của tổ vật lí có tuổi đời và tuổi nghề đã nhiều nên thời gian và sức khỏe hạn chế Những năm gần đây, đã có một số GV trẻ được phân công về tổ, nhưng do vừa phải hoàn thành công tác giảng dạy vừa học tiếp chương trình đào tạo sau đại học nên cũng chưa có cơ hội, điều kiện để tổ chức các HĐNK cho môn vật lí

- Một số GV còn xem nhẹ những lợi ích do HĐNK đem lại, tập trung nhiều cho các giờ học chính khóa hay bồi dưỡng HS giỏi

2.2 Tham khảo ý kiến của HS về HĐNK môn vật lí

2.2.2.2 Nội dung điều tra

Nội dung điều tra được thiết kế gồm ba phần (phụ lục 2-I):

Phần A: Thông tin cá nhân

- Tìm hiểu thông tin của khách thể điều tra

Phần B: Tìm hiểu sự hứng thú của HS đối với HĐNK môn vật lí 10

- Từ câu 1 đến câu 6: khảo sát về HĐNK mà HS đã từng tham gia

- Từ câu 7 đến câu 16: khảo sát ý kiến của HS đối với hình thức hoạt động của CLB vật lí

Phần C: Đăng kí thành viên CLB vật lí

- Phần này dành riêng cho những HS muốn đăng kí làm thành viên CLB vật lí Qua đó, có thể nắm bắt sơ bộ số lượng HS mong muốn được tham gia hoạt động cùng CLB vật lí

2.2.2.3 Phương pháp điều tra

Sử dụng phương pháp bút vấn Thiết kế phiếu câu hỏi mở và gửi tới một nhóm GV vật lí và một nhóm HS để thu thập các ý kiến nhằm sửa đổi, bổ sung cho bản bút vấn Nhờ đó, nội dung của bản bút vấn sẽ được cải thiện và tính đáng tin cậy của nó sẽ tăng lên

2.2.3 Kết quả điều tra

Trang 17

Khi được hỏi về việc có muốn tham gia các HĐNK dành cho môn vật lí 10, có đến 65.7% HS trả lời có, đồng nghĩa với việc có gần 1/3 số HS được hỏi trả lời không muốn tham gia HĐNK môn học này

Để tìm câu trả lời cho kết quả này, người nghiên cứu đã xây dựng câu hỏi số B4 (phụ lục 2-I) Kết

quả được thể hiện ở hình 2.2 cho thấy, lí do cơ bản làm gần 1/3 (53.8%) số HS được hỏi không muốn tham gia HĐNK là vì không có thời gian

Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện lí do không tham gia HĐNK của HS

Song song với những lí do mà một số HS không thích tham gia HĐNK môn vật lí thừa nhận trong

bản khảo sát, người nghiên cứu đã thiết kế câu hỏi đóng số B5 (phụ lục 2-I) với mong muốn tìm hiểu về

những lí do tham gia HĐNK của HS và thông qua câu hỏi này để nhận biết những động cơ thực sự của HS khi tham gia các HĐNK Kết quả thu nhận được thể hiện ở hình 2.3 Đa phần những lí do như muốn tìm hiểu sâu kiến thức, mở rộng kiến thức, rèn luyện sự tự tin, rèn luyện các kỹ năng, phát triển tư duy được

HS lựa chọn chiếm tỉ lệ khá cao so với các lí do còn lại Điển hình như tỉ lệ phần trăm của lí do muốn hiểu sâu kiến thức là 67.1% gấp 48 lần lí do đến tham gia HĐNK vì nghe lời bố mẹ Điều này thể hiện những mong muốn tích cực của hầu hết HS khi tham gia HĐNK Tuy nhiên, vẫn có một số HS đến tham gia ngoại khóa với những động cơ chưa được tích cực như: do bạn bè rủ rê hay chỉ muốn có cơ hội giao lưu…

B5

0 20

Nghe lời

bố mẹ

Có thời gian rảnh Muốn hiểu sâu kiến thức

Muốn mở rộng hiểu biết

Rèn luyện

sự tự tin Rèn luyện các kĩ năng

Hòa đồng cùng bạn bè

Thể hiện năng lực

Phát triển

tư duy

Có cơ hội giao lưu

Lí do khác

Số lượng Tỉ lệ (%)

Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện lí do tham gia HĐNK của HS

Trang 18

Điều này cũng lí giải cho kết quả khảo sát ở câu B7 (phụ lục 2-I), số lượng HS mong muốn trở thành thành viên CLB vật lí chiếm tỉ lệ xấp xỉ 61% (xem hình 2.4)

Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện mong muốn trở thành thành viên CLB vật lí của HS

Ở câu hỏi số B6 (phụ lục 2-I), người nghiên cứu muốn tìm hiểu các hình thức HĐNK môn vật lí

được HS ưa thích, kết quả được trình bày ở hình 2.5 Những hình thức hoạt động được HS lựa chọn chiếm

tỉ lệ cao như: thiết kế thí nghiệm, trò chơi truyền hình, tham quan thực tế, trò chơi giải trí cho thấy xu hướng “vui để học” được HS quan tâm nhiều hơn những hình thức mang tính nghiên cứu khoa học hoặc đòi hỏi nhiều thời gian như tự chọn chủ đề, diễn tiểu phẩm hay hoạt động bản tin Đặc biệt, ở hình thức diễn tiểu phẩm, số lượng HS lựa chọn chỉ là 25, chiếm 13.3% và tự chọn chủ đề, số lượng HS lựa chọn là

42, chiếm 22.3% Mặc dù hai hình thức này được người nghiên cứu đánh giá là những hình thức có thể phát huy tốt nhất tính chủ động, sáng tạo và khơi dậy sự tự tin cũng như khả năng làm việc nhóm của HS

Do vậy, nếu người nghiên cứu muốn áp dụng hình thức này vào trong quá trình tiến hành các HĐNK ở giai đoạn sau thì đòi hỏi phải tạo cho HS nhận thức được những giá trị, lợi ích và sự hứng thú của những hoạt động này mang lại

B6

0 20 40 60 80 100

120

140

Thiết kế thí nghiệm

Diễn tiểu phẩm Thảo luận chuyên đề

Biến thể của trò chơi truyền hình

Hình thức khác

Số lượng Tỉ lệ (%)

Hình 2.5 Biểu đồ phần trăm các hình thức HĐNK môn vật lí được HS lựa chọn

Ở câu B8 (phụ lục 2-I), người nghiên cứu đã đưa ra những nội dung kiến thức dự định tiến hành

trong CLB vật lí, những nội dung này đã được tìm hiểu và tham khảo ý kiến của nhiều GV bộ môn vật lí,

Trang 19

dự đoán sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ của HS, và kết quả khảo sát thể hiện ở hình 2.6 đã chứng minh nhận định này là đúng

Chế tạo đèn kéo quân

Lịch sử & sự phát triển các máy cơ học

Ghi nhớ được các thuật ngữ vật lý

Mối quan hệ giữa vật lý với các khoa học khác

Chế tạo các

đồ chơi vật

Ứng dụng của vật lí trong đời sống

Kiến thức cơ bản về thiên văn học

Nội dung khác

Hình 2.6 Biểu đồ thể

hiện ý kiến của HS về nội dung dự định tiến hành trong CLB vật lí

Lí do HS lựa chọn các nội dung này đa phần là vì tính hấp dẫn của nó (chiếm 79.8%) (xem hình

2.7) Tuy nhiên, tới 70.2% HS được khảo sát cho biết chưa từng tham khảo GV về những nội dung này vì

nhiều lí do

B9

Vì nó thực sự hấp dẫn, 79.8, 80%

Vì tò mò, 15.2, 15%

Vì lí do khác, 5, 5%

Hình 2.7 Biểu đồ thể hiện lí do HS lựa chọn các nội dung dự định tiến hành trong CLB vật lí

Khi nghiên cứu về những điều HS mong muốn được GV chuẩn bị khi tham tham gia HĐNK, trong những hoạt động được xếp theo thứ hạng từ tỉ lệ lựa chọn từ cao đến thấp thể hiện trong bảng tổng kết sau:

Bảng 2.1 Các số liệu thống kê của câu hỏi B.14

lượng

Tỉ lệ (%)

Thứ hạng

Trang 20

Kết quả cho thấy hầu hết tất cả HS mong muốn được GV hướng dẫn kiến thức và cách thức chuẩn bị (chiếm 88.8%) Ngược lại, HS không muốn được GV kiểm tra công việc chuẩn bị Tuy nhiên, theo kinh nghiệm giảng dạy của người nghiên cứu, sở dĩ HS không muốn GV kiểm tra công việc chuẩn bị của mình

vì hầu hết HS đồng hóa việc kiểm tra với khiển trách nếu họ không hoàn thành tốt công việc Để HS có nhận thức đúng đắn hơn, người nghiên cứu cần giải thích rõ mục đích kiểm tra ở đây là một hoạt động hỗ trợ kịp thời của GV dành cho HS mỗi khi họ gặp khó khăn trong việc chuẩn bị, nhờ đó tiến độ hoàn thành công việc của CLB được đảm bảo

Đồng thời, HS mong muốn được GV tổ chức HĐNK 2 lần/tháng Thông qua kết quả nghiên cứu này, có thể khẳng định HS hoàn toàn rất hứng thú nếu được tham gia các HĐNK môn vật lí

Tương tự như câu hỏi B14, kết quả khảo sát của câu hỏi B15 (phụ lục 2-I) cũng được tổng hợp

thành bảng 2.2

Bảng 2.2 Các số liệu thống kê của câu hỏi B.15

B15: Trước mỗi HĐNK môn vật lí, bản thân HS cần chuẩn bị:

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Thứ hạng

Phân công nhiệm vụ cho các thành viên (nếu là nhóm trưởng) 64 36.0 7

Kết quả nghiên cứu về những điều HS sẽ chuẩn bị khi tham gia các HĐNK cho người nghiên cứu một đánh giá rất khả quan về sự tích cực của HS khi tham gia các hoạt động này Điều này được kết luận dựa trên số liệu đa phần HS cho biết sẽ sẵn sàng nhận nhiệm vụ, sẽ chủ động gặp GV để hỏi,… Nhưng, trong những điều mà HS trả lời, có một nhiệm vụ ít được HS lựa chọn là phân công nhiệm vụ (36%) và tổ chức hoặc tham gia các buổi họp nhóm (53.4%), điều này cho thấy phần nào hạn chế của kĩ năng hợp tác nhóm của HS - một kĩ năng không thể thiếu của con người thời đại ngày nay Vì thế, trong quá trình

Trang 21

hướng dẫn các thành viên tham gia HĐNK, GV cần từng bước giáo dục các kĩ năng làm việc nhóm cho

HS thông qua các hoạt động, giúp HS dần nhận ra được ích lợi to lớn của việc hợp tác này

2.3 Nội dung kiến thức trong HĐNK môn vật lí 10

Nội dung kiến thức của ngoại khóa vật lí có thể là những kiến thức nằm trong phạm vi chương trình vật lí 10 hoặc có thể là những kiến thức cơ bản có tính chất tích hợp cơ - điện - nhiệt - quang mà HS

đã được học ở chương trình vật lí THCS Có thể liệt kê một số nội dung chính sau đây:

- Tìm hiểu lịch sử phát triển các máy cơ học đơn giản và sự tiến bộ trong kĩ thuật chế tạo chúng ngày nay Trên cơ sở đó, HS sẽ thiết kế, chế tạo các mô hình từ đơn giản đến phức tạp các máy cơ học như: tên lửa, máy bay, quạt bàn …

- Nghiên cứu các trò chơi, thí nghiệm vật lí vui gắn liền kiến thức vật lí 10 trên lớp với thực tiễn Ví dụ như phần kiến thức về cơ học: quán tính, lực đàn hồi, các chuyển động rơi tự do hay chuyển động ném ngang, ném xiên, cân bằng vật rắn … ; nhiệt học: hiện tượng đối lưu, các định luật chất khí, áp suất, …

- Tiến hành đo đạc lại các thí nghiệm thuộc chương trình lớp 10 trong phòng thí nghiệm, xử lí số liệu, rút

ra nhận xét, đề xuất cải tiến

- Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của các nhà vật lí được đề cập trong sách giáo khoa

- Mặt khác, trong chương trình vật lí THPT hiện nay, một số nội dung chưa có điều kiện đưa vào chương trình chính khóa hoặc chưa có điều kiện tìm hiểu kĩ như: Thiên văn học cơ bản, các ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật và đời sống, vật lí trong các vấn đề giáo dục môi trường… Ngoại khóa vật lí là một biện pháp hợp lí để đưa các nội dung này vào chương trình nhằm bổ sung giúp kiến thức vật lí của HS thêm phong phú

2.4 Các bước chính trong tổ chức HĐNK cho môn vật lí 10

2.4.1 Thành lập CLB vật lí

CLB là nơi tập trung những cá nhân có cùng sở thích, nhu cầu, nguyện vọng, cùng nhau hoạt động

để đạt được mục đích nào đó Hoạt động CLB vật lí ở trường học là một loại hình hoạt động ngoài giờ lên lớp, là môi trường tốt nhất để các cá nhân yêu thích vật lí có dịp học tập, sinh hoạt, rèn luyện, vui chơi, giải trí …với các kiến thức vật lí, trên tinh thần tự nguyện, nhằm phát huy năng lực bản thân, trang bị cho

các em những kĩ năng cần thiết để vận dụng vào thực tiễn đời sống xã hội

Để có thể tổ chức thành công và thường xuyên các HĐNK cho môn vật lí trong nhà trường phổ thông, trước hết cần phải xây dựng được một câu lạc bộ vật lí bền vững, làm nền móng cho các mô hình HĐNK khác triển nở

2.4.2 Tổ chức CLB vật lí

2.4.2.1 Cơ cấu điều hành

Trang 22

BCN gồm mười thành viên bao gồm năm GV và năm HS

2.4.2.2 Hình thức hoạt động

Như đã phân tích ở trên, CLB vật lí bao gồm những thành viên HS yêu thích vật lí, tuy nhiên sở

thích này của HS cũng rất đa dạng: có HS chỉ thích biểu diễn những thí nghiệm VLV, có HS lại thích chế tạo những đồ dùng vật lí mang tính sáng tạo cao hơn, và cũng có HS lại chỉ thích nghiên cứu vật lí trong phòng thí nghiệm … Vì thế, để phù hợp với mọi đối tượng thành viên có thế tổ chức các hoạt động trong

CLB theo các hình thức dưới đây:

 Nhóm VẬT LÍ VUI

Nội dung hoạt động mà nhóm chủ đề này hướng đến đó là:

- Đáp ứng nhu cầu của một bộ phận HS yêu thích vật lí, có khiếu thẩm mĩ, thích thiết kế, chế tạo các đồ chơi vật lí như: các đồ chơi cân bằng, lật đật trứng, lật bật, bumerang, … Những sản phẩm này khá đơn giản, dễ làm, chủ yếu mang tính vui chơi, giải trí

- Sưu tầm những thí nghiệm VLV trên sách báo, internet … và biểu diễn lại trong các buổi sinh hoạt CLB Việc quan sát và tiến hành lại những thí nghiệm vật lí, đồng thời suy nghĩ và vận dụng các kiến thức vật lí

đã học để giải thích thường là phần nội dung khá hấp dẫn đối với đa số HS

- Tổ chức những cuộc thi ngắn cho các thành viên khác của CLB cùng được tham gia Ví dụ như: đường đua lật bật, xe lăn tự hành,

Trang 23

- Thông qua các hoạt động này không chỉ bản thân các thành viên của nhóm mà toàn thể CLB sẽ được tiếp cận với các kiến thức trong chương trình chính khóa theo một cánh cửa khác, hấp dẫn và thiết thực hơn Qua cánh cửa đó, các lí thuyết vật lí trở nên sống động, dễ hiểu, dễ nhớ thông qua các sản phẩm vui chơi

mà nhóm đã chế tạo được hoặc qua các thí nghiệm vật lí đầy bất ngờ và lí thú Để các kiến thức vật lí trong nội dung hoạt động của nhóm “VLV” tránh phức tạp, khó hiểu đối với trình độ hiểu biết của đa số

HS lớp 10, GV cần phải theo dõi, góp ý, điều chỉnh các nội dung hoạt động sao cho sát với chương trình chính khóa

 Nhóm VẬT LÍ ỨNG DỤNG

Hình thức HĐNK này được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của một bộ phận HS yêu thích vật lí, có khiếu thẩm mĩ, thích tìm tòi sáng tạo để chế tạo một số đồ dùng vật lí mang tính ứng dụng thiết thực như: Tên lửa, đèn kéo quân, quạt bàn, kính vạn hoa, máy bay, tàu thủy, diều, … Nhóm ngoại khóa này mang tính chất thực hành chuyên môn sâu hơn nhóm “VLV”, làm nòng cốt cho việc liên hệ bài học vật lí với thực tế khoa học kĩ thuật

Đây là môi trường tốt nhất để HS thỏa sức thể hiện ý tưởng sáng tạo và niềm đam mê vật lí của mình qua việc thiết kế, chế tạo các sản phẩm Bên cạnh việc được thể hiện năng lực bản thân, HS còn học được cách hợp tác nhóm hiệu quả, biết chia sẻ kiến thức, chia sẻ các thiết bị đồ dùng và một số những mẹo kĩ thuật trong chế tạo và lắp ráp sản phẩm Có thái độ trân trọng các giá trị lao động do mình và người khác làm ra…

Ban đầu các nội dung hoạt động của nhóm sẽ được GV hướng dẫn cặn kẽ từ lí thuyết đến thực hành, nhưng càng về sau GV không còn giữ vai trò trung tâm nữa, thay vào đó HS cần phải chủ động tìm kiếm và thực hiện đề tài mình yêu thích dưới sự hỗ trợ của GV

 Nhóm VẬT LÍ THỰC NGHIỆM

Đây là một hình thức HĐNK dành cho các đối tượng HS thuộc các lớp chuyên lí, đòi hỏi người tham gia phải được trang bị kiến thức vật lí liên quan không dừng ở mức độ vận dụng mà cao hơn là ở mức độ phân tích, tổng hợp và đánh giá; người tham gia phải thực sự say mê nghiên cứu vật lí, phải hiểu được tầm quan trọng của các kết quả hoạt động mà nhóm thu được sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân và nhà trường, cụ thể cho phòng thí nghiệm vật lí Vì thế nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa này không để vui chơi hay giải trí mà là tiến hành nghiên cứu khoa học dưới dạng tiểu luận, tập trung chủ yếu trong chương trình phân phối của bộ môn vật lí THPT dưới sự hướng dẫn của GV Cụ thể ở đây là một hướng nghiên cứu của HS lớp 10 chuyên lí:

- Tìm ra những hạn chế trong quá trình thực nghiệm làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu so với lí thuyết Từ đó đề ra phương hướng khắc phục trong quá trình thực nghiệm nhằm đi đến kết quả tương đối

Trang 24

hợp lí Có những phương pháp mới, sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng dụng cụ thí nghiệm Ví dụ như đề tài “Kiểm chứng định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ôt”

- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết và mở rộng trong nghiên cứu thực nghiệm, ứng dụng trong thực tế Ví dụ như

đề tài “Định luật Bec-nu-li và các ứng dụng”

- Nghiên cứu tài liệu về những phần mềm hỗ trợ cho việc dạy và học vật lí, tận dụng những tiện ích của phần mềm để thiết kế những mô phỏng vật lí cần thiết trong chương trình chính khóa, làm cơ sở để việc giảng dạy và học tập của GV và HS thêm trực quan, sinh động Ví dụ như phần mềm Crocodile physics

Thông qua HĐNK này, HS có khả năng hình thành những bước đi cơ bản ban đầu trong tiến trình nghiên cứu khoa học đối với VLTN; phát triển tư duy bậc cao, biết phân tích, tổng hợp và đánh giá kết quả mà nhóm nghiên cứu được; rèn luyện khả năng đọc hiểu tiếng anh chuyên ngành

c HĐNK mang tính quần chúng rộng rãi [15]

Đây là HĐNK dành cho tất cả các thành viên của CLB bao gồm nhiều hình thức như hội thi, giao lưu, thảo luận chuyên đề, tham quan … Các hình thức này nếu được chuẩn bị chu đáo và tổ chức một cách hấp dẫn sẽ có tác dụng rất lớn nâng cao lòng ham thích vật lí Đồng thời đến với hoạt động này HS không những được thư giãn sau những giờ học chính khóa, có cơ hội giao lưu kết bạn mà còn giúp HS rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết khác

 Hội thi [10], [16]

Hội thi là một trong những hình thức tổ chức ngoại khóa hấp dẫn, lôi cuốn HS, đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng phát triển giá trị cho tuổi trẻ Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho HS trong trường học là một yêu cầu mang tính nghiệp vụ sư phạm quan trọng, cần thiết đối với mỗi GV trong quá trình dạy học và tổ chức HĐNK Hội thi là dịp để mỗi cá nhân hoặc tập thể thể hiện khả năng của mình, khẳng định thành tích, kết quả của quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trong học tập và trong các hoạt động tập thể Hội thi còn là một hình thức kiểm tra đánh giá trình độ, nghiệp vụ tổ chức hoạt động dạy và học của GV Qui mô của hội thi, đối tượng tham gia, thời gian và cách thức tổ chức hội thi như thế nào phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, tính chất và nội dung của hội thi

Hội thi có rất nhiều hình thức tổ chức như:

- Thi đố em: Hình thức thi này đã có từ rất lâu: sau khi nêu câu hỏi, các đội suy nghĩ trả lời trong một

khoảng thời gian ngắn, đội nào nhấn chuông trước thì được quyền ưu tiên trả lời, nếu trả lời sai các đội còn lại tiếp tục nhấn chuông giành quyền trả lời Đặc điểm các câu hỏi trong cuộc thi này là phải ngắn gọn, rõ ràng, có thể là trắc nghiệm xen kẽ tự luận

- Thi giải ô chữ: Có nhiều cách thức để tạo một trò chơi ô chữ nhưng đơn giản nhất là tạo ô chữ gồm

nhiều hàng ngang và một cột dọc Cột dọc được sắp xếp sao cho nó do các chữ ở các hàng ngang nối lại

Trang 25

tạo thành Từ việc trả lời các câu hỏi tìm ra các từ hàng ngang và dự đoán từ ở cột dọc Nên giới thiệu trước cho HS biết từ ở cột dọc là từ khóa của một chủ đề nào đó

- Thi thực hành làm thí nghiệm hoặc chế tạo dụng cụ thí nghiệm: Có nhiều hình thức khác nhau cho phần

này, có thể phát cho các đội thi một số dụng cụ, yêu cầu HS trình bày cách tiến hành một thí nghiệm Hoặc phát cho các đội những vật liệu cần thiết để chế tạo một sản phẩm đã biết, ví dụ như một chiếc xe đồ chơi bốn bánh chạy bằng phản lực hoặc một chiếc đèn kéo quân, sau đó so sánh xem sản phẩm của đội nào sáng tạo, tiện ích và thẩm mĩ hơn

- Thi chơi một số trò chơi ngắn có sử dụng kiến thức vật lí: Ví dụ: đường đua lật bật, xe lăn tự hành, con

vụ đi trong mê cung …

 Thảo luận chuyên đề [10], [16]

Thảo luận là một hình thức tổ chức giáo dục mà trong đó HS cùng nhau trao đổi, tranh luận về các vấn đề khác nhau xoay quanh một chủ đề đã được lựa chọn, nhằm giúp HS đạt được một sự hiểu biết chung và có được những thái độ phù hợp với những vấn đề đó Thông qua thảo luận, HS có dịp sử dụng các kĩ năng nhận thức bậc cao như phân tích, đánh giá, có thể phát triển ý kiến, thái độ và các giá trị của mình Thảo luận có thể ở dạng mở, nhưng thường nên có bố cục sẵn, có thể bằng một số câu hỏi chuẩn bị trước Các câu hỏi này nên là câu hỏi gợi mở, cá nhân hay có thể gây tranh cãi nếu ta muốn có được phản ứng mạnh mẽ từ phía người được hỏi, chú ý các câu hỏi cần rõ ràng và ngắn gọn Nếu sử dụng phương pháp này chứng tỏ người GV trân trọng ý kiến và kiến thức của HS GV cần nói rõ cho HS là tất cả các ý kiến của các em đều được trân trọng và muốn ai cũng tham gia phát biểu, nhằm tránh trường hợp lấn át hay im lặng hoàn toàn Nên khuyến khích mọi người quyết định và tóm tắt lại từng điểm chính sau khi thảo luận hay được mọi người nhất trí, chuyển ngay sang phần khác một khi mọi người đã nhất trí hay khi không còn gì có thể bàn thêm nữa Chốt buổi nên có phần tóm tắt, có lẽ bằng tài liệu là tốt nhất Ví dụ khi thảo luận chuyên đề “Tiết kiệm năng lượng” cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi như sau:

- Năng lượng là gì? Kể tên một số nguồn năng lượng đã, đang và sẽ được con người sử dụng?

- Việc khai thác những nguồn năng lượng này đem lại lợi ích gì cho con người?

- Tại sao chúng ta cần phải tiết kiệm năng lượng? (Thảo luận các ảnh hưởng của việc khai thác các nguồn năng lượng này đối với môi trường)

- Chúng ta cần phải làm thế nào để tiết kiệm năng lượng?

Thảo luận theo chuyên đề là một hình thức phổ biến trong tổ chức HĐNK ở nhà trường THPT, nó được sử dụng hết sức linh hoạt cho các chủ đề ở mọi thời gian và không gian khác nhau Nếu tổ chức tốt,

sẽ có khả năng đạt được các MTGD mong muốn mà không đòi hỏi sự tốn kém về công sức, kinh phí và thời gian

 Trò chơi

Trang 26

Vui chơi là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt của loài người, có mục đích giúp con người thư giãn sau những ngày làm việc vất vả Vui chơi có tác dụng tích cực để làm phát triển cộng đồng và phát triển nhân cách cho mỗi con người Đối với HS, vui chơi là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống, vì vậy, tổ chức cho HS vui chơi là một loại hình HĐNK phổ biến và có ý nghĩa tích cực Ngay từ khi ra đời, trò chơi

đã thực hiện rất nhiều chức năng xã hội như [16]:

- Chức năng giáo dục: Trò chơi là phương tiện giáo dục hấp dẫn, tác động toàn diện đến tất cả các mặt

khác nhau của nhân cách: thể chất, tâm lí, đạo đức và xã hội Đặc biệt, trò chơi còn là một phương tiên giúp HS nâng cao hiểu biết về tự nhiên xã hội, về khoa học kĩ thuật, phát triển tốt các năng lực tư duy, trí nhớ, ngôn ngữ, tưởng tượng (trong các trò chơi trí tuệ và sáng tạo) Chơi cũng đòi hỏi HS tư duy, ứng dụng tri thức vào hành động, phát triển năng lực thực hành Do đó, chơi cũng là một con đường học tập tích cực

- Chức năng văn hóa: Mỗi trò chơi là một giá trị văn hóa dân tộc độc đáo Tổ chức cho HS tham gia trò

chơi là một phương pháp tái tạo văn hóa, bảo tồn văn hóa và phát triển văn hóa rất có hiệu quả (đặc biệt là các trò chơi dân gian)

- Chức năng giải trí: Trò chơi là một phương thức giải trí tích cực và hiệu quả, giúp HS tái tạo năng lực

thần kinh và cơ bắp sau những thời gian học tập căng thẳng

- Chức năng giao tiếp: Trò chơi tạo cơ hội để HS tham gia vào các mối quan hệ giao tiếp bạn bè một cách

tự nhiên và dễ dàng

Với những chức năng trên, trò chơi trở thành một hình thức, một phương pháp giáo dục được dễ dàng thực hiện trong mọi hoàn cảnh của nhà trường và có khả năng mang lại những hiệu quả giáo dục cao Hoạt động vui chơi có nhiều hình thức rất đa dạng, nhưng cốt lõi của nó là dạng trò chơi Sau đây xin trình bày một số dạng trò chơi có thể áp dụng cho các HĐNK môn vật lí:

 Trò chơi quyết định và quyết định [10]

Trò chơi này khá thú vị so với tên gọi của nó, mục đích chung của trò chơi là để HS ôn tập kiến thức, biết phân loại, sắp xếp các kiến thức theo một trình tự hợp lí Tốt nhất là cho các nhóm gồm ba hoặc năm HS chơi Trước khi chơi GV cần chuẩn bị một số bộ bài đặc thù hoặc một số bì thư chứa thông tin cần thiết cho mỗi nhóm để các em phân loại hay sắp xếp Ví dụ:

- HS được phát một bộ bài miêu tả sự chuyển hóa năng lượng và một bộ bài khác miêu tả quá trình Họ phải ghép mỗi quân bài mang nội dung “quá trình” với quân bài tương ứng mang nội dung “chuyển hóa năng lượng”

- GV đưa ra tình huống giới thiệu: “Có năm bức tranh quý của trường đã bị bọn trộm lấy cắp, cắt rời, phát tán mỗi nơi một mảnh và có ý thách đố nhà trường tìm ra Nhà trường vì thế mà triệu tập HS và chia thành năm nhóm, mỗi nhóm sẽ truy tìm dấu vết của một bức tranh theo các lời thách đố và bản đồ mà bọn trộm

Trang 27

cố ý để lại” Lời thách đố là các dạng bài tập vật lí có trong chương trình chính khóa Mục tiêu mà trò chơi

này hướng đến là giúp HS nhận diện và giải nhanh, chính xác các dạng bài tập đã được học Đồng thời rèn

luyện kĩ năng hợp tác nhóm hiệu quả, kết hợp rèn luyện thể lực

 Trò chơi “Ai nhanh hơn?”

Mấu chốt thắng cuộc của trò chơi dưới dạng này đòi hỏi HS phải biết lựa chọn và áp dụng các kiến thức vật lí liên quan, tính toán nhanh và đặc biệt phải chú ý tới ảnh hưởng đáng kể của các yếu tố bên ngoài Có thể phân chia trò chơi này dưới hai dạng sau:

- GV chuẩn bị mọi khâu của trò chơi, HS chỉ đến và tham gia chơi Ví dụ: Trò chơi “Con vụ đi trong mê cung” hay “Bắn bi xiên góc”…

- GV hướng dẫn, HS tự chuẩn bị dụng cụ chơi Ví dụ: “Đường đua lật bật”; “Xe lăn tự hành”…

 Trò chơi dân gian

Trò chơi dân gian là vốn quý của dân tộc, đã từng gắn liền với đời sống lao động và các cuộc hội

hè, đình đám của nhân dân Trò chơi dân gian vừa thể hiện sức sáng tạo, lạc quan của người lao động, vừa

là phương tiện giải trí thoải mái sau những giờ phút mệt nhọc hoặc bày tỏ niềm vui được mùa, chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng kẻ thù… Trò chơi dân gian vừa đa dạng vừa cuốn hút người chơi bởi sự bình dị, khéo léo và tính quảng đại của nó [11], đặc biệt có những trò chơi dân gian trở thành hình ảnh minh họa sống động cho các bài giảng vật lí, ví dụ:

- Bắn bi: Xét va chạm giữa hai viên bi đã trở thành nội dung kiến thức quan trọng về định luật bảo toàn

động lượng và bảo toàn năng lượng trong chương trình vật lí 10

- Đi cà kheo: Cà kheo là một cặp cây dài khoảng 2 m, cách một đầu khoảng 40 cm người ta làm một cái

chạc thẳng góc với cây để làm chỗ đặt bàn chân lên, thường dùng để di chuyển qua suối hoặc băng rừng rậm Khi di chuyển hai tay nắm hai cán, hai chân đặt trên hai chạc giữ thăng bằng và bước đi Để đứng thăng bằng trên cà kheo phải biết điều chỉnh trọng tâm cho hợp lí

- Thả diều: Thả diều không chỉ là một trò chơi mang tính giải trí mà còn là một loại hình nghệ thuật

Nguyên lí của trò chơi thả diều chính là định luật Bec-nu-li

- Lia gạch: Người chơi cầm cục gạch nhỏ trong tay, đứng ở ngay bờ sông hoặc ao, hơi nghiêng người lia

(ném với góc nghiêng nhỏ) mạnh cục gạch trên mặt nước Nếu lia đúng tư thế, cục gạch sẽ nhảy nhảy cầu vồng trên mặt nước Trò chơi này tận dụng tính chất không chịu nén của chất lỏng để áp dụng định luật 3 Newton cùng chuyển động của vật ném xiên

- Ngoài ra còn một số trò chơi dân gian thú vị khác cũng liên quan ít nhiều đến kiến thức vật lí như: Đánh

đu, đánh vụ (con quay), kéo co, kéo xèng, trồng cây chuối …

Tổ chức HĐNK cho môn vật lí dưới dạng các trò chơi dân gian sẽ đem lại hiệu quả rất lớn cho HS

cả về mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ

Trang 28

 Trò chơi thách đố khả năng

Mọi hoạt động phần lớn đều được biến thành trò chơi dưới dạng thách đố khả năng [10] Tuy nhiên, ở đây các thách đố chủ yếu là các thí nghiệm VLV, đòi hỏi HS phải quan sát, vận dụng kiến thức vật lí đã được học để dự đoán hiện tượng có thể xảy ra và cố gắng thực hiện chúng Ví dụ:

- Trò chơi ảo thuật: Chuẩn bị một chiếc vòng và một sợi dây chuyền bằng kim loại, mắc sợi dây vào giữa

hai ngón tay của cùng một bàn tay Tay còn lại giữ chiếc vòng lồng ở ngoài sợi dây Thả tay giữ chiếc vòng ra nhưng chiếc vòng không rơi xuống đất mà bị mắc vào sợi dây Bạn có thể làm được không?

- Trò chơi ngón tay đại lực sĩ: Nhóm bạn gồm có sáu người, nếu năm trong sáu người này chỉ dùng một

ngón tay của mình thôi thì hoàn toàn có thể nhấc bổng người thứ sáu lên được, nhưng tôi dám cuộc rằng không ai trong các bạn có thể làm được

- Các thí nghiệm biểu diễn, ví dụ: “Làm thế nào lấy đồng xu ra khỏi đĩa nước mà không bị ướt tay?” …

 Biến thể của các trò chơi trên truyền hình [10]

Hiện nay trên truyền hình có khá nhiều những trò chơi dành cho mọi lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi

HS Tuy nhiên, không phải mọi HS đều có điều kiện tham gia các chương trình này mặc dù rất thích và không phải mọi chương trình trò chơi trên truyền hình đều thích hợp trong việc giáo dục nhân cách của trẻ Vì thế để tạo nên một sân chơi ngoại khóa vừa vui vừa bổ ích cho HS, có thể áp dụng một số loại hình trò chơi tiêu biểu trên truyền hình vào chủ đề mà GV hướng tới Ví dụ như chương trình: Trúc xanh; Rung chuông vàng; Kim tự tháp; Tam sao thất bản; Đối mặt … là những chương trình có hình thức tổ chức hấp dẫn, phù hợp với điều kiện của trường THPT

Qui mô tổ chức một gameshow mini có thể giới hạn trong phạm vi lớp học, khối lớp học hay toàn trường Nhưng cho dù ở qui mô nào thì công tác chuẩn bị luôn là khâu hết sức quan trọng quyết định sự thành bại của một gameshow Ví dụ như trò chơi “Ô vàng vật lí” (sẽ được trình bày ở phần sau của luận văn) là biến thể của trò chơi “Rung chuông vàng” đòi hỏi sự chuẩn bị cả về nội dung kiến thức và cơ sở vật chất phải thật chu đáo, tạo được không khí vui vẻ và hồi hộp như trên truyền hình là điều mà người tổ chức cần chú ý

Để nâng cao sức hấp dẫn của trò chơi, GV nên tổ chức các trò chơi thành cuộc thi hay tranh tài giữa các cá nhân hoặc giữa các nhóm từ hai đến năm em

 Giao lưu [16]

Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để cho HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó, hoặc với những HS ở một tổ chức nào khác (Câu lạc bộ, trường phổ thông, …)

* Đặc trưng của các hoạt động giao lưu dành cho môn vật lí:

- Phải có đối tượng giao lưu:

Trang 29

+ Đối tượng giao lưu là những người điển hình, có những thành tích xuất sắc trong lĩnh vực vật lí, phù hợp với nhu cầu hứng thú của HS

+ Đối tượng giao lưu là các tổ chức khoa học hay các câu lạc bộ chuyên môn thuộc cùng một trường THPT như CLB vật lí, CLB hóa học, CLB văn học, CLB sinh học …

+ Đối tượng giao lưu là các câu lạc bộ chuyên môn hoặc những HS giữa các trường THPT như: CLB thiên văn, CLB tên lửa nước…

- Thu hút được sự tham gia đông đảo và tự nguyện của HS, được HS quan tâm và hào hứng

- Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm, kinh nghiệm hết sức trung thực và sôi nổi giữa HS với đối tượng được giao lưu

- Phải có nội dung giao lưu rõ ràng, cụ thể với nhiều hình thức giao lưu đa dạng, thực sự hấp dẫn như: + Hội thi giữa các CLB vật lí của hai hay nhiều trường THPT về chủ đề: tên lửa nước, thi thả diều, sáng tạo robocon …

+ Hội chợ giao lưu giữa các CLB của cùng một trường hay chỉ các CLB vật lí của các trường THPT Mỗi CLB sẽ thiết kế một gian hàng trưng bày các sản phẩm hay tổ chức một số trò chơi thể hiện đặc trưng chuyên môn của mình

+ Sân khấu hóa một số nội dung chuyên môn: Tổ chức một sân khấu kịch bao gồm các vở kịch kể về một phần cuộc đời của các nhà vật lí học (nhà hóa học hoặc nhà sinh học …) gắn liền với các phát minh khoa học của họ mà HS đã được học trong chương trình chính khóa Đây có thể sẽ là buổi giao lưu rất ấn tượng của CLB văn học với các CLB khác

* Mục đích giáo dục thông qua các hoạt động giao lưu:

- Tạo điều kiện để HS thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, được tiếp xúc trò chuyện trực tiếp với những người mình yêu thích, ngưỡng mộ, được bày tỏ tình cảm, tiếp nhận thông tin và được học hỏi kinh nghiệm để nâng cao vốn sống và định hướng giá trị phù hợp

- Giúp HS hiểu đúng đắn hơn về các đặc trưng cơ bản của các loại hình lao động nghề nghiệp, những phẩm chất và năng lực cao quý của những người thành đạt trong các lĩnh vực nào đó cũng như con đường

đi đến thành công của họ Từ đó, HS có thêm nỗ lực vươn lên trong học tập, rèn luyện để thành đạt Đó cũng là con đường định hướng giá trị nghề nghiệp cho HS

- Tạo điều kiện để HS thiết lập và mở rộng mối quan hệ bạn bè, xã hội, từ đó tăng cường hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ, cảm thông và hình thành những tình cảm lành mạnh

 Xemina

“Xemina” là một từ dùng của người soạn giáo án chứ không phải là tên phương pháp dạy học Mục đích chính của xemina là tạo cho HS cơ hội biểu đạt ý của mình và là kết quả của sự học thực thụ Khoảng tám đến hai mươi HS tìm hiểu kiến thức thảo luận với nhau về một chủ đề đã chọn, sau đó trình bày trước

Trang 30

lớp Đây không phải hình thức thảo luận mang tính chất tổng quát rộng rãi mà thường là dịp tốt để cá nhân

HS giải đáp những thắc mắc khó khăn của mình hay những câu hỏi kiến thức

Có nhiều hình thức của xemina nhưng phổ biến nhất vẫn là hình thức “Trình bày của HS hoặc nhóm HS” Cá nhân hay nhóm HS được yêu cầu thực hiện một phần hay toàn bộ nội dung của chủ đề và trình bày trước lớp, chủ đề phải được lựa chọn kĩ càng với thông tin tham khảo Việc GV thảo luận nội dung với các nhóm trước khi trình bày thường rất quan trọng, có thể người trình bày cần dược giúp đỡ chuẩn bị nội dung cũng như tâm lí Phương pháp này rất bổ ích trong việc khám phá những khía cạnh khác nhau của cùng một chủ đề (mỗi nhóm phụ trách một khía cạnh) và được xem như là một hình thức HĐNK phổ biến [10]

Đặc biệt đối với môn vật lí, trong chương trình chính khóa hiện nay, sau mỗi bài học đều có phần

“Em có biết?” bổ sung nhiều thông tin hữu ích trong lĩnh vực vật lí, GV có thể lựa chọn ở đó một số chủ

đề làm xemina ngoại khóa Đề nghị một số chủ đề có thể tổ chức Xemina như sau:

- “Sự rơi tự do: lịch sử và thời đại”

- “Vệ tinh nhân tạo của trái đất”

- “Lực hấp dẫn: một anh chàng thú vị ”

- “Ma sát có ở khắp nơi”

- “Năng lượng và vấn đề môi trường”

Nếu không có điều kiện tổ chức các xemina ngoại khóa vật lí, GV có thể tổ chức các xemina chính khóa, với chủ đề là nội dung các bài học trong sách giáo khoa vật lí mà trong các bài học đó có thể có thí nghiệm minh họa hoặc chứng minh (đây không phải là những thí nghiệm ảo mà phải là những thí nghiệm thực tế HS có thể làm được), GV sẽ hướng dẫn HS chuẩn bị những thí nghiệm này ngoài giờ học chính khóa để hỗ trợ thêm cho xemina Đây là một hình thức HĐNK được lồng ghép vào hoạt động dạy và học chính khóa Nếu được tổ chức tốt, hoạt động này sẽ rèn luyện cho HS nhiều kĩ năng về thực hành, biết xử

lí số liệu và rút ra nhận xét về kết quả thí nghiệm

 Tham quan ngoại khóa [8]

Tham quan ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học trong thực tế nhờ quan sát trực tiếp của

HS dưới sự hướng dẫn của GV và cơ sở tham quan nhằm nghiên cứu sự vật, hiện tượng cần tìm hiểu trong nội dung dạy học

Tham quan là một hoạt động mang tính giáo dục, là một trong những phương pháp giảng dạy sinh động nhất, đáng nhớ nhất đối với HS Qua tham quan, HS được học tập những kinh nghiệm của các chuyên gia, giúp HS biết cách thức tìm hiểu thông tin đào tạo, đồng thời các em sẽ có được ấn tượng cụ thể về nghề nghiệp

* Tác dụng của tham quan ngoại khóa vật lí:

Trang 31

- Mở rộng, nâng cao tầm hiểu biết xung quanh những vấn đề do chương trình quy định

- Bồi dưỡng phương pháp nhận thức như quan sát, phân tích, tổng hợp những tư liệu cụ thể đã thu thập được trong quá trình tham quan

- Nâng cao hứng thú học tập, phát triển óc quan sát, tính tò mò khoa học

- Góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS, bồi dưỡng lòng yêu lao động, yêu Tổ quốc

* Địa điểm tham quan ngoại khóa vật lí:

Địa điểm cần tham quan là môi trường học tập hoàn toàn mới lạ đối với HS và chỉ được tiến hành trong một buổi (hoặc một ngày) do đó không nên chọn những địa điểm tham quan quá xa, khó khăn trong

việc tổ chức đi lại Địa điểm tham quan ngoại khóa vật lí cần xem xét thuộc các lĩnh vực sau:

- Tham quan tìm hiểu máy móc, thiết bị dùng trong sản xuất, thiết bị công – nông nghiệp, giao thông vận

tải, thông tin liên lạc

- Tham quan cơ sở sản xuất, nhà máy, cơ quan khoa học kĩ thuật

- Tham quan và học tập các phòng thí nghiệm vật lí của các trường có liên quan

- Xem triển lãm bảo tàng

* Tổ chức tham quan ngoại khóa:

+ Trình tự các nội dung cần quan sát khi tham quan, đối tượng quan sát chính, phương tiện cần sử dụng, những tài liệu cần thu thập

+ Kế hoạch sử dụng các tài liệu thu được sau khi tham quan

+ Trước khi tiến hành tham quan cần giới thiệu khái quát cho HS về nơi sẽ đến, những kiến thức liên quan cần chú ý Yêu cầu HS viết thu hoạch sau khi tham quan

+ Cần tranh thủ sự giúp đỡ của các cán bộ lãnh đạo, công nhân viên nơi đến để họ tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình tham quan

Trang 32

Quá trình tham quan

- Hoạt động 1: Tổ chức lớp đến địa điểm tham quan

+ GV tập hợp đoàn HS, điểm danh

+ Chia lớp thành những nhóm nhỏ và cử nhóm trưởng để tiện trong việc quản lí

+ Tổ chức đi đến cơ sở tham quan

- Hoạt động 2: Tìm hiểu những thông tin chung về địa điểm tham quan

+ Cán bộ của địa điểm tham quan giới thiệu tổng quát về tổ chức hoạt động của cơ sở

+ Phổ biến nội quy tham quan cho HS

- Hoạt động 3: Tiến hành tham quan

+ Cán bộ hướng dẫn HS tham quan khung cảnh chung và từng phòng ban

+ Trong quá trình tham quan HS phải ghi chép những thông tin cần thiết để viết thu hoạch GV cần nhắc nhở các em đi lại theo quy định, không tự ý lượm lặt vật phẩm hay hỏi han cắt ngang lời thuyết minh của người hướng dẫn

+ Chụp ảnh, quay phim một số hoạt động của HS

+ Duy trì hứng thú của HS trong quá trình tham quan; cần chú ý đến nội dung của buổi tham quan,

bố trí việc đi lại và thời gian nghỉ ngơi hợp lí tránh làm HS quá mệt

- Hoạt động 4: Giao lưu trao đổi với cán bộ, công nhân viên

+ Đây là một hình thức hoạt động giúp HS có cơ hội học tập kinh nghiệm của các chuyên gia, được tranh luận và giải đáp những thắc mắc trong khi tham quan

+ Nội dung giao lưu được thiết kế trước theo kế hoạch của GV và cán bộ phụ trách giao lưu

+ Hình thức giao lưu nên phong phú và hấp dẫn

- Hoạt động 5: Tổng kết buổi tham quan

+ GV, đại diện HS cảm ơn các cán bộ, công nhân viên đã giúp đỡ đoàn tham quan có hiệu quả tốt + GV nhận xét, đánh giá công việc chuẩn bị, tổ chức tham quan, tinh thần thái độ của nhóm, cá nhân trong buổi tham quan

Trang 33

 Bản tin vật lí

Bản tin vật lí là một HĐNK hấp dẫn, nhẹ nhàng và có thể được tổ chức ở bất kì mọi trường phổ thông, thường có tác dụng thúc đẩy HS sưu tầm và đọc sách báo về vật lí Bản tin vật lí có thể ra định kì hàng tháng, bao gồm các nội dung sau:

- Những tin tức mới nhất trong lĩnh vực vật lí

- VLV: có thể là những nghịch lí trong các bài toán vật lí, những mẹo nhỏ trong việc giải toán vật lí …

- Công bố đáp án trắc nghiệm trong các kì thi

- Tổ chức thi đố vui định kì theo tháng, nội dung đề thi do GV và HS gửi đến BCN hoặc do BCN tự đề xuất

- Vật lí – một góc nhìn: là các bài viết cộng tác của các thành viên CLB, đó có thể là cảm nhận về những khó khăn, thuận lợi khi học môn vật lí, hoặc cảm nhận về GV dạy vật lí, về một hoạt động CLB mà mình

ấn tượng… nói chung là tất cả những gì liên quan đến vật lí dưới một góc nhìn

- Hình ảnh hoạt động của CLB trong tháng

- Nội dung chương trình hoạt động CLB trong tháng tiếp theo

- Giai thoại vui về các nhà vật lí xuất hiện trong chương trình chính khóa tính đến thời điểm đó

2.4.2.3 Xây dựng giáo án ngoại khóa vật lí

Như đã trình bày ở phần trên, ngoại khóa vật lí có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng mức độ thành công của một buổi sinh hoạt ngoại khóa phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng giáo án ngoại khóa Giáo án càng chi tiết, cụ thể thì chất lượng buổi ngoại khóa càng cao [8] Nhìn chung một giáo án ngoại khóa có thể bao gồm:

+ Những văn bản cần thiết cho buổi sinh hoạt

+ Cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện phục vụ buổi sinh hoạt

+ Nội dung và phương tiện hoạt động

- Tiến hành

+ Thời gian, địa điểm, thời lượng tiến hành

+ Danh mục các khâu trong quá trình tiến hành: chi tiết từng phần một

Trang 34

+ Thời gian cho từng nội dung

- Đánh giá kết quả

- Bài học kinh nghiệm

Đây chỉ là một giáo án ngoại khóa đề nghị, do sự khác nhau về quy mô tổ chức, thời lượng, nội dung, cách tiến hành, đối tượng tham gia … đòi hỏi GV phải linh hoạt trong quá trình thiết kế giáo án ngoại khóa vật lí và đặt ra nhiều phương án xử lí các tình huống đặt ra

2.4.2.4 Thời gian hoạt động

Thời gian sinh hoạt CLB hợp lí nhất là mỗi tháng một lần, vào một ngày cố định trong tháng Ngày này có thể linh hoạt thay đổi theo lịch hoạt động của nhà trường Tuy nhiên, để có được một buổi sinh hoạt với nhiều nội dung phong phú, hấp dẫn toàn thể các thành viên CLB đã phải chuẩn bị nhiều tuần trước đó Vì thế GV cần lên kế hoạch cho cả một tháng hoạt động, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ các nhóm trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ được giao

2.4.2.5 Vai trò của GV – HS trong tiến trình HĐNK môn vật lí

Trong thời đại bùng nổ thông tin và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ truyền thông như

ngày nay thì nhà trường và người thầy không còn là nơi độc quyền cung cấp hiểu biết cho người học nữa Theo các chiến lược dạy học tích cực quan niệm GV không còn ở vị trí trung tâm, không nhất thiết phải dạy toàn bộ nội dung học trên lớp mà cố gắng tận dụng tối đa kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng sẵn có của

HS để giúp họ tự mình chiếm lĩnh kiến thức và dần đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học Gần đây, chúng ta cũng nghe nói tới những cố gắng đổi mới để HS trở thành trung tâm trong mô hình dạy học truyền thống, nhưng do nhiều nguyên nhân nên kết quả vẫn không như mong muốn

Tuy nhiên, không chỉ trong các hoạt động lên lớp mới quan tâm đến vai trò trung tâm của HS mà trong môi trường hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thì điều này vẫn được xem như mối bận tâm hàng đầu Trong môi trường ngoại khóa, vai trò trung tâm của quá trình hoạt động là GV sẽ được chuyển dần sang HS Trong thời gian đầu, GV từ vị trí là người lập kế hoạch hoạt động từ nội dung cho đến hình thức

tổ chức, hướng dẫn HS tư duy, sáng tạo theo ý đồ của GV thì trong thời gian tiếp theo GV sẽ chia sẻ một phần công việc cho HS rồi dần dần là chuyển toàn bộ vai trò quyết định nội dung sinh hoạt, thiết kế chương trình cho HS, điều này đồng nghĩa với việc HS phải chịu trách nhiệm đối với những kết quả hoạt động của mình (trách nhiệm với sự phát triển hiểu biết của chính mình) Mặc dù HS giữ vị trí trung tâm, nhưng không vì thế mà vai trò của GV bị giảm sút, nó chỉ thay đổi ý nghĩa: GV trở thành người cộng tác hay người trợ giúp cho HS Vì HS tuy chủ động hơn trong quá trình HĐNK nhưng họ vẫn cần GV giúp họ

xử lí những thông tin có được từ kinh nghiệm, từ các nguồn thông tin khác nhau mà họ tìm được

Qua nghiên cứu, chúng tôi đề nghị một mô hình HĐNK cho môn vật lí trong đó HS dần trở thành

vị trí trung tâm theo bảng 2.3

Trang 35

Bảng 2.3 Phân bố thời gian HĐNK phù hợp với chuyển dịch vị trí trung tâm từ GV sang HS

HS tiếp nhận tài liệu hỗ trợ và bắt tay vào hoàn thành sản phẩm nhóm đầu tiên Đồng thời tham gia vào các hoạt động khác trong buổi sinh hoạt khi có yêu cầu

Tháng hoạt động

thứ tư và thứ năm

(tháng 03 và 04)

GV giao đề tài và giới thiệu tài liệu

hỗ trợ nhưng không cầm tay chỉ việc nữa mà chỉ đứng từ xa quan sát

và sẽ hỗ trợ HS khi thật cần thiết

HS tiếp nhận đề tài, tìm kiếm thông tin, chuẩn bị dụng cụ để hoàn thành đề tài Trao đổi với GV khi gặp khó khăn Báo cáo kết quả hoạt động nhóm dưới sự hỗ trợ của máy tính

Tháng hoạt động

thứ sáu

(tháng 05)

GV yêu cầu các nhóm tự tìm kiếm

đề tài, chỉ hỗ trợ khi thật cần thiết

HS chủ động tìm kiếm đề tài theo sở thích, tiến hành chế tạo sản phẩm, trao đổi với GV nếu cần giúp đỡ

2.4.2.6 Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động [15], [16]

Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động nhằm thu thông tin ngược và đưa ra những quyết định nhằm cải thiện thực trạng, rút kinh nghiệm cho lần hoạt động sau; đồng thời có tác dụng động viên, hỗ trợ

HS tích cực hoạt động Việc kiểm tra đánh giá nên chú ý MTGD và cơ hội để cho HS tự đánh giá và tự điều chỉnh; giúp GV có cơ sở để đánh giá và điều chỉnh HS cũng như đánh giá và điều chỉnh chính mình

Do đó, cần tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả các HĐNK một cách nghiêm túc và khách quan

a Mục tiêu của việc đánh giá

- Nhận định về trình độ nhận thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị, mức độ trưởng thành của nhân cách HS

- Đo lường mức độ hứng thú của HS đối với các nội dung HĐNK môn vật lí

- Động viên, nhắc nhở HS tích cực đóng góp những ý tưởng sáng tạo và rèn luyện mọi mặt để đạt kết quả cao hơn

b Những nội dung cần đánh giá

Đánh giá kết quả hoạt động của HS bao gồm đánh giá cá nhân và đánh giá tập thể

Trang 36

 Nội dung đánh giá cá nhân

- Mức độ nhận thức về các kiến thức được đề cập trong các nội dung hoạt động

- Động cơ, tinh thần, thái độ, ý thức trách nhiệm, tính tích cực, kĩ năng … của HS khi tham gia hoạt động

- Những đóng góp của HS vào thành tích chung của tập thể và việc thực hiện có kết quả các hoạt động chung của tập thể

 Nội dung đánh giá tập thể

Tập thể có thể là một nhóm, một tổ hay một đội có từ ít nhất ba thành viên trở lên Đánh giá tập thể tập trung vào các nội dung sau:

- Tinh thần tham gia hoạt động của toàn tập thể

- Ý thức hợp tác và trách nhiệm của các thành viên trong một tập thể

- Công tác chuẩn bị và tổ chức hoạt động của một tập thể

- Thành tích, kết quả, những ưu điểm và nhược điểm

Sau đây là một số phương pháp kiểm tra đánh giá phổ biến, có thể được sử dụng trong đánh giá kết quả HĐNK ở trường THPT

 Quan sát

Quan sát là quá trình tri giác trực tiếp đối tượng nhằm thu thập thông tin về đối tượng hoặc kiểm tra thông tin về đối tượng Khi quan sát GV sử dụng tổng hợp các giác quan (chủ yếu bằng mắt) để theo dõi, tri giác mọi diễn biến hoạt động của HS nhằm thu thập những thông tin phản ánh về các biểu hiện của hành vi, thái độ, kĩ năng, tính tích cực hoạt động của HS làm cơ sở cho việc đánh giá

Khi quan sát cần bảo đảm một số yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính khách quan của thông tin thu được; khắc phục tính chủ quan của chủ thể quan sát

- Quan sát cần được thực hiện trong suốt quá trình hoạt động, quan sát nhiều lần và có chủ đích

- Phối hợp quan sát tập thể và quan sát cá nhân, quan sát quá trình và quan sát thời điểm, quan sát theo kế hoạch và quan sát ngẫu nhiên để đảm bảo tính chính xác của thông tin

Trang 37

- Cần ghi chép để lưu trữ thông tin, tạo cơ sở xác đáng cho việc đánh giá Những thông tin thu được từ quan sát cần được xử lí khách quan, có sự so sánh, đối chiếu với các thông tin thu được từ các phương pháp khác

 Viết bài thu hoạch

Sau mỗi hoạt động, HS có sự chuyển biến nhất định về nhận thức, kĩ năng, thái độ mà tự HS có thể nhận thấy được Cho HS viết bài thu hoạch là tạo ra các điều kiện mở để HS thể hiện một cách trung thực những kiến thức đã lĩnh hội, những thái độ, kĩ năng đã được hình thành đối với những vấn đề được

đề cập trong nội dung hoạt động Bài thu hoạch thể hiện một cách độc đáo cá tính, phong cách, tư tưởng, lối tư duy, ý thức và thái độ … của HS Nhằm giúp HS hoàn thành bản thu hoạch, GV nên gợi ý bằng các câu hỏi hoặc những yêu cầu cần thiết, chỉ dẫn cách thức viết thu hoạch hay gợi ý những tài liệu tham khảo; đồng thời GV cũng cần nhắc nhở, động viên để HS hoàn thành bài thu hoạch đúng thời hạn, nghiêm túc, tránh qua loa, hình thức, chiếu lệ

 Bài tập và trình diễn

Sử dụng bài tập thực hành và việc trình diễn hay báo cáo của HS để kiểm tra đánh giá kết quả HĐNK cũng là một hình thức phù hợp Khi đó, HS không chỉ bộc lộ hiểu biết và vận dụng lí thuyết mà còn thể hiện mức độ thành thạo của thao tác và ý tưởng sáng tạo độc đáo riêng biệt

 Trắc nghiệm

Sử dụng trắc nghiệm khách quan vào việc đánh giá kết quả giáo dục đang được chú trọng và ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhà trường hiện nay Đây có thể là một hình thức thích hợp trong việc kiếm tra đánh giá kết quả HĐNK Mặc dù trắc nghiệm khách quan có khá nhiều ưu điểm nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định, vì thế trong việc đánh giá kết quả HĐNK có thể sử dụng phối hợp các loại câu trắc nghiệm như: Trắc nghiệm đúng / sai; trắc nghiệm nhiều lựa chọn; câu trả lời ngắn; câu điền khuyết; phối hợp với câu hỏi tự luận

 Tọa đàm, trao đổi ý kiến

Tọa đàm là sự trao đổi ý kiến diễn ra đồng thời với nhiều người, ví dụ: giữa GV với nhóm HS, giữa GV với các thành viên Ban giám khảo … Hoặc diễn ra theo cá nhân, ví dụ: giữa GV với từng HS, từng GV khác, từng cha mẹ HS … Thông tin thu được qua tọa đàm, trao đổi ý kiến rất phong phú, có thể trung thực hay không trung thực Vì vậy, GV cần hết sức cẩn trọng trong việc tiếp nhận và xử lí thông tin

để có được những thông tin xác đáng nhất

Trang 38

Chương 3

 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO MÔN VẬT LÍ 10

3.1 Mục tiêu thực nghiệm

- Đánh giá sơ bộ chất lượng và hiệu quả của việc tổ chức các HĐNK cho môn vật lí và khả năng thích ứng của HS đối với các hoạt động này

3.2 Giới hạn nghiên cứu

- Nghiên cứu các nội dung kiến thức vật lí của lớp 10 có thể sử dụng trong HĐNK Sau đó, áp dụng một số mô hình đã thiết kế vào thực tế trường thực nghiệm

3.3 Khách thể nghiên cứu

HS lớp 10 trường THPT chuyên LTV – Đồng Nai có tham gia CLB vật lí

3.4 Phương pháp thực nghiệm

- Gặp Ban giám hiệu nhà trường và tổ trưởng tổ Vật lí trao đổi về mục đích thực nghiệm và xin phép

cho triển khai kế hoạch thực nghiệm

- Tranh thủ sự đồng tình của các GV trong tổ Vật lí để thành lập BCN sơ khởi của CLB vật lí, cùng trao đổi vạch ra đường hướng hoạt động chi tiết cho CLB mỗi tháng một lần, đều đặn trong suốt năm học

3.5 Tiến trình thực nghiệm

Tiến trình thực nghiệm sư phạm được thực hiện ngay từ đầu năm học và duy trì suốt cả năm học, trừ thời gian HS ôn thi và nghỉ tết thì đều đặn mỗi tháng đều tổ chức HĐNK vật lí với nhiều hình thức đa dạng, phong phú cùng cách thức tổ chức chi tiết Tổng cộng chúng tôi đã tổ chức được tám tháng sinh hoạt cho HS trường THPT chuyên LTV (Đồng Nai)

II Chuẩn bị

Trang 39

- Một số văn bản cần thiết như: Kế hoạch thành lập CLB gửi lên Ban giám hiệu; Thư mời tham dự buổi sinh hoạt thứ nhất của CLB đến các lớp có HS đăng kí làm thành viên CLB

- Cơ sở vật chất: hội trường, máy tính, máy chiếu, micro

- Chuẩn bị một số trò chơi, thí nghiệm VLV:

1 Đồ chơi cân bằng

a Kiến thức: Điều kiện cân bằng của vật rắn

b Mô tả: Sản phẩm có dạng chú hề hay chim, bướm … xinh xắn được thiết kế bởi giấy bìa cứng và đồng

tiền xu, chúng có thể nhún nhảy trên một đầu nhọn mà không rơi Đầu nhọn được thiết kế trùng với mũi chú hề hay mỏ của chim Mặc dù kiến thức về cân bằng của vật rắn vẫn còn xa lạ với HS lớp 10 nhưng vẫn được giới thiệu đầu tiên vì trước hết đây là một sản phẩm rất sáng tạo và dễ thực hiện, thứ hai là trong buổi sinh hoạt có cả HS lớp 11 tham gia và họ hoàn toàn có thể giải thích được kiến thức này cho các HS

lớp 10, tạo động lực kích thích tìm hiểu trước kiến thức vật lí

2 Thí nghiệm viên bi rơi vào ly

a Kiến thức: Chuyển động quay và rơi tự do

b Mô tả: Dụng cụ gồm hai thanh gỗ dài, phẳng được nối với

nhau bằng một bản lề Gắn một tigon nhỏ lên phía đầu của thanh

gỗ (1) và cũng trên thanh này gắn chặt một chiếc ly nhựa trong

Khi nâng thanh gỗ (1) lên tạo với thanh gỗ (2) một góc nghiêng

, dùng một nan gỗ cố định hai thanh ở vị trí này, đặt trên tigon

một viên bi, dùng tay gạt nan gỗ ra, thanh gỗ (1) quay quanh bản

lề và đổ ập xuống thanh gỗ (2), viên bi bị rơi ra và lọt vào chiếc

ly (xem hình 3.1) Thí nghiệm này liên quan đến những kiến thức như quán tính, chuyển động rơi tự do

của viên bi và chuyển động quay của chiếc ly … vì thế để viên bi lọt đúng vào chiếc ly cần tính toán để độ cao từ viên bi đến thanh gỗ (2) bằng đúng cung tròn chuyển động của chiếc ly

3 Ảo thuật với vòng lọt vào dây

a Kiến thức: Lực ma sát tạo nên moment quay

b Mô tả: Chuẩn bị một chiếc vòng và một sợi dây chuyền bằng kim

loại, mắc sợi dây vào giữa hai ngón tay của cùng một bàn tay Tay còn

lại giữ chiếc vòng lồng ở ngoài sợi dây Thả tay giữ chiếc vòng ra

nhưng chiếc vòng không rơi xuống đất mà bị mắc vào sợi dây Trò chơi

này thoạt nhìn thì tưởng là một trò ảo thuật đơn thuần nhưng thực ra nó

là sự kết hợp giữa kiến thức vật lí và động tác nhanh, nhuần nhuyễn của

Hình 3.2 Đèn kéo quân Hình 3.1 Thí nghiệm viên bi rơi vào ly

Trang 40

người biểu diễn

4 Đèn kéo quân (Hình 3.2)

a Kiến thức: Hiện tượng đối lưu

b Mô tả: Đây là một trò chơi khá quen thuộc với người Việt Nam, nguyên lí hoạt động của đèn kéo quân

hầu hết HS đều biết, tuy nhiên được tận mắt nhìn thấy sản phẩm này thì không phải HS nào cũng có cơ hội Để làm được một chiếc đèn kéo quân trước hết cần phải có một khung đèn bằng gỗ hoặc bằng nan tre chắc chắn và cân bằng, kế đến là một cái chong chóng làm bằng bìa cứng, … khi đốt nến lên, dòng không khí nóng xung quanh nến sẽ bốc lên phía trên, đẩy không khí lạnh xuống (đối lưu), đồng thời sinh công làm quay chong chóng kéo các hình trang trí quay theo

5 Máy bay dây thun (Hình 3.3)

a Kiến thức: Biến dạng xoắn (đàn hồi)

b Mô tả: Được làm từ những tấm phim chụp X-quang, máy bay có vẻ

ngoài khá ấn tượng Tuy nhiên, cũng chính vì điều này mà máy bay

không thể bay vì quá nặng, chỉ có thể chạy một đoạn ngắn trên đường

nhờ vào biến dạng xoắn của dây thun khi quay chong chóng

6 Bắn bi xiên góc

a Kiến thức: Lực đàn hồi của lò xo, chuyển động ném xiên của viên

bi và chuyển động rơi theo phương thẳng đứng của lon sữa

b Mô tả: Đây là một hệ thống mạch điện được thiết kế như sau (xem hình 3.4):

* Cấu tạo: Gồm hai phần

- Phần 1: Dùng gắn mục tiêu (lon sữa)

Gồm hai thanh trụ đặt vuông góc nhau nhờ khớp nối đa

năng, thanh đứng dài một mét được giữ bằng đế ba chân,

một đầu (đầu xa khớp nối) của thanh ngang gắn nam

châm điện

- Phần 2: Dùng bắn đạn (bi ve)

Gồm một thanh trụ đứng gắn trên đế ba chân, kẹp vạn

năng được nối với thanh đứng nhờ khớp nối đa năng,

kẹp này dùng để giữ ống bắn; ống bắn là ống nhựa PVC 21, bên trong có lò xo đàn hồi Người chơi dùng dây buộc ở đầu lò xo (nơi để bi) để nén lò xo, vừa để tạo ra thế năng đàn hồi cho lò xo, vừa để cho lò xo tiếp xúc với miếng kim loại nhỏ đặt dưới đáy ống PVC (có tác dụng đóng kín mạch)

* Hoạt động:

Hình 3.4 Sơ đồ cấu tạo mạch điện

Hình 3.3 Máy bay dây thun

Ngày đăng: 12/01/2016, 17:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang, Trần Chí Minh, Vũ Quang, Bùi Gia Thịnh (2007), Sách giáo khoa vật lý 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa vật lý 10
Tác giả: Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang, Trần Chí Minh, Vũ Quang, Bùi Gia Thịnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Nguyễn Hữu Chí (1998), Những xu hướng và sự phát triển chương trình khoa học ở Mĩ và trên thế giới, Đề tài khoa học B96-49-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng và sự phát triển chương trình khoa học ở Mĩ và trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 1998
3. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong kháo học Giáo dục, Nxb Giáo dục 4. Hồ Cúc (2005), Bộ sách học hay hành giỏi “700 thí nghiệm vui”, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong kháo học Giáo dục", Nxb Giáo dục 4. Hồ Cúc (2005), "Bộ sách học hay hành giỏi “700 thí nghiệm vui”
Tác giả: Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong kháo học Giáo dục, Nxb Giáo dục 4. Hồ Cúc
Nhà XB: Nxb Giáo dục 4. Hồ Cúc (2005)
Năm: 2005
5. Hồ Cúc (2007), Trò chơi khoa học dành cho học sinh, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi khoa học dành cho học sinh
Tác giả: Hồ Cúc
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
6. David Haliday, Robert Rensnick, Jearl Walker (1997), Cở sở vật lí, tập 2 – Cơ học, Nxb Giáo dục 7. Vũ Kim Dũng (2008), Trò chơi khoa học vui, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cở sở vật lí, tập 2 – Cơ học", Nxb Giáo dục 7. Vũ Kim Dũng (2008), "Trò chơi khoa học vui
Tác giả: David Haliday, Robert Rensnick, Jearl Walker (1997), Cở sở vật lí, tập 2 – Cơ học, Nxb Giáo dục 7. Vũ Kim Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục 7. Vũ Kim Dũng (2008)
Năm: 2008
8. Nguyễn Quang Đông (2003), Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí ở trường THPT, Đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Quang Đông
Năm: 2003
9. Genric S.Altshuller (2004), Trở thành nhà sáng tạo - Tại sao không?, Nxb Trẻ 10. Geoffrey Petty, Dạy học ngày nay, Nxb Stanley Thomes Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở thành nhà sáng tạo - Tại sao không?", Nxb Trẻ 10. Geoffrey Petty, "Dạy học ngày nay
Tác giả: Genric S.Altshuller
Nhà XB: Nxb Trẻ 10. Geoffrey Petty
Năm: 2004
11. Nguyễn Hạnh (2006), 100 trò chơi dân gian Việt Nam (tập 1-2), Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 trò chơi dân gian Việt Nam (tập 1-2)
Tác giả: Nguyễn Hạnh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
12. Nguyễn Hạnh – Nguyễn Duy Linh – Nguyễn Chí Hiếu (2006), Cẩm nang trò chơi khoa học (tập 1-2), Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang trò chơi khoa học (tập 1-2)
Tác giả: Nguyễn Hạnh – Nguyễn Duy Linh – Nguyễn Chí Hiếu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
13. IA.I.Pê-ren-man (2002), Vật lí vui (tập 1-2), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí vui (tập 1-2)
Tác giả: IA.I.Pê-ren-man
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
15. Phạm Vũ Kính (1997), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường phổ thông dân tộc nội trú, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường phổ thông dân tộc nội trú
Tác giả: Phạm Vũ Kính
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
16. Hồ Văn Liên - Vũ Thị Sai (2006), Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường trung học phổ thông, Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Hồ Văn Liên - Vũ Thị Sai
Năm: 2006
17. Nick Arnold (2007), Câu chuyện của những lực bí hiểm, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện của những lực bí hiểm
Tác giả: Nick Arnold
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
18. Phạm Đình Nghiệp – Lê Văn Cầu (2003), Kĩ năng tổ chức hoạt động công tác thanh thiếu niên, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng tổ chức hoạt động công tác thanh thiếu niên
Tác giả: Phạm Đình Nghiệp – Lê Văn Cầu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
19. Nguyễn Thị Oanh (2008), Kĩ năng sống cho tuổi vị thành niên, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng sống cho tuổi vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2008
20. Trần Phiêu (2006), Sinh hoạt nhóm nhỏ và 15 hình thức tập hợp thanh thiếu niên, Nxb Thanh niên 21. Trần Phiêu – Bùi Thị Bích Vân (2006), Kịch bản sân khấu sinh hoạt, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt nhóm nhỏ và 15 hình thức tập hợp thanh thiếu niên", Nxb Thanh niên 21. Trần Phiêu – Bùi Thị Bích Vân (2006), "Kịch bản sân khấu sinh hoạt
Tác giả: Trần Phiêu (2006), Sinh hoạt nhóm nhỏ và 15 hình thức tập hợp thanh thiếu niên, Nxb Thanh niên 21. Trần Phiêu – Bùi Thị Bích Vân
Nhà XB: Nxb Thanh niên 21. Trần Phiêu – Bùi Thị Bích Vân (2006)
Năm: 2006
22. Phạm Thị Phú (2007), “Chế tạo bộ thí nghiệm dạy học các định luật chất khí – Vật lí 10 phân ban”, Vật lí & tuổi trẻ (số 45), tr 20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tạo bộ thí nghiệm dạy học các định luật chất khí – Vật lí 10 phân ban”, "Vật lí & tuổi trẻ
Tác giả: Phạm Thị Phú
Năm: 2007
26. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2003), Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
27. Nguyễn Thị Thìn (2008), Hướng dẫn những trò chơi sáng tạo: Chiếc chong chóng gió, Nxb Tổng hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn những trò chơi sáng tạo: Chiếc chong chóng gió
Tác giả: Nguyễn Thị Thìn
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP.HCM
Năm: 2008
28. Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện lí do không tham gia HĐNK của HS - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện lí do không tham gia HĐNK của HS (Trang 17)
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện lí do tham gia HĐNK của HS - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện lí do tham gia HĐNK của HS (Trang 17)
Hình thức khác - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình th ức khác (Trang 18)
Hình 2.6  Biểu đồ thể  hiện ý kiến của HS về nội dung dự định tiến hành trong CLB vật lí - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 2.6 Biểu đồ thể hiện ý kiến của HS về nội dung dự định tiến hành trong CLB vật lí (Trang 19)
Hình 3.8 Giao diện chương trình “Tiếng nói vật lí” - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.8 Giao diện chương trình “Tiếng nói vật lí” (Trang 47)
Hình 3.10 Phần thứ nhất   cuộc thi “Tiếng nói vật lí” - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.10 Phần thứ nhất cuộc thi “Tiếng nói vật lí” (Trang 50)
Hình 3.21 Xe lăn tự hành - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.21 Xe lăn tự hành (Trang 67)
Hình 3.19 Không khí buổi sinh hoạt - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.19 Không khí buổi sinh hoạt (Trang 67)
Hình 3.26 Giao diện phần thi “Đấu trí nhóm” - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.26 Giao diện phần thi “Đấu trí nhóm” (Trang 73)
Hình 3.34 Nhóm soạn đề bổ sung - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.34 Nhóm soạn đề bổ sung (Trang 76)
Hình 3.35 Biểu đồ phân bố tỉ lệ % HS đáp án đúng tương ứng với mỗi câu hỏi - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.35 Biểu đồ phân bố tỉ lệ % HS đáp án đúng tương ứng với mỗi câu hỏi (Trang 77)
Bảng 3.3 Thống kê học lực và hạnh kiểm của nhóm thực nghiệm và đối chứng - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Bảng 3.3 Thống kê học lực và hạnh kiểm của nhóm thực nghiệm và đối chứng (Trang 96)
Hình 3.51 Biểu đồ phân loại điểm bài test - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
Hình 3.51 Biểu đồ phân loại điểm bài test (Trang 99)
4  Hình thức trình bày (cỡ chữ, canh lề, …) - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
4 Hình thức trình bày (cỡ chữ, canh lề, …) (Trang 114)
Hình PL5.3- Học sinh chuẩn bị các thí nghiệm về “Hiện tượng căng bề mặt của chất lỏng” - Lý luận và phương pháp dạy học môn vật lí- tổ chức hoạt động ngoại khóa cho môn vật lý 10 tại trường thpt chuyên lương thế vinh- đồng nai
nh PL5.3- Học sinh chuẩn bị các thí nghiệm về “Hiện tượng căng bề mặt của chất lỏng” (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w